Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2026

Điều Chúa muốn - Hãy trở thành đất tốt.

 Chúa Nhật XV – TN – A

Điều Chúa muốn - Hãy trở thành đất tốt

SnTM 120726a


Như chúng ta được biết, sau ba mươi năm sống ẩn dật tại quê nhà Nadarét, Đức Giê-su đến Ca-phac-na-um, một thành ven biển hồ Galilê, bắt đầu rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa.

Bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, có sự hiện diện của Đức Giê-su… “dân chúng (liền) lũ lượt kéo đến đi theo Người.”
Vì sao họ ngưỡng mộ Đức Giê-su, đến thế! Thưa, bởi Ngài là Đấng quyền năng. Bất cứ ai “ốm đau, bịnh hoạn, tật nguyền”, đem đến Người - Người đều chữa khỏi.

Họ ngưỡng mộ Đức Giê-su còn bởi “Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền… Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền.”

Mà … đúng là vậy! Rất uy quyền, khi Đức Giê-su truyền dạy: “Thật, tôi bảo thật…” – “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa… Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết…”

Và… giáo lý thì rất mới mẻ. Rất mới mẻ, với phương pháp giáo huấn mới: dùng dụ ngôn.

Vâng, Đức Giê-su dùng dụ ngôn… là những câu chuyện đơn giản, ngắn gọn, với những hình ảnh quen thuộc xảy ra trong đời sống hằng ngày như: gieo giống, đánh cá, chăn chiên, người làm vườn nho, tiệc cưới v.v…

Qua đó, Ngài truyền đạt những sứ điệp thiêng liêng như: tình yêu, sự tha thứ, Nước Trời, đức tin, cánh chung… đến với mọi người.

Một bảng thống kê chúng ta cần biết, một phần ba nội dung những bài giáo huấn của Đức Giê-su được kể bằng dụ ngôn.

Muốn mọi người nhìn rõ nét hơn về một Thiên Chúa là tình yêu, ư! Đức Giê-su kể dụ ngôn “người cha nhân hậu”. Muốn mọi người thực thi đức mến đúng tinh thần “yêu người như mình ta vậy”, ư! Đức Giê-su kể dụ ngôn “Người Sa-ma-ri nhân lành”.

Làm sao để mọi người nhìn rõ nét một “Thiên Chúa là Đấng quảng đại với các ơn sủng của Người”! Đức Giê-su kể dụ ngôn “người gieo giống”.

Dụ ngôn này được ghi trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (x.Mt 13, 1-23).

**
Đức Giê-su kể dụ ngôn này như sau: “Người gieo giống đi ra gieo giống. Trong khi người ấy gieo, thì có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ đất không có nhiều; nó mọc ngay, vì đất không sâu; nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt. Có những hạt rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả, hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục. Ai có tai thì nghe.” (x.Mt 13,4-9).

Vâng, nội dung dụ ngôn là thế. Có người đã nhận định dụ ngôn người gieo giống này như sau:

“Kiểu gieo giống này hơi lạ, nhưng là thực tế canh tác ở Palestine, ít là vào thời Chúa Giê-su. Ta đừng thắc mắc sao vung vãi các hạt giống lung tung, mà hãy nhìn chúng rơi xuống từ bàn tay hào phóng của người gieo giống.

Có những hạt giống không bao giờ trở thành một cái gì tốt đẹp, vì rơi trên vệ đường, sỏi đá, bụi gai… Chỉ những hạt giống rơi vào đất tốt mới đem lại hoa quả cho đời.

Ta thử hình dung, nếu hạt giống mà biết buồn biết vui, thật tội nghiệp cho những hạt rơi vào bụi gai, sỏi đá hay trên vệ đường. Chúng sẽ tủi phận như ‘thân gái mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu’…” (nguồn: internet).

Một nhận định thật “hóm hỉnh” phải không, thưa quý vị!

Với Lm.Charles E.Miller, suy tư dụ ngôn người gieo giống, ngài có lời giải thích rằng: “Không có nhà nông nào đã quan tâm đến việc chạy theo lợi nhuận mà lại phí phạm trong cách gieo giống (như chúng ta vừa đọc trong Tin Mừng thánh Mát-thêu đã ghi lại ở trên). Một nông dân thận trọng luôn cân nhắc cặn kẽ để chỉ gieo ở những nơi bảo đảm sẽ mang lại kết quả tốt. Song người gieo giống trong bài Tin Mừng đã không tiếc các hạt của mình… Vì ông tượng trưng cho Thiên Chúa là Đấng quảng đại với các ơn sủng của Người.” (nguồn: Sunday Preaching).

“Hạt giống - ơn sủng của Người” Lm. Charles cho rằng: “… tượng trưng cho Lời Chúa được tìm thấy trong các Sách Thánh đầy linh ứng, gồm 46 quyển Cựu Ước và 27 quyển Tân Ước. Thiên Chúa gieo hạt giống của Ngài lên lòng trí chúng ta, chủ yếu nhờ Phụng Vụ Lời Chúa trong thánh lễ.”

