Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2026

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

 Chúa Nhật XVIII– TN – A

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

SnTM 010826a


Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn chữ “chạnh lòng thương xót”. Nghe… nhưng có bao giờ chúng ta tự hỏi: chạnh-lòng-thương-xót nghĩa là gì?

Vâng, theo cách hiểu phổ biến “chạnh lòng thương xót là cảm xúc rung động sâu sắc và đau thắt trong lòng, dẫn đến lòng trắc ẩn và hành động muốn giúp đỡ những ai đang gặp đau khổ, bất hạnh hoặc lầm than. Trong Kinh Thánh và đời sống đạo, đây là hình ảnh quen thuộc thể hiện tình yêu thương bao la của Thiên Chúa trước nỗi đau của con người.” (nguồn: internet).

Đúng vậy! Trong-Kinh-Thánh Đức Giê-su chính là hình ảnh tuyệt mỹ về tình yêu thương, về lòng trắc ẩn và lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho con người.

Xưa, thời Cựu Ước, để nói lên lòng trắc ẩn và lòng thương xót của Thiên Chúa, ngôn sứ Isaia dùng hình ảnh tình yêu thương của một người mẹ dành cho đứa con sơ sinh của mình. Ngài ngôn sứ nói: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49, 15).

Nay, thời Tân Ước, Đức Giê-su, Con Một Thiên Chúa, Ngài cũng-chẳng-quên-ai-bao-giờ. Trong ba năm ra đi rao giảng Tin Mừng, Đức Giê-su thể hiện lòng trắc ẩn và lòng thương xót của mình bằng hành động. Những hành động Ngài thể hiện đã khiến mọi người “kinh ngạc - thán phục”.

Kinh Thánh cho biết, mọi người “kinh ngạc - thán phục” khi chứng kiến Đức Giê-su chữa lành bệnh nhân, làm cho kẻ chết sống lại. Đó như một minh chứng, rằng: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. (Tv 136, 24).

Còn lòng trắc ẩn thì sao? Thưa, Ngài đã thể hiện nhiều lần nhiều cách, phép lạ hóa-năm-chiếc-bánh-và-hai-con-cá cho năm ngàn người ăn no nê, như một điển hình.

Vâng, phép lạ vô tiền khoáng hậu này, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (Mt, 14, 13-21).

**
Chuyện kể rằng: sau khi ông Gio-an Tẩy Giả bị chém đầu, và môn đệ ông ta đi báo cho Đức Giê-su biết. “…Đức Giê-su (liền) lánh khỏi nơi đó, đi thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt”. (x.Mt 14, 13).

Ngài đến một chỗ hoang vắng riêng biệt để nghỉ-ngơi-đôi-chút chăng? Có thể là vậy, vì đó là điều Đức Giê-su thường khuyên các môn đệ mình.

Tuy nhiên, hôm ấy, nếu Đức Giê-su có nghỉ-ngơi-đôi-chút, thì sự nghỉ ngơi của Ngài cũng bị gián đoạn, gián đoạn vì dân chúng “từ các thành đi bộ mà theo Người”.

Và, quả thật, khi Đức Giê-su ra khỏi thuyền, Ngài thấy ngay “một đoàn người đông đảo…”. Ngài chạnh lòng thương xót. Thương xót, vì trong số họ có cả những người bị bệnh cũng được đoàn người gồng gánh mang theo.

Một lần nọ, Đức Giê-su có lời tuyên phán, rằng: “Tôi đến là để chiên được sống và sống dồi dào”. Thế nên, hôm ấy, Ngài đã thực hiện lời tuyên phán của mình bằng cách “chữa lành các bệnh nhân của họ”. (x.Mt 14, 14).

Cứ sự thường, sau khi được chữa lành, mọi người sẽ giải tán ra về. Còn hôm ấy… hôm ấy, có vẻ như đám đông dân chúng không bận tâm về chuyện trở về nhà mình.

Thế rồi, khi “chiều đến”… Chiều đến… các môn đệ bắt đầu lo lắng. Các ông mang sự lo lắng đến với Đức Giê-su.

Chuyện kể tiếp rằng: “Các môn đệ lại gần thưa với Đức Giê-su: Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua thức ăn’’.

Hợp lý quá đi chứ! Theo đúng “logic” thì nên giải tán đám đông, phần ẩm thực cho họ tự túc, nhẹ gánh nặng, Thầy và trò còn có thời gian nghỉ ngơi sau nhiều ngày mệt nhọc.

Nhưng… bản chất của Thiên Chúa là lòng trắc ẩn. Là “Agape”. Là tình yêu thương vô điều kiện. Thế nên, hôm ấy, khi các môn đệ vừa dứt lời, là một người có lòng trắc ẩn, Đức Giêsu đưa ra một phán quyết trái ngược, phán quyết rằng: “Họ không cần đi đâu cả. Chính anh em hãy cho họ ăn” (x.Mt 14, 16).

Chính anh em… Ôi! tệ thật… Vâng, sự thực rất là tệ! Một lệnh truyền gần như bất khả thi. Bất khả thi vì, theo lời tường trình của các môn đệ, thì “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá”, mà thôi.

Thế mà Thầy lại bảo “chính anh em” làm công việc “cứu đói”, thì có phải là đội đá vá trời! Ai ăn ai nhịn đây, thưa Thầy! Ai ăn ai nhịn ư! Không, với Đức Giê-su, Ngài đã có một kế hoạch.

Xưa, ngôn sứ Isaia nói với dân Do Thái về lòng trắc ẩn của Đức Chúa với dân của Người, rằng “Hãy chăm chú nghe Ta, thì các ngươi sẽ được ăn ngon, được thưởng thức cao lương mỹ vị”.

Nay, Đức Giê-su biểu lộ lòng trắc ẩn của của mình, qua một lệnh truyền tới các môn đệ: “Đem lại đây cho Thầy”.

Đem-lại-đây-cho-Thầy. Các môn đệ đã đem. Một chiều hoàng hôn tím như bừng sáng lên. Từng “nút thắt” của nan đề đã được Đức Giê-su tháo gỡ một cách ngoạn mục. Từng băn khoăn lo lắng của các môn đệ đã được Ngài hóa giải một cách nhẹ nhàng.

Hôm ấy, Đức Giê-su “truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng.”

Hôm ấy, dân chúng “Ai nấy đều ăn và no nê.” Chưa hết, mọi người còn được nhìn tận mắt “Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. Số người ăn có tới năm ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con”. (x.Mt 14, 21).

***
Trong câu chuyện này, có một điều chúng ta cần chú ý, đó là việc Đức Giê-su “…Bẻ ra, trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng.”

Tại sao? Tại sao Đức Giê-su không gọi vài ông hay một vài bà nào đó trong đám đông dân, như là người-đại-diện, để trao của ăn cho dân chúng?

“Trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng…” Vâng, có thể nói, đây là một bài học, một bài học Đức Giê-su muốn dạy cho các môn đệ, rằng: trong tương lai, họ chính là những người thừa kế vai trò và sứ mạng coi sóc và chăn dắt đoàn chiên của Ngài.

Người môn đệ, hay nói đúng hơn, người mục tử của Đức Giêsu, không có chuyện, chỉ vì “nơi đây hoang vắng” và chỉ “có năm chiếc bánh và hai con cá” mà để chiên của mình “tản lạc không người chăn dắt…”

Người mục tử của Đức Giêsu phải là cánh tay nối dài của Ngài. Phải tiếp tục dang rộng đôi tay “Chăm sóc chiên con của Thầy”. Phải tiên phong trong việc “Chăn dắt chiên của Thầy”. (Ga 21,16-17).

Nói tắt một lời, người môn đệ phải là người cộng tác tích cực với Chúa trong chương trình cứu độ.

Vẫn biết rằng, bất cứ thời điểm nào, người môn đệ của Chúa cũng đều phải đối diện với những nan đề của thời đại. Nhưng có phải vì thế mà người môn đệ thoái thác sứ vụ của mình!

Hãy nhìn ngôn sứ Êlisa. Ngài chính là mẫu mực cho vai trò của người mục tử. Tuy chỉ có “hai mươi chiếc bánh lúa mạch và cốm đựng trong bị”, nhưng nhờ tin tưởng vào Lời Thiên Chúa phán “Họ sẽ ăn và sẽ còn dư”, nên ông ta đã bảo tiểu đồng “Cứ phát cho người ta ăn”. Và quả thật “họ đã ăn và vẫn còn dư, như lời ĐỨC CHÚA phán” (2V 4,44).

