Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2026

Hãy khát mong gặp gỡ Đức Ki-Tô

Chúa Nhật III – MC – A
Hãy khát mong gặp gỡ Đức Ki-Tô

SnTM 070326a


Như chúng ta được biết, năm ngoái (2025), nhân ngày Thế Giới Truyền Giáo trong Năm Thánh, với thông điệp trung tâm là Niềm Hy Vọng. Cố Giáo Hoàng PHANXICÔ đã chọn khẩu hiệu: “Những Nhà Truyền Giáo của Niềm Hy Vọng giữa Muôn Dân”.

“Khẩu hiệu này” ngài cố Giáo Hoàng nói: “(nhằm) nhắc nhở mỗi Kitô hữu và toàn thể Hội Thánh – cộng đoàn những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội – về ơn gọi nền tảng của chúng ta, là những người bước theo Chúa Kitô, trở thành sứ giả và người kiến tạo hy vọng.”

Trở-thành-sứ-giả-và-người-kiến-tạo-hy-vọng. Đó… đó là điều cấp thiết “trong một thế giới đang bị bao phủ bởi những bóng tối nặng nề”, như hôm nay.

Mỗi Kitô hữu “được mời gọi loan báo Tin Mừng bằng cách chia sẻ những hoàn cảnh sống cụ thể của những người mà họ gặp gỡ, qua đó trở thành những người mang và kiến tạo niềm hy vọng”, ngài cố Giáo Hoàng, thêm lời truyền dạy, như thế.

Vâng, phải là vậy… vì Đức Giê-su đã làm vậy. Trong ba năm thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su là người-kiến-tạo-hy-vọng, những người Ngài gặp gỡ, họ đều nhận được niềm hy vọng, niềm hy vọng nơi một “Thiên Chúa là tình yêu”, được tỏ lộ qua Đức Giê-su, một Giê-su “cúi xuống với những ai nghèo khổ, đau buồn, tuyệt vọng và bị áp bức, xức dầu an ủi lên vết thương của họ và đổ rượu hy vọng vào lòng họ.” (Kinh Tiền tụng “Chúa Giêsu – Người Samaritanô Nhân Hậu”).

Cha Giu-se Tiến Lộc, cảm nghiệm được điều này, ngài đã kiến-tạo-niềm-hy-vọng cho mọi người, 
Qua những lời chia sẻ, như sau: “Gặp gỡ Đức Ki-Tô, biến đổi cuộc đời mình. Gặp gỡ Đức Ki-Tô đón nhận ơn tái sinh. Gặp gỡ Đức Ki-Tô chân thành mình gặp mình. Gặp gỡ Đức Ki-Tô nảy sinh tình đệ huynh.”


Ông Lê-vi, còn có tên gọi khác là Mát-thêu, như một điển hình. Sau khi gặp gỡ Đức Giê-su, ông đã biến-đổi-cuộc-đời-mình, biến đổi từ một người thu thuế thành người môn đệ của Đức Giê-su.

Rồi đến trường hợp ông Da-kêu. Là thủ lãnh những người thu thuế, một hạng người bị cho là kẻ tội lỗi, thật khó có hy vọng được gặp gỡ Đức Giêsu. Thế mà, ông lại được gặp Ngài. Hay nói đúng hơn, Đức Giê-su chủ động gặp ông, ngay ở-trong-nhà-ông.

Qua sự kiện gặp gỡ này, Đức Giêsu đã chinh phục được tâm hồn ông. Từ một hạng người bị mọi người xầm xì cho là “người tội lỗi”, ông đã được cảm hóa và được nhận lãnh ơn-tái-sinh.

Gặp-gỡ-Đức-Giê-su-chân-thành-mình-gặp-mình, đó là trường hợp của một người phụ nữ tại Samari. Câu chuyện này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an. (x.Ga 4, 5-42).

**
Tin Mừng thánh Gio-an thuật lại rằng: Hôm ấy, Đức Giêsu “đến một thành xứ Samari, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cop đã cho con là ông Giu-se. Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp”.

Từ miền Giu-đê trở lại miền Ga-li-lê, rồi băng qua Samari để đến Xy-kha, “Người mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.” (x.Ga 4, 5-6).

Là khoảng-mười-hai-giờ-trưa, một khoảng thời khắc rất nóng. Ấy thế mà, bất chấp nắng nóng, chuyện kể tiếp rằng: “Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước”. Khi thấy người phụ nữ này, “Đức Giê-su nói với người ấy: Chị cho tôi xin chút nước uống.”

Với chúng ta hôm nay, đó là chuyện bình thường. Nhưng, với người Do Thái, đó là chuyện bất bình thường. “Người Do Thái không được giao tiếp với người Samari”. Nguyên nhân sâu xa là bởi, từ năm 727 TC, mười chi phái Do Thái phương Bắc bị Ðế quốc A-si-ri bắt làm phu tù. Vua A-si-ri đem những người Babylone đến định cư ở đó. Vì vậy, có một số người Do Thái ở Samari bị pha lẫn giòng máu người ngoại bang. Chính vì thế, người Do Thái chính gốc tẩy chay người Samari.

Thế nên, người phụ nữ rất ngạc nhiên và nói: “Ông là người Do Thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông uống nước sao?”

Nghe thế, Đức Giê-su vẫn không có một cử chỉ gì gọi là kỳ thị. Trái lại, Ngài lại có những lời nói rất chân tình, nói rằng: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị ‘Cho tôi chút nước uống’ thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.” (x.Ga 4, 10).

Điều gì là ân-huệ-Thiên-Chúa-ban! Nước gì lại gọi là nước-hằng-sống! Chắc hẳn người phụ nữ này không hiểu. Và, chính vì không hiểu nên chị Samari đã nói với Đức Giê-su: “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.”

Trả lời người phụ nữ Samari, Đức Giê-su nói: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ phải khát. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (x.Ga 4, 13).

Khi nghe Đức Giê-su nói thế, người phụ nữ Samari liền nói với Ngài, rằng: “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.”

Phải chăng, chị Samari này nghĩ rằng “nước tôi cho” chính là loại nước chị ta dùng hằng ngày?

Cứ cho là chị ta nghĩ như thế! Vâng, thật đáng cảm phục về lòng tin của chị ta. Chỉ mới diện kiến lần đầu. Chưa biết Đức Giêsu là ai, thế mà chị ta vẫn cứ tin vào lời nói của Ngài.

Nghĩ về hành động của chị Samari, thật phải đạo khi chúng ta tự hỏi: còn tôi, đức tin của tôi có đủ để tin vào những lời Đức Giê-su đã phán dạy rằng: “Ai khát, hãy đến với tôi, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống”? (x.Ga 7, 37).

Đấy… đấy là ân sủng, và thánh Phao-lô khẳng định rằng: “…Đức Giêsu đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hiện nay” (x.Rm 5,2).

***
Rất, có rất nhiều điều Đức Giê-su đã nói với người phụ nữ này. Và nó như là tiếng chuông cảnh tỉnh chị ta.

Làm sao không cảnh tỉnh cho được! Chỉ là một kẻ xa lạ, và mới chỉ là cuộc gặp gỡ lần đầu, thế mà Đức Giêsu đã biết rất rõ cuộc đời không mấy sáng sủa của chị ta. Chị ta không thể tin nổi khi Đức Giê-su biết rõ ràng rằng: “chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị” (Ga 4, 18).

Tiếng chuông cảnh tỉnh này, khiến chị ta chỉ còn biết thốt lên rằng: “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ”.

Tiếng chuông cảnh tỉnh tiếp theo, không chỉ cho chị ta, mà còn cho cả chúng ta, hôm nay. Đó là, phải thờ phượng Thiên Chúa ở đâu? Trên núi Garizim hay Giêrusalem! Chị Samari đã thắc mắc, như thế.

Hôm ấy, Đức Giê-su nói: “Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” (x.Ga 4, 23-24).

Có một sự ngạc nhiên nơi các môn đệ, khi họ thấy “Người nói chuyện với một phụ nữ”.

Phần người phụ nữ Samari, bà ta “để vò nước lại, vào thành và nói với người ta: Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm”. Không dừng ở đó, người phụ nữ Samari còn nói tiếp rằng: “Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao?” (x. Ga 4, 28).

Có thể nói rằng, cuộc gặp gỡ giữa người phụ nữ Samari và Đức Giê-su là một cuộc gặp gỡ không chỉ làm cho bà ta thấy rõ “mình gặp mình”, mà còn “nảy sinh tình đệ huynh.”

Hôm ấy, những người đệ-huynh trong thành, sau khi nghe những lời tường trình của bà, “Họ ra khỏi thành và đến gặp (gỡ) Người.

Khi đến gặp Người, chuyện kể tiếp rằng: “Có nhiều người… đã tin vào Đức Giê-su.” Dân Samari xin Người ở lại với họ, và “Người đã ở lại đó hai ngày.”

Ở-lại-đó-hai-ngày, thế mà, dân Samari đã nhận ra, Đức Giê-su… “Người thật là Đấng cứu độ trần gian”.

Còn chúng ta, Đức Giê-su đã ở lại với chúng ta, mười năm, năm mươi năm… chúng ta có nhận ra: Ngài là Cứu Chúa đời ta!

****
Thật ra, Đức Giêsu đã ở lại với chúng ta “mọi ngày cho đến tận thế”. Ngài vẫn tiếp tục mời gọi mỗi chúng ta “uống nước tôi cho”.