Vâng, chúng ta hãy siêng năng tham dự thánh lễ, qua phần nghe Lời Chúa và lời giảng dạy của linh mục chủ tế, Chúa sẽ ban cho chúng ta “ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời”, như đã ban cho các môn đệ, năm xưa.

***
Thiên Chúa là Đấng-quảng-đại với-các-ơn-sủng của-Người. Đây là một tin-tốt-lành.

 Rất tốt-lành, vì Đức Giê-su cũng sẽ nhắn nhủ chúng ta, như đã nhắn nhủ các môn đệ năm xưa: “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe. Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe.”

Vâng, chúng ta có phúc vì mắt chúng ta vẫn được thấy những kỳ công của Chúa. Tai chúng ta vẫn được nghe Lời Ngài.

Trở lại dụ ngôn, hôm ấy, sau khi kể câu chuyện trên, Đức Giê-su giải thích rằng: “Kẻ nào nghe lời giảng về Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp lấy điều đã gieo trong lòng nó: đó là kẻ thuộc hạng gieo dọc đường.”

“Hạt rơi trên đá sỏi là kẻ khi nghe lời giảng, thì tức khắc vui lòng chấp nhận, nhưng không đâm rễ sâu trong lòng nó, đó là kẻ nông nổi nhất thời, nên khi cuộc bách hại, gian nan xảy đến vì Lời Chúa, thì lập tức nó vấp ngã.”

“Hạt rơi vào bụi gai, là kẻ nghe lời giảng, nhưng lòng lo lắng việc đời, ham mê của cải, khiến lời giảng bị chết nghẹt mà không sinh hoa kết quả được.”
“Hạt gieo trên đất tốt, là kẻ nghe lời giảng mà hiểu được, nên sinh hoa kết quả đến nỗi có hạt được một trăm, có hạt sáu mươi, có hạt ba mươi”.

****
“Ai có tai thì nghe” – Vâng, chúng ta đã nghe. Chúng ta đã nghe và chúng ta hiểu rằng: “Mọi sự khác biệt chỉ tùy ở loại đất. Mà loại đất đây là chính chúng ta.”

Có bốn loại đất… chúng ta hãy tự hỏi mình, rằng: Tôi là loại đất nào trong bốn loại đất khi đón nhận “hạt giống Lời Chúa”!

Là loại đất vệ đường, loại đất sỏi đá hay loại đất bụi gai? Nếu đúng vậy, Lời Chúa sẽ ra sao! Sẽ vô ích, đúng không?

“Lời Ngài là sức sống của con. Lời Ngài là ánh sáng đời con. Lời Ngài làm chứa chan hy vọng. Là đường để con hằng dõi bước…”, thế mà cuối cùng trở thành vô ích cho tôi, sao! Hãy hình dung nỗi buồn của Chúa - Đấng-quảng-đại-với-các-ơn-sủng-của-Người – “người gieo Lời”.

*****
Đã là một Ki-tô hữu, đừng để người-gieo-Lời buồn.

Muốn vậy, đừng để lòng chúng ta chai đá. Đừng bịt tai, đừng nhắm mắt trước Lời Chúa.

Hãy biết rằng, hạt giống có mầm sống, nhưng dù là hạt giống có mầm sống, mầm sống đó chỉ có thể sinh sôi nẩy nở trong những điều kiện (đất đai) thuận lợi mà thôi.

Lời Chúa dù có quyền năng, nhưng sự đáp ứng của con người mới là yếu tố làm cho quyền năng của Chúa được thể hiện.

Do vậy, mảnh đất… mảnh đất tâm hồn của chúng ta, phải là một mảnh đất tốt, là: “kẻ nghe Lời và hiểu…”

Chúng ta sẽ không thể “nghe Lời và hiểu” nếu không đọc và học hỏi Lời Chúa hàng ngày. Hãy nhìn cộng đoàn dân Chúa ở Beroia năm xưa, họ chính là mẫu mực cho chúng ta về việc đọc và học hỏi Lời Chúa.

Tác giả Công Vụ Tông Đồ đã thuật lại việc đó như sau: “Những người Do Thái ở đây cởi mở hơn những người ở Thesalonica: họ đón nhận lời Chúa với tất cả nhiệt tâm, ngày ngày tra cứu Sách Thánh để xem có đúng như vậy không” (Cv 17,11).

Hãy “đón nhận lời Chúa với tất cả nhiệt tâm, ngày ngày tra cứu Sách Thánh”, vì lời Chúa có thể ví như một thứ “phân bón”, thứ phân bón tốt nhất, làm cho mảnh đất tâm hồn của chúng ta, dù có bị cằn cỗi thế nào đi nữa, cũng sẽ biến thành mảnh đất tốt, một mảnh đất “sinh hoa kết quả, hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục.”