Cũng vậy với người mục tử hôm nay, hãy tin tưởng vào Lời Thiên Chúa như ngôn sứ Êlisa tin tưởng. Hãy tin tưởng vào Lời Đức Giêsu “Đem lại đây cho Thầy”.

Hãy mang tất cả những nan đề của thời đại, những “gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo” v.v… mà đem lại đây cho Thầy Giêsu.

Chỉ khi mang tất cả mọi nan đề, cho-Thầy-Giêsu, vâng, khi đó, người mục tử mới có thể tràn đầy hy vọng rằng, sứ vụ của mình sẽ “toàn thắng”. Tất nhiên, sự toàn thắng đó là “nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta” (Rm 8, 37).

****
Trở lại câu chuyện “Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều.” Vâng, qua biến cố này, Đức Giêsu không chỉ chứng tỏ quyền năng của Ngài trên đời sống của nhân loại, nhưng Ngài còn muốn gửi đến mọi người một thông điệp, một thông điệp về lòng trắc ẩn, về tình liên đới, lòng quảng đại và tình bác ái.

Không tán thành ý kiến của các môn đệ về việc để dân chúng “vào thôn xóm và làng mạc chung quanh mà mua gì ăn” chính là bài học về lòng trắc ẩn, tình liên đới, lòng quảng đại, tình bác ái mà Đức Giêsu muốn dạy dỗ cho mọi người ở mọi thời đại.

Một vị Dalai Lama có nói: “Yêu thương và lòng trắc ẩn là những thứ thiết yếu, không phải xa hoa. Không có yêu thương và lòng trắc ẩn, nhân loại không thể tồn tại”.

Từ lời nói của vị Dalai Lama, chúng ta có thể nói rằng: lòng trắc ẩn, tình liên đới, lòng quảng đại và tình bác ái chính là “niềm hy vọng của sự sống cho mọi người”.

Người cha, trong “dụ ngôn người cha nhân hậu” nếu không có lòng trắc ẩn, lòng quảng đại”, có phần chắc, người con thứ sẽ không có cơ hội để đón nhận “niềm hy vọng của sự sống” cho chính bản thân của anh ta.

Thông điệp về lòng trắc ẩn, tình liên đới, lòng quảng đại và tình bác ái, quá rõ ràng. Và, chúng ta phải là những người thực hiện thông điệp đó. Bởi vì đó là lệnh truyền của Đức Giê-su.

Hôm nay, lệnh truyền của Đức Giê-su vẫn là hãy có lòng trắc ẩn, vẫn là hãy biết chạnh lòng thương xót, vẫn là”họ không cần đi đâu cả.”.

“Họ” của ngày hôm nay, có thể là những người “ngồi quanh đây trán in vết nhăn”. Có thể là những người ”khi mùa mưa về cùng lem nhem bước trên ngõ trơn.” Có thể là những người đang-cùng-nhau “chạy từng lưng cơm, áo che thân tàn.”

“Họ” của ngày hôm nay, không chỉ là những người đói-cơm-gạo mà còn là những-người-đói-lời… Lời-Thiên-Chúa.


Chúng ta là những người sẽ giải quyết những nan đề của “họ”, chăng! Vâng, chắc phải thế! Vì, nếu hôm nay Đức Giê-su hiện đến, Ngài cũng sẽ nói với chúng ta ‘y chang’ lời Ngài đã nói với các môn đệ năm xưa: “Chính anh em…”

Chính chúng ta phải là những nhà sản xuất, những nhà cung cấp, sản xuất và cung cấp ra những loại lương thực mang tên “bác ái, nhân hậu, từ tâm, hiền hòa, trung tín, tiết độ”, là những loại lương thực có thể thỏa mãn những nan đề, những cơn đói, cho những phận người, nêu trên.

Chính chúng ta phải “thỏa lấp những cơn đói của thời đại”. Thánh Thần Chúa vẫn luôn đồng hành với chúng ta. Đồng hành với chúng ta, giúp chúng ta thực hiện điều Chúa muốn.

Vâng, Điều Chúa muốn - hãy biết chạnh lòng thương xót.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2026

Điều Chúa muốn: Cứ để cả hai cùng lớn…

 Chúa Nhật XVI – TN – A

Điều Chúa muốn: Cứ để cả hai cùng lớn…

SnTM 180726a


Khởi đầu cho sứ vụ loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su có lời mời gọi: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy hối cải và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1, 15).

Tin vào Tin Mừng là tin vào điều gì? Thưa, đó là tin rằng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” Và rằng: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.” (Ga 3,16-17).

Thiên-Chúa-yêu-thế-gian, hay nói cách khác, tình-yêu-của-Thiên-Chúa-đối-với-thế-gian, chính là trọng tâm trong những lời giảng dạy của Đức Giê-su.

Để mọi người dễ dàng hình dung những lời giảng dạy của mình, Đức Giê-su thường dùng dụ ngôn với những hình ảnh rất đời thường như: gieo giống, đánh cá, chăn chiên, người làm vườn nho, tiệc cưới v.v… Qua đó, Ngài truyền đạt những sứ điệp thiêng liêng như: tình yêu, sự tha thứ, Nước Trời, đức tin, cánh chung… đến với mọi người.

Muốn giảng dạy về một Thiên Chúa là tình yêu, ư! Đức Giê-su kể dụ ngôn “người cha nhân hậu”. Muốn mọi người thực thi đức mến đúng tinh thần “yêu người như mình ta vậy”, ư! Đức Giê-su kể dụ ngôn “Người Sa-ma-ri nhân lành”.

Làm thế nào để mọi người nhìn rõ nét một Thiên Chúa là Đấng: “…không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống” ư! Vâng, Đức Giê-su kể “dụ ngôn cỏ lùng”.

Dụ ngôn này được ghi trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (x.Mt 13, 24-43).

**
Đức Giê-su kể dụ ngôn này như sau: “Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình”.

Lời mở đầu dụ ngôn, là một sự ví von rất sát thực trong đời sống thường nhật của người Do Thái, thời đó. Việc gieo-giống-tốt, ư! Đó là… là sự lựa chọn tất yếu của mọi nông gia.

Chuyện không kể, nhưng có gì ngăn cản chúng ta tưởng tượng rằng: có lẽ người nông gia kia sau một ngày “cày sâu cuốc bẫm”, đêm về sẽ có một giấc ngủ đầy mộng mị.

Có lẽ… người nông gia kia, trong giấc mộng, đã mỉm cười khi thấy cánh đồng mình, “Mênh mông mênh mông sóng lúa mênh mông. Lúc trời mà rạng đông rạng đông… Bóng người thấp thoáng cuối đường thanh vắng. Bước đều mà quang gánh nặng vai.”

Có lẽ… người nông gia kia, trong giấc mộng, đã mỉm cười khi thấy, đến ngày mùa, đầy tớ mình “Gánh gánh gánh gánh thóc về. Gánh gánh gánh gánh thóc về. Gánh thóc về gánh thóc về. Gánh về! Gánh về! Gánh về! Gánh về!” (Gánh Lúa - Tác giả: Phạm Duy).

Vâng, giấc mộng của người nông gia kia (nếu có) là chuyện bình thường. Thế nhưng, thực tế lại có chuyện không bình thường. Có chuyện không bình thường xảy ra trên cánh đồng người nông gia kia, chuyện là: “Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa rồi đi mất”.

Gieo-thêm-cỏ-lùng-vào-giữa-lúa… rồi-đi-mất. Ai… ai đã ném đá giấu tay! Không ai biết. Điều có thể biết, đó là nơi cánh đồng người nông gia kia, “Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện”.

Vâng, điều đó làm câu chuyện thêm ly kỳ. Một sự việc kỳ lạ và khó tin.

Thế là… đầy tớ… người đầy tớ đến gặp ông chủ của mình và nói: “Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy?”

“Kẻ thù đã làm đó! - Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không? - Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa.” Ông chủ ruộng và người đầy tớ đã có những lời đối đáp như thế.

Đó… đó là cách ứng xử khôn ngoan của ông chủ ruộng, chăng! Thưa đúng vậy. Theo sách vở ghi lại, cỏ lùng là một loại cỏ ở vùng Trung Đông, hình dáng rất giống cây lúa mì đến nỗi người địa phương gọi cây cỏ lùng này là cây lúa mì hoang.

Gom chúng lại ư! Làm sao nhận diện! Ngộ nhỡ nhổ lầm thì sao đây! Chính vì thế, ông nông gia kia đã đưa ra một quyết định rất đúng, đó là: “Đừng…”

Đừng gom chúng lại! Vâng, hôm ấy, ông chủ đưa ra một khẩu lệnh, khẩu lệnh rằng: “Cứ để cả hai cùng lớn lên. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi.” (Mt 13, 30).

***
Hôm đó, các môn đệ xin Đức Giê-su giải thích dụ ngôn và Ngài đã giải thích, như sau: “Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người. Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái ác thần. Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là ma quỷ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên thần”.

Sau đó, Ngài nói tiếp: “Vậy, như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác mà tống ra khỏi Nước của Người, rồi quăng chúng vào hồ lửa. Ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời trong Nước của Cha họ.”

Đức Giê-su đã giải thích. Chúng ta có sợ không? Nếu có, hãy nhìn lại chính mình và tự hỏi: “tôi là cỏ lùng hay là hạt giống tốt?”

Tại sao lại phải hỏi như thế! Thưa, là bởi, có thể hôm nay ta là hạt giống tốt, nhưng biết đâu, ngày mai ta lại là cỏ lùng!

Biết đâu được nhỉ! Vì… “Người xấu có thể hoán cải trở thành bậc thánh nhân, và coi chừng người đang là tốt đây có thể biến chất thành kẻ tội lỗi.” Một người anh em trong Chúa, có lời chia sẻ như thế.

Vâng, để chúng ta không trở nên cỏ lùng, thánh Phaolô có lời khuyên, rằng: “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì là đẹp lòng Thiên Chúa, cái gì là hoàn hảo” (x.Rm 12, 2).

Đúng vậy, đừng có rập theo đời này. Đừng thấy luật đời cho phép phá thai, thế là chúng ta thoải mái phá thai. Đừng thấy luật đời cho phép hôn nhân đồng tính, thế là chúng ta ủng hộ hôn nhân đồng tính, v.v…

Phải biến cải con người chúng ta. Biến cải những thói hư tật xấu, như: “nóng giận, ganh tỵ, bè phái, tranh chấp, say sưa chè chén”, (là nguyên nhân làm cho chúng ta đối diện với nguy cơ, đến mùa-gặt-cánh-chung, bị quăng vào hồ lửa), thành những đức tính tốt, đó là: “đức bác ái, đức nhẫn nhục, đức nhân hậu, đức hiền hòa”.

Trở lại với dụ ngôn. Vâng, chỉ với những hình ảnh đời thường, nhưng qua lời giải thích, Đức Giêsu đã trình bày cho mọi người thấy một chân lý ngàn đời, đó là: “Thiên Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu, Người đại lượng và chan chứa tình thương, Người không nỡ với ta như ta đáng tội và không trả cho ta theo lỗi của ta.” (Tv 103, 8-10).

Cho nên, đừng ngạc nhiên khi Thiên Chúa, qua ông-chủ-ruộng, khuyên “Đừng… sợ rằng khi gom… làm bật luôn rễ lúa.”

Khuyên “đừng …” có nghĩa là: “Chúa nương tay với muôn loài” (Kn 12,…16). Và rằng: Thiên Chúa nếu có muốn trừng phạt (gom chúng lại) thì “Ngài trừng phạt chúng từ từ cho chúng có cơ may hối cải” (Kn 12,10).

Kinh Thánh có lời chép rằng: “Bọn bất nhân dầu sởn sơ như cỏ, phường gian ác có đua nở khoe tươi, cũng là để bị diệt trừ vĩnh viễn” (Tv 92, 8).

Thế nên, nếu hôm nay, xã hội và ngay cả trong Giáo hội, kẻ xấu cũng như kẻ bất lương, bọn bất nhân cũng như phường gian ác, “dầu sởn sơ như cỏ - có đua nở khoe tươi”, chúng ta cũng đừng chán nản, thất vọng, thậm chí mất niềm tin.

Đừng để mình lung lạc niềm tin khi thấy “con cái Ác Thần” làm mọi điều gian ác, làm gương mù gương xấu, thế mà vẫn không bị “nhổ bỏ”, vẫn không bị “quăng vào lò lửa”.

Đừng ganh tị khi chúng ta thấy “con cái Ác Thần” vẫn có một cuộc sống hưng thịnh, giàu sang…

“Hãy có cái nhìn lạc quan hy vọng: Nước Trời vẫn đang lớn lên, ngay cả khi cỏ lùng có vẻ lấn át. Điều quan trọng là (chúng ta) trung thành theo Chúa Giê-su, với Lời Chúa là kim chỉ nam cho đời mình.” (nguồn: 5 phút cho Lời Chúa).

Hãy nhẫn nại chờ đến “mùa gặt cánh chung”.

Hãy xin “Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta”. (x.Rm 8, 27).

Vì, có Thần Khí Chúa cầu thay nguyện giúp, chúng ta sẽ nhận ra ý-Thiên-Chúa và làm-theo-đúng-ý-Ngài.

Hôm nay, ý-Thiên-Chúa và làm-theo-đúng-ý-Ngài, vẫn là: “Cứ để cả hai cùng lớn lên…”

Vâng… Điều Chúa muốn: Cứ để cả hai cùng lớn…

Petrus.tran

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2026

Điều Chúa muốn - Hãy trở thành đất tốt.

 Chúa Nhật XV – TN – A

Điều Chúa muốn - Hãy trở thành đất tốt

SnTM 120726a


Như chúng ta được biết, sau ba mươi năm sống ẩn dật tại quê nhà Nadarét, Đức Giê-su đến Ca-phac-na-um, một thành ven biển hồ Galilê, bắt đầu rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa.

Bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, có sự hiện diện của Đức Giê-su… “dân chúng (liền) lũ lượt kéo đến đi theo Người.”
Vì sao họ ngưỡng mộ Đức Giê-su, đến thế! Thưa, bởi Ngài là Đấng quyền năng. Bất cứ ai “ốm đau, bịnh hoạn, tật nguyền”, đem đến Người - Người đều chữa khỏi.

Họ ngưỡng mộ Đức Giê-su còn bởi “Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền… Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền.”

Mà … đúng là vậy! Rất uy quyền, khi Đức Giê-su truyền dạy: “Thật, tôi bảo thật…” – “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa… Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết…”

Và… giáo lý thì rất mới mẻ. Rất mới mẻ, với phương pháp giáo huấn mới: dùng dụ ngôn.

Vâng, Đức Giê-su dùng dụ ngôn… là những câu chuyện đơn giản, ngắn gọn, với những hình ảnh quen thuộc xảy ra trong đời sống hằng ngày như: gieo giống, đánh cá, chăn chiên, người làm vườn nho, tiệc cưới v.v…

Qua đó, Ngài truyền đạt những sứ điệp thiêng liêng như: tình yêu, sự tha thứ, Nước Trời, đức tin, cánh chung… đến với mọi người.

Một bảng thống kê chúng ta cần biết, một phần ba nội dung những bài giáo huấn của Đức Giê-su được kể bằng dụ ngôn.

Muốn mọi người nhìn rõ nét hơn về một Thiên Chúa là tình yêu, ư! Đức Giê-su kể dụ ngôn “người cha nhân hậu”. Muốn mọi người thực thi đức mến đúng tinh thần “yêu người như mình ta vậy”, ư! Đức Giê-su kể dụ ngôn “Người Sa-ma-ri nhân lành”.

Làm sao để mọi người nhìn rõ nét một “Thiên Chúa là Đấng quảng đại với các ơn sủng của Người”! Đức Giê-su kể dụ ngôn “người gieo giống”.

Dụ ngôn này được ghi trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (x.Mt 13, 1-23).

**
Đức Giê-su kể dụ ngôn này như sau: “Người gieo giống đi ra gieo giống. Trong khi người ấy gieo, thì có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ đất không có nhiều; nó mọc ngay, vì đất không sâu; nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt. Có những hạt rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả, hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục. Ai có tai thì nghe.” (x.Mt 13,4-9).

Vâng, nội dung dụ ngôn là thế. Có người đã nhận định dụ ngôn người gieo giống này như sau:

“Kiểu gieo giống này hơi lạ, nhưng là thực tế canh tác ở Palestine, ít là vào thời Chúa Giê-su. Ta đừng thắc mắc sao vung vãi các hạt giống lung tung, mà hãy nhìn chúng rơi xuống từ bàn tay hào phóng của người gieo giống.

Có những hạt giống không bao giờ trở thành một cái gì tốt đẹp, vì rơi trên vệ đường, sỏi đá, bụi gai… Chỉ những hạt giống rơi vào đất tốt mới đem lại hoa quả cho đời.

Ta thử hình dung, nếu hạt giống mà biết buồn biết vui, thật tội nghiệp cho những hạt rơi vào bụi gai, sỏi đá hay trên vệ đường. Chúng sẽ tủi phận như ‘thân gái mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu’…” (nguồn: internet).

Một nhận định thật “hóm hỉnh” phải không, thưa quý vị!

Với Lm.Charles E.Miller, suy tư dụ ngôn người gieo giống, ngài có lời giải thích rằng: “Không có nhà nông nào đã quan tâm đến việc chạy theo lợi nhuận mà lại phí phạm trong cách gieo giống (như chúng ta vừa đọc trong Tin Mừng thánh Mát-thêu đã ghi lại ở trên). Một nông dân thận trọng luôn cân nhắc cặn kẽ để chỉ gieo ở những nơi bảo đảm sẽ mang lại kết quả tốt. Song người gieo giống trong bài Tin Mừng đã không tiếc các hạt của mình… Vì ông tượng trưng cho Thiên Chúa là Đấng quảng đại với các ơn sủng của Người.” (nguồn: Sunday Preaching).

“Hạt giống - ơn sủng của Người” Lm. Charles cho rằng: “… tượng trưng cho Lời Chúa được tìm thấy trong các Sách Thánh đầy linh ứng, gồm 46 quyển Cựu Ước và 27 quyển Tân Ước. Thiên Chúa gieo hạt giống của Ngài lên lòng trí chúng ta, chủ yếu nhờ Phụng Vụ Lời Chúa trong thánh lễ.”

Vâng, chúng ta hãy siêng năng tham dự thánh lễ, qua phần nghe Lời Chúa và lời giảng dạy của linh mục chủ tế, Chúa sẽ ban cho chúng ta “ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời”, như đã ban cho các môn đệ, năm xưa.

***
Thiên Chúa là Đấng-quảng-đại với-các-ơn-sủng của-Người. Đây là một tin-tốt-lành.

 Rất tốt-lành, vì Đức Giê-su cũng sẽ nhắn nhủ chúng ta, như đã nhắn nhủ các môn đệ năm xưa: “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe. Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe.”

Vâng, chúng ta có phúc vì mắt chúng ta vẫn được thấy những kỳ công của Chúa. Tai chúng ta vẫn được nghe Lời Ngài.

Trở lại dụ ngôn, hôm ấy, sau khi kể câu chuyện trên, Đức Giê-su giải thích rằng: “Kẻ nào nghe lời giảng về Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp lấy điều đã gieo trong lòng nó: đó là kẻ thuộc hạng gieo dọc đường.”

“Hạt rơi trên đá sỏi là kẻ khi nghe lời giảng, thì tức khắc vui lòng chấp nhận, nhưng không đâm rễ sâu trong lòng nó, đó là kẻ nông nổi nhất thời, nên khi cuộc bách hại, gian nan xảy đến vì Lời Chúa, thì lập tức nó vấp ngã.”

“Hạt rơi vào bụi gai, là kẻ nghe lời giảng, nhưng lòng lo lắng việc đời, ham mê của cải, khiến lời giảng bị chết nghẹt mà không sinh hoa kết quả được.”
“Hạt gieo trên đất tốt, là kẻ nghe lời giảng mà hiểu được, nên sinh hoa kết quả đến nỗi có hạt được một trăm, có hạt sáu mươi, có hạt ba mươi”.

****
“Ai có tai thì nghe” – Vâng, chúng ta đã nghe. Chúng ta đã nghe và chúng ta hiểu rằng: “Mọi sự khác biệt chỉ tùy ở loại đất. Mà loại đất đây là chính chúng ta.”

Có bốn loại đất… chúng ta hãy tự hỏi mình, rằng: Tôi là loại đất nào trong bốn loại đất khi đón nhận “hạt giống Lời Chúa”!

Là loại đất vệ đường, loại đất sỏi đá hay loại đất bụi gai? Nếu đúng vậy, Lời Chúa sẽ ra sao! Sẽ vô ích, đúng không?

“Lời Ngài là sức sống của con. Lời Ngài là ánh sáng đời con. Lời Ngài làm chứa chan hy vọng. Là đường để con hằng dõi bước…”, thế mà cuối cùng trở thành vô ích cho tôi, sao! Hãy hình dung nỗi buồn của Chúa - Đấng-quảng-đại-với-các-ơn-sủng-của-Người – “người gieo Lời”.

*****
Đã là một Ki-tô hữu, đừng để người-gieo-Lời buồn.

Muốn vậy, đừng để lòng chúng ta chai đá. Đừng bịt tai, đừng nhắm mắt trước Lời Chúa.

Hãy biết rằng, hạt giống có mầm sống, nhưng dù là hạt giống có mầm sống, mầm sống đó chỉ có thể sinh sôi nẩy nở trong những điều kiện (đất đai) thuận lợi mà thôi.

Lời Chúa dù có quyền năng, nhưng sự đáp ứng của con người mới là yếu tố làm cho quyền năng của Chúa được thể hiện.

Do vậy, mảnh đất… mảnh đất tâm hồn của chúng ta, phải là một mảnh đất tốt, là: “kẻ nghe Lời và hiểu…”

Chúng ta sẽ không thể “nghe Lời và hiểu” nếu không đọc và học hỏi Lời Chúa hàng ngày. Hãy nhìn cộng đoàn dân Chúa ở Beroia năm xưa, họ chính là mẫu mực cho chúng ta về việc đọc và học hỏi Lời Chúa.

Tác giả Công Vụ Tông Đồ đã thuật lại việc đó như sau: “Những người Do Thái ở đây cởi mở hơn những người ở Thesalonica: họ đón nhận lời Chúa với tất cả nhiệt tâm, ngày ngày tra cứu Sách Thánh để xem có đúng như vậy không” (Cv 17,11).

Hãy “đón nhận lời Chúa với tất cả nhiệt tâm, ngày ngày tra cứu Sách Thánh”, vì lời Chúa có thể ví như một thứ “phân bón”, thứ phân bón tốt nhất, làm cho mảnh đất tâm hồn của chúng ta, dù có bị cằn cỗi thế nào đi nữa, cũng sẽ biến thành mảnh đất tốt, một mảnh đất “sinh hoa kết quả, hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục.”

Là một Ki-tô hữu “Hãy quyết tâm trở thành đất tốt”. Một người con cái Chúa, có lời mời gọi, như thế. Người bạn này tiếp lời: “để đón nhận hạt giống Lời mà Chúa vẫn hào phóng gieo vãi: (hãy) tránh xa Satan và các tay sai của nó, bớt cứng cỏi và thêm mềm mỏng để Lời có thể đâm rễ sâu, (hãy) giũ bỏ mọi đam mê, lo lắng sự đời để Lời khỏi bị bóp nghẹt.”

Làm như thế, chúng ta sẽ trở-thành-đất-tốt.

Vâng… Hãy trở thành đất tốt - đó là điều Chúa muốn.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

Điều Chúa muốn: đến cùng Ngài - học với Ngài

 Chúa Nhật XIII – TN – A

Điều Chúa muốn: đến cùng Ngài - học với Ngài

SnTM 040726a


Là một người Công Giáo, bạn có biết “Tuần Đại Phúc” nghĩa là gì không? Vâng, ”Tuần- Đại-Phúc là một hoạt động mục vụ, truyền giáo đặc trưng của Dòng Chúa Cứu Thế, bắt nguồn từ thời Thánh Anphongsô.” (nguồn: DCCT - Saigon).

Đây là chuỗi ngày ân sủng đặc biệt nhằm giúp giáo dân củng cố đời sống đức tin, hòa giải với Thiên Chúa và làm mới lại sinh hoạt của các giáo xứ.

Các linh mục thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế sẽ trực tiếp đến giáo xứ với bốn mục tiêu: giảng tĩnh tâm, dâng Thánh lễ, thăm viếng các gia đình và ngồi tòa giải tội.

Trong bốn mục tiêu nêu trên, Cha Phê-rô Trần Bá Thảo cho biết, thăm viếng các gia đình là mục tiêu tối thượng. Tối thượng bởi nhờ đó, mình mới có thể biết được tình trạng thực tế của từng gia đình, đời sống “phần hồn” của họ ra sao, hầu giúp họ củng cố đức tin, ăn năn sám hối và lãnh nhận bí tích Giao hòa.

Đối với những gia đình gặp chuyện buồn phiền về phần xác, như đau ốm, bịnh hoạn v.v… “Cầu nguyện…” Cha Phê-rô nói: “mình cầu nguyện cho họ và khuyên họ hãy phó thác mọi sự trong tay Chúa.”

Đối với những gia đình nguội lạnh, những gia đình gánh nặng “ách của tội lụy”, Cha Phê-rô ân cần mời họ hãy đến nhà thờ, lãnh nhận bí tích Giao hòa, tham dự Thánh Lễ.

Hãy-đến-nhà-thờ để lãnh-nhận-bí-tích-Giao-hòa, tham dự Thánh Lễ! Vâng, đó là một lời mời gọi, và nó gợi cho chúng ta nhớ đến lời mời gọi của Đức Giê-su, dành cho những ai “vất vả mang gánh nặng nề”, năm xưa.

**
Năm xưa, lời mời gọi của Đức Giê-su đã được thánh sử Mát-thêu ghi lại như sau: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.”

Nếu… nếu phải nhận xét về lời mời gọi này, nên chăng, chúng ta gọi đây là một lời an ủi “chan chứa lòng Chúa xót thương”!

Đúng vậy, gọi là chan-chứa-lòng-Chúa-xót-thương”, bởi Đức Giêsu đã thể hiện lời mời gọi này bằng hành động.

Thật vậy, trong ba năm ra đi loan báo Tin Mừng, biết bao người khi đến-với- Ngài, họ đã được Ngài làm cho bao đau thương vơi đi, bao nhọc nhằn tan biến. Kinh Thánh ghi lại rằng: “Mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền… Ngài (đều) chữa họ.” (Mt 4, 24).

Hôm đó, như để cho lời mời gọi được trọn tình, Đức Giê-su nói thêm rằng: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường”.

Và rồi Ngài quả quyết: “Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng.” (x.Mt 11, 29-30).

***
Chúng ta vừa nghe lại lời mời gọi của Đức Giê-su. Nếu hôm nay, Ngài đi làm Tuần Đại Phúc, và Ngài sẽ lại dùng lời mời gọi này như một thông điệp gửi đến chúng ta, chúng ta có đón nhận, có đến cùng Giê-su, có mang lấy ách của Giê-su, có học cùng Giê-su!

Vâng, câu trả lời là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, hãy nhìn vào thế giới hôm nay, nơi chúng ta đang sống. Nó thế nào nhỉ! Tội lỗi ngập tràn, đúng không?

Mà tội lỗi chính là nguyên nhân gây ra sự bất ổn và bất an. Những bất ổn và bất an đó, ai dám phủ nhận rằng, nó không là nguyên nhân làm cho chúng ta “vất vả mang gánh nặng nề”?

Bao lâu chúng ta còn sống trên thế giới này, đời sống của chúng ta sẽ luôn phải hứng chịu những hệ quả của nó và như lời thánh Phao-lô nói: “chúng ta rên siết, khổ tâm” (x. IICor 5,).

Cho nên, hãy thử hỏi, tôi có “khổ tâm” trong cảnh thiếu trước hụt sau vì đang thất nghiệp! Tôi có “khổ tâm” trước một gia đình, vợ chồng luôn xung đột: ông nói gà bà nói vịt?

Hãy thử hỏi, gia đình tôi con cái có biểu hiện bất tuân? Hoặc ngay chính bản thân tôi đang phải mang gánh nặng về thể xác, bệnh hoạn yếu đau. Tuổi đời càng cao, ôi sao, sức khỏe càng yếu?

Nếu chúng ta đang phải “rên siết, khổ tâm” về những nan đề nêu trên… hãy đến cùng Giê-su… hãy mang lấy ách của Giê-su. Đó là sự-đồng-hành.

Lời giải thích: “Ách… là dụng cụ ghép hai con vật để cùng kéo cầy. Khi mang ách của Chúa, Ngài chính là Đấng gánh vác phần nặng nhất, bước đi cùng và tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta.”

Về mặt “thuộc linh”, hãy thử hỏi, tâm hồn tôi có đang vất va vất vưởng nặng lòng trong tội lụy? Nếu có, cũng hãy đến cùng Giê-su.

Đến với Ngài, chúng ta “khám phá ra ơn tha thứ”. Chúng ta sẽ trải nghiệm được những giây phút bên một Giêsu - Đấng “không lên án” chúng ta, với lời khuyên chân tình: “từ nay đừng phạm tội nữa.”

Vua David… là một người đã từng mang những gánh nặng sầu thương trên con đường đời của mình. Là một người đã từng vất vưởng nặng lòng trong tội lỗi, gánh nặng trị quốc, gánh nặng gia đình, con cái phản nghịch.

Thế nhưng, khi ông trao cho Đức Chúa những gánh nặng sầu thương của mình, ông đã được sự nâng đỡ của Đức Chúa.

Sự từng trải đó đã được ông chia sẻ rằng: “Hãy trút nhẹ gánh lo vào tay CHÚA. Người sẽ đỡ đần cho, chẳng để chính nhân phải nghiêng ngửa bao giờ” (Tv 55, 23).

****
“Hãy đến cùng tôi - Hãy học với tôi”. Hôm nay, Đức Giê-su vẫn tiếp tục mời gọi chúng ta. Nơi chúng ta có thể gặp Ngài – học với Ngài… đó là hãy đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ.

Tham dự Thánh Lễ, qua phần phụng vụ lời CHÚA, chúng ta học được sự hiền-hậu-và -khiêm-nhường của Ngài.

Tham dự Thánh Lễ, qua phần phụng vụ Thánh Thể, “hồn” chúng ta được “bồi dưỡng” Mình Máu Thánh Đức Ki-tô.

Vậy nên hãy đến… chúng ta hãy đến nhà thờ… để gặp Chúa - học lời Chúa. Vì đó là điều Chúa muốn. Điều Chúa muốn: đến cùng Ngài - học với Ngài.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

Điều Chúa muốn: từ bỏ và hiếu khách...

 Chúa Nhật XIII – TN – A

Điều Chúa muốn: từ bỏ và hiếu khách

SnTM 270626a


Để cho sứ vụ loan báo Tin Mừng đến được “tận cùng trái đất”, Đức Giê-su đã tuyển chọn Mười Hai người môn đệ.
Bốn người môn đệ đầu tiên là “ông Si-mon, cũng gọi là Phê-rô, và người anh là ông An-rê.” Tiếp đến là “hai anh em con ông Dê-bê-bê là ông Gia-cô-bê và người em là Gio-an”.

Đáp lời mời gọi của Đức Giê-su: “Các anh hãy theo tôi.” Chuyện kể rằng: “Lập tức, các ông bỏ chài lưới… bỏ thuyền, bỏ cha lại, mà đi theo Người.”

Về người môn đệ Mát-thêu, Kinh Thánh ghi lại rằng: “Đức Giê-su đi ngang trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Mát-thêu đang ngồi tại trạm. Người bảo ông: Anh hãy theo tôi. Ông đứng dậy đi theo Người.”

Nói chung, mười hai người đi theo Đức Giê-su, tuy khác nhau về thân thế sự nghiệp, nhưng tất cả đều có một điểm chung, đó là khi đáp lời mời gọi của Thầy Giê-su, họ đã bỏ hết, bỏ hết mọi sự, và đi theo Ngài.

**
Bỏ-hết-mọi-sự, và đi-theo-Ngài, là một sự thách thức! Thưa không. Đức Giê-su không đặt ra thách thức nào cả. Có chăng, những điều Ngài đặt ra chẳng qua chỉ là những tiêu chuẩn, những tiêu chuẩn cho những ai muốn đi theo Ngài, phải thực hiện.

Một ngày nọ, Đức Giê-su đã phán truyền, rằng: “Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình… Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được”.

Có một ai đó đã nói: “Chẳng ai có thể đi một lúc hai con đường. Cuộc sống luôn đặt con người trước những lựa chọn, mà chọn là từ bỏ.”

Quan điểm của Đức Giê-su cũng là thế. Một ngày nọ, có một chàng thanh niên thuộc loại “con nhà giàu”, anh ta tìm đến Đức Giê-su và hỏi: “tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp”.

Hôm ấy, Đức Giê-su đã nói với anh ta rằng: “Hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo… rồi hãy đến theo tôi”. Khi nghe lời truyền dạy đó, chuyện kể rằng, “anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi… vì anh ta có nhiều của cải” (x.Mc 10, 22). Anh ta muốn đi... đi-một-lúc-hai-con-đường, thật đáng tiếc!

Một trường hợp khác, có người muốn đi theo Ngài, nhưng lại “xin phép về chôn cất cha con trước đã”, Đức Giê-su có lời bảo ban: “Anh hãy đi theo tôi. Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ”.

Với các môn đệ, Đức Giê-su có lời truyền dạy mạnh mẽ hơn. Ngài truyền dạy rằng: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy”.

Đừng kinh ngạc về những lời truyền dạy của Đức Giê-su. Đừng nghĩ rằng đó là một sự đòi hỏi “quá đáng”. Và cũng đừng cho rằng lời truyền dạy này mâu thuẫn với điều răn thứ tư: “Hãy thảo kính cha mẹ”.

Cách nói của Đức Giê-su chỉ là cách nói quyết liệt mà người Do Thái thường dùng. Văn chương Cựu ước (của Do Thái giáo) không có kiểu nói so sánh “hơn hay kém”. Đức Giêsu, khi nói như thế, Ngài muốn đặt ra một bậc thang giá trị cho một chọn lựa.

Muốn là môn đệ của Đức Giêsu ư! Phải đặt Ngài lên hàng ưu tiên số một trong bậc thang giá trị của con người. Và, đó chính là lý do Đức Giê-su truyền dạy những người môn đệ của mình, rằng: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được”.

“Việc loan báo Tin Mừng và các giá trị vĩnh cửu có tính chất cấp bách nhất. Chúa Giê-su không bảo chúng ta bất hiếu, mà muốn nhấn mạnh rằng: Việc thiêng liêng và sứ mệnh sống, phải được ưu tiên tuyệt đối. Đừng để những việc trần tục hay những thói quen cũ níu kéo bước chân bạn khỏi mục đích cao cả của cuộc đời.” (nguồn: tgpsaigon).

Như đã nói ở trên chọn-là-từ-bỏ. Đừng nghĩ rằng đây là một việc làm quá khó. Đó là quy luật “để sống và lớn lên”. Một tác giả vô danh đã có lời chia sẻ: “Thai nhi không thể ở mãi trong bụng mẹ, dù đó là chỗ an toàn, êm ấm. Ðứa bé chẳng thể nào trưởng thành, nếu nó sống mãi bằng sữa mẹ. Từ bỏ thường là những cắt đứt đau đớn, như mổ một khối u.”

***
Khi nghe những lời truyền dạy của Đức Giê-su (nêu trên), chúng ta đừng hiểu theo mặt chữ.

Liều-mất-mạng-sống-mình-vì-Thầy, đừng hiểu rằng, Đức Giê-su kêu gọi chúng ta ôm bom tự sát! Nhưng hãy hiểu rằng, Ngài có mục đích kêu gọi mọi người hướng đến một lối sống mới, một lối sống đích thực, một lối sống “không còn là tôi sống, nhưng là Đức Ki-tô sống trong tôi”.

Là một Ki-tô hữu, nếu cuộc sống của tôi không có Đức Ki-tô sống-trong-tôi, tôi sẽ chỉ là một Ki-tô hữu hữu-danh-vô-thực.

Không có Đức Ki-tô sống trong tôi, chúng ta không thể nói như Ngài, chúng ta không thể làm như Ngài và chúng ta không thể thể hiện một lối sống như Ngài đã sống, đó là một lối sống “Đến là để cho chiên được sống và sống dồi dào”.

Do vậy, đã là một Ki-tô hữu, chúng ta hãy tự hỏi mình rằng, bao nhiêu năm đi-theo-Chúa, tôi có thực sự “thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự.”! Tôi có “yêu mến CHÚA, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, và hết sức lực”?

Câu trả lời là của mỗi chúng ta. Nhưng, sẽ là thảm họa, nếu câu trả lời của chúng ta là chưa-hết-lòng, chưa-hết-linh-hồn, chưa-hết-trí-khôn… Vâng, chúng ta sẽ bị xếp vào loại người “hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh”.

Hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, thì sao nhỉ? Thưa, Kinh Thánh cho biết (Chúa) sẽ “mửa (người đó) ra khỏi miệng (Người)”. (Kh 3, 16).

Do vậy, đừng phớt lờ những tiêu chuẩn Đức Giê-su đã đặt ra. Hãy thực hiện, vì nhờ đó chúng ta sẽ không ngại “sau lại yêu người như mình ta vậy.”

Hãy thực hiện, những tiêu chuẩn Đức Giê-su đã đặt ra, thưa quý vị! Có thực hiện, lòng hiếu khách sẽ nảy nở trong tâm hồn chúng ta.

“Lòng hiếu khách…” Lm. Charles E.Miller gọi đó là “một dạng nhân nghĩa cao đẹp, đôi lúc phát xuất từ những căn do đáng kinh ngạc nhưng mang lại kết quả bất ngờ.”

Câu chuyện người phụ nữ Su-nêm, được ghi trong Sách Các Vua quyển 2, như một điển hình cho lời nhận định nêu trên.

Chuyện kể rằng: Một hôm, ông Ê-li-sa đi qua Su-nêm. Một người phụ nữ ở đó, không phải là dân Israel. Dân Su-nêm thường coi rẻ bất cứ người Israel nào, vì coi họ là ngoại kiều, nhưng người phụ nữ này coi trọng Ê-li-sa, bà nhìn nhận ông Ê-li-sa là một “thánh nhân của Thiên Chúa”.

Bà thuyết phục chồng cho ngôn sứ tá túc. Ê-li-sa chấp nhận hành vi hiếu khách của bà. Người phụ nữ Su-nêm này “không có con trai, mà chồng thì đã già”. Ngôn sứ Ê-li-sa biết được chuyện này, và ông muốn làm điều gì đó cho bà ấy, vì bà ấy quá lo lắng bận rộn cho ông. Thế là, ông Ê-li-sa đã cầu xin cho bà rằng: “vào độ này sang năm, bà sẽ được bế con trai”.

Lời cầu xin của ngôn sứ Ê-li-sa đã thành sự. Chuyện kể tiếp rằng: “Bà ấy có thai, và năm sau… vào độ mà ông Ê-li-sa đã nói, thì bà sinh con trai.” (x. 2V 4, 8-17).

Nhờ có lòng hiếu khách. người phụ nữ Su-nêm này, nhận được kết-quả-bất-ngờ.

Đó là chuyện xảy ra thời Cựu Ước. Còn hôm nay, thì sao! Thưa, hôm nay Đức Giê-su khẳng định: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy. Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ; ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính.” (x.Mt 10, 40-41).

Thế nên, đừng sợ khi phải tỏ-lòng-hiếu-khách. Nếu không tỏ lòng hiếu khách, có nguy cơ chúng ta sẽ bị “giằng co ray rứt suốt đời”.

Do vậy, hãy ghi nhớ điều Đức Giê-su phán dạy: “Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ là một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.”

Xưa, người phụ nữ Su-nêm, nhờ tỏ lòng hiếu khách với một “thánh nhân của Thiên Chúa”, phần thưởng dành cho bà là “một con trai, đứa con bởi thịt máu của bà.”

Nay, khi tỏ lòng hiếu khách “với nhau”, phần thưởng của chúng ta là… là gì nhỉ! Thưa, Lm.Charles nói: “Chúng ta cũng lãnh nhận một con trai, không phải đứa con trai bởi thịt máu mình, mà là người Con Hằng Hữu của Thiên Chúa là Cha. Vươn ra với tha nhân, đó là chúng ta vươn ra với chính Đức Ki-tô.”

“Là người Công Giáo…”, ngài Charles còn có lời chia sẻ: “chúng ta tin Đức Giê-su Ki-tô hiện diện trong Bí Tích Thánh Thể. Chúng ta còn phải xác tín mãnh liệt rằng: Người còn hiện diện trong những con người: khi phục vụ tha nhân, đó là ta phụng sự Người, ngoảnh mặt làm ngơ với người khác, đó là ta phớt lờ Người”.

Đúng là vậy. Vì… Đức Giê-su đã có lời phán truyền: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” (x.Mt 25, 39).

Vậy, chúng ta hãy làm điều Chúa muốn, đó là: từ bỏ mình và hiếu khách. Nói ngắn gọn, điều Chúa muốn: từ bỏ và hiếu khách.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2026

Hãy nhìn… Đấng diệt cả hồn lẫn xác…

 Chúa Nhật XII – TN – A

Hãy nhìn… Đấng diệt cả hồn lẫn xác…

SnTM 200626b


Sợ… hay sợ hãi là gì? Thưa, “là một cảm xúc nguyên thủy tự nhiên của con người, đóng vai trò như một cơ chế sinh tồn thiết yếu. Phản ứng này giúp cơ thể nhận thức được mối đe dọa hoặc nguy hiểm và đưa ra quyết định đối phó hoặc bỏ chạy.” (nguồn: internet).

Nói rằng “là một cảm xúc nguyên thủy tự nhiên của con người”, không sai. Nói rằng “phản ứng này giúp cơ thể nhận thức được mối đe dọa hoặc nguy hiểm và đưa ra quyết định đối phó hoặc bỏ chạy” cũng không sai. Nguyên tổ Adam và Eva như một minh chứng cho định nghĩa này.

Theo Kinh Thánh ghi lại, trước lời mời mọc quá hấp dẫn của satan: “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác”, Adam và Eva không thể cưỡng lại, đã ăn. Hậu quả, “họ thấy mình trần truồng… họ trốn chạy… họ sợ hãi” (x.St 3, 1-10).

Như tội tổ tông, sự sợ hãi cũng là ác mộng không của riêng ai. Có mối sợ hãi khiến ta thẫn thờ, bất động. Ví dụ như sợ ma. Có mối sợ hãi làm cho ta hoảng loạn. Ví dụ như chiến tranh, thiên tai v.v…

Là người Công Giáo, có một mối sợ hãi khiến ta có thể “không dám suy nghĩ và hành động đúng theo niềm xác tín Công Giáo của mình”. Đó là sự bách hại.

Đây là mối sợ hãi đặc biệt thường do từ sự đe dọa. Sự đe dọa bởi một ai đó, bởi một thể chế nào đó, bởi một thế lực nào đó v.v…
 
Đức Giê-su rất quan tâm đến mối sợ hãi này. Trong những ngày ra đi rao giảng Tin Mừng, Ngài và Nhóm Mười Hai vẫn thường phải đối diện với nhiều sự đe dọa. Những sự đe dọa này, thường xuất phát từ giới thần quyền Do Thái. Đó là quý ông Phariseu, kinh sư, biệt phái.

Với Đức Giê-su, Ngài chưa một lần tỏ ra sợ hãi. Nhưng, với Nhóm Mười Hai… Có, có vấn đề! Thế nên, Đức Giê-su đã có những lời chỉ dạy thiết thực, hầu đem lại cho các ông niềm xác tín vững mạnh vào sứ vụ trong một tương lai mà các ông sẽ thực hiện. Những lời chỉ dạy này, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mát-thêu.

**
Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại, thì: Sau khi Đức Giê-su tiên báo những cuộc bách hại sẽ xảy ra, Ngài đã có những lời chỉ dạy cho các môn đệ của mình, rằng: “Anh em đừng sợ người ta.”

Đức Giê-su bảo đừng-sợ-người-ta” là bởi, những con người đó chỉ là phàm nhân. Là phàm nhân, giỏi lắm họ chỉ “giết được thân xác mà không giết được linh hồn”.

Nếu có sợ… Vâng, hôm ấy, Đức Giê-su nói: “Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục”.

Đấng-có-thể-tiêu-diệt cả-hồn-lẫn-xác trong-hỏa-ngục, là ai! Thưa, đó chính là Thiên Chúa.

Nhìn các môn đệ, Đức Giê-su nói tiếp: “Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi”. (x.Mt 10, 29-30).

Sau đó, Ngài cho các ông một lời khuyên: “Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ”.

***
Trên đây là những lời chỉ dạy của Đức Giê-su dành cho các môn đệ. Và các ông đã tuân giữ lời chỉ dạy của Ngài.

Chuyện kể rằng, một ngày nọ các môn đệ “đang đứng trong Đền Thờ và giảng dạy cho dân”. Hôm ấy, các ông đã giảng Tin Mừng Đức Kitô phục sinh.

Nguồn tin này lọt đến tai Thượng Hội Đồng. Lập tức, họ sai lãnh binh Đền Thờ cùng nhóm thuộc hạ đi bắt.

Bắt được, lãnh binh Đền Thờ điệu các ông đến Thượng Hội Đồng. Vị thượng tế hỏi các ông: “Chúng tôi đã nghiêm cấm các ông không được giảng dạy danh ấy nữa, thế mà các ông đã làm cho Giê-ru-sa-lem ngập đầy giáo lý của các ông, lại còn muốn cho máu người ấy đổ trên đầu chúng tôi.”

Nghe thế, các môn đệ phản ứng thế nào! Thưa, các ông đáp lại: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm…”

Ngôn sứ Giê-rê-mi, được mênh danh là “Người của Thiên Chúa”, thấu hiểu điều này, bởi ông cũng từng bị nhạo báng, bị sỉ nhục và chế giễu.

“Nhưng…” ông nói: “…ĐỨC CHÚA hằng ở bên con như một trang chiến sĩ oai hùng. Vì thế những kẻ từng hại con sẽ thất điên bát đảo, sẽ không thắng nổi con. Chúng sẽ phải thất bại, và nhục nhã ê chề: đó là một nỗi nhục muôn đời không thể quên.” (x.Gr 20, 11).

Khi có ĐỨC CHÚA hằng-ở-bên, dù chưa bao giờ nghe Chúa Giê-su tuyên phán: “Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày, và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng…”, nhưng ông biết… Giê-rê-mi biết sấm ngôn của ĐỨC CHÚA phải “nói ra giữa ban ngày”.

Chuyện được kể lại rằng: “Giê-rê-mi bị những kẻ chống lại ông buộc phải lên đường trốn sang Ai Cập. Theo truyền thuyết, ông bị một số đồng bào của mình giết hại tại đó.”

Lm Charles E.Miller, suy tư vụ thảm sát của Giê-rê-mi, có lời chia sẻ rằng: “Những con người độc ác (những kẻ giết ông) không được ai nhắc nhở, nhưng với Giê-rê-mi thì ngược lại. Ông vẫn tồn tại không chỉ trong các trang Sách Thánh, mà còn trên Thiên Đàng với Chúa Giê-su, Đấng Mesia mà ông chưa từng biết tới trên cõi đời này, nhưng luôn giữ một lòng trung tín với Người tuy không hề nhận biết.”

Nói tắt một lời, Giê-rê-mi: vâng-lời-Thiên-Chúa hơn-vâng-lời-người-phàm.
 
****
Là người Công Giáo, có phần chắc, chúng ta nhận biết Chúa Giê-su. Có phần chắc, chúng ta đã được nghe những lời chỉ dạy thiết thực (nêu trên), của Ngài.

Hãy xem những lời chỉ dạy này, như chiếc kim- chỉ-nam cho cuộc hành trình về Thiên Quốc, của chúng ta. Bởi, chiếc kim-chỉ-nam này, chính là bửu bối, đem lại cho chúng ta sức mạnh kỳ diệu, sức mạnh của một Thiên Chúa “có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục”.

Phải mang trong mình chiếc kim-chỉ-nam này. Có như thế, chúng ta mới có thể chiến thắng trước những sự đe dọa của Satan, thông qua “những trào lưu nguy hiểm” đầy dẫy trong xã hội, hôm nay.

Mang trong mình chiếc kim-chỉ-nam này, chúng ta không ngại khi bị “chụp cho một cái mũ vi phạm nữ quyền” vì mình quá nhấn mạnh “phá thai là một tội ác không sao tả xiết”.

Mang trong mình chiếc kim-chỉ-nam này, chúng ta không ngại khi những người tôn thờ “chủ nghĩa cá nhân” nhìn chúng ta bằng cặp mắt hình “viên đạn đồng đen” vì chúng ta “cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc” v.v…

Mang trong mình chiếc kim-chỉ-nam này, chúng ta vẫn có thể tự tin “ngước mặt nhìn đời”, mặc thế gian “chê bai và ganh ghét”, chê-bai-và-ganh-ghét vì chúng ta rao giảng những lời giáo huấn mà Đức Giê-su Ki-tô đã truyền dạy, năm xưa.

Chúng ta đang sống trong thời kỳ cuối cùng. Thời kỳ “Có nhiều kẻ sẽ mạo danh Thầy đến, nói rằng: Chính Ta đây! Và họ sẽ lừa gạt được nhiều người”. (Mc 13, 6).

Có nhiều rồi đấy, thưa quý vị! Đã có người nói: “Tui là thư ký của Chúa”. Tin không! Đừng tin. Đừng tin, vì nó chính là “đệ ruột” của Satan, đội lốt người.

Đây là lúc chúng ta cần sự khôn ngoan. Sự khôn ngoan đích thực, đó là chúng ta hãy “nhìn xem Đức Giê-su như là cội rễ và cuối cùng của đức tin” (Dt 12, 2).

Nói cách khác, chúng ta “Hãy nhìn… Đấng diệt cả hồn lẫn xác”, xem đó như là cội rễ và cuối cùng đức tin của chúng ta.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

Lạy Chúa! Xin Ngài sai con.

 Chúa Nhật XI – TN – A

Lạy Chúa! Xin Ngài sai con

SnTM 130626a


Theo lịch sử Giáo Hội, chúng ta được biết, Đạo Công Giáo đã hiện diện trên thế giới này hơn hai ngàn năm. Và theo thống kê mới nhất (năm 2025) trên toàn thế giới có 1 tỷ 406 triệu tín hữu Công Giáo.

Đó là một con số không nhiều, không ít. Không nhiều, vì nó chỉ chiếm khoảng 17,8% dân số toàn cầu. Không ít, vì so với “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” nó chỉ vọn vẹn có mười hai người, thêm dăm-ba-bà-đạo đức, vài quý ông nhận ra Đức Giêsu “là một vị tôn sư được Thiên Chúa tuyển chọn” như Nicôđimô… là cùng!

Vâng, lúc khởi đầu, chỉ là mười hai. Mười hai người này đã được Đức Giê-su tuyển chọn và được gọi là Tông Đồ.

**
Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại: “Tên của nhóm mười hai Tông Đồ: đứng đầu là ông Si-mon, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông. Sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông. Ông Phi-lip-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô, ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế, ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô, ông Si-mon thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là chính kẻ nộp Người.”

Chỉ là mười hai Tông Đồ. Họ đã được Đức Giê-su sai đi. Họ đã được Ngài ban cho “quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền”, cùng với lời chỉ thị, rằng: “Anh em đừng đi về phía các dân ngoại, cũng đừng vào các thành nào của dân Sa-ma-ri. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en.”
Đây không phải là sự kỳ thị. Vào thời kỳ đó, người Do Thái không được giao thiệp với người Samari. Theo Tin Mừng thánh Luca cho biết, đã có “một làng Samari không đón tiếp Đức Giê-su” (x.Lc 9, 51).

Nói các ông hãy-đến-với các-con-chiên-lạc-nhà It-ra-en là bởi, Đức Giê-su thấy họ “lầm than vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt.”

Suy gẫm lời Đức Giê-su nói, Cha Charles E.Miller có lời chia sẻ: “Đây là cách Đức Giê-su bộc lộ một trái tim nhân bản trọn vẹn tròn đầy tình yêu của Thiên Chúa”.

Mà, đúng là vậy. Hồi ấy, Đức Giê-su đã chỉ thị cho nhóm mười hai tông đồ: “Hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần… Hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ.”

Và, cuối cùng Ngài khuyến cáo: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.”

***
Trước khi sai nhóm mười hai, Đức Giê-su đã nói với các ông rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.”

Nhắc lại lời nói này để làm gì? Thưa, để chúng ta tự hỏi mình rằng: Phải chăng, đây cũng là lời Đức Giê-su nói với chúng ta, hôm nay? Đúng vậy, cũng là lời Ngài nói với chúng ta, hôm nay.

Là chúng ta, bởi chúng ta cũng là môn đệ của Ngài. Vì thế, chúng ta cũng phải “xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”. Chúng ta cũng phải tiếp bước như các môn đệ xưa “đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”.

Xưa, các môn đệ được chỉ thị: “Hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần…”

Nay, chúng ta hãy rao giảng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời… Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,13-17).

Xưa, các môn đệ được chỉ thị: hãy-đến-với các-con-chiên-lạc nhà-It-ra-en.

Nay… Chúng ta hãy…

Hãy đến với những ai đang “rong ruổi đường đường gió bụi… gánh sầu thương mệt mỏi hai vai.” Nói với họ… “Về đây nấp bóng Sao Mai. Về đây quên lãng những ngày truân chuyên.”

Hãy đến với những ai “…Thiếu vỗ về người Mẹ. Tháng ngày trôi lặng lẽ cô liêu.” Nói với họ… “Về đây Mẹ sẽ thương yêu. Về đây Mẹ sẽ ban nhiều ơn thiêng.”

Hãy đến với những ai “Đang mê mải tìm hoan lạc. Những ngày đêm thổn thức băn khoăn.” Nói với họ… “Về đây ngỏ hết tâm can. Về đây Mẹ có muôn ngàn yêu thương.”

Hãy đến với những ai đang “Sống mãi trong do dự. Kiếp trần gian lữ thứ đau thương.” Nói với họ… “Về đây nấp bóng Trinh Vương. Về đây hưởng phúc thiên đàng yên vui.”

Khi chúng ta, đến với những ai rơi vào những hoàn cảnh nêu trên. Nói với họ, về những điều tốt lành như thế. Chúng ta chẳng khác gì một vị lương y, một vị lương y kê cho họ một toa thuốc “chữa lành”.

Làm như thế, chúng ta mới thực sự là đã thực thi lời Đức Giê-su chỉ thị: “Hãy chữa lành người đau yếu...”

Nói cách khác, làm như thế, chúng ta kéo họ ra khỏi thảm họa “ma đưa lối, quỷ dẫn đường”, một thảm họa sẽ dẫn họ đến “thung lũng âm u, nghi ngờ và chết chóc”.

***
Đừng nhát đảm nghĩ rằng, chúng ta không thể thực thi lời Đức Giê-su chỉ thị. Mọi sự đều có thể… có thể nếu chúng ta giàu lòng thương xót, như Đức Giê-su - Đấng giàu lòng thương xót.

Đức Giê-su không loại trừ bất kỳ ai. Ngài luôn sẵn sàng đón nhận những tâm hồn đau khổ và mời gọi con người sám hối để được chữa lành. Ngài đã có lời truyền dạy: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15, 13).

Đức Giê-su đã thực sự “hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” Điều này đã làm cho thánh Phao-lô “hết sức kinh ngạc và sửng sốt”.

Vị tông đồ dân ngoại đã giải bày nỗi lòng mình với tín hữu thành Roma: “Hầu như không ai chết vì người công chính, họa may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng? Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.” (x.Rm 5, 7-8).

Là-bằng-chứng-Thiên-Chúa-yêu-thương-chúng-ta… có tôi… có anh! Vâng, đúng thế. Thế nên, chúng ta phải đáp lại lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho chúng ta.

Đáp lại bằng cách nào? Thưa, đó là chúng ta “Cố gắng yêu thương người. Dù người không yêu ta, hãy cứ yêu thương hoài. Mặc người ai quen ai, hãy cho nhau một lời. Dù là nghe chua cay, dù là lời thoáng qua tai...”

Một cách tích cực hơn, đó là chúng ta hãy “đem уêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm.”

Đó là: hãy “đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậу vào nơi thất vọng… rọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu.”

Đó là: hãy “tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm уêu mến người hơn được người mến уêu.”

Vâng, chúng ta… chúng ta “còn (nhiều) người ngồi quanh đây, trán in vết nhăn.” Vẫn còn rất nhiều vầng trán nhăn nhó vì phải đối diện với nỗi đau thể xác lẫn tinh thần.

Vẫn còn rất nhiều vầng trán in đầy vết nhăn, những vết nhăn do phải lựa chọn giữa sự ác và sự thiện, giữa điều phải làm và điều không nên làm.

Hãy đến với họ. Vì, chúng ta đã-được-cho-không, thì cũng-phải-cho-không-như-vậy. Hãy-xin-chủ-mùa-gặt-sai-đi. Hãy nói với Chúa: Lạy Chúa! Xin Ngài sai con.

Petrus.tran

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...