Chúng ta sẽ theo gương chị Samari và nói: “Xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát”! Câu trả lời là của mỗi chúng ta.

Thế nhưng, đừng quên, những loại nước mà thế gian ưa chuộng và cho rằng, uống nó mới là dân-sành-điệu… đại loại như: Hennessy, Martell, Chivas… hoặc như: Heneken, Tiger, v.v… coi chừng!

Đó là những loại nước uống vào, chết chắc! Uống vào, thoạt tiên thấy mình ”quay cuồng theo tiếng nhạc vui”, nhưng rồi “sau những cơn vui thấy lòng mình (sao) vẫn bơ vơ.”

Nguy hiểm hơn, khi con ma men xuất hiện, chúng ta sẽ không còn chế ngự hoặc kiểm soát được bản thân mình.

Không kiểm soát được bản thân mình, nguy hiểm lắm! Con ma… ma dâm bôn, ma nóng giận sẽ kiểm soát bản thân mình.

Quay cuồng với con ma nóng giận, bất hòa trong gia đình sẽ xảy ra. Xảy ra nhiều lần, sẽ có người cất tiếng ca: “Thôi là hết em đi đường em. Tình duyên mình chỉ bấy nhiêu thôi. Còn mong gì hình bóng xa xôi. Nhắc làm gì chuyện năm xưa. Cho tim thêm ngẩn ngơ.”

Quay cuồng với con-ma-dâm-bôn, tệ lắm! Thánh Phao-lô khuyến cáo: “những kẻ làm điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa” (Gl 5, 19-21).

Thế nên, để được thừa hưởng Nước Thiên Chúa, bằng mọi giá, chúng ta phải “Gặp gỡ Đức Ki-Tô”. Gặp gỡ Đức Ki-Tô và nói: “Xin Ngài cho con thứ nước ấy.”

Nước- Đức-Giêsu-cho, đó chính là “nguồn suối Thánh Kinh”. Với nguồn nước này, chúng ta sẽ được thỏa lòng khao khát, chúng ta sẽ nhận được mạch nước của Thần Khí: mạch nước bác ái, mạch nước nhẫn nhục, mạch nước nhân hậu, mạch nước từ tâm, mạch nước trung tín, mạch nước hiền hòa, mạch nước tiết độ.

Chính những mạch nước này sẽ thỏa lấp những cơn khát của chúng ta, những cơn khát tình yêu thương: tình yêu thương gia đình, tình yêu thương vợ chồng, tình yêu thương tha nhân.

Khi đã thỏa lòng những cơn khát nêu trên, đó chính là lúc chúng ta “trở thành một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời”, cho chính chúng ta.

Thánh Vịnh (42, 1) có chép rằng: “Như nai rừng khát mong nguồn suối, hồn con cũng khát mong Chúa”. Là một Ki-tô hữu, nói theo cách nói, hôm nay: “Như nai rừng khát mong nguồn suối, con cũng khát mong gặp gỡ Đức Ki-tô”.

Vâng, đừng khát mong gì cả, đừng khát quyền lực, đừng khát danh vọng, đừng khát tiền bạc, v.v… vì tất cả chỉ là phù vân. Hãy nghe Cohelet nói: “Phù vân, quả là phù vân... tất cả chỉ là phù vân. Thú vui trần gian ư?! Nhà cửa, bạc vàng và vật quý ư?! Đào kép, mỹ nữ cung phi ư?! Tôi đã trổi vượt và giàu có hơn mọi người... Tôi nhận thấy: tất cả chỉ là phù vân” (x.Gv 2,11).

Có khát mong! Hãy khát mong gặp gỡ Đức Ki-Tô.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2026

Đến nhà thờ… để được ngời sáng như Chúa

 Chúa Nhật II – MC – A

Đến nhà thờ… để được ngời sáng như Chúa


snTM 280226a


Để cho sứ vụ rao giảng Tin Mừng được loan báo khắp tứ phương thiên hạ, Đức Giê-su đã tuyển chọn một số người. Số người này được gọi là Nhóm Mười Hai. Chỉ với một lời mời gọi, ngắn và rõ ràng: “Hãy theo Ta”, lập tức những người được mời gọi bỏ hết mọi sự và đi theo Ngài.

Trong việc tuyển chọn Nhóm Mười Hai, có một số trường hợp, ngoài lời mời gọi, Đức Giê-su còn thêm đôi lời nhắn nhủ, đôi lời dạy bảo, chân tình.

Đầu tiên, là trường hợp bốn chàng ngư phủ: Phê-rô, An-rê, Gia-cô-bê và Gio-an. Bốn chàng ngư phủ này, đã được Đức Giê-su thêm lời nhắn nhủ: “Tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người.”

Kế tiếp là trường hợp ông Na-tha-na-en. Chuyện kể rằng: khi nghe ông Phi-lip-phê nói: “Đấng mà sách Luật Mô-sê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp: đó là ông Giê-su, con ông Giu-se, người Na-da-ret”, ông Na-tha-na-en liền bảo: “Từ Na-da-ret làm sao có cái gì hay được?” Ông Phi-lip-phê trả lời: “Cứ đến mà xem.”

Ông Na-tha-na-en đã đến. Và ông đã thấy quyền năng của Đức Giê-su, một Giê-su “đã thấy ông… ở dưới cây vả… trước khi Phi-lip-phê gọi ông”.

Hôm ấy, Đức Giê-su cho Na-tha-na-en một lời dạy dỗ: “Vì tôi nói với anh là tôi thấy anh dưới cây vả, nên anh tin. Anh sẽ còn được thấy nhiều điều lớn lao hơn thế nữa.”

Vâng, Đức Giê-su nói như thế. Và Ngài đã thực hiện rất nhiều điều lớn lao. Một trong những điều lớn lao khiến cho Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an “kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất”, đó là sự kiện Đức Giê-su hiển dung. Sự kiện này được ghi lại trong Tin Mừng Thánh Mát-thêu. (Mt 17, 1-9).

**
Sự kiện Đức Giê-su hiển dung được thánh Mát-thêu ghi lại, như sau: Hôm ấy, “Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình”. Sau khi tách biệt ba ông khỏi nhóm chín người, còn lại. “Ngài đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao.”

Nói tới núi, tưởng chúng ta nên biết, “trong Kinh Thánh và truyền thống Do Thái giáo, núi không chỉ là địa danh địa lý nhưng còn mang biểu tượng thiêng liêng, được coi là nơi cao cả, ánh sáng và là nơi Thiên Chúa ngự trị, mặc khải, gặp gỡ con người.”

Mà đúng vậy. Khi Đức Giê-su và các ông đang ở trên núi, một sự kiện vô tiền khoáng hậu đã xảy ra. Đó là, “Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng”. (x.Mt 17, 2).

Chưa hết, Phê-rô, Gia-cô-bê và Gioan còn chứng kiến một thị kiến khác, đó là ”ông Môse và ông Elia hiện ra đàm đạo với (Đức Giêsu)”.

Thấy thế, không chần chừ, ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su: “Lạy Ngài chúng con ở đây thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a”. (x.Mt 17, 4).

Thế nhưng, khi ông-còn-đang-nói… “Chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng: Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người”.

Vâng, tại sông Gio-dan, sau khi Đức Giê-su “chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên…” cũng có tiếng từ trời phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (x.Mt 3, 16-17).

Hai lời phán “từ trời” rất giống nhau. Rất giống, nhưng trong sự giống đó, lại có một sự khác biệt, khác biệt ở người nghe.

Trước kia, khi nghe lời phán từ trời, ông Gio-an Tẩy Giả đã trở thành một nhân chứng sống động, một nhân chứng “chứng thực rằng (Đức Giê-su) - Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” (x.Ga 1, 34).

Còn hôm nay, tại ngọn núi này, ba chàng ngự lâm Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê , thấy Môse và Elia… là những người “từ cõi chết trở về”, các ông không sợ. Nghe có-tiếng-từ-đám-mây-phán, các ông lại sợ. Chuyện kể rằng: “Các môn đệ kinh hoàng ngã sấp mặt xuống đất”.

Hôm ấy, để xoá tan nỗi kinh hoàng của các ông, Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo: “Trỗi dậy đi, đừng sợ”. Cái chạm của Đức Giê-su đã đem các ông trở về với thực tại.

Chuyện kể tiếp rằng: “Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su mà thôi. Đang khi thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông rằng: Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy”.

***
Sáu ngày trước, tính từ lúc bốn Thầy trò lên núi, Đức Giê-su cũng đã có một cuộc đàm đạo, một cuộc đàm đạo xoay quanh chuyện “đi Giê-ru-sa-lem”, với các ông.

Hôm ấy, Đức Giê-su bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: “Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại.”

Điều này đã làm cho “các môn đệ buồn phiền lắm”. Ông Phê-rô, khi nghe lời công bố này, không một chút đắn đo, “Liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện đó”.

Nhưng Đức Giê-su đã bảo Phê-rô rằng: “Sa-tan, lùi lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.”

Không thể để cho tư-tưởng-của-Phêrô loanh quanh trong mớ tư-tưởng-của-loài-người, Đức Giê-su đã “đem ông Phê-rô… đi theo mình… tới một ngọn núi cao.”, như đã được kể lại, phần trên.

Trên núi, ông đã nghe, nghe rõ ông Môse và ông Elia nói với Thầy mình: “về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem.” (Lc 9, 31).

Như vậy, mọi sự đã rõ. Thánh Mat-thêu cho biết: “Bấy giờ các môn đệ hiểu Người” (Mt 17, 13).

Vâng, các môn đệ thật sự hiểu Đức Giê-su. Đức Giê-su không chỉ là “con bác thợ mộc tên là Giu-se”, nhưng còn là “Con yêu dấu của Thiên Chúa”.

“Con yêu dấu của Thiên Chúa” phải thực hiện cuộc xuất hành lên Giê-ru-sa-lem. Cuộc xuất hành lên Giê-ru-sa-lem phải được “hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem”.

Người môn đệ của Đức Giê-su, phải như một “mãnh hổ hạ sơn”. Phải cuốn lều xuống núi. Xuống núi… vâng nghe lời Người, vác-thập-giá-mình, như lời Người đã truyền dạy: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (x.Mt 16, 24).

 Theo truyền tụng, tháng 8 năm 64, hoàng đế Nero bắt đầu bách hại Ki-tô giáo. Tông đồ Phê-rô quyết định đi khỏi Rôma tìm nơi trú ẩn. Nhưng trên con đường Appia, gần cửa Capena, ông đã gặp Chúa Giêsu vác thập giá trên vai. Phêrô hỏi: “Lạy Chúa, Chúa đi đâu?” Chúa Giê-su đáp: “Thầy vào thành Roma để chịu đóng đinh một lần nữa”. Phêrô hiểu ra ẩn ý của Chúa. Ông trở vào thành và chịu tử đạo.

Phê-rô đã “Vâng nghe lời Người”.

****
Hôm nay, Đức Giê-su cũng gọi đích danh mỗi chúng ta. Ngài cũng muốn “đưa-chúng-ta-đi-riêng-ra-một-chỗ. Một chỗ tách biệt khỏi satan và những gì thuộc về chúng.

Những-gì-thuộc-về-chúng… chúng ta biết rồi, đó là: “dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quẫy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén…” (Gl 5, 19-21).

Hãy thận trọng! Bởi đó là những chước-cám-dỗ rất quyến rũ, chỉ một chút xao lòng, chúng ta sẽ sa vào. Nói cách khác, chúng ta sẽ sa ngã.

Làm thế nào để không bị sa ngã! Thưa, hãy lên núi. Cùng Đức Giê-su lên núi. Cùng Đức Giê-su lên núi, đó là đến nhà thờ, là tham dự thánh lễ.

Đến nhà thờ tham dự thánh lễ, chúng ta cũng sẽ được nghe tiếng-từ-đám-mây-phán, nói rõ hơn, tiếng Thiên Chúa phán, qua phần Phụng Vụ Lời Chúa. Chúng ta cũng sẽ gặp được con người lịch sử “Mô-se và Ê-li-a” khi nghe công bố Lời Chúa phần Cựu Ước.

Lời Chúa (Kinh Thánh) sẽ giúp chúng ta không sa vào những chước cám dỗ, nêu trên. Lời Chúa sẽ “biến đổi” tâm hồn chúng ta. Từ một tâm hồn ích kỷ - hại nhân, sẽ “biến thành” một tâm hồn hoan lạc, một tâm hồn tràn ngập tình yêu thương, sự bác ái, lòng từ tâm, sự trung tín, sự hiền hòa, sự tiết độ.

Điều này sẽ thành hiện thực, hiện thực khi chúng ta “đặt lời Chúa trong miệng” chúng ta. (x.Gr 1, 9).

Chưa hết, đến nhà thờ tham dự thánh lễ, chúng ta cũng sẽ được nhìn thấy Đức Giê-su hiển dung. Ngài hiển dung nơi Bàn Tiệc Thánh Thể.

Bàn Tiệc Thánh Thể… Vâng, nơi đây chúng ta sẽ nhìn thấy một Đức Giê-su hiển dung, qua lời truyền phép của linh mục chủ tế “bánh và rượu” sẽ biến thành “Mình và Máu Thánh Chúa Ki-tô”.

Tham dự Tiệc Thánh Thể, sẽ có một sự ‘biến đổi” phi thường. Đó là, thể xác chúng ta không còn phải chết, nhưng “được sống muôn đời”.

Tại Caphanaum, Đức Giê-su, chẳng phải là đã phán: “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống”, đó sao! (x.Ga 6, 54-55).

 
Hãy cùng Đức Giê-su lên núi. Hãy đến nhà thờ, tham dự thánh lễ. Đến nhà thờ, tham dự thánh lễ, không chỉ để thấy Chúa biến-đổi-hình-dạng nơi Bàn Tiệc Thánh Thể, mà còn để Chúa biến đổi tâm hồn chúng ta, biến hoá con người chúng ta.

Trong một thế giới, một xã hội ngày càng “tục hoá” nếu chúng ta không biến đổi tâm hồn chúng ta, không biến hoá con người chúng ta, chẳng-chóng-thì-chầy, chúng ta sẽ bị “đồng hoá” với đời. Bản chất Ki-tô hữu của chúng ta sẽ chết dần theo thời gian. Nói cách khác, tình yêu của chúng ta đối với Chúa sẽ hoá thành “tình chết theo mùa Đông năm nao.”

Để tình yêu với Chúa, hoá thành tình-chết-theo-mùa-Đông-năm-nao, chúng ta sẽ không có cơ hội “Đến núi Si-on và đến thành của Đức Chúa Trời hằng sống, là Giê-ru-sa-lem trên trời” (Dt 12, 22).

Đừng quên, đức tin Ki-tô giáo dạy rằng: người Ki-tô hữu chỉ là lữ khách trần gian, sống giữa đời nhưng không đồng hoá với đời. Chính vì thế, hãy để một phút hồi tâm và tự hỏi, hôm nay, tôi đã “đi riêng ra một chỗ”, tôi đã “cùng Đức Giê-su lên núi”!!!

Vì tương lai cho sự hiện diện ở “núi Si-on”, chúng ta hãy cùng Đức Giê-su “lên núi”. Đừng để mất nhiều thời gian “lên mạng”. Lên mạng… nguy cơ mất mạng không nhỏ…

Thế nên, hãy lên núi, hãy đến nhà thờ. Đến nhà thờ, hãy mượn lời Rabbouni cầu nguyện, nguyện rằng: “Lạy Chúa Giêsu, mỗi lần con thấy Chúa, xin biến đổi mắt con. Mỗi lần con rước Chúa, xin biến đổi môi miệng con. Mỗi lần con nghe lời Chúa, xin biến đổi tai con. Xin cho khuôn mặt con ngời sáng hơn sau mỗi lần gặp Chúa.”

Với lời nguyện chân tình như thế, hãy tin, chúng ta sẽ được ngời sáng như Chúa. Nói tóm lại: Đến nhà thờ… để được ngời sáng như Chúa.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 21 tháng 2, 2026

Có Chúa… ta không sa chước cám dỗ

 Chúa Nhật I – MC – A

Có Chúa… ta không sa chước cám dỗ

snTM 200226b


Hôm thứ Năm, mùng ba tết, vừa qua. Tôi (người viết), được một người bạn, mời đến nhà dùng cơm. Theo truyền trống, mọi người đọc kinh trước khi ăn. Chúng tôi đọc Kinh Lạy Cha.

Đọc xong, tôi hỏi mọi người: “Lời cầu xin nào trong Kinh Lạy Cha, quý vị quan tâm nhất?” Bạn tôi trả lời rằng, lời cầu xin: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”, được quan tâm nhất.

Có phần chắc, đúng là vậy. Là vậy, bởi vì cơm-áo-gạo-tiền chính là nan đề không một gia đình nào, lại không quan tâm đến.

Tuy nhiên, nếu chúng ta cho rằng đây là lời cầu xin cần quan tâm nhất, thì sẽ dễ rơi vào tình trạng “được voi đòi tiên.”

Cho-chúng-con-hôm-nay-lương-thực-hằng-ngày nghĩa là gì, nếu không phải là “cho chúng con hôm nay đồ ăn đủ ngày!” Là… là phàm nhân, có mấy ai trong chúng ta nghĩ rằng, đồ-ăn-hôm-nay “bi nhiu” là đủ! Có mấy ai trong chúng ta nghĩ rằng, hôm nay kiếm được triệu bạc thế cũng đủ rồi!

Vâng, chúng ta muốn được nhiều hơn. Vì thế, chúng ta sẽ dễ bị cám dỗ “được voi… đòi hai Bà Trưng”. Thế nên, chúng ta nên quan tâm thêm lời cầu xin tiếp theo, lời cầu xin rằng: “xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ.”

Đức Giê-su đã dạy chúng ta, như thế. Bởi vì, cám dỗ không trừ một ai. Già trẻ lớn bé, nam phụ lão ấu, v.v… bất cứ ai cũng đều bị cám dỗ. Ông Gióp, một nhân vật thời trước Đức Giê-su giáng sinh, đã nhận định rằng: “Đời sống con người trên mặt đất chỉ là một cám dỗ liên lỉ”.

Đúng vậy. Ngay từ khi có trí khôn cho tới lúc trút hơi thở cuối cùng, có biết bao cơn cám dỗ bám theo chúng ta. Từ sáng sớm cho tới chiều tà, từ lúc lên giường ngủ cho tới lúc thức giấc, sự cám dỗ luôn luẩn quẩn quanh ta như hình với bóng.

Vì, sự cám dỗ luôn luẩn quẩn quanh ta như hình với bóng. Cho nên, để không bị sa vào chước cám dỗ, chúng ta hãy học Đức Giê-su. Ngài đã để lại cho chúng ta một bài học sâu sắc, một bài học làm thế nào để “không bị sa chước cám dỗ.”

Bài học này, được ghi lại chi tiết trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (Mt 4, 1-11).

**
Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại: Hôm ấy, “Đức Giê-su được Thần Khí dẫn vào hoang địa để chịu quỷ cám dỗ”.

Đây là điều chúng ta được nghe vào mỗi Chúa Nhật I – MC. Nghe nhiều lần, nhưng có bao giờ chúng ta “sửng sốt” khi Con Thiên Chúa, điều đã được công bố tại sông Gio- đan, khi Ngài chịu phép rửa, lại để-chịu-quỷ-cám-dỗ!

Vâng, Đức Giê-su thật sự đã bị quỷ cám dỗ. Chuyện kể rằng: “Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và sau đó Người thấy đói”.

Đức Giê-su thấy đói, rồi sao nhỉ! Thưa, quỷ hay còn gọi là satan, nó xuất hiện. Đúng với biệt danh là “tên cám dỗ”, nó mon men đến gần và mở lời dụ dỗ Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hóa bánh đi!”

Hóa-những-hòn-đá-thành-bánh ư! Tại sao satan lại “xúi” như thế? Thưa là bởi, cứ sự thường, con người khi đói thì phải ăn, khi khát thì phải uống. Và, Đức Giê-su lúc đó chẳng phải là “thấy đói” sao!

Đức Giê-su phản ứng thế nào nhỉ! Thưa, Ngài đúng là Con-Thiên-Chúa. “Đấng ngang hàng với Chúa Cha trong mọi sự”. Nhưng không phải vì thế mà tự kiêu tự đại muốn “hô biến” cái gì thì cứ “hô biến”.

Đức Giê-su không dựa thế mình là “con ông cháu cha” như thói đời. Hôm ấy, Ngài lớn tiếng quát thẳng vào mặt satan: “Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra”.

Satan nghe rất rõ lời Đức Giê-su nói. Thế nhưng, như một con đỉa đói, y không buông tha Đức Giê-su.

Chuyện kể tiếp rằng: “Sau đó, quỷ đem Người đến thành thánh, và đặt Người trên nóc đền thờ, rồi nói với Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi! Vì đã có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá”.

Ghê chưa! Vâng, rất là ghê nhưng là “ghê tởm”. Tại sao gọi là ghê tởm? Thưa, vì satan “bổn cũ soạn lại”, đó là y chơi trò “xảo ngôn”, một chiêu trò mà satan đã thực hiện tại vườn Eden năm xưa.

Năm xưa, tại vườn Eden, satan đã nói khéo, khéo đến mức bà Eva không bao giờ thấy được lời nói của y là xảo trá. Satan đã cố gắng làm cho bà Eva tin tưởng lời y nói: “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác”, là sự thật.

Eva nghe tưởng thật nên đã ăn, rồi đưa cho Adam cùng ăn, hậu quả là… Vâng, Sách Sáng Thế cho biết: Eva “phải cực nhọc thật nhiều…” Muốn biết Eva cực nhọc ra sao, hãy mở sách sáng thế ký, chương 3, chúng ta sẽ rõ. Còn Adam! Nguyên tổ Adam “phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn”, thưa quý vị.

Thiên-sứ-sẽ-tay-đỡ-tay-nâng. Nghe rất có lý. Nhưng, Đức Giê-su không mù quáng như nguyên tổ Adam và Eva. Ngài không “mù” Lời Chúa.

Năm mười hai tuổi, Đức Giê-su đã gây kinh ngạc khi “Ai nghe (ngài) nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của (ngài)” (x.Lc 2, 47). Nay, ba mươi nha! Satan, đừng giở trò “xảo ngôn”.

Hôm ấy, tại thành thánh, nơi quỷ đem Đức Giê-su đến và thách đố Ngài. Đức Giê-su không “gieo mình xuống”. Trái lại, Ngài dùng chiêu “gậy ông đập lưng ông”.

Hôm ấy, Đức Giê-su dùng ngay “cây gậy” Kinh Thánh đập gãy lời thách thức đầy kiêu ngạo của satan. Ngài đáp lời rằng: “Nhưng cũng có lời chép rằng: Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi”.

Bị hai cú đấm thẳng trực diện nổ đom đóm mắt, thế nhưng satan vẫn không nao núng. Nó tiếp tục tung chiêu độc, y dùng “quyền lực - danh vọng” với hy vọng, đây sẽ là cú “revers” hạ knock out Đức Giê-su.

Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi rằng: “Quỷ lại đem Người lên một ngọn núi rất cao, và chỉ cho Người thấy tất cả các nước thế gian, và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy và bảo rằng: Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi”.

Đáp lại lời cám dỗ đầy quyến rũ, Đức Giê-su nói: “Satan kia, xéo đi. Vì đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi”.

Ba lần cám dỗ đều được satan ngụy trang kín đáo bằng những lời phỉnh nịnh “nếu ông là Con Thiên Chúa”. Ba lần cám dỗ satan lấp liếm bằng những trích đoạn kinh thánh rất tinh vi: “vì đã có lời chép rằng” v.v… và v.v…

Tất cả những mánh khóe đó đều không lòe bịp được Đức Giê-su. Không lòe bịp được, là bởi, Ngài có bửu bối: “Thánh Kinh – Lời Chúa”.

***
Đức Giêsu không non-tay-ấn. Ngài không phải là “tôn ngộ không”. Ngài không dùng quyền phép “truyền cho hòn đá này hóa thành bánh” là bởi, nếu có làm ra, thì thứ bánh đó “ăn rồi cũng chết”.

Điều Đức Giêsu sẽ “truyền”… Vâng, chính là truyền cho các môn đệ “quyền phép” làm cho “tấm bánh và chén rượu” trở thành “Mình Máu Thánh Ngài”. Để bất cứ ai ăn hoặc uống sẽ không còn đói khát nhưng được sự-sống-đời-đời.

Thách thức Ngài đứng “trên nóc đền thờ” rồi gieo mình xuống ư! Không, Đức Giêsu đến thế gian không phải để biểu diễn những trò ảo thuật huyền bí, đại loại giống như ảo thuật gia David Copperfield. Ngài đến để thi thố “sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.

Sa-tan muốn đánh đồng giữa một phép lạ để củng cố lòng tin vào Thiên Chúa - với màn biểu diễn hô biến nhuốm mùi “mãi võ Sơn Đông”.

Đức Giêsu không sập bẫy trước chiêu “khích tướng” của Satan “nếu ông là Con Thiên Chúa”. Đúng, Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, nhưng Con Thiên Chúa vào hoang địa không phải để mở trường dạy làm “ảo thuật”.

Vào hoang địa, Đức Giêsu mở trường “dạy Kinh Thánh”. Chính những lời Kinh Thánh mà Đức Giêsu dùng để “phản biện” tên-cám-dỗ đã để lại cho chúng ta một bài giáo huấn sâu sắc, rằng: “Kinh Thánh - Lời Chúa” chính là vũ khí, là sức mạnh, là bửu bối, để chúng ta “không bị sa chước cám dỗ”.

****
Lời ông Gióp nói năm xưa, ngày nay vẫn là điều thường-xảy-ra-ở-huyện. Có nghĩa là, ngày nay chúng ta cũng không thoát khỏi những cơn cám dỗ liên lỉ của Satan.

Cũng là những cám dỗ xưa kia Đức Giê-su đã đối diện. Cũng là danh vọng, quyền lực, tiền bạc, mê ăn uống, v.v…

Rất ngọt ngào và nhẹ nhàng. Và, đó là lý do ngài cố Giáo Hoàng Phanxicô đã có lời cảnh báo: “Satan nó xâm nhập vào linh hồn con người rất nhẹ nhàng: ‘gõ cửa, xin phép, bấm chuông, rất lịch sự’, nó bước vào trong thinh lặng, bắt đầu trở thành một phần của đời sống.

Với ý tưởng và những thúc đẩy của nó, nó giúp con người sống tốt hơn, và từ đó, bước vào đời sống, tận bên trong, bắt đầu thay đổi họ, nhưng âm thầm không gây ra tiếng ồn. Ma quỷ từ từ thay đổi những tiêu chuẩn của chúng ta, đưa chúng ta đến tình trạng thế tục, nó ngụy trang theo cách hành động của chúng ta và hầu như chúng ta không thể nhận ra điều đó. Ma quỷ xứng đáng với tên gọi là cha đẻ của sự gian dối.” (nguồn: internet).

Thật vậy, có gian dối không… khi satan, qua những lời xảo ngôn của con cái chúng, nói rằng thì-là-mà, “hút điều hòa kinh nguyệt”, không phải là “phá thai”! Rất… rất là xảo ngôn, khi chúng nói, thứ tư lễ tro, thứ sáu tuần thánh ăn chay kiêng thịt, thì ăn tôm hùm, cua hoàng đế, chứ nào có phải là ta “mê ăn uống”!

Toàn là những lời cám dỗ có cánh, rất thuyết phục. Toàn là những lời khuyến dụ, đặt bẫy và quyến rũ… phải không, thưa quý vị!

Làm thế nào để chiến thắng những lời cám dỗ, nhuốm giọng điệu lừa phỉnh này? Thưa, thánh Phao-lô có lời khuyên: “hãy cầm gươm của Thần Khí ban cho, tức là Lời Thiên Chúa”.

Đúng vậy, nếu chúng ta nghe và tuân giữ lời Đức Giê-su truyền dạy: “Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho”, liệu chúng ta có “sa vào những chước cám dỗ” nêu trên!

Vì thế, chúng ta hãy tự hỏi: đời sống tâm linh của tôi, ngoài việc được nuôi dưỡng bằng Thánh Thể, có còn được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa (Thánh Kinh)?” Nói cách khác, tôi đã có một quyển Kinh Thánh cho mình? Tôi có đọc Kinh Thánh mỗi ngày? Tôi có xem Kinh Thánh như là “ngọn đèn soi ta bước… là ánh sáng chỉ đường ta đi?”

Nếu có, hãy để “Lời Thiên Chúa ở gần bạn, ngay trên miệng, ngay trong lòng” (x.Rm, 10, 8). Bởi vì, khi “bửu bối Lời Chúa” ở gần chúng ta, ngay trên miệng chúng ta, ngay trong lòng chúng ta, bất cứ một tên cám dỗ nào bén mảng đến gần chúng ta, gươm-của-Thần-Khí sẽ giúp chúng ta “chế ngự cơn cám dỗ”.

Chế ngự (được) cơn cám dỗ, chúng ta sẽ không bao giờ sa chước cám dỗ. Nói ngắn gọn: Có Chúa… ta không sa chước cám dỗ.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2026

Hãy tuân hành lề luật Chúa ban

 Chúa Nhật VI – TN – A

Hãy tuân hành lề luật Chúa ban

snTM 140226a


Chúng ta thường nghe nói: “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật.” Nghe nói là vậy. Thế nhưng, có bao giờ chúng ta tự hỏi: hiến pháp và pháp luật là gì!?

Theo một số báo chuyên ngành về pháp luật định nghĩa, thì: “Hiến pháp là đạo luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất, quy định các vấn đề gốc rễ về nhà nước và quyền công dân. Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận để quản lý xã hội. Mọi văn bản pháp luật đều phải phù hợp và không được trái với Hiến pháp.”

Không một quốc gia nào trên thế giới lại không ban hành một bản hiến pháp cùng những văn bản pháp luật để quản lý xã hội. Và, chúng ta thường gọi chung là “luật đời”.

Vâng, đời thì có luật đời. Còn về đạo ư! Cũng phải có. Đó là luật đạo. Luật đạo, chúng ta thường gọi là luật Chúa.

Nói về luật Chúa, có thể nói, luật có từ thuở tạo thiên lập điạ.

Thật vậy, sách Sáng Thế có ghi rằng: “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật. Rồi Đức Chúa là Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Ê-đen, về phía đông, và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra. Đức Chúa là Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với cây trường sinh ở giữa vườn, và cây cho biết điều thiện điều ác.

Đức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Ê-đen, để cày cấy và canh giữ đất đai. Đức Chúa là Thiên Chúa truyền lệnh cho con người rằng: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn, nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết.”

“Ngươi không được ăn”, chẳng phải đó là Luật Chúa cấm, đúng không? Rồi, theo thời gian, Thiên Chúa ban hành một đạo luật mới, một đạo luật mà ngày nay, Giáo Hội Công Giáo cũng tuân hành, đó là Mười Điều Răn.

Mười Điều Răn do Đức Chúa ban hành qua ông Mô-sê. Theo sách Xuất Hành ghi lại: “Tháng thứ ba kể từ khi ra khỏi Ai Cập, chính ngày đó con cái Israel tới sa mạc Si-nai… Israel đóng trại ở đó, đối diện với núi.”

Tại đây, “Ông Mô-sê lên gặp Thiên Chúa. Từ trên núi ĐỨC CHÚA gọi ông và phán: ‘Ngươi sẽ nói với nhà Gia-cóp, sẽ thông báo cho cái cái Israel thế này… nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta. Vì toàn cõi đất đều là của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh.”

Có rất nhiều điều Thiên Chúa đã truyền dạy Israel, qua ông Mô-sê. Điều quan trọng nhất, đó là Thiên Chúa đã ban hành Mười-Điều-Răn, còn được gọi là “Thập Giới” là những điều Israel phải tuân hành.

Đạo lẫn đời đều có luật. Luật đời được ban hành là để “bảo vệ các giá trị về đạo đức và chuẩn mực của cộng đồng.”

Còn luật đạo ư! Thưa, “Lề Luật (luật đạo) có chức năng ‘giám hộ’. Như một món quà nhân từ của Thiên Chúa, Lề Luật đòi hỏi tuân giữ các điều răn của Người, đồng thời chỉ ra thực trạng tội lỗi và nhu cầu cần được cứu độ của chúng ta. Khi Chúa Ki-tô đến và cùng với ơn cứu độ của Người, Lề Luật được kiện toàn trong sứ điệp Tin Mừng về sự sống mới và sự tự do trong Chúa Thánh Thần.”

Cố Giáo Hoàng Phan-xi-cô, khi còn tại thế, trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư hằng tuần, đã có lời dạy, như thế. (nguồn: vatican.news).

Mà, đúng vậy. Đức Giê-su, lúc còn tại thế, khi đề cập đến luật, Ngài đã tuyên bố, rằng: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật… Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn.”

Để-kiện-toàn, Đức Giê-su đã đưa ra nhiều lời truyền dạy. Những lời truyền dạy này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (Mt 5, 17-37).

**
Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại rằng: Một ngày nọ, sau khi truyền dạy cho các môn đệ phải là “muối cho đời và ánh sáng cho trần gian”, Đức Giê-su nói với các ông rằng: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn”.

Vâng, rất kiện toàn. Một sự kiện toàn “đạt tới những lý tưởng cao quý”. Hôm ấy, Ngài tuyên bố: “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ giết người; ai giết người thì đáng bị đưa ra tòa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra tòa. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hỏa ngục thiêu đốt”.

Vì muốn đạt-tới-những-lý-tưởng-cao-quý, Đức Giê-su còn đưa ra lời truyền dạy khiến ai nghe qua cũng phải kinh ngạc, lời truyền dạy rằng: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết; ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (x.Mt 5, 28).

***
Đừng nghĩ những lời truyền dạy này quá khắt khe. Hãy bình tâm suy nghĩ, chúng ta sẽ thấy rằng, Đức Giê-su đúng, đúng khi Ngài truyền dạy như thế.

Đôi mắt, như chúng ta thường nói: là cửa sổ tâm hồn. Nó chính là “tiền đồn” để ngăn cản hoặc tiếp đón những gì là tốt đẹp cũng như những gì là xấu xa. Còn cái miệng, đừng quên, người xưa có nói: “cái miệng hại cái thân”.

Với đôi mắt, bài học của Vua David còn đó.

Vua David đã “nhìn trộm” một người đàn bà đang tắm… Rồi chuyện gì đã xảy ra! Thưa, “thèm muốn”… thèm muốn rồi “Vua David sai lính biệt phái đến đón nàng. Nàng đến với vua và vua nằm-với-nàng...”.

Và rồi, nàng-có-thai! Khi biết nàng có thai, vua David tìm đủ mọi cách để “bán cái”… bán cái cho ông chồng của nàng. Thế nhưng, không thành công.

Không thành công, David đã dùng độc kế giết chồng của người đàn bà đó. Sau khi dùng thủ đoạn giết người chồng xong, David “ẵm nàng về dinh”, ẵm về một cách danh chính ngôn thuận, ẵm về như thể là mình đã ban cho nàng một ơn phước.

Đôi mắt… chỉ từ đôi mắt nhỏ bé thôi, thế mà vì không biết kiểm soát nó, nó đã khiến xảy ra một án mạng.

Nói về đôi mắt lại nhớ đến bà Eva. Đôi mắt bà đã “thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt”… “Thấy và trông” để rồi “bà hái trái cây mà ăn...” Và kết quả là: Ôi! Lạy Chúa! “Con rắn... con rắn đã lừa con”.

Đôi mắt khủng khiếp là thế. Thế nên, đừng hỏi vì sao Đức Giê-su truyền dạy: “Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục” (Mt 5, 29).

Còn “cái miệng” phải làm sao đây! Thưa, Kinh Thánh dạy rằng: “Phúc thay kẻ không ăn nói lỡ lầm”. Không ăn nói lỡ lầm thì sẽ “không vấp ngã về lời nói”, không vấp ngã về lời nói, “ấy là người hoàn hảo, có khả năng làm chủ được toàn thân” (x.Gc 3, 2).

Khi làm chủ được toàn thân thì sao nhỉ! Thưa, sẽ chẳng bao giờ chúng ta “chửi người này, mắng người kia, rủa người nọ”, phải không, thưa quý vị!

Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương” (x.Tv 145, 8). Vâng, đó là lý do Đức Giê-su có thêm lời truyền dạy, rằng: “Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình”.

“…Liệu ta có phải hiểu theo từng lời từng chữ những gì Đức Giê-su dạy không? Liệu ta có phải bỏ dở thánh lễ, đi tìm người mình đã xúc phạm, hầu có thể tiến hành ngay việc làm hòa?”

Đó là những câu hỏi đã được Lm. Charles. E. Miller đưa ra, đồng thời ngài có lời khuyên, rằng: “Bước đầu tiên chúng ta phải làm là cầu xin ơn hòa giải, rồi dốc lòng tìm kiếm sự tha thứ”.

Tại sao phải “Cầu xin ơn hòa giải, rồi dốc lòng tìm kiếm sự tha thứ”? Thưa, là bởi, khi chúng ta “hòa giải và tha thứ”, điều đó nói lên rằng, chúng ta đang tiếp tục thực hiện sứ mạng của Đức Giê-su, sứ mạng kiện toàn lề luật, luật “mến Chúa yêu người”, mà Ngài đã truyền dạy.

Cũng xin nói thêm rằng, nếu chúng ta hiểu từng lời từng chữ theo nghĩa đen, có phần chắc, giáo xứ chúng ta sẽ có nhiều người cụt tay, chột mắt.

Hôm ấy, Đức Giê-su còn nói đến luật hôn nhân gia đình. Rất nhân bản, Đức Giê-su tuyên bố: “luật (xưa) dạy rằng: ai rẫy vợ, thì phải cho vợ chứng thư ly dị. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ngoại trừ hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình”.

****
Đừng nghĩ những lời truyền dạy này khó thực hiện. Muốn thực hiện được, trước hết hãy có “tâm tình yêu thương”, bởi vì như lời Kinh Thánh dạy: “đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại…” (Rm 13, 10).

Đúng vậy, một khi đã “yêu người như chính mình vậy” có phần chắc, chẳng ai lại “giận anh em mình... mắng anh em mình... chửi anh em mình” (Mt 5, 22). Một khi chúng ta yêu-người-như-chính-mình-vậy, sẽ chẳng bao giờ chúng ta “làm hại” anh em mình.

Một khi mọi người đã thật sự “yêu người lân cận như chính mình” thì có ai dám qua hàng xóm láng giềng cướp của giết người! Một khi người chồng hay người vợ thật sự yêu-thương-nhau-như-chính-mình thì làm gì có chuyện “ly dị”!

Hồi ấy, Đức Giê-su đã phán: “Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua, cho đến khi mọi sự được hoàn thành. Vậy, ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời.”

Phần thưởng đã rõ. Vấn đề còn lại, đó là chúng ta: Hãy tuân hành lề luật Chúa ban.

Petrus.tran 

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2026

Hãy chiếu giãi ánh sáng của ta… cho mọi người

 Chúa Nhật V – TN – A

Hãy chiếu giãi ánh sáng của ta… cho mọi người

snTM 060226c


Làm gương là gì? Thưa: “Làm gương (hay nêu gương) là việc một cá nhân tự giác hành động, cư xử đúng mực và chuẩn mực, tạo ra tấm gương sáng để người khác noi theo. Đây không chỉ là lời nói mà còn là hành động thiết thực trong công việc và cuộc sống nhằm lan tỏa các giá trị tốt đẹp.” (nguồn: internet).

Theo định nghĩa nêu trên, làm gương hay nêu gương, (tất nhiên là gương tốt), có thể nói, là điều rất cần được mọi người hưởng ứng.

Cần hưởng ứng vì, người xưa có nói: “Lời nói như gió lung lay. Gương bày như tay lôi kéo”. Cần hưởng ứng vì, một xã hội, sẽ ngày một tốt đẹp hơn, khi xã hội có nhiều gương tốt. Một Giáo Hội, sẽ ngày một loan báo Tin Mừng tốt đẹp hơn, khi Giáo Hội có nhiều gương tốt.

Chúng ta có thể huyên thuyên giảng dạy trong hàng giờ đồng hồ, song sẽ chẳng ai nhớ được điều gì. Thế nhưng, chỉ cần một lần làm “gương tốt”, chúng ta có thể để lại những ấn tượng sâu đậm khó quên, trong lòng người.

Đức Giê-su thấu suốt điều này. Trong một dịp chỉ có Thầy và trò bên nhau, Ngài đã truyền dạy cho các môn đệ phương cách sống, sống sao để mọi người xem đó như là một tấm gương tốt, mà “tôn vinh Thiên Chúa.”

Những lời truyền dạy này, được ghi trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (Mt 5, 13-16).

**
Hồi ấy, với những hình ảnh rất đời thường, Đức Giê-su truyền dạy các môn đệ rằng: “Chính anh em là muối cho đời…”

Tại sao là muối? Phải-là-muối, bởi vì muối có một ý nghĩa rất đặc biệt. Về phương diện đời thường, nói tới muối, có phần chắc, không ai trong chúng ta lại không công nhận đó là thứ không thể thiếu trong cuộc sống con người.

Không thể thiếu, vì muối có tác dụng bảo toàn và làm tăng thêm vị ngon trong các món ăn. Đúng như lời người xưa đã dạy: “Cá không ăn muối cá ươn”.

Về phương diện tôn giáo, đối với Do Thái giáo, muối còn có biểu tượng với công hiệu sát trùng, thanh tẩy và luyện lọc (2V 2, 19-22).

Muối quan trọng là thế! Thế nên, thật hợp lý khi Đức Giê-su có lời khuyến cáo, lời khuyến cáo, rằng: “Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối cho nó mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.” (x.Mt 5, 13).

Đưa ra lời truyền dạy “Chính anh em là muối cho đời”, Đức Giêsu muốn người môn đệ của mình, phải là người hữu dụng, hữu ích cho đời.

Hôm ấy, Đức Giê-su còn tiếp lời dạy rằng: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.”

***
“Chính anh em là muối cho đời…Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.” Đó là điều Đức Giê-su đã yêu cầu các môn đệ, thực hiện.

Hôm nay, chính chúng ta là những người tiếp tục thực hiện lời truyền dạy này.

Hãy thực hiện những lời truyền dạy này, không bằng tuyên ngôn, không bằng khẩu hiệu, phải bằng hành động. Đừng quên, thánh Gia-cô-bê đã nói: “Đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết.” (Gc 2, 17).

Thế nên, khi cuộc đời “nhạt” đi tình yêu thương, chúng ta đừng ngồi đó “nguyền rủa sự dữ”, mà hãy “muối”… muối-cho-đời-mặn-lại… bằng hành động.

Bằng hành động, chúng ta “Đem yêu thương vào nơi oán thù. Ðem thứ tha vào nơi lăng nhục. Ðem an hòa vào nơi tranh chấp. Ðem chân lý vào chốn lỗi lầm.”

Bằng hành động, chúng ta “Đem tin kính vào nơi nghi nan. Chiếu trông cậy vào nơi thất vọng.” Bằng hành động, chúng ta “Tìm an ủi người hơn được người ủi an. Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết. Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.”

Khi cuộc đời chìm trong “bóng tối”: bóng tối của dối trá, bóng tối của hận thù, bóng tối của bất hoà, bóng tối của ghen tuông, bóng tối của tranh chấp, của chia rẽ, của bè phái, của say sưa chè chén… chúng ta đừng ngồi đó “nguyền rủa bóng tối”, mà hãy thắp lên một “ngọn nến”, ngọn nến bác ái, ngọn nến nhẫn nhục, ngọn nến từ tâm, ngọn nến trung tín, ngọn nến hiền hoà, ngọn nến tiết độ.

Thắp lên những ngọn nến đó, chúng ta sẽ trở nên “ánh sáng cho trần gian”.

“Chính anh em là muối cho đời… Chính anh em là ánh sáng cho trần gian”. Vâng, Đức Giê-su của hôm nay, vẫn muốn chúng ta “là thế”.

Nếu chúng ta chưa là thế! Nói cách khác, nếu muối của chúng ta “nhạt đi”, nếu ánh sáng của chúng ta “mờ đi”, hãy nhớ rằng; Thánh Kinh chính là chất xúc tác làm cho muối-của-ta mặn lại. Và làm cho ánh-sáng-của-ta bừng sáng lên.

Hãy tin như thế! Bởi vì, Thánh Kinh, vua David nói: “là đèn soi ta bước, là ánh sáng chỉ đường ta đi”.

****
Thiên Chúa là Đấng vô hình, không ai trông thấy. Chúng ta chính là người làm cho người khác thấy Thiên Chúa qua việc thiện chúng ta làm, qua nếp sống chúng ta sống, qua hành vi cử chỉ, lối xử sự của chúng ta, hằng ngày.

Thực hiện như thế chính là muối cho đời… là ánh sáng cho trần gian.

Là theo cách Đức Giê-su nói: “Một thành xây trên núi không thể nào che dấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp của anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.” (Mt 15-16).

Là chúng ta xem đó như là “khí cụ”, một thứ khí cụ dùng để “Phụng sự Chúa trong mọi người.” Phụng-sự-Chúa-trong-mọi-người, chúng ta chính là Ánh-Sáng-Cho-Trần-Gian.

“Hãy chiếu giãi ánh sáng của ta cho mọi người.”

Petrus.tran

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

Tám mối phúc - là phúc Chúa ban

 


Chúa Nhật IV – TN – A
Tám mối phúc - là phúc Chúa ban

SnTM 310126a


Bạn có phải là một Ki-tô hữu? Nếu đã là một Ki-tô hữu, đã tin và theo Chúa, bạn có hạnh phúc, không? Vâng, câu trả lời có thể mỗi người mỗi khác. Có người sẽ nói có. Có người sẽ nói không.

Rất nhiều lý do nói có. Cũng có rất nhiều lý do nói không. Đức Giê-su - Ngài nói có.

Đức Giê-su nói có. Những ai tin và theo Chúa, có hạnh phúc. Và, hạnh phúc mà Ngài nói đến không phải là thứ hạnh phúc “đến từ những điều giản dị hàng ngày như: tình yêu thương, sức khỏe, các mối quan hệ tốt đẹp, hoặc thành tựu cá nhân v.v… chỉ có giá trị tương đối.”

Hạnh phúc mà Đức Giê-su nói đến, đó là “hạnh phúc Nước Trời - hạnh phúc được làm con Thiên Chúa”, một thứ hạnh phúc đích thực, một thứ hạnh phúc trường tồn, vĩnh cửu.

Và để có được “hạnh phúc Nước Trời - hạnh phúc được làm con Thiên Chúa”… Đức Giê-su, qua một bài giảng, đã có những lời truyền dạy, những lời truyền dạy chân tình, ngõ hầu giúp mọi người đạt được niềm hạnh phúc đó, một cách hiệu quả nhất.

Bài giảng này, ngày nay chúng ta gọi là “Bài giảng trên núi” và được ghi lại chi tiết trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (Mt 5, 1-12a).

**
Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại như sau: “Thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi, Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên.” Vâng, chỉ có… chỉ có Thầy và trò.

Rồi, Đức Giê-su dạy họ, dạy rằng: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

Phúc thay ai sầu khổ, vì họ được Thiên Chúa ủi an. Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng.

Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương. Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Phúc cho anh em, khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại, và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.”

***
Những lời truyền dạy (nêu trên), nghe quen lắm, phải không, thưa quý vị! Đúng vậy, những lời truyền dạy này chính là nội dung bài kinh “Phúc Thật Tám Mối”, một bài kinh chúng ta vẫn đọc, mỗi ngày.

Chúng ta đọc mỗi ngày, nhưng… chúng ta có xem những lời truyền dạy này như là phương cách giúp chúng ta thừa hưởng “hạnh phúc Nước Trời - hạnh phúc được làm con Thiên Chúa”? Hay chúng ta phàn nàn rằng thì-là-mà những lời Đức Giê-su truyền dạy không thực tế!

Gandhi - Mahatma Gandhi không nghĩ như thế. Ông ta không phải là Kitô hữu, nhưng ông rất yêu mến và quý trọng những lời Đức Giê-su truyền dạy trong “Bài giảng trên núi.”

Bài giảng này, ông mô tả là “khiến tôi vô cùng sung sướng, mang lại cho tôi sự nâng đỡ và niềm vui tràn ngập.”

Ông Gandhi thêm lời nhận định: “Bài giảng ấy là toàn bộ Kitô giáo, thế nhưng những người xưng mình là Kitô hữu lại bỏ quên giáo huấn ấy, chạy theo quá nhiều những ham muốn và thỏa mãn vật chất.”

Vì thế, ông mời gọi các Kitô hữu “hãy sống xứng đáng với sứ điệp của Bài giảng trên núi”. (nguồn: internet).

Đúng vậy, đã là một Ki-tô hữu, chúng ta “hãy sống xứng đáng với sứ điệp của Bài giảng trên núi”.

Khuyên “nghèo khó”, không có nghĩa là Thiên Chúa cấm ta làm giàu. Giàu cũng là ơn phước Chúa ban, như Người đã ban cho các tổ phụ Apraham, Isaac và Giacop.

Thế nhưng, nếu giàu mà vẫn sống với một “tâm hồn nghèo khó”, chúng ta sẽ nhận ra: tiền bạc, quyền lực, danh vọng chỉ là những thứ phù phiếm, nay có mai mất. Sống, với một tâm-hồn-nghèo-khó, chúng ta sẽ nhận ra: “được cả thế gian mà mất linh hồn thì ích gì.”

Không có tâm-hồn-nghèo-khó, chúng ta sẽ dễ rơi vào tình trạng: “Của cải… ở đâu, lòng… cũng sẽ ở đó.” (Mt 6, 21).

“Hiền lành” là một đức tính tốt. Hiền lành sẽ không hung hăng, không giận dữ, không cáu gắt hay bực tức.

Hiền lành luôn đồng hành với dịu dàng, nhỏ nhẹ, nhịn nhục. Và, nhịn nhục thì “một câu nhịn, chín câu lành”.

Thánh Kinh Chúa cũng có lời dạy: “Lời đáp êm nhẹ làm nguôi cơn giận, còn lời hung hăng trêu thịnh nộ thêm.” (Cn 15,1).

Tiếp đến, khi chúng ta biết “xót thương người”! Vâng, đó là chúng ta “học theo Giê-su”, một Giê-su luôn chạnh lòng thương xót đối với ai chạy đến cầu xin mình.

Về thể xác, chúng ta không thể không thương xót một người nghèo, một người gặp nạn, một người bị đối xử bất công. Thưa bạn, một người hàng xóm quá nghèo khó, là một Ki-tô hữu, lẽ nào ta không xót-thương-họ sao! Chẳng lẽ ta không “cho kẻ đói ăn” sao!

Về thuộc linh, chúng ta không thể không thương xót người phạm lỗi, phạm tội. Sửa sai, giúp họ nhìn thấy sự sai trái, sự phạm tội, phạm lỗi, cũng là biết xót-thương-người.

Thánh Phao-lô có lời khuyên: “Hãy ở với nhau cách nhân từ, dịu dàng thương xót. Hãy tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ cho anh em trong Đức Ki-tô.” (Êp 4, 32).

Một trong những điều Đức Giê-su truyền dạy, được các vị linh mục thường khuyên giáo dân của mình thực hiện, đó là: “Khát khao nên người công chính”.

Vâng, quả là một lời khuyên rất thực tế, thực tế trước một đất nước, một xã hội, mà chúng ta đang sống, hôm nay.
Xã hội ngày nay, ngày càng băng hoại. Lòng người ngày nay, ngày càng mất đi tấm lòng khao khát sự công chính. Vô cảm khi thấy sự bất công là chuyện “thường xảy ra ở huyện”.

Rất cần có nhiều người sống-công-chính. Và, chúng ta hãy-khát-khao-nên-người-công-chính. Nếu không, coi chừng chúng ta sẽ chung số phận với dân thành Sodoma, khi xưa.

Thành Sodoma xưa bị tiêu diệt vì “tội lỗi chúng nặng nề” (x.St 18, 20). Nếu trong thành đó có “năm mươi người lành”, Thiên Chúa “sẽ dung thứ cho thành đó”.

Giả như mười người! Thưa, “Thiên Chúa sẽ không phá hủy thành đó”. Chỉ cần mười người “làm lành lánh dữ”, một tiêu chuẩn đã được Kinh Thánh gọi là sống-công-chính. Tiếc thay! Sodoma không có.

Nhắc lại câu chuyện này làm gì? Thưa, để chúng ta tự hỏi: tôi có là một trong số mười người… mười-người-công-chính, hôm nay?

Hôm nay, thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng, rất cần nhiều… nhiều người, nên-người-công-chính.

Người không công chính rất nguy hiểm. Họ luôn nói ra những lời gian tà, xảo trá, không trung thực. Họ đôi lúc cũng nói lên lời khôn ngoan, nhưng lời khôn ngoan của họ không đi đôi với sự công chính. Sống khôn ngoan nhưng không công chính là lối sống của những con người xảo quyệt.

Còn người-công-chính thì: “miệng người công chính niệm lẽ khôn ngoan và lưỡi họ nói lên điều chính trực. Luật Thiên Chúa, họ ghi tạc vào lòng, bước chân đi không hề lảo đảo.” (x.Tv 37, 30-31).

Sống… nói-lên-điều-chính-trực, luật-Thiên-Chúa… được ghi-tạc-trong-lòng, chẳng phải là chúng ta đang “xây dựng hòa bình”, sao! Mà, xây dựng hòa bình thì sao, nhỉ! Thưa, chúng ta biết rồi, đó là một mối-phúc-lớn. Phúc “sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.”

Đừng nghĩ rằng, Bài-giảng-trên-núi (nói chung) – Phúc-thật-tám-mối (nói riêng), “bất khả thực hiện, chỉ trình bày một lý tưởng xa vời và thiếu thực tế”.

Ông Gandhi có lời chia sẻ, như thế. Ông “đã quyết định áp dụng giáo huấn của Chúa Kitô để vượt qua cái ác bằng cái thiện và đã đem lại kết quả lạ lùng khi ông dẫn đầu phong trào bất bạo động để đòi lại quyền tự do cho người Ấn.”

Theo ông, “Bài giảng trên núi sẽ không có ý nghĩa nếu không được đem ra ứng dụng trong cuộc sống thường ngày… Giáo huấn của Bài giảng có giá trị cho từng người và cho tất cả chúng ta”. (nguồn: internet).

Đúng vậy, cho-từng-người-và-cho-tất-cả-chúng-ta. Thế nên, ngay hôm nay - bây giờ, chúng ta hãy “vui mừng hớn hở” đem tinh thần bát phúc đi vào đời sống thường nhật.

Và, hãy lớn tiếng nói, nói rõ ràng, rằng: Tám mối phúc - là phúc Chúa ban.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

Dạ, con đây!

 Chúa Nhật III – TN – A

Dạ, con đây!

snTM 240126a


Giáo Hội Công Giáo, như chúng ta được biết, người đứng đầu là Đức Giáo Hoàng.

Về mặt xã hội: “Giáo Hoàng là chức vụ đứng đầu Giáo Hội Công Giáo, do Hội đồng Hồng Y giáo chủ bầu ra, giữ chức từ khi đăng quang tới khi qua đời. Theo tục lệ, Giáo Hoàng thường kiêm luôn chức Giám mục Giáo phận Rôma, nơi có Tòa Thánh Vatican. Khi đăng quang, Giáo Hoàng chọn tên một vị thánh, hoặc một người tiền nhiệm mà mình muốn noi theo, để làm tên hiệu đời Giáo Hoàng của mình; nếu tên hiệu ấy đã có người tiền nhiệm chọn, thì người sau ghi thêm thứ tự bằng chữ số La Mã… Trong ngôn ngữ xưng tụng, người Công Giáo Việt Nam thường gọi là Đức Giáo Hoàng, Đức Giáo Chủ hoặc Đức Thánh Cha” (x.Từ điển Bách khoa).

Về mặt Giáo Hội: “Đức Giáo Hoàng là Đấng kế vị thánh Phêrô, làm Giám mục Rôma, là thủ lãnh Giám mục đoàn, đại diện Chúa Kitô và chủ chăn của Hội Thánh toàn cầu” (x.GLHT CG).

Tính đến nay, Giáo hội Công giáo Rôma có khoảng 267 Giáo hoàng khác nhau, bắt đầu từ thánh Phêrô, với vị kế nhiệm hiện tại là Đức Giáo hoàng Lêô XIV.

Thánh Phêrô được xem như là Giáo hoàng đầu tiên, không qua bầu chọn, mà do Đức Giê-su tuyển chọn.

Xưa, tại Xê-da-rê Phi-lip-phê, Đức Giê-su đã chọn ông. Hôm ấy, trước sự hiện diện của Nhóm Mười Hai, Đức Giê-su tuyên bố: “anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy… Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.”

Có một sự trùng hợp lạ kỳ, thánh Phêrô cũng là người môn đệ đầu tiên được Đức Giê-su tuyển chọn. Cùng với ông, còn có ba vị khác nữa, đó là: An-rê, Gia-cô-bê và người em là Gio-an. Sự kiện này, được ghi lại chi tiết trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (Mt 4, 18-23).

**
Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại như sau: một ngày nọ, khi Đức Giê-su “đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai người anh em kia, là ông Si-mon, cũng gọi là Phê-rô và người anh là ông An-rê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá.” (x.Mt 4, 18).

Quăng-chài-xuống-biển… Vâng, đó là công việc cho sự sinh tồn của người ngư phủ. Thế nên, dù thánh sử Mát-thêu không nói, chúng ta cũng có thể nghĩ rằng, sau khi “quăng chài xuống biển”, hai chàng ngư phủ Phêrô và An-rê tập trung cao độ vào sự chuyển động của mành lưới cá.

Rồi… một phút… hai phút… có tiếng động, nhưng không phải tiếng chuyển động của mành lưới cá, mà là tiếng động phát ra từ con đường dọc-theo-biển-hồ. Đó… đó là tiếng nói của Đức Giê-su: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.”

Đáp lời mời gọi của Đức Giê-su, chuyện kể tiếp, rằng: “Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người”. Thế là ba Thầy trò cùng đi.

Rồi khi đi-một-quãng-nữa, Đức Giê-su “thấy hai anh em khác con ông Dê-bê-đê, là Gia-cô-bê và người em là Gio-an. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dê-bê-đê vá lưới ở trong thuyền”. Thế là, Đức Giê-su gọi các ông. “Lập tức các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người”.

***
Phêrô, An-rê, Gia-cô-bê và Gio-an là bốn người môn đệ đầu tiên theo Đức Giê-su.

Tại sao, chỉ với một lời mời gọi giản dị: “Các anh hãy theo tôi…” và một lời hứa lạ kỳ: “…tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”, bốn chàng ngư phủ này lại đi theo Đức Giê-su một cách nhanh chóng như thế?

Thưa, theo Tin Mừng thánh Gio-an ghi lại, thì: hai trong bốn vị này là những người đã được nghe ông Gio-an Tẩy Giả giới thiệu Đức Giê-su là “Chiên Thiên Chúa”.

Vào hôm được nghe giới thiệu về Đức Giê-su, hai vị này đã “đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy.”

Chưa hết, một trong hai vị này là ông An-rê, anh ông Si-mon Phê-rô, gặp em mình là ông Si-mon và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a nghĩa là Đấng Ki-tô. Rồi ông (An-rê) dẫn em mình đến gặp Đức Giê-su.”

Hôm ấy, Đức Giê-su “nhìn ông Si-mon và nói: Anh là Si-mon, con ông Gio-an, anh sẽ được gọi là Kê-pha (tức là Phê-rô)”.
Đã được diện kiến, mặt-đối-mặt… Đã được đặt tên... tên Kê-pha. Nay, được mời gọi: “Các anh hãy theo tôi…” cớ gì không theo, nhỉ!

Nhận định cho việc “lập tức đi theo” Đức Giê-su của bốn vị môn đệ: Phê-rô, An-rê – Gia-cô-bê và Gio-an, Cha Charles E.Miller có lời chia sẻ: “Các ông thấy một điều gì đó nơi Đức Giê-su mà (từ trước tới nay) các ông chưa từng chứng kiến. Ánh sáng đức tin giúp những con người này bắt đầu thấy Đức Giê-su thật sự là Ai. Người là Con Thiên Chúa.”

Đúng. Đức Giê-su - Người là Con Thiên Chúa, điều mà các ông đã được thầy của mình là ông Gio-an Tẩy Giả, chứng thực rằng “Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.”

****
Xưa, Đức Giê-su đã kêu gọi bốn vị môn đệ đầu tiên. Kế đến, Ngài lập Nhóm Mười Hai. Rồi thêm bảy mươi hai người khác, nữa. Nay, Ngài tiếp tục kêu gọi, vẫn tiếp tục kêu gọi. Và, chúng ta là những người Ngài kêu gọi.

Hôm nay, Đức Giê-su cũng gọi đích danh mỗi chúng ta, như xưa Ngài đã gọi đích danh Mười Hai vị môn đệ. Hôm nay, khi chúng ta chịu phép Rửa Tội: “Người phán qua vị linh mục chủ sự, rằng: Hồng hoặc Hoa. Trung hay Dũng (bất luận tên chúng ta là gì), Cha rửa con nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.” Cha Charles E. Miller có lời chia sẻ, như thế.

Cha-rửa-con và con-là-con-Cha. Lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội chúng ta được gọi là Con của Chúa. Đã là Con của Chúa thì hãy theo Chúa. Đã là con Chúa thì hãy nghe và thực thi ý Chúa. Nghe và thực thi ý Chúa, có như thế, chúng ta mới được xem là đã đi theo Chúa một cách trọn vẹn.

Về điều này, một lần nọ, Đức Giê-su có lời khuyến cáo: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa! Lạy Chúa! Là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi”.

Đã thực-thi-ý-Chúa thì đừng thực-thi-ý Satan. Vâng, ý Satan đó là “những việc do tính xác thịt gây ra”. Đó là: “dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén.” (Gl 5, 19-20).

Thánh Phao-lô có lời khuyến cáo: “những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa.”

Trở lại câu chuyện bốn vị môn đệ. Vâng, khi theo Đức Giê-su, họ đã bỏ hết mọi sự. Nay, Chúa Giê-su cũng muốn chúng ta bỏ-hết-mọi-sự, thế nhưng đừng nghĩ rằng, “bỏ hết mọi sự” đồng nghĩa với việc ta phải bỏ sự nghiệp, bỏ gia đình, bỏ thân bằng quyến thuộc để đi theo Chúa, như các ông Simon, Anrê, Giacôbê và Gioan đã thực hiện, năm xưa.

“Bỏ hết mọi sự”… đó là khi chúng ta “Hứa yêu nhau, trao trao câu thề chung sống trọn đời”, chúng ta dám sống một cuộc sống hy sinh, ngay cả bản thân của mình, cho “câu thề” mà chúng ta đã thề hứa.

“Bỏ hết mọi sự”, đó là chúng ta dám sống một đời sống phục vụ, cho một lý tưởng, mà chúng ta đã chọn lựa. Bỏ-hết-mọi-sự, là khi chúng ta “đã tra tay cầm cày (thì đừng) ngoái lại đàng sau”.

*****
Có cần thiết phải làm một “tour” du lịch đến biển hồ Galile, để may chi nghe được tiếng Chúa gọi!?

Thưa không. Điều cần thiết đó là chúng ta hãy để cho tâm hồn mình chìm vào trong thinh lặng của nguyện cầu. Chúng ta sẽ nghe được tiếng Chúa gọi.

Trong thinh lặng của nguyện cầu, chúng ta sẽ nghe được tiếng Chúa gọi. Đó là điều Sa-mu-en đã trải nghiệm. Chuyện kể rằng: Trong thinh lặng của Đền Thờ, nơi đặt Hòm Bia Thiên Chúa. “Đức Chúa đến, đứng đó và gọi: Sa-mu-en! Sa-mu-en! Sa-mu-en thưa: Xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe.” (x.1S 2, 10).

Hôm nay, trong thinh lặng của Nhà Thờ, nơi đặt Mình-Thánh-Chúa, chúng ta sẽ nghe được tiếng Đức Giêsu gọi, những lời mời gọi thiết tha: “Lại đây con, mau hỡi con, cùng theo Ta. Ta nếm mùi cay đắng thay con rồi. Chuộc con, Ta đã chết cách nhục nhã. Ðau khổ vì con trả xong nợ tội… Lại đây con, mau hỡi con, cùng theo Ta...” (trích đoạn nhạc phẩm: Hãy theo Ta – tác giả George D.Watson).

Hãy thưa… Vâng, chúng ta hãy như Sa-mu-en, thưa rằng: Dạ, con đây!

Petrus.tran

Hãy khát mong gặp gỡ Đức Ki-Tô

Chúa Nhật III – MC – A Hãy khát mong gặp gỡ Đức Ki-Tô Như chúng ta được biết, năm ngoái (2025), nhân ngày Thế Giới Truyền Giáo trong Năm Th...