Là một Ki-tô hữu “Hãy quyết tâm trở thành đất tốt”. Một người con cái Chúa, có lời mời gọi, như thế. Người bạn này tiếp lời: “để đón nhận hạt giống Lời mà Chúa vẫn hào phóng gieo vãi: (hãy) tránh xa Satan và các tay sai của nó, bớt cứng cỏi và thêm mềm mỏng để Lời có thể đâm rễ sâu, (hãy) giũ bỏ mọi đam mê, lo lắng sự đời để Lời khỏi bị bóp nghẹt.”

Làm như thế, chúng ta sẽ trở-thành-đất-tốt.

Vâng… Hãy trở thành đất tốt - đó là điều Chúa muốn.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

Điều Chúa muốn: đến cùng Ngài - học với Ngài

 Chúa Nhật XIII – TN – A

Điều Chúa muốn: đến cùng Ngài - học với Ngài

SnTM 040726a


Là một người Công Giáo, bạn có biết “Tuần Đại Phúc” nghĩa là gì không? Vâng, ”Tuần- Đại-Phúc là một hoạt động mục vụ, truyền giáo đặc trưng của Dòng Chúa Cứu Thế, bắt nguồn từ thời Thánh Anphongsô.” (nguồn: DCCT - Saigon).

Đây là chuỗi ngày ân sủng đặc biệt nhằm giúp giáo dân củng cố đời sống đức tin, hòa giải với Thiên Chúa và làm mới lại sinh hoạt của các giáo xứ.

Các linh mục thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế sẽ trực tiếp đến giáo xứ với bốn mục tiêu: giảng tĩnh tâm, dâng Thánh lễ, thăm viếng các gia đình và ngồi tòa giải tội.

Trong bốn mục tiêu nêu trên, Cha Phê-rô Trần Bá Thảo cho biết, thăm viếng các gia đình là mục tiêu tối thượng. Tối thượng bởi nhờ đó, mình mới có thể biết được tình trạng thực tế của từng gia đình, đời sống “phần hồn” của họ ra sao, hầu giúp họ củng cố đức tin, ăn năn sám hối và lãnh nhận bí tích Giao hòa.

Đối với những gia đình gặp chuyện buồn phiền về phần xác, như đau ốm, bịnh hoạn v.v… “Cầu nguyện…” Cha Phê-rô nói: “mình cầu nguyện cho họ và khuyên họ hãy phó thác mọi sự trong tay Chúa.”

Đối với những gia đình nguội lạnh, những gia đình gánh nặng “ách của tội lụy”, Cha Phê-rô ân cần mời họ hãy đến nhà thờ, lãnh nhận bí tích Giao hòa, tham dự Thánh Lễ.

Hãy-đến-nhà-thờ để lãnh-nhận-bí-tích-Giao-hòa, tham dự Thánh Lễ! Vâng, đó là một lời mời gọi, và nó gợi cho chúng ta nhớ đến lời mời gọi của Đức Giê-su, dành cho những ai “vất vả mang gánh nặng nề”, năm xưa.

**
Năm xưa, lời mời gọi của Đức Giê-su đã được thánh sử Mát-thêu ghi lại như sau: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.”

Nếu… nếu phải nhận xét về lời mời gọi này, nên chăng, chúng ta gọi đây là một lời an ủi “chan chứa lòng Chúa xót thương”!

Đúng vậy, gọi là chan-chứa-lòng-Chúa-xót-thương”, bởi Đức Giêsu đã thể hiện lời mời gọi này bằng hành động.

Thật vậy, trong ba năm ra đi loan báo Tin Mừng, biết bao người khi đến-với- Ngài, họ đã được Ngài làm cho bao đau thương vơi đi, bao nhọc nhằn tan biến. Kinh Thánh ghi lại rằng: “Mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền… Ngài (đều) chữa họ.” (Mt 4, 24).

Hôm đó, như để cho lời mời gọi được trọn tình, Đức Giê-su nói thêm rằng: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường”.

Và rồi Ngài quả quyết: “Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng.” (x.Mt 11, 29-30).

***
Chúng ta vừa nghe lại lời mời gọi của Đức Giê-su. Nếu hôm nay, Ngài đi làm Tuần Đại Phúc, và Ngài sẽ lại dùng lời mời gọi này như một thông điệp gửi đến chúng ta, chúng ta có đón nhận, có đến cùng Giê-su, có mang lấy ách của Giê-su, có học cùng Giê-su!

Vâng, câu trả lời là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, hãy nhìn vào thế giới hôm nay, nơi chúng ta đang sống. Nó thế nào nhỉ! Tội lỗi ngập tràn, đúng không?

Mà tội lỗi chính là nguyên nhân gây ra sự bất ổn và bất an. Những bất ổn và bất an đó, ai dám phủ nhận rằng, nó không là nguyên nhân làm cho chúng ta “vất vả mang gánh nặng nề”?

Bao lâu chúng ta còn sống trên thế giới này, đời sống của chúng ta sẽ luôn phải hứng chịu những hệ quả của nó và như lời thánh Phao-lô nói: “chúng ta rên siết, khổ tâm” (x. IICor 5,).

Cho nên, hãy thử hỏi, tôi có “khổ tâm” trong cảnh thiếu trước hụt sau vì đang thất nghiệp! Tôi có “khổ tâm” trước một gia đình, vợ chồng luôn xung đột: ông nói gà bà nói vịt?

Hãy thử hỏi, gia đình tôi con cái có biểu hiện bất tuân? Hoặc ngay chính bản thân tôi đang phải mang gánh nặng về thể xác, bệnh hoạn yếu đau. Tuổi đời càng cao, ôi sao, sức khỏe càng yếu?

Nếu chúng ta đang phải “rên siết, khổ tâm” về những nan đề nêu trên… hãy đến cùng Giê-su… hãy mang lấy ách của Giê-su. Đó là sự-đồng-hành.

Lời giải thích: “Ách… là dụng cụ ghép hai con vật để cùng kéo cầy. Khi mang ách của Chúa, Ngài chính là Đấng gánh vác phần nặng nhất, bước đi cùng và tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta.”

Về mặt “thuộc linh”, hãy thử hỏi, tâm hồn tôi có đang vất va vất vưởng nặng lòng trong tội lụy? Nếu có, cũng hãy đến cùng Giê-su.

Đến với Ngài, chúng ta “khám phá ra ơn tha thứ”. Chúng ta sẽ trải nghiệm được những giây phút bên một Giêsu - Đấng “không lên án” chúng ta, với lời khuyên chân tình: “từ nay đừng phạm tội nữa.”

Vua David… là một người đã từng mang những gánh nặng sầu thương trên con đường đời của mình. Là một người đã từng vất vưởng nặng lòng trong tội lỗi, gánh nặng trị quốc, gánh nặng gia đình, con cái phản nghịch.

Thế nhưng, khi ông trao cho Đức Chúa những gánh nặng sầu thương của mình, ông đã được sự nâng đỡ của Đức Chúa.

Sự từng trải đó đã được ông chia sẻ rằng: “Hãy trút nhẹ gánh lo vào tay CHÚA. Người sẽ đỡ đần cho, chẳng để chính nhân phải nghiêng ngửa bao giờ” (Tv 55, 23).

****
“Hãy đến cùng tôi - Hãy học với tôi”. Hôm nay, Đức Giê-su vẫn tiếp tục mời gọi chúng ta. Nơi chúng ta có thể gặp Ngài – học với Ngài… đó là hãy đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ.

Tham dự Thánh Lễ, qua phần phụng vụ lời CHÚA, chúng ta học được sự hiền-hậu-và -khiêm-nhường của Ngài.

Tham dự Thánh Lễ, qua phần phụng vụ Thánh Thể, “hồn” chúng ta được “bồi dưỡng” Mình Máu Thánh Đức Ki-tô.

Vậy nên hãy đến… chúng ta hãy đến nhà thờ… để gặp Chúa - học lời Chúa. Vì đó là điều Chúa muốn. Điều Chúa muốn: đến cùng Ngài - học với Ngài.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

Điều Chúa muốn: từ bỏ và hiếu khách...

 Chúa Nhật XIII – TN – A

Điều Chúa muốn: từ bỏ và hiếu khách

SnTM 270626a


Để cho sứ vụ loan báo Tin Mừng đến được “tận cùng trái đất”, Đức Giê-su đã tuyển chọn Mười Hai người môn đệ.
Bốn người môn đệ đầu tiên là “ông Si-mon, cũng gọi là Phê-rô, và người anh là ông An-rê.” Tiếp đến là “hai anh em con ông Dê-bê-bê là ông Gia-cô-bê và người em là Gio-an”.

Đáp lời mời gọi của Đức Giê-su: “Các anh hãy theo tôi.” Chuyện kể rằng: “Lập tức, các ông bỏ chài lưới… bỏ thuyền, bỏ cha lại, mà đi theo Người.”

Về người môn đệ Mát-thêu, Kinh Thánh ghi lại rằng: “Đức Giê-su đi ngang trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Mát-thêu đang ngồi tại trạm. Người bảo ông: Anh hãy theo tôi. Ông đứng dậy đi theo Người.”

Nói chung, mười hai người đi theo Đức Giê-su, tuy khác nhau về thân thế sự nghiệp, nhưng tất cả đều có một điểm chung, đó là khi đáp lời mời gọi của Thầy Giê-su, họ đã bỏ hết, bỏ hết mọi sự, và đi theo Ngài.

**
Bỏ-hết-mọi-sự, và đi-theo-Ngài, là một sự thách thức! Thưa không. Đức Giê-su không đặt ra thách thức nào cả. Có chăng, những điều Ngài đặt ra chẳng qua chỉ là những tiêu chuẩn, những tiêu chuẩn cho những ai muốn đi theo Ngài, phải thực hiện.

Một ngày nọ, Đức Giê-su đã phán truyền, rằng: “Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình… Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được”.

Có một ai đó đã nói: “Chẳng ai có thể đi một lúc hai con đường. Cuộc sống luôn đặt con người trước những lựa chọn, mà chọn là từ bỏ.”

Quan điểm của Đức Giê-su cũng là thế. Một ngày nọ, có một chàng thanh niên thuộc loại “con nhà giàu”, anh ta tìm đến Đức Giê-su và hỏi: “tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp”.

Hôm ấy, Đức Giê-su đã nói với anh ta rằng: “Hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo… rồi hãy đến theo tôi”. Khi nghe lời truyền dạy đó, chuyện kể rằng, “anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi… vì anh ta có nhiều của cải” (x.Mc 10, 22). Anh ta muốn đi... đi-một-lúc-hai-con-đường, thật đáng tiếc!

Một trường hợp khác, có người muốn đi theo Ngài, nhưng lại “xin phép về chôn cất cha con trước đã”, Đức Giê-su có lời bảo ban: “Anh hãy đi theo tôi. Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ”.

Với các môn đệ, Đức Giê-su có lời truyền dạy mạnh mẽ hơn. Ngài truyền dạy rằng: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy”.

Đừng kinh ngạc về những lời truyền dạy của Đức Giê-su. Đừng nghĩ rằng đó là một sự đòi hỏi “quá đáng”. Và cũng đừng cho rằng lời truyền dạy này mâu thuẫn với điều răn thứ tư: “Hãy thảo kính cha mẹ”.

Cách nói của Đức Giê-su chỉ là cách nói quyết liệt mà người Do Thái thường dùng. Văn chương Cựu ước (của Do Thái giáo) không có kiểu nói so sánh “hơn hay kém”. Đức Giêsu, khi nói như thế, Ngài muốn đặt ra một bậc thang giá trị cho một chọn lựa.

Muốn là môn đệ của Đức Giêsu ư! Phải đặt Ngài lên hàng ưu tiên số một trong bậc thang giá trị của con người. Và, đó chính là lý do Đức Giê-su truyền dạy những người môn đệ của mình, rằng: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được”.

“Việc loan báo Tin Mừng và các giá trị vĩnh cửu có tính chất cấp bách nhất. Chúa Giê-su không bảo chúng ta bất hiếu, mà muốn nhấn mạnh rằng: Việc thiêng liêng và sứ mệnh sống, phải được ưu tiên tuyệt đối. Đừng để những việc trần tục hay những thói quen cũ níu kéo bước chân bạn khỏi mục đích cao cả của cuộc đời.” (nguồn: tgpsaigon).

Như đã nói ở trên chọn-là-từ-bỏ. Đừng nghĩ rằng đây là một việc làm quá khó. Đó là quy luật “để sống và lớn lên”. Một tác giả vô danh đã có lời chia sẻ: “Thai nhi không thể ở mãi trong bụng mẹ, dù đó là chỗ an toàn, êm ấm. Ðứa bé chẳng thể nào trưởng thành, nếu nó sống mãi bằng sữa mẹ. Từ bỏ thường là những cắt đứt đau đớn, như mổ một khối u.”

***
Khi nghe những lời truyền dạy của Đức Giê-su (nêu trên), chúng ta đừng hiểu theo mặt chữ.

Liều-mất-mạng-sống-mình-vì-Thầy, đừng hiểu rằng, Đức Giê-su kêu gọi chúng ta ôm bom tự sát! Nhưng hãy hiểu rằng, Ngài có mục đích kêu gọi mọi người hướng đến một lối sống mới, một lối sống đích thực, một lối sống “không còn là tôi sống, nhưng là Đức Ki-tô sống trong tôi”.

Là một Ki-tô hữu, nếu cuộc sống của tôi không có Đức Ki-tô sống-trong-tôi, tôi sẽ chỉ là một Ki-tô hữu hữu-danh-vô-thực.

Không có Đức Ki-tô sống trong tôi, chúng ta không thể nói như Ngài, chúng ta không thể làm như Ngài và chúng ta không thể thể hiện một lối sống như Ngài đã sống, đó là một lối sống “Đến là để cho chiên được sống và sống dồi dào”.

Do vậy, đã là một Ki-tô hữu, chúng ta hãy tự hỏi mình rằng, bao nhiêu năm đi-theo-Chúa, tôi có thực sự “thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự.”! Tôi có “yêu mến CHÚA, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, và hết sức lực”?

Câu trả lời là của mỗi chúng ta. Nhưng, sẽ là thảm họa, nếu câu trả lời của chúng ta là chưa-hết-lòng, chưa-hết-linh-hồn, chưa-hết-trí-khôn… Vâng, chúng ta sẽ bị xếp vào loại người “hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh”.

Hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, thì sao nhỉ? Thưa, Kinh Thánh cho biết (Chúa) sẽ “mửa (người đó) ra khỏi miệng (Người)”. (Kh 3, 16).

Do vậy, đừng phớt lờ những tiêu chuẩn Đức Giê-su đã đặt ra. Hãy thực hiện, vì nhờ đó chúng ta sẽ không ngại “sau lại yêu người như mình ta vậy.”

Hãy thực hiện, những tiêu chuẩn Đức Giê-su đã đặt ra, thưa quý vị! Có thực hiện, lòng hiếu khách sẽ nảy nở trong tâm hồn chúng ta.

“Lòng hiếu khách…” Lm. Charles E.Miller gọi đó là “một dạng nhân nghĩa cao đẹp, đôi lúc phát xuất từ những căn do đáng kinh ngạc nhưng mang lại kết quả bất ngờ.”

Câu chuyện người phụ nữ Su-nêm, được ghi trong Sách Các Vua quyển 2, như một điển hình cho lời nhận định nêu trên.

Chuyện kể rằng: Một hôm, ông Ê-li-sa đi qua Su-nêm. Một người phụ nữ ở đó, không phải là dân Israel. Dân Su-nêm thường coi rẻ bất cứ người Israel nào, vì coi họ là ngoại kiều, nhưng người phụ nữ này coi trọng Ê-li-sa, bà nhìn nhận ông Ê-li-sa là một “thánh nhân của Thiên Chúa”.

Bà thuyết phục chồng cho ngôn sứ tá túc. Ê-li-sa chấp nhận hành vi hiếu khách của bà. Người phụ nữ Su-nêm này “không có con trai, mà chồng thì đã già”. Ngôn sứ Ê-li-sa biết được chuyện này, và ông muốn làm điều gì đó cho bà ấy, vì bà ấy quá lo lắng bận rộn cho ông. Thế là, ông Ê-li-sa đã cầu xin cho bà rằng: “vào độ này sang năm, bà sẽ được bế con trai”.

Lời cầu xin của ngôn sứ Ê-li-sa đã thành sự. Chuyện kể tiếp rằng: “Bà ấy có thai, và năm sau… vào độ mà ông Ê-li-sa đã nói, thì bà sinh con trai.” (x. 2V 4, 8-17).

Nhờ có lòng hiếu khách. người phụ nữ Su-nêm này, nhận được kết-quả-bất-ngờ.

Đó là chuyện xảy ra thời Cựu Ước. Còn hôm nay, thì sao! Thưa, hôm nay Đức Giê-su khẳng định: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy. Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ; ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính.” (x.Mt 10, 40-41).

Thế nên, đừng sợ khi phải tỏ-lòng-hiếu-khách. Nếu không tỏ lòng hiếu khách, có nguy cơ chúng ta sẽ bị “giằng co ray rứt suốt đời”.

Do vậy, hãy ghi nhớ điều Đức Giê-su phán dạy: “Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ là một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.”

Xưa, người phụ nữ Su-nêm, nhờ tỏ lòng hiếu khách với một “thánh nhân của Thiên Chúa”, phần thưởng dành cho bà là “một con trai, đứa con bởi thịt máu của bà.”

Nay, khi tỏ lòng hiếu khách “với nhau”, phần thưởng của chúng ta là… là gì nhỉ! Thưa, Lm.Charles nói: “Chúng ta cũng lãnh nhận một con trai, không phải đứa con trai bởi thịt máu mình, mà là người Con Hằng Hữu của Thiên Chúa là Cha. Vươn ra với tha nhân, đó là chúng ta vươn ra với chính Đức Ki-tô.”

“Là người Công Giáo…”, ngài Charles còn có lời chia sẻ: “chúng ta tin Đức Giê-su Ki-tô hiện diện trong Bí Tích Thánh Thể. Chúng ta còn phải xác tín mãnh liệt rằng: Người còn hiện diện trong những con người: khi phục vụ tha nhân, đó là ta phụng sự Người, ngoảnh mặt làm ngơ với người khác, đó là ta phớt lờ Người”.

Đúng là vậy. Vì… Đức Giê-su đã có lời phán truyền: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” (x.Mt 25, 39).

Vậy, chúng ta hãy làm điều Chúa muốn, đó là: từ bỏ mình và hiếu khách. Nói ngắn gọn, điều Chúa muốn: từ bỏ và hiếu khách.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2026

Hãy nhìn… Đấng diệt cả hồn lẫn xác…

 Chúa Nhật XII – TN – A

Hãy nhìn… Đấng diệt cả hồn lẫn xác…

SnTM 200626b


Sợ… hay sợ hãi là gì? Thưa, “là một cảm xúc nguyên thủy tự nhiên của con người, đóng vai trò như một cơ chế sinh tồn thiết yếu. Phản ứng này giúp cơ thể nhận thức được mối đe dọa hoặc nguy hiểm và đưa ra quyết định đối phó hoặc bỏ chạy.” (nguồn: internet).

Nói rằng “là một cảm xúc nguyên thủy tự nhiên của con người”, không sai. Nói rằng “phản ứng này giúp cơ thể nhận thức được mối đe dọa hoặc nguy hiểm và đưa ra quyết định đối phó hoặc bỏ chạy” cũng không sai. Nguyên tổ Adam và Eva như một minh chứng cho định nghĩa này.

Theo Kinh Thánh ghi lại, trước lời mời mọc quá hấp dẫn của satan: “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác”, Adam và Eva không thể cưỡng lại, đã ăn. Hậu quả, “họ thấy mình trần truồng… họ trốn chạy… họ sợ hãi” (x.St 3, 1-10).

Như tội tổ tông, sự sợ hãi cũng là ác mộng không của riêng ai. Có mối sợ hãi khiến ta thẫn thờ, bất động. Ví dụ như sợ ma. Có mối sợ hãi làm cho ta hoảng loạn. Ví dụ như chiến tranh, thiên tai v.v…

Là người Công Giáo, có một mối sợ hãi khiến ta có thể “không dám suy nghĩ và hành động đúng theo niềm xác tín Công Giáo của mình”. Đó là sự bách hại.

Đây là mối sợ hãi đặc biệt thường do từ sự đe dọa. Sự đe dọa bởi một ai đó, bởi một thể chế nào đó, bởi một thế lực nào đó v.v…
 
Đức Giê-su rất quan tâm đến mối sợ hãi này. Trong những ngày ra đi rao giảng Tin Mừng, Ngài và Nhóm Mười Hai vẫn thường phải đối diện với nhiều sự đe dọa. Những sự đe dọa này, thường xuất phát từ giới thần quyền Do Thái. Đó là quý ông Phariseu, kinh sư, biệt phái.

Với Đức Giê-su, Ngài chưa một lần tỏ ra sợ hãi. Nhưng, với Nhóm Mười Hai… Có, có vấn đề! Thế nên, Đức Giê-su đã có những lời chỉ dạy thiết thực, hầu đem lại cho các ông niềm xác tín vững mạnh vào sứ vụ trong một tương lai mà các ông sẽ thực hiện. Những lời chỉ dạy này, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mát-thêu.

**
Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại, thì: Sau khi Đức Giê-su tiên báo những cuộc bách hại sẽ xảy ra, Ngài đã có những lời chỉ dạy cho các môn đệ của mình, rằng: “Anh em đừng sợ người ta.”

Đức Giê-su bảo đừng-sợ-người-ta” là bởi, những con người đó chỉ là phàm nhân. Là phàm nhân, giỏi lắm họ chỉ “giết được thân xác mà không giết được linh hồn”.

Nếu có sợ… Vâng, hôm ấy, Đức Giê-su nói: “Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục”.

Đấng-có-thể-tiêu-diệt cả-hồn-lẫn-xác trong-hỏa-ngục, là ai! Thưa, đó chính là Thiên Chúa.

Nhìn các môn đệ, Đức Giê-su nói tiếp: “Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi”. (x.Mt 10, 29-30).

Sau đó, Ngài cho các ông một lời khuyên: “Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ”.

***
Trên đây là những lời chỉ dạy của Đức Giê-su dành cho các môn đệ. Và các ông đã tuân giữ lời chỉ dạy của Ngài.

Chuyện kể rằng, một ngày nọ các môn đệ “đang đứng trong Đền Thờ và giảng dạy cho dân”. Hôm ấy, các ông đã giảng Tin Mừng Đức Kitô phục sinh.

Nguồn tin này lọt đến tai Thượng Hội Đồng. Lập tức, họ sai lãnh binh Đền Thờ cùng nhóm thuộc hạ đi bắt.

Bắt được, lãnh binh Đền Thờ điệu các ông đến Thượng Hội Đồng. Vị thượng tế hỏi các ông: “Chúng tôi đã nghiêm cấm các ông không được giảng dạy danh ấy nữa, thế mà các ông đã làm cho Giê-ru-sa-lem ngập đầy giáo lý của các ông, lại còn muốn cho máu người ấy đổ trên đầu chúng tôi.”

Nghe thế, các môn đệ phản ứng thế nào! Thưa, các ông đáp lại: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm…”

Ngôn sứ Giê-rê-mi, được mênh danh là “Người của Thiên Chúa”, thấu hiểu điều này, bởi ông cũng từng bị nhạo báng, bị sỉ nhục và chế giễu.

“Nhưng…” ông nói: “…ĐỨC CHÚA hằng ở bên con như một trang chiến sĩ oai hùng. Vì thế những kẻ từng hại con sẽ thất điên bát đảo, sẽ không thắng nổi con. Chúng sẽ phải thất bại, và nhục nhã ê chề: đó là một nỗi nhục muôn đời không thể quên.” (x.Gr 20, 11).

Khi có ĐỨC CHÚA hằng-ở-bên, dù chưa bao giờ nghe Chúa Giê-su tuyên phán: “Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày, và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng…”, nhưng ông biết… Giê-rê-mi biết sấm ngôn của ĐỨC CHÚA phải “nói ra giữa ban ngày”.

Chuyện được kể lại rằng: “Giê-rê-mi bị những kẻ chống lại ông buộc phải lên đường trốn sang Ai Cập. Theo truyền thuyết, ông bị một số đồng bào của mình giết hại tại đó.”

Lm Charles E.Miller, suy tư vụ thảm sát của Giê-rê-mi, có lời chia sẻ rằng: “Những con người độc ác (những kẻ giết ông) không được ai nhắc nhở, nhưng với Giê-rê-mi thì ngược lại. Ông vẫn tồn tại không chỉ trong các trang Sách Thánh, mà còn trên Thiên Đàng với Chúa Giê-su, Đấng Mesia mà ông chưa từng biết tới trên cõi đời này, nhưng luôn giữ một lòng trung tín với Người tuy không hề nhận biết.”

Nói tắt một lời, Giê-rê-mi: vâng-lời-Thiên-Chúa hơn-vâng-lời-người-phàm.
 
****
Là người Công Giáo, có phần chắc, chúng ta nhận biết Chúa Giê-su. Có phần chắc, chúng ta đã được nghe những lời chỉ dạy thiết thực (nêu trên), của Ngài.

Hãy xem những lời chỉ dạy này, như chiếc kim- chỉ-nam cho cuộc hành trình về Thiên Quốc, của chúng ta. Bởi, chiếc kim-chỉ-nam này, chính là bửu bối, đem lại cho chúng ta sức mạnh kỳ diệu, sức mạnh của một Thiên Chúa “có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục”.

Phải mang trong mình chiếc kim-chỉ-nam này. Có như thế, chúng ta mới có thể chiến thắng trước những sự đe dọa của Satan, thông qua “những trào lưu nguy hiểm” đầy dẫy trong xã hội, hôm nay.

Mang trong mình chiếc kim-chỉ-nam này, chúng ta không ngại khi bị “chụp cho một cái mũ vi phạm nữ quyền” vì mình quá nhấn mạnh “phá thai là một tội ác không sao tả xiết”.

Mang trong mình chiếc kim-chỉ-nam này, chúng ta không ngại khi những người tôn thờ “chủ nghĩa cá nhân” nhìn chúng ta bằng cặp mắt hình “viên đạn đồng đen” vì chúng ta “cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc” v.v…

Mang trong mình chiếc kim-chỉ-nam này, chúng ta vẫn có thể tự tin “ngước mặt nhìn đời”, mặc thế gian “chê bai và ganh ghét”, chê-bai-và-ganh-ghét vì chúng ta rao giảng những lời giáo huấn mà Đức Giê-su Ki-tô đã truyền dạy, năm xưa.

Chúng ta đang sống trong thời kỳ cuối cùng. Thời kỳ “Có nhiều kẻ sẽ mạo danh Thầy đến, nói rằng: Chính Ta đây! Và họ sẽ lừa gạt được nhiều người”. (Mc 13, 6).

Có nhiều rồi đấy, thưa quý vị! Đã có người nói: “Tui là thư ký của Chúa”. Tin không! Đừng tin. Đừng tin, vì nó chính là “đệ ruột” của Satan, đội lốt người.

Đây là lúc chúng ta cần sự khôn ngoan. Sự khôn ngoan đích thực, đó là chúng ta hãy “nhìn xem Đức Giê-su như là cội rễ và cuối cùng của đức tin” (Dt 12, 2).

Nói cách khác, chúng ta “Hãy nhìn… Đấng diệt cả hồn lẫn xác”, xem đó như là cội rễ và cuối cùng đức tin của chúng ta.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

Lạy Chúa! Xin Ngài sai con.

 Chúa Nhật XI – TN – A

Lạy Chúa! Xin Ngài sai con

SnTM 130626a


Theo lịch sử Giáo Hội, chúng ta được biết, Đạo Công Giáo đã hiện diện trên thế giới này hơn hai ngàn năm. Và theo thống kê mới nhất (năm 2025) trên toàn thế giới có 1 tỷ 406 triệu tín hữu Công Giáo.

Đó là một con số không nhiều, không ít. Không nhiều, vì nó chỉ chiếm khoảng 17,8% dân số toàn cầu. Không ít, vì so với “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” nó chỉ vọn vẹn có mười hai người, thêm dăm-ba-bà-đạo đức, vài quý ông nhận ra Đức Giêsu “là một vị tôn sư được Thiên Chúa tuyển chọn” như Nicôđimô… là cùng!

Vâng, lúc khởi đầu, chỉ là mười hai. Mười hai người này đã được Đức Giê-su tuyển chọn và được gọi là Tông Đồ.

**
Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại: “Tên của nhóm mười hai Tông Đồ: đứng đầu là ông Si-mon, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông. Sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông. Ông Phi-lip-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô, ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế, ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô, ông Si-mon thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là chính kẻ nộp Người.”

Chỉ là mười hai Tông Đồ. Họ đã được Đức Giê-su sai đi. Họ đã được Ngài ban cho “quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền”, cùng với lời chỉ thị, rằng: “Anh em đừng đi về phