Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

Tám mối phúc - là phúc Chúa ban

 


Chúa Nhật IV – TN – A
Tám mối phúc - là phúc Chúa ban

SnTM 310126a


Bạn có phải là một Ki-tô hữu? Nếu đã là một Ki-tô hữu, đã tin và theo Chúa, bạn có hạnh phúc, không? Vâng, câu trả lời có thể mỗi người mỗi khác. Có người sẽ nói có. Có người sẽ nói không.

Rất nhiều lý do nói có. Cũng có rất nhiều lý do nói không. Đức Giê-su - Ngài nói có.

Đức Giê-su nói có. Những ai tin và theo Chúa, có hạnh phúc. Và, hạnh phúc mà Ngài nói đến không phải là thứ hạnh phúc “đến từ những điều giản dị hàng ngày như: tình yêu thương, sức khỏe, các mối quan hệ tốt đẹp, hoặc thành tựu cá nhân v.v… chỉ có giá trị tương đối.”

Hạnh phúc mà Đức Giê-su nói đến, đó là “hạnh phúc Nước Trời - hạnh phúc được làm con Thiên Chúa”, một thứ hạnh phúc đích thực, một thứ hạnh phúc trường tồn, vĩnh cửu.

Và để có được “hạnh phúc Nước Trời - hạnh phúc được làm con Thiên Chúa”… Đức Giê-su, qua một bài giảng, đã có những lời truyền dạy, những lời truyền dạy chân tình, ngõ hầu giúp mọi người đạt được niềm hạnh phúc đó, một cách hiệu quả nhất.

Bài giảng này, ngày nay chúng ta gọi là “Bài giảng trên núi” và được ghi lại chi tiết trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (Mt 5, 1-12a).

**
Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại như sau: “Thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi, Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên.” Vâng, chỉ có… chỉ có Thầy và trò.

Rồi, Đức Giê-su dạy họ, dạy rằng: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

Phúc thay ai sầu khổ, vì họ được Thiên Chúa ủi an. Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng.

Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương. Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Phúc cho anh em, khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại, và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.”

***
Những lời truyền dạy (nêu trên), nghe quen lắm, phải không, thưa quý vị! Đúng vậy, những lời truyền dạy này chính là nội dung bài kinh “Phúc Thật Tám Mối”, một bài kinh chúng ta vẫn đọc, mỗi ngày.

Chúng ta đọc mỗi ngày, nhưng… chúng ta có xem những lời truyền dạy này như là phương cách giúp chúng ta thừa hưởng “hạnh phúc Nước Trời - hạnh phúc được làm con Thiên Chúa”? Hay chúng ta phàn nàn rằng thì-là-mà những lời Đức Giê-su truyền dạy không thực tế!

Gandhi - Mahatma Gandhi không nghĩ như thế. Ông ta không phải là Kitô hữu, nhưng ông rất yêu mến và quý trọng những lời Đức Giê-su truyền dạy trong “Bài giảng trên núi.”

Bài giảng này, ông mô tả là “khiến tôi vô cùng sung sướng, mang lại cho tôi sự nâng đỡ và niềm vui tràn ngập.”

Ông Gandhi thêm lời nhận định: “Bài giảng ấy là toàn bộ Kitô giáo, thế nhưng những người xưng mình là Kitô hữu lại bỏ quên giáo huấn ấy, chạy theo quá nhiều những ham muốn và thỏa mãn vật chất.”

Vì thế, ông mời gọi các Kitô hữu “hãy sống xứng đáng với sứ điệp của Bài giảng trên núi”. (nguồn: internet).

Đúng vậy, đã là một Ki-tô hữu, chúng ta “hãy sống xứng đáng với sứ điệp của Bài giảng trên núi”.

Khuyên “nghèo khó”, không có nghĩa là Thiên Chúa cấm ta làm giàu. Giàu cũng là ơn phước Chúa ban, như Người đã ban cho các tổ phụ Apraham, Isaac và Giacop.

Thế nhưng, nếu giàu mà vẫn sống với một “tâm hồn nghèo khó”, chúng ta sẽ nhận ra: tiền bạc, quyền lực, danh vọng chỉ là những thứ phù phiếm, nay có mai mất. Sống, với một tâm-hồn-nghèo-khó, chúng ta sẽ nhận ra: “được cả thế gian mà mất linh hồn thì ích gì.”

Không có tâm-hồn-nghèo-khó, chúng ta sẽ dễ rơi vào tình trạng: “Của cải… ở đâu, lòng… cũng sẽ ở đó.” (Mt 6, 21).

“Hiền lành” là một đức tính tốt. Hiền lành sẽ không hung hăng, không giận dữ, không cáu gắt hay bực tức.

Hiền lành luôn đồng hành với dịu dàng, nhỏ nhẹ, nhịn nhục. Và, nhịn nhục thì “một câu nhịn, chín câu lành”.

Thánh Kinh Chúa cũng có lời dạy: “Lời đáp êm nhẹ làm nguôi cơn giận, còn lời hung hăng trêu thịnh nộ thêm.” (Cn 15,1).

Tiếp đến, khi chúng ta biết “xót thương người”! Vâng, đó là chúng ta “học theo Giê-su”, một Giê-su luôn chạnh lòng thương xót đối với ai chạy đến cầu xin mình.

Về thể xác, chúng ta không thể không thương xót một người nghèo, một người gặp nạn, một người bị đối xử bất công. Thưa bạn, một người hàng xóm quá nghèo khó, là một Ki-tô hữu, lẽ nào ta không xót-thương-họ sao! Chẳng lẽ ta không “cho kẻ đói ăn” sao!

Về thuộc linh, chúng ta không thể không thương xót người phạm lỗi, phạm tội. Sửa sai, giúp họ nhìn thấy sự sai trái, sự phạm tội, phạm lỗi, cũng là biết xót-thương-người.

Thánh Phao-lô có lời khuyên: “Hãy ở với nhau cách nhân từ, dịu dàng thương xót. Hãy tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ cho anh em trong Đức Ki-tô.” (Êp 4, 32).

Một trong những điều Đức Giê-su truyền dạy, được các vị linh mục thường khuyên giáo dân của mình thực hiện, đó là: “Khát khao nên người công chính”.

Vâng, quả là một lời khuyên rất thực tế, thực tế trước một đất nước, một xã hội, mà chúng ta đang sống, hôm nay.
Xã hội ngày nay, ngày càng băng hoại. Lòng người ngày nay, ngày càng mất đi tấm lòng khao khát sự công chính. Vô cảm khi thấy sự bất công là chuyện “thường xảy ra ở huyện”.

Rất cần có nhiều người sống-công-chính. Và, chúng ta hãy-khát-khao-nên-người-công-chính. Nếu không, coi chừng chúng ta sẽ chung số phận với dân thành Sodoma, khi xưa.

Thành Sodoma xưa bị tiêu diệt vì “tội lỗi chúng nặng nề” (x.St 18, 20). Nếu trong thành đó có “năm mươi người lành”, Thiên Chúa “sẽ dung thứ cho thành đó”.

Giả như mười người! Thưa, “Thiên Chúa sẽ không phá hủy thành đó”. Chỉ cần mười người “làm lành lánh dữ”, một tiêu chuẩn đã được Kinh Thánh gọi là sống-công-chính. Tiếc thay! Sodoma không có.

Nhắc lại câu chuyện này làm gì? Thưa, để chúng ta tự hỏi: tôi có là một trong số mười người… mười-người-công-chính, hôm nay?

Hôm nay, thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng, rất cần nhiều… nhiều người, nên-người-công-chính.

Người không công chính rất nguy hiểm. Họ luôn nói ra những lời gian tà, xảo trá, không trung thực. Họ đôi lúc cũng nói lên lời khôn ngoan, nhưng lời khôn ngoan của họ không đi đôi với sự công chính. Sống khôn ngoan nhưng không công chính là lối sống của những con người xảo quyệt.

Còn người-công-chính thì: “miệng người công chính niệm lẽ khôn ngoan và lưỡi họ nói lên điều chính trực. Luật Thiên Chúa, họ ghi tạc vào lòng, bước chân đi không hề lảo đảo.” (x.Tv 37, 30-31).

Sống… nói-lên-điều-chính-trực, luật-Thiên-Chúa… được ghi-tạc-trong-lòng, chẳng phải là chúng ta đang “xây dựng hòa bình”, sao! Mà, xây dựng hòa bình thì sao, nhỉ! Thưa, chúng ta biết rồi, đó là một mối-phúc-lớn. Phúc “sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.”

Đừng nghĩ rằng, Bài-giảng-trên-núi (nói chung) – Phúc-thật-tám-mối (nói riêng), “bất khả thực hiện, chỉ trình bày một lý tưởng xa vời và thiếu thực tế”.

Ông Gandhi có lời chia sẻ, như thế. Ông “đã quyết định áp dụng giáo huấn của Chúa Kitô để vượt qua cái ác bằng cái thiện và đã đem lại kết quả lạ lùng khi ông dẫn đầu phong trào bất bạo động để đòi lại quyền tự do cho người Ấn.”

Theo ông, “Bài giảng trên núi sẽ không có ý nghĩa nếu không được đem ra ứng dụng trong cuộc sống thường ngày… Giáo huấn của Bài giảng có giá trị cho từng người và cho tất cả chúng ta”. (nguồn: internet).

Đúng vậy, cho-từng-người-và-cho-tất-cả-chúng-ta. Thế nên, ngay hôm nay - bây giờ, chúng ta hãy “vui mừng hớn hở” đem tinh thần bát phúc đi vào đời sống thường nhật.

Và, hãy lớn tiếng nói, nói rõ ràng, rằng: Tám mối phúc - là phúc Chúa ban.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

Dạ, con đây!

 Chúa Nhật III – TN – A

Dạ, con đây!

snTM 240126a


Giáo Hội Công Giáo, như chúng ta được biết, người đứng đầu là Đức Giáo Hoàng.

Về mặt xã hội: “Giáo Hoàng là chức vụ đứng đầu Giáo Hội Công Giáo, do Hội đồng Hồng Y giáo chủ bầu ra, giữ chức từ khi đăng quang tới khi qua đời. Theo tục lệ, Giáo Hoàng thường kiêm luôn chức Giám mục Giáo phận Rôma, nơi có Tòa Thánh Vatican. Khi đăng quang, Giáo Hoàng chọn tên một vị thánh, hoặc một người tiền nhiệm mà mình muốn noi theo, để làm tên hiệu đời Giáo Hoàng của mình; nếu tên hiệu ấy đã có người tiền nhiệm chọn, thì người sau ghi thêm thứ tự bằng chữ số La Mã… Trong ngôn ngữ xưng tụng, người Công Giáo Việt Nam thường gọi là Đức Giáo Hoàng, Đức Giáo Chủ hoặc Đức Thánh Cha” (x.Từ điển Bách khoa).

Về mặt Giáo Hội: “Đức Giáo Hoàng là Đấng kế vị thánh Phêrô, làm Giám mục Rôma, là thủ lãnh Giám mục đoàn, đại diện Chúa Kitô và chủ chăn của Hội Thánh toàn cầu” (x.GLHT CG).

Tính đến nay, Giáo hội Công giáo Rôma có khoảng 267 Giáo hoàng khác nhau, bắt đầu từ thánh Phêrô, với vị kế nhiệm hiện tại là Đức Giáo hoàng Lêô XIV.

Thánh Phêrô được xem như là Giáo hoàng đầu tiên, không qua bầu chọn, mà do Đức Giê-su tuyển chọn.

Xưa, tại Xê-da-rê Phi-lip-phê, Đức Giê-su đã chọn ông. Hôm ấy, trước sự hiện diện của Nhóm Mười Hai, Đức Giê-su tuyên bố: “anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy… Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.”

Có một sự trùng hợp lạ kỳ, thánh Phêrô cũng là người môn đệ đầu tiên được Đức Giê-su tuyển chọn. Cùng với ông, còn có ba vị khác nữa, đó là: An-rê, Gia-cô-bê và người em là Gio-an. Sự kiện này, được ghi lại chi tiết trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (Mt 4, 18-23).

**
Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại như sau: một ngày nọ, khi Đức Giê-su “đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai người anh em kia, là ông Si-mon, cũng gọi là Phê-rô và người anh là ông An-rê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá.” (x.Mt 4, 18).

Quăng-chài-xuống-biển… Vâng, đó là công việc cho sự sinh tồn của người ngư phủ. Thế nên, dù thánh sử Mát-thêu không nói, chúng ta cũng có thể nghĩ rằng, sau khi “quăng chài xuống biển”, hai chàng ngư phủ Phêrô và An-rê tập trung cao độ vào sự chuyển động của mành lưới cá.

Rồi… một phút… hai phút… có tiếng động, nhưng không phải tiếng chuyển động của mành lưới cá, mà là tiếng động phát ra từ con đường dọc-theo-biển-hồ. Đó… đó là tiếng nói của Đức Giê-su: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.”

Đáp lời mời gọi của Đức Giê-su, chuyện kể tiếp, rằng: “Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người”. Thế là ba Thầy trò cùng đi.

Rồi khi đi-một-quãng-nữa, Đức Giê-su “thấy hai anh em khác con ông Dê-bê-đê, là Gia-cô-bê và người em là Gio-an. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dê-bê-đê vá lưới ở trong thuyền”. Thế là, Đức Giê-su gọi các ông. “Lập tức các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người”.

***
Phêrô, An-rê, Gia-cô-bê và Gio-an là bốn người môn đệ đầu tiên theo Đức Giê-su.

Tại sao, chỉ với một lời mời gọi giản dị: “Các anh hãy theo tôi…” và một lời hứa lạ kỳ: “…tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”, bốn chàng ngư phủ này lại đi theo Đức Giê-su một cách nhanh chóng như thế?

Thưa, theo Tin Mừng thánh Gio-an ghi lại, thì: hai trong bốn vị này là những người đã được nghe ông Gio-an Tẩy Giả giới thiệu Đức Giê-su là “Chiên Thiên Chúa”.

Vào hôm được nghe giới thiệu về Đức Giê-su, hai vị này đã “đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy.”

Chưa hết, một trong hai vị này là ông An-rê, anh ông Si-mon Phê-rô, gặp em mình là ông Si-mon và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a nghĩa là Đấng Ki-tô. Rồi ông (An-rê) dẫn em mình đến gặp Đức Giê-su.”

Hôm ấy, Đức Giê-su “nhìn ông Si-mon và nói: Anh là Si-mon, con ông Gio-an, anh sẽ được gọi là Kê-pha (tức là Phê-rô)”.
Đã được diện kiến, mặt-đối-mặt… Đã được đặt tên... tên Kê-pha. Nay, được mời gọi: “Các anh hãy theo tôi…” cớ gì không theo, nhỉ!

Nhận định cho việc “lập tức đi theo” Đức Giê-su của bốn vị môn đệ: Phê-rô, An-rê – Gia-cô-bê và Gio-an, Cha Charles E.Miller có lời chia sẻ: “Các ông thấy một điều gì đó nơi Đức Giê-su mà (từ trước tới nay) các ông chưa từng chứng kiến. Ánh sáng đức tin giúp những con người này bắt đầu thấy Đức Giê-su thật sự là Ai. Người là Con Thiên Chúa.”

Đúng. Đức Giê-su - Người là Con Thiên Chúa, điều mà các ông đã được thầy của mình là ông Gio-an Tẩy Giả, chứng thực rằng “Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.”

****
Xưa, Đức Giê-su đã kêu gọi bốn vị môn đệ đầu tiên. Kế đến, Ngài lập Nhóm Mười Hai. Rồi thêm bảy mươi hai người khác, nữa. Nay, Ngài tiếp tục kêu gọi, vẫn tiếp tục kêu gọi. Và, chúng ta là những người Ngài kêu gọi.

Hôm nay, Đức Giê-su cũng gọi đích danh mỗi chúng ta, như xưa Ngài đã gọi đích danh Mười Hai vị môn đệ. Hôm nay, khi chúng ta chịu phép Rửa Tội: “Người phán qua vị linh mục chủ sự, rằng: Hồng hoặc Hoa. Trung hay Dũng (bất luận tên chúng ta là gì), Cha rửa con nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.” Cha Charles E. Miller có lời chia sẻ, như thế.

Cha-rửa-con và con-là-con-Cha. Lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội chúng ta được gọi là Con của Chúa. Đã là Con của Chúa thì hãy theo Chúa. Đã là con Chúa thì hãy nghe và thực thi ý Chúa. Nghe và thực thi ý Chúa, có như thế, chúng ta mới được xem là đã đi theo Chúa một cách trọn vẹn.

Về điều này, một lần nọ, Đức Giê-su có lời khuyến cáo: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa! Lạy Chúa! Là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi”.

Đã thực-thi-ý-Chúa thì đừng thực-thi-ý Satan. Vâng, ý Satan đó là “những việc do tính xác thịt gây ra”. Đó là: “dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén.” (Gl 5, 19-20).

Thánh Phao-lô có lời khuyến cáo: “những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa.”

Trở lại câu chuyện bốn vị môn đệ. Vâng, khi theo Đức Giê-su, họ đã bỏ hết mọi sự. Nay, Chúa Giê-su cũng muốn chúng ta bỏ-hết-mọi-sự, thế nhưng đừng nghĩ rằng, “bỏ hết mọi sự” đồng nghĩa với việc ta phải bỏ sự nghiệp, bỏ gia đình, bỏ thân bằng quyến thuộc để đi theo Chúa, như các ông Simon, Anrê, Giacôbê và Gioan đã thực hiện, năm xưa.

“Bỏ hết mọi sự”… đó là khi chúng ta “Hứa yêu nhau, trao trao câu thề chung sống trọn đời”, chúng ta dám sống một cuộc sống hy sinh, ngay cả bản thân của mình, cho “câu thề” mà chúng ta đã thề hứa.

“Bỏ hết mọi sự”, đó là chúng ta dám sống một đời sống phục vụ, cho một lý tưởng, mà chúng ta đã chọn lựa. Bỏ-hết-mọi-sự, là khi chúng ta “đã tra tay cầm cày (thì đừng) ngoái lại đàng sau”.

*****
Có cần thiết phải làm một “tour” du lịch đến biển hồ Galile, để may chi nghe được tiếng Chúa gọi!?

Thưa không. Điều cần thiết đó là chúng ta hãy để cho tâm hồn mình chìm vào trong thinh lặng của nguyện cầu. Chúng ta sẽ nghe được tiếng Chúa gọi.

Trong thinh lặng của nguyện cầu, chúng ta sẽ nghe được tiếng Chúa gọi. Đó là điều Sa-mu-en đã trải nghiệm. Chuyện kể rằng: Trong thinh lặng của Đền Thờ, nơi đặt Hòm Bia Thiên Chúa. “Đức Chúa đến, đứng đó và gọi: Sa-mu-en! Sa-mu-en! Sa-mu-en thưa: Xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe.” (x.1S 2, 10).

Hôm nay, trong thinh lặng của Nhà Thờ, nơi đặt Mình-Thánh-Chúa, chúng ta sẽ nghe được tiếng Đức Giêsu gọi, những lời mời gọi thiết tha: “Lại đây con, mau hỡi con, cùng theo Ta. Ta nếm mùi cay đắng thay con rồi. Chuộc con, Ta đã chết cách nhục nhã. Ðau khổ vì con trả xong nợ tội… Lại đây con, mau hỡi con, cùng theo Ta...” (trích đoạn nhạc phẩm: Hãy theo Ta – tác giả George D.Watson).

Hãy thưa… Vâng, chúng ta hãy như Sa-mu-en, thưa rằng: Dạ, con đây!

Petrus.tran

Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2026

Đừng ngại là… cái đòn gánh của Chúa

 Chúa Nhật II – TN – A

Đừng ngại là… cái đòn gánh của Chúa

snTM 170126a


Như chúng ta được biết, trước khi thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng, “Đức Giê-su từ miền Ga-li-lê đến sông Gio-đan, gặp ông Gio-an để xin ông làm phép rửa cho mình”. Và ông Gio-an đã “làm phép rửa” cho Đức Giê-su.

Biến cố Đức Giê-su chịu phép rửa cứ tưởng như là một sự kiện bình thường, bình thường như bao cư dân Do Thái thời đó, cũng đã được ông Gio-an “làm phép rửa cho họ”.

Thực sự thì, biến cố Đức Giê-su chịu phép rửa là một sự kiện linh thiêng. Linh thiêng… bởi hôm đó, khi “Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên”, thì có một thông điệp “từ trời phán rằng: Con là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người”.

Ông Gio-an, còn được gọi là Gio-an Tẩy Giả, là người chứng kiến sự kiện linh thiêng này. Để rồi hôm sau, khi gặp lại Đức Giê-su, ông đã thổn thức thốt lên, rằng: “Đây là Chiên Thiên Chúa… Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.”

Câu chuyện này, được ghi lại chi tiết trong Tin Mừng thánh Gio-an. (x.Ga 1, 29-34).

**
Vâng, sau hôm làm phép rửa cho Đức Giê-su. Ông Gio-an Tẩy Giả gặp lại Ngài. Chuyện kể rằng: “Hôm sau, ông Gio-an thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, liền nói: Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian. Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.”

Như một lời giải thích cho việc mình làm phép rửa, ông nói tiếp: “Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân It-ra-en, tôi đến làm phép rửa trong nước.”

Và, như một nhân chứng, ông làm chứng, rằng: “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước, đã bảo tôi: Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần”.

Cuối cùng, ông Gio-an kết luận: “Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.”

***
Đừng nghĩ rằng ông Gio-an Tẩy Giả “hỗn” khi gọi Đức Giê-su là “chiên”. Bởi vì, “chiên” là từ ngữ không xa lạ đối với người Do Thái. Mà, chẳng phải là ông đang nói với người Do Thái, đó sao!

Khi nói tới chiên, người Do Thái không thể quên đó là con vật từng giải thoát cha ông họ ra khỏi Ai Cập, khi xưa.

Về sự kiện này, trong bài viết “chiên sát tế”, tác giả Anphong, ofm, có lời giải thích như sau: “Hằng năm vào lễ Vượt Qua của người Do Thái, mỗi gia đình có tục lệ ăn thịt một con chiên. Phải lựa con chiên non dưới một năm tuổi, tốt đẹp, không tì vết.

Người Do Thái ăn thịt chiên Vượt Qua, không phải để mừng mùa đông đã qua và mùa xuân vừa mới khởi đầu, nhưng là để kỷ niệm ngày Chúa giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập.

Vào đêm hôm giải thoát dân Do Thái. Chúa truyền cho họ giết một con chiên non, lấy máu bôi lên cửa nhà. Đêm ấy sứ thần Chúa đến, nhờ dấu máu chiên bôi ở cửa nhà mà người Do Thái được sứ thần ‘vượt qua’, (bỏ qua), không vào nhà tàn sát con đầu lòng.” (nguồn: internet).

 ”Chiên”, từ đó, được dùng làm con vật trong tế tự. Con chiên đã được được dùng để tế lễ Thiên Chúa, làm của lễ toàn thiêu, làm của lễ hiến tế, và cũng để làm của lễ đền tội.

Sách Lêvi dạy: “Nếu một người vô ý phạm tội, làm một trong những điều mà ĐỨC CHÚA cấm làm... thì vì tội đã phạm, nó sẽ đưa đến một con dê (hoặc chiên) làm lễ tiến. Nó sẽ đặt tay trên đầu lễ vật tạ tội và sát tế lễ vật tạ tội ở nơi sát tế lễ vật toàn thiêu. Tư tế sẽ dùng ngón tay lấy máu con vật và bôi lên các góc cong của bàn thờ dâng lễ toàn thiêu, rồi đổ tất cả máu còn lại xuống chân bàn thờ... Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội như thế cho người ấy, và người ấy sẽ được tha. (Lv 4, 27-32).

Chúng ta có thể tham khảo thêm ở Sách Xuất Hành. Sách Xuất Hành truyền dạy: “Đây là những gì ngươi sẽ dâng trên bàn thờ: hai con chiên một tuổi, ngày nào cũng vậy, phải giữ như thế mãi mãi. Ngươi sẽ dâng một con lúc sáng, còn con thứ hai thì dâng vào lúc chập tối. Cùng với con chiên thứ nhất, ngươi sẽ dâng bốn lít rưỡi tinh bột lúa miến nhào với hai lít dầu ô-liu giã trong cối, và lấy hai lít rượu nho làm rượu tế. Còn con chiên thứ hai, ngươi sẽ dâng vào lúc chập tối, và dâng cùng với lễ phẩm và lễ tưới rượu như ban sáng. Đó là hương thơm làm đẹp lòng ĐỨC CHÚA, là lễ hoả tế dâng ĐỨC CHÚA.” (Xh 29, 38-41).

Với Thánh Phao-lô, vị tông đồ dân ngoại, ông nói: “Đức Ki-tô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta” (x.1Cr 5, 7).

Nói… Đức Giêsu là Chiên-Thiên-Chúa, ông Gioan Tẩy Giả muốn nói rằng: Ngài chính là Chiên-Con-Mới, một lễ vật mới cho việc “tế lễ” tạ tội cho tội lỗi của nhân loại.

Thế thì, ông Gio-an Tẩy Giả thấy Đức Giê-su và nói: Đây-là-Chiên-Thiên-Chúa, chẳng có gì sai, phải không, thưa quý vị!

****
Ông Gio-an Tẩy Giả còn nói Đức Giê-su là Đấng-xóa-bỏ-tội-trần-gian. Có người nói, nên dịch là Đấng-gánh-tội-trần-gian… ý nghĩa hơn.

Vâng, tác giả Anphong, ofm, cũng trong bài viết chiên-sát-tế, cho rằng, “chữ ‘xóa’ là một cách nói văn hoa nhẹ nhàng nhưng không lột hết ý nghĩa của nguyên ngữ. Tiếng Hy Lạp dùng từ ‘Airein’, tiếng Latin dùng từ ‘Tollit’ có nghĩa là nhận lấy vào mình, gánh lấy, vác lấy. ‘Xóa’ có thể có nghĩa là đứng ngoài. Ở ngoài ta bắn một quả canon, xóa sạch hang ổ của kẻ địch. Từ trời, Đức Chúa cho mưa diêm sinh xuống xóa sạch tội lỗi dân Sôđoma và Gômora. Vì thế có lẽ nên dịch là Đấng ‘gánh’ tội trần gian thì đúng hơn.”

Đức Giêsu không đứng ngoài cuộc. Ngài đã nhập cuộc. Đã gánh lấy thân phận con người và nhất là gánh lấy tội lỗi thế nhân.

Đức Giê-su đã “gánh” – gánh một cách êm ái, gánh một cách nhẹ nhàng… “mọi tội lỗi của nhân loại, chịu đau khổ, và chết thay cho con người để chuộc tội, giải thoát con người khỏi ách nô lệ tội lỗi, và ban cho con người sự cứu rỗi”, trong đó có chúng ta.

Thế thì, cớ gì chúng ta không lớn tiếng nguyện xin, rằng: “Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng (gánh) tội trần gian: xin thương xót chúng con. Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng (gánh) tội trần gian: xin thương xót chúng con. Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng (gánh) tội trần gian: xin ban bình an cho chúng con.”

*****
Chúng ta lớn tiếng nguyện xin như thế, vì chúng ta là chiên-của-Thiên-Chúa. Vì là Chiên-của-Thiên-Chúa chúng ta được mời gọi “thông phần vào công cuộc cứu độ của Chúa và hợp tác với Chúa trong việc cứu chữa các tội nhân.” Cha Inhaxiô Trần Ngà, qua bài viết “Đấng gánh tội trần gian” đã có lời truyền dạy, như thế.

Đúng. Hãy nhớ, khi đã tin Chúa và lãnh nhận Bí tích thánh tẩy; chúng ta trở thành chi thể trong nhiệm thể là Đức Kitô; và được hiệp thông nên một với Chúa Giêsu qua Bí tích Thánh Thể.

Chính nhờ ân sủng đó, chúng ta được thông dự vào chức tư tế của Chúa Giêsu. Nói rõ hơn, chúng ta cùng “hiến tế” với Chiên-Con-của-Người là Đức Giêsu.

Chúng ta không cần “hiến tế” đời mình trên thập giá như Đức Giêsu, mà hãy hiến tế đời mình cho những nhân đức.

Khi chúng ta hiến tế đời mình cho nhân đức bác ái, chúng ta sẽ xóa-bỏ-tội tham lam và ích kỷ. Khi chúng ta hiến tế đời mình cho nhân đức vâng lời, chúng ta sẽ xóa-bỏ-tội kiêu căng ngạo mạn.

Khi chúng ta hiến tế đời mình cho nhân đức nhân hậu, từ tâm, chúng ta sẽ “(Gánh) yêu thương (đem) vào nơi oán thù. (Gánh) thứ tha (đem) vào nơi lăng nhục. (Gánh) trông cậy (đem) vào nơi thất vọng. (Gánh) niềm vui (đem) đến chốn u sầu”.

Gánh những thứ này chẳng khác nào “gánh sầu thương mệt mỏi hai vai”, phải không, thưa quý vị! Đúng, “hiến tế” đồng nghĩa với “chết đi”. Thế nhưng, hãy vui lên, bởi vì Thánh Phanxico Assisi đã xác tín rằng: “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.

Đức Giêsu cũng chẳng từng nói: “Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình; nhưng nếu nó thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt”, đó sao!

Thế nên, chúng ta đừng ngại “gánh”dù là có phải mệt-mỏi-hai-vai. Chúng ta đừng ngại hiến tế đời mình cho việc thực thi những nhân đức. Chúng ta đừng ngại “chết trong lòng một ít” khi thể hiện tình yêu thương.

Chúng ta đừng ngại là “cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa”. Một cái-thanh-ngang “gánh” Đức Giêsu. Một Đức Giêsu - Đấng-gánh-tội-trần-gian.

Vâng, nói theo ngôn ngữ Việt Nam, chúng ta đừng ngại… “đừng ngại là… cái đòn gánh của Chúa”.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2026

Hãy sống sao… để Chúa hài lòng

 Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa

Hãy sống sao… để Chúa hài lòng

snTM 100126a


Theo lịch Phụng Vụ, sau lễ Hiển Linh, toàn thể Giáo Hội long trọng cử hành lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa. Chúa Giê-su chịu phép rửa là một biến cố linh thiêng. Bởi vì… bởi vì hôm đó… có một cuộc thần hiện vô tiền khoáng hậu. Và một mặc khải về “Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” được công bố.

Thánh sử Mát-thêu, một người môn đệ trong Nhóm Mười Hai, ghi lại biến cố này. Ngài thánh sử ghi lại trong một quyển sách, quyển sách đó, ngày nay chúng ta gọi là Tin Mừng theo thánh Mát-thêu. (Mt 2, 1-12).

**
Vâng, Tin Mừng theo thánh Mát-thêu ghi biến cố này, như sau: “Bấy giờ, Đức Giê-su từ miền Ga-li-lê đến sông Gio-đan, gặp ông Gio-an để xin ông làm phép rửa cho mình”.

Dưới đôi mắt của những cư dân Do Thái thời đó, sự việc Đức Giê-su “xin ông (Gio-an) làm phép rửa cho mình” là chuyện bình thường, bình thường bởi chính họ cũng đã được ông Gio-an “làm phép rửa cho họ trong sông Gio-đan”.

Nhưng, với ông Gio-an… đó là điều “không tưởng”. Vì thế, hôm ấy ông đã “một mực can Người và nói: chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi”.

Phản ứng của Đức Giê-su về lời can ngăn của ông Gio-an thế nào! Thưa, hôm ấy Đức Giê-su trấn an ông, rằng: “Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính”.

Nghe thế, chuyện kể tiếp, rằng: “Bấy giờ ông Gio-an mới chiều theo ý Người”. Chiều-theo-ý-Người có nghĩa là ông Gio-an “làm phép rửa” cho Đức Giê-su.

Ông Gio-an (đã) “làm phép rửa” cho Đức Giê-su. Và, đúng là điều “không tưởng”, xảy ra, xảy ra khi “Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán: Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”. (x.Mt 3, 16-17).

***
Đức Giê-su chịu phép rửa. Và, điều này gây ra sự thắc mắc nơi một số người rằng, Ngài có tội gì mà phải chịu phép rửa!

Đức Giê-su, Ngài chẳng có tội gì cả. Không có tội, nhưng Đức Giê-su vẫn chịu phép rửa, là để “mạc khải về một kỷ nguyên mới đã bắt đầu, một mạc khải sống động về Ba Ngôi Thiên Chúa”. Cha Giu-se Nguyễn Hữu An có lời chia sẻ, như thế.

Mà, đúng là vậy. Hôm ấy, tại sông Gio-dan, có Thần-Khí-Thiên-Chúa hiện đến, có tiếng-từ-trời phán, có Đức Giê-su… điều đó chẳng phải là “mạc khải sống động về Ba Ngôi Thiên Chúa”, sao!

Phép rửa của ông Gio-an “rửa trong nước để giục lòng sám hối”. Còn Đấng-đến-sau-tôi… ông Gio-an cho biết: “Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa… trong Thánh Thần và lửa”.

Vâng, Đấng-đến-sau-tôi, chúng ta biết rồi, là Đức Giê-su.

Thế nên, đừng ngạc nhiên về việc Đức Giê-su chịu phép rửa. Ngài chịu-phép-rửa, bởi vì qua đó, mọi người sẽ nhìn thấy một Giê-su “vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế”.

Đức Giê-su sống-như-người-trần-thế… ngoại trừ tội lỗi.

***
Đức Giê-su chịu phép rửa. Thế còn các môn đệ! Các ông có chịu phép rửa! Về chuyện này, các sách Tin Mừng không nói đến. Nhưng, có một chuyện, các sách Tin Mừng nói đến, đó là chuyện Đức Giê-su sai các ông “làm phép rửa”.

Vâng, trước khi về trời, Đức Giê-su có nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”

Các môn đệ đã tuân theo mọi điều Đức Giê-su truyền. Các ông đã làm phép rửa cho muôn dân. Và hôm nay, Giáo Hội tiếp tục sứ mệnh thiêng liêng này. Sứ mệnh có tên gọi mới “Ban Bí Tích Rửa Tội.”

Nhắc đến điều này để làm gì? Thưa, để chúng ta “ngẫm lại phép rửa của mình”. Nói cách khác, chúng ta hãy nghĩ tới Bí Tích Rửa Tội mà chúng ta đã lãnh nhận.

Thật cần thiết để nhớ lại ngày chúng ta lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội. Nhớ lại để chúng ta tái-khám-phá một ân sủng; mà có thể vì những bụi-bặm-trần-gian, những đam-mê-trần-thế… đã làm lu mờ cái giá trị … giá trị chúng ta được trở nên “con Thiên Chúa”.

Những người lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, Thánh Phao-lô nói: “Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng (người đó) mà kêu lên: Ap-ba, Cha ơi!” (Gl 4, …6).

Trong thư gửi tín hữu Cô-lô-sê, thánh Phao-lô nói chi tiết hơn: “Anh em đã cùng được mai táng với Đức Ki-tô khi chịu phép rửa, lại cũng được trỗi dậy với Người, vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết. Trước kia, anh em là những kẻ chết vì anh em đã sa ngã, và vì thân xác anh em không được cắt bì, nay Thiên Chúa đã cho anh em được cùng sống với Đức Ki-tô: Thiên Chúa đã ban ơn tha thứ mọi sa ngã lỗi lầm của chúng ta” (x. Cl 2, 12-13).

“Ban ơn tha thứ mọi sa ngã lỗi lầm của chúng ta”, đó là được ơn tái sinh. Hạnh phúc không, thưa quý vị!

Vâng, rất hạnh phúc, một sự hạnh phúc do ân sủng Thiên Chúa ban. Ân sủng đó đem đến cho chúng ta một cuộc sống mới, một cuộc sống: “Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi”.

Một khi Đức-Kitô-sống-trong-tôi… thì… thì sao! Thưa, thì chúng ta ngại gì mà không sống khiêm nhường và hiền lành, điều Đức Giê-su đã truyền dạy: “Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”!

Có hai nhân đức này “trong tôi”, chúng ta mới có thể, thể hiện trong cuộc sống của mình sự nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm.

Thể hiện trong cuộc sống của mình sự nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, chúng ta sẽ không ngần ngại mà cất tiếng nói, nói rằng: “Ngày nào bầu trời còn mây bay. Lòng ta vẫn thấy thương người… Dù người không yêu ta, (ta) cứ yêu thương hoài.” (Lê Hựu Hà).

Đã được làm con cái Thiên Chúa, chúng ta phải “thương người (và) cứ yêu thương hoài”.

Khó thực hiện đấy, nhất là phải thực hiện trong một xã hội, một xã hội đang cổ vũ cho một nền văn hóa sự chết, một nền văn hóa hưởng thụ, một nền văn hóa sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi, một nền văn hóa dối trá, gian lận, một nền văn hóa biến con người thành con vật, v.v…

Rất…, rất khó thực hiện. Thế nhưng, chúng ta vẫn phải thực hiện, bởi vì đó là “điều răn” Đức Giê-su truyền dạy. Ngài đã truyền dạy, rằng:”Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau. Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Ga 13, 34-35).

Phải thực hiện thôi, thưa quý vị! Bởi vì, nhờ đó, Đức Giêsu sẽ nói với chúng ta, rằng: “Đây là con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về con”. Thế nên, chúng ta… chúng ta “Hãy sống sao… để Chúa hài lòng.”

Petrus.tran

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2026

Hãy đến nhà thờ - thờ lạy Chúa

 Lễ Hiển Linh

Hãy đến nhà thờ - thờ lạy Chúa

snTM 030126a


Mừng Chúa Giáng Sinh. Đó… đó là điều chúng ta đã được trải nghiệm trong suốt tuần qua. Mà, nào có phải riêng chúng ta đâu! Ngay cả những người không có đạo, họ cũng có những trải nghiệm riêng của mình. Chúa Giê-su Giáng Sinh, họ cũng vui mừng như chúng ta, đấy chứ!

Có người, dù không có đạo, nhưng họ vẫn có sự trải nghiệm của mình về Chúa Giê-su như là “Đấng đến thế gian để tìm những con chiên lạc nhà (Việt Nam).”

Nghệ sĩ Thành Lộc và cả Hứa Vĩ Văn, một cách “gián tiếp” đã bày tỏ sự trải nghiệm của mình (như thế), trong một buổi gặp gỡ do Ban truyền thông Tổng Giáo phận Sài Gòn mời đến để “chuyện trò” về vai trò lồng tiếng của họ, trong bộ phim “Vua Của Các Vua”. (Chúng ta có thể nghe buổi “chuyện trò” này trên Youtube truyền thông TGP Sài Gòn).

Phim Vua Của Các Vua, là “Câu chuyện Chúa Giêsu được kể lại qua lời thì thầm của một người cha dành cho con nhỏ, bộ phim mang đến một hành trình đức tin nhẹ nhàng mà sâu sắc, từ máng cỏ Belem đến hoang mạc thử thách và hành trình thập giá. Một bộ phim không hô hào, không ép buộc, nhưng khiến người ta ở lại và chạm vào điều gì đó trong lòng.” Truyền thông TGP Sàigòn có lời bình về phim, như thế.

Là phim nói về Chúa Giêsu. Vậy mà đã có không ít khán giả không có đạo, bằng-mọi-cách, tìm đến rạp xem… xem để biết một Giêsu - Vua Của Các Vua.

Sự kiện này gợi cho chúng ta nhớ đến một câu chuyện xảy ra cách nay hơn hai ngàn năm. Cách nay hơn hai ngàn năm. Tại Palestin, có “trình chiếu” một cuốn phim, cuốn phim nói về “một vị Vua dân Do Thái mới sinh”.

Có mấy nhà chiêm tinh, dù không phải là dân Do Thái, (không có đạo, đạo Do Thái), quý ông cũng đã bằng-mọi-cách, tìm đến rạp để xem. Tại “rạp Belem” quý ông chiêm tinh mãn nguyện khi “thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria”.

Vâng, chỉ là một cách thi-vị-hóa câu chuyện… câu chuyện: “Các nhà chiêm tinh đến bái lạy Đức Giê-su Hài Nhi”. Để biết chi tiết câu chuyện này, chúng ta cùng mở những trang Tin Mừng thánh Mát-thêu. (Mt 2, 1-12).

**
Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu, câu chuyện được ghi lại như sau: “Khi Đức Giê-su ra đời tại Belem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem và hỏi: Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu?” (Mt 2, 1-2).

Như đã nói ở trên, mấy nhà chiêm tinh, dù không phải là dân Do Thái, (không có đạo, đạo Do Thái), thế nhưng họ vẫn rời bỏ quê hương, cùng nhau dong-duổi-đường -gió-bụi, tìm cho được Đức Vua.

Mấy nhà chiêm tinh này, rất có thể họ là con cháu Apraham thuộc dòng dõi của Itmaen và những người con của Apraham với Cơtura, mà khi còn sống “ông Apraham đã cho họ đi xa ông Isaac, con ông, về hướng đông, về đất Phương Đông” (St 25, …6).

Tìm cho được Đức Vua, có thể do họ đã nghe lời Bi-lơ-am, một người thuộc dân tộc Madian, cũng là một dân tộc thuộc dòng dõi Itmaen, đã nói “Tôi thấy nó, nhưng bây giờ chưa phải lúc, tôi nhìn, nhưng chưa thấy nó kề bên; một vì sao xuất hiện từ Giacop, một vương trượng trổi dậy từ Israel”. (Ds 24, 17).

Hồi đó, “chưa phải lúc”, nhưng hôm nay - bây giờ - đúng lúc. Đúng lúc, do vậy, quý ông chiêm tinh có lời giải thích, rằng: “Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”.

Nghe qua câu hỏi cùng với lời giải thích của mấy nhà chiêm tinh, Giê-ru-sa-lem như hứng phải một trái boom nhiệt hạch.

Và, khi trái boom nổ tung… nói rõ hơn, khi nguồn tin được loan truyền rộng rãi, Giê-ru-sa-lem trở thành một bãi chiến trường tin tức.

“Breaking news” hỗn loạn khiến cho “vua Hê-rô-đê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem thì xôn xao.” Một khẩu lệnh triệu tập khẩn cấp tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân đã được vua Hê-rô-đê ban hành. Nhà vua cần biết “Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu”.

Một câu hỏi không vượt tầm hiểu biết của các thượng tế và kinh sư. Tra cứu sách ngôn sứ có chép rằng: “Phần ngươi, hỡi Belem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2, 6). Thế là, các vị thượng tế và kinh sư, trả lời: “Tại Belem, miền Giu-đê”.

Mấy nhà chiêm tinh vui mừng. Còn vua Hê-rô-đê đã bối rối lại càng thêm bối rối.

Một ý định tưởng chừng như vô hại đã được vua Hê-rô-đê thổ lộ với mấy nhà chiêm tinh. Chuyện kể rằng: “Bấy giờ Hê-rô-đê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi (ông ta) phái các vị ấy đi Be-lem và dặn rằng: Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.” (x.Mt 2, 8).

Sau khi nghe “nhật lệnh” của vua Hê-rô-đê, thánh sử Mát-thêu ghi vắn tắt: “họ ra đi”. Vâng, họ ra đi, bỏ mặc đàng sau sự hào nhoáng của Giêrusalem, với những lời hứa hão huyền của vua Hê-rô-đê.

Các vị lên đường trong sự tin tưởng rằng, “vì sao của Người” sẽ dẫn họ đến nơi đến chốn. Và quả thật, niềm tin của mấy nhà chiêm tinh được đáp ứng. Hôm đó, “ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. Trông thấy ngôi sao họ mừng rỡ vô cùng.”

Trong nỗi vui mừng khôn xiết: “Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến.”

Xưa kia, chúng ta thường dựa vào ba lễ vật này để suy luận rằng, chỉ có ba người (ba vua) tìm đến Belem. Sự thật như thế nào! Không ai có thể khẳng định.

Marie-Noëlle Thabut, với ba lễ vật này, đã có lời chia sẻ: “Vàng nói lên Ngài là vua; vàng là kim loại quý, biếu cho các vua. Nhũ hương nói lên Ngài là Thiên Chúa, trước đền thờ người ta thắp nhũ hương. Sau cùng, mộc dược thường để ướp xác, nói lên Ngài là người, cũng phải chết.”

Vâng, Đức Vua Giê-su đã chết. Và, ngày nay chúng ta tuyên xưng, rằng: “Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng ta, thời quan Phongxiô Philatô, Người chịu khổ hình và mai táng,…” nhưng “ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh.”

Có vậy, chúng ta mới gọi Đức Vua Giê-su là Vua Của Các Vua.

***
Sẽ thật ngây thơ khi nghĩ rằng cuộc hành trình của mấy nhà chiêm tinh như là một cuộc trẩy hội cưỡi-lạc-đà-ngắm-chà-là… xem hoa.

Thực tế, đây là một cuộc hành trình đầy gian khổ. Cứ thử làm một bài toán, từ nơi ở của các nhà chiêm tinh, tính theo đường “chim bay”, đến Giê-ru-sa-lem, khoảng 2000km.

Nếu đi đường bộ, với núi non hiểm trở, đoạn đường có thể kéo dài gấp đôi. Với sự di chuyển của lạc đà, và nếu chỉ di chuyển ban đêm, giỏi lắm, họ chỉ đi được khoảng 70km/ngày, là cùng. Làm một bài toán nhân, một tháng là 2100km. Như vậy, hành trình của các nhà chiêm tinh có thể là mất khoảng gần hai tháng.

Đó là vất vả về thể xác. Về mặt tinh thần, mấy nhà chiêm tinh còn phải đối diện với sự thâm hiểm của vua Hê-rô-đê. Nói: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người”, nhưng có chắc là như thế!?

Có một vị vua đang tại vị ở Giê-ru-sa-lem, là Hê-rô-đê đây! Sao các ông không quỳ xuống bái lạy, mà lại tìm đến Belem để bái lạy một tên vô danh tiểu tốt!

Trở về Giê-ru-sa-lem ư! Không, các ông đã không trở về. Trở về “Đường xưa lối cũ có anh chàng, anh chàng… (bạo chúa Hê-rô-đê)”, để đi-chết-à!

Vâng, các ông đã được báo mộng, rằng: “đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình”. (x.Mt 2, 12).

Đi-lối-khác-mà-về-xứ-mình, mấy nhà chiêm tinh đã không chết. Thế nhưng, chúng ta không thể không nói đến sự kiện “các con trẻ ở Belem và toàn vùng phụ cận, từ hai tuổi trở xuống” đã bị Hê-rô-đê “sai người đi giết”, chỉ vì nghĩ rằng “mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa.”

****
Trở lại với nhóm lồng tiếng bộ phim “Vua Của Các Vua”. Nghệ sĩ Thành Lộc, Hứa Vĩ Văn, đạo diễn lồng tiếng Ngọc San… ba nhân vật này không-có-đạo. Thế mà, sau khi tiếp cận bộ phim Vua Của Các Vua, một “câu chuyện Chúa Giêsu được kể lại qua lời thì thầm của một người cha”, họ đã có chung tâm tình của một “người không đạo… nhưng tin có Chúa ở trên cao”.

Đặc biệt với nghệ sĩ Thành Lộc, qua lời thổ lộ về những ân sủng Chúa ban cho mình, Cha G.B. Phương Đình Toại, (người mời nhóm lồng tiếng), sau khi nghe xong, ngài đã kinh ngạc thốt lên “tôi nổi da gà luôn!”

Nói… nói lên điều này để làm gì? Thưa, để chúng ta, sau khi xem xong bộ phim “một vị Vua dân Do Thái mới sinh”, chúng ta có chung tâm tình của một người-có-đạo, “những Chúa Nhật thường hay đi xem lễ”!?

Hãy đi “xem lễ” mỗi ngày Chúa Nhật. Nói cách khác, hãy đến nhà thờ mỗi ngày Chúa Nhật, vì nơi đây chính là “Belem mới”.

Nơi đây, chúng ta sẽ hợp với triều thần Thiên Quốc cất tiếng nguyện ca… lời ca rằng: “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, và bình an dưới thế cho người thiện tâm. Chúng con ca ngợi Chúa, chúng con chúc tụng Chúa, chúng con thờ lạy Chúa...”

Vâng, chúng ta: “Hãy đến nhà thờ - thờ lạy Chúa.”

Petrus.tran

Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2025

Lễ Thánh Gia -Đừng quên thánh Giu-se.

 “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy!”. (Mt 2, 13).

 Lễ Thánh Gia -Đừng quên thánh Giu-se

snTM 271225a


Chúa Nhật tuần trước, toàn thể Giáo Hội long trọng mừng lễ Giáng Sinh, một ngày lễ kỷ niệm Chúa Giê-su sinh ra tại Belem miền Giu-đê.

Theo tin mừng thánh Lu-ca ghi lại, thì đây là: “một tin mừng trọng đại… tin mừng cho toàn dân… một Đấng Cứu Độ đã sinh ra… Người là Đấng Kitô Đức Chúa” (Lc 2, 10-11).

Có bao giờ chúng ta tự hỏi, rằng: là Đấng-Kitô-Đức-Chúa, sao Ngài không đến thế gian như một Tôn Ngộ Không, với bảy mươi hai phép thần thông biến hóa! Mà Ngài lại đến thế gian bằng hình hài một hài nhi được sinh ra bởi một Trinh Nữ tên là Maria với người cha là Giuse!

Thưa, một thắc mắc mà chắc hẳn ai trong chúng ta đều có thể trả lời rằng, chỉ vì “thiêng liêng hai tiếng gia đình” (thơ: Nguyễn Đình Huân).

Xưa, vào thuở tạo thiên lập địa… một-gia-đình đã được hình thành. Tại vườn Eden, Thiên Chúa đã tạo dựng một gia đình.

Sách Sáng thế ghi lại rằng: “Đức Chúa là Thiên Chúa phán: Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó… Đức Chúa là Thiên Chúa cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi.

Rồi Chúa rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt thế vào. Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương sườn, đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người. Con người nói: Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra.”

Kể từ đó, một gia đình đã hiện hữu với một Adam sẵn sàng “lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt.” (St 2, 23).

Tiếc thay! gia đình này đã phạm tội bất tuân mệnh lệnh Thiên Chúa đề ra. Sự bất tuân đó làm cho gia đình tan vỡ. Gia đình không còn sự bình an. Những bất đồng đã xảy ra. Những cảm xúc tiêu cực đổ về. Hệ quả dẫn đến vụ án Cain đã giết em ruột của mình là Abel. Nó như là đỉnh điểm của sự đổ vỡ.

Nay, tại Belem, một gia đình mới hình thành, một gia đình gồm có “bà Maria, ông Giuse cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ”. (Lc 2, 16). Những thành viên này là những người được Thiên Chúa tuyển chọn. Những thành viên này, với sự vâng lời của bà Maria “xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”, và sự vâng phục của ông Giuse “làm như sứ thần Chúa dạy”, đã biến gia trang Nazareth, nơi được mô tả là “làm sao có cái gì hay được” trở thành nơi có một “Gia Thất Thánh – Gia Thất An Bình”.

Câu chuyện Thánh Giu-se “đưa Hài Nhi Giêsu và mẹ người trốn sang Ai cập”, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Matthêu, như điển hình. (Mt 2, 13-15 19-23).

**
Vâng, hơn hai ngàn năm xa trước đó. Đang khi Palestin chìm trong thinh lặng của đêm khuya. Còn nơi hang Belem “bà Maria, ông Giuse cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ” yên giấc say nồng… Có một cuộc thần hiện xảy ra.

Cuộc thần hiện được kể lại như sau: “Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giuse: Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy!”. (Mt 2, 13).

Đây không phải là lần đầu tiên ông Giuse, nhận mệnh lệnh của sứ thần Chúa, qua phương cách “hiện ra báo mộng”. Khoảng tròn năm trước, sứ thần Chúa cũng đã “hiện đến báo mộng cho ông”.

Lần đó, ông đã phải chiến đấu, để chọn lựa, để thi hành mệnh lệnh của sứ thần Chúa. Với giấc mộng hôm nay, ông đã tuân thủ không chút ngờ vực, không chút đắn đo. Thánh sử Matthêu, cho biết: “Ông Giuse liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập”. (Mt 2, 14).

* Tưởng chúng ta cũng cần biết, vì sao vua Hêrôđê muốn giết Hài Nhi Giêsu.

Chuyện là thế này. Hồi ấy, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem và hỏi: “Đức Vua dân Do Thái mới sinh hiện ở đâu”. Vâng, mấy nhà chiêm tinh “đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông” và họ muốn được “đến bái lạy Người”.

Nguồn tin này như một cái tát vào mặt Hêrôđê. Ai… ai là vua dân Do Thái và ai đáng được bái lạy, nếu không phải là ông ta!

Một quỷ kế đã được Hêrôđê vạch ra. Nhà vua “bí mật vời các nhà chiêm tinh đến” căn dặn mấy nhà chiêm tinh rằng “Xin quý Ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người”…

Qua những lời chỉ dẫn của các thượng tế và kinh sư, mấy nhà chiêm tinh đã tìm thấy “vị lãnh tụ chăn dắt Israel” tại Belem. Chuyện kể rằng: “Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người”.

Thế nhưng, sau đó, mấy nhà chiêm tinh “được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình”.

Vua Hêrôđê, sau đó, “thấy mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa, thì đùng đùng nổi giận, nên sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Belem và toàn vùng phụ cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh.”

Trở lại cuộc hành trình “đào thoát” của ông Giuse. Chuyện kể rằng: Ông đã đưa gia đình đến bến bờ bình an. Tại Ai Cập, gia thất của ông đã “ở đó cho đến khi vua Hêrôđê băng hà”.

***
Chúa Nhật hôm nay (28/12/2025) Lễ Thánh Gia.

Lễ Thánh Gia, tất nhiên chúng ta nói về gia đình. Nói về gia đình, không gì tốt hơn là nói về người cha. Nói về người cha, bởi vì, một văn hào phương tây đã nói: “Nơi chốn bình an nhất của đứa trẻ trên thế giới này là căn phòng của cha nó”.

Nói về người cha, nên chăng nói về “ông Giuse”! Nên chứ! Vâng, “ông Giuse” ngày nay chúng ta gọi là “Thánh Cả Giuse”. Thế mà, không biết từ bao giờ, có ai đó tặng cho ngài nickname là “Thánh Giuse thánh ngủ”.

Nói về nickname “Thánh Giuse thánh ngủ”. Có lẽ không ít người trong chúng ta “vẫn còn khá mới mẻ” với cái tên này. Tuy nhiên, chúng ta sẽ kinh ngạc khi hiểu được ý nghĩa của (biệt danh) này. Vâng, ý nghĩa tâm linh của (biệt danh) này rất sâu sắc.

Đó là: Sự tin tưởng tuyệt đối: Thánh Giuse ngủ ngon vì Ngài hoàn toàn tin tưởng và phó thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa, ngay cả khi đối mặt với thử thách lớn lao.

Kết nối với Chúa: Giấc ngủ của Thánh Giuse là thời điểm Ngài kết nối sâu sắc với những chỉ dẫn từ Thiên Chúa, dù Ngài luôn sống ý thức về Chúa.

Thân phận lữ hành: Hình ảnh Ngài ngủ gối đầu trên tay nải, vẫn mặc sẵn quần áo, nhắc nhở về cuộc đời lữ hành (di cư sang Ai Cập, trở về...) luôn sẵn sàng lên đường theo ý Chúa, không gắn bó nơi chốn.” (nguồn: internet).

Một người cha như thế, một người cha “tin tưởng tuyệt đối vào Chúa, kết nối với Chúa, nhắc nhở về cuộc đời lữ hành của mình”, có lẽ nào không phải là nơi-chốn-bình-an-nhất-của-chúng-ta, phải không, thưa quý vị!

Vâng, chúng ta đang sống trong một xã hội ngày càng tục hóa. Thiên Chúa bị gạt ra khỏi cuộc đời. Hậu quả là gì? Thưa, một nền văn hóa sự chết nảy sinh, tự do phá thai, tự do hôn nhân đồng tính được cổ võ.

Văn-hóa-sự-chết… Tự-do-phá-thai, tự-do-hôn-nhân-đồng-tính, chính là “hiện thân” những tên bạo chúa Hêrôđê-thời-đại.

Chúng chính là nguyên nhân gây mâu thuẫn trong gia đình. Chúng chính là nguyên nhân gây bất hòa, chia rẽ. Chúng tiếp tục tước đi quyền làm người, quyền được sống của con trẻ, của hài nhi. Chúng không ngần ngại truy sát tập thể những con trẻ ngây thơ, bởi những game bạo lực, bởi những website-đen… đen như mõm chó, bởi những thần tượng ảo, v.v…

Hãy tự hỏi, chúng ta sẽ làm gì để những vấn nạn (nêu trên) không thể xâm nhập gia đình chúng ta? Thật… thật khôn ngoan khi chúng ta xem “thánh Giuse thánh ngủ” như là một tấm gương noi theo, hầu có thể trở thành tấm lá chắn, để bảo vệ gia đình chúng ta.

Vâng, “Đừng quên thánh Giu-se”.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2025

Belem hồn tôi – có Chúa ở cùng

 Chúa Nhật IV – MV – A

Belem hồn tôi – có Chúa ở cùng

SnTM 201225a


Như chúng ta được biết, mỗi khi bắt đầu bước vào Mùa Vọng, trên cung thánh của bất cứ nhà thờ nào, cũng đều được trưng bày bốn cây nến. Bốn cây nến này (ba cây mầu tím, một cây mầu hồng) thường được đặt trên một vòng lá cây xanh (vòng Nguyệt Quế), biểu tượng cho sự sống vĩnh cửu và sự trở lại của Chúa Giê-su.

“Cây nến thứ nhất: tượng trưng cho hy vọng vào sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế. Cây nến thứ hai: tượng trưng cho bình an mà Chúa mang đến. Cây nến thứ ba: tượng trưng cho niềm vui mừng sắp đến lễ Giáng Sinh. Cây nến thứ tư: tượng trưng cho tình yêu thương vô bờ bến của Chúa.” (nguồn: internet).

“Hy Vọng - Bình An - Niềm Vui - Tình Yêu”… đó là những món quà tặng của Thiên Chúa. Khi nói đến những món quà này, chúng ta không thể không liên tưởng đến một nhân vật, đó là Thánh Giu-se.

Liên tưởng đến Thánh Giu-se, vì ngài chính là người đã đốt lên một ngọn lửa, một ngọn lửa rực sáng niềm hy vọng, ấm áp sự bình an, chan hòa niềm vui thỏa, tràn đầy tình yêu thương, qua việc thực thi mệnh lệnh “sứ thần Chúa dạy… đón Đức Maria về nhà mình.” Vâng, sự việc này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Matthêu (1, 18-24).

**
Khởi đầu câu chuyện, thánh sử Mat-thêu thuật lại như sau: “Đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô, bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1, 18).

Đó là một tin tốt chăng? Thưa, với cái nhìn của người đời, chúng ta có thể nói hai chữ: “tin xấu!” Với người đời, đó là một tin không vui, và rất có thể có người sẽ khắc khoải sầu đau với những đêm dài thao thức!

Rất có thể có người trong đêm dài thao thức, sẽ nghêu ngao những lời ca, rằng: “Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần sầu!” Rất có thể có người sẽ “nghẹn ngào” nói với ý trung nhân mình, rằng: “Thôi em đi về đi. Ðau thương này anh xin dành mang”.

Thánh Giuse làm gì, khi biết được sự việc này? Ngài xin-dành-mang, chăng! Không… không thấy Tin Mừng nói đến. Chỉ thấy, Kinh Thánh thuật lại rằng: “Ông Giuse, chồng bà, là người công chính không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1, 19).

Thánh Giu-se nghĩ như vậy và “ông đang toan tính như vậy”. Thế nhưng, như người xưa có nói: “mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”. Thiên… ở đây là Thiên Chúa - Người không cho ông làm như vậy. Người đã can thiệp vào toan tính của thánh Giu-se.

Thiên Chúa can thiệp bằng cách nào! Thưa, Người sai “Sứ thần… hiện đến báo mộng cho ông”. Sứ thần Chúa báo mộng, rằng: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ. Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa Chúa phán qua miệng lưỡi ngôn sứ: Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.”

Là một người công chính, có phần chắc, Thánh Giu-se hiểu những gì sứ thần Chúa phán truyền “chính là lẽ thật”, lẽ thật tuyệt đối đến từ Thiên Chúa, không thể chối từ. Và rồi, “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà” (Mt 1, 24).

***
Hôm nay (21/12/2025), Chúa Nhật thứ IV – Mùa Vọng. Như vậy, bốn cây nến trên cung thánh đều được thắp sáng. Những món quà tặng của Thiên Chúa cũng đã được đóng gói, đóng thành một gói-quà-lớn.

Gói-quà-lớn này, gồm có: niềm hy vọng, sự bình an, niềm vui thỏa, tình yêu thương. “Shipper Giêsu” sẽ giao tận nhà, cho mỗi chúng ta. Ngài sẽ “đứng trước cửa và (phone). Ai nghe tiếng (Ngài) và mở cửa…” Ngài sẽ tặng gói-quà-lớn này cho mỗi chúng ta.

Không còn là sứ thần Chúa “báo mộng” như báo mộng cho Thánh Giu-se, nhưng chính là Thần Khí Chúa sẽ giúp chúng ta “nhận ra sự thật, phân định ý Chúa”, ngõ hầu có thể thấy được giá trị của món quà này.

Sống… chúng ta không thể không có hy vọng. Vì nó “giúp con người có niềm tin vào bản thân, tìm kiếm giải pháp và không bỏ cuộc trước nghịch cảnh.” Sống… nhất là phải sống trong một thế giới đầy bất an và bất ổn, như hôm nay, có ai lại không cần bình an!

Niềm vui thỏa, và nhất là tình yêu thương, rất cần. Vì nó “thể hiện sự viên mãn, hạnh phúc trọn vẹn khi con người cảm nhận được tình yêu thương, sự quan tâm từ người khác, mang lại cảm xúc tích cực, sự gắn kết, sức mạnh vượt qua khó khăn, đồng thời giúp chúng ta lan tỏa lòng tốt, sự sẻ chia, bao dung, và tạo nên ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống. Đây là những giá trị cốt lõi của hạnh phúc con người, được thể hiện trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội.” (nguồn: internet).

Do vậy, đừng từ chối quà tặng của Thiên Chúa. Chúng ta hãy mở cửa, nhận quà. Gói-quà-của-Chúa rất có giá trị. Giá trị vượt thời gian. Giá trị đời đời.

Xưa, Thánh Giu-se làm-như-sứ-thần-Chúa-dạy và đón Đức Maria về nhà, thế gian nhận được một “Em-ma-nu-en – Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.”

Nay, nếu chúng ta mở cửa… mang gói quà vào-ngôi-nhà-tâm-hồn-mình, chúng ta sẽ nhận được “niềm hy vọng, sự bình an, niềm vui thỏa, tình yêu thương”.

Hãy mở cửa… mang gói quà vào-ngôi-nhà-tâm-hồn-mình. Vì đó là gói hành trang tốt nhất cho cuộc hành trình về Belem Thiên Quốc của mỗi chúng ta.

Chúa Nhật hôm nay, cây nến thứ tư sẽ được thắp sáng. Lễ Giáng Sinh gần kề. Mọi việc thiết kế hang đá theo truyền thống, đã xong. Việc còn lại và không kém phần quan trọng đó là Hang Belem tâm-hồn-mình.

Hang Belem tâm-hồn-mình được trang trí ra sao? Nên chăng, mang-gói-quà-Chúa-tặng trang trí hang Belem tâm-hồn-mình!

Vâng, nên làm vậy. Làm vậy Hang Belem tâm-hồn-mình có-Chúa-ở-cùng.

Làm vậy… Belem hồn tôi – có Chúa ở cùng.

Petrus.tran

Tám mối phúc - là phúc Chúa ban

  Chúa Nhật IV – TN – A Tám mối phúc - là phúc Chúa ban Bạn có phải là một Ki-tô hữu? Nếu đã là một Ki-tô hữu, đã tin và theo Chúa, bạn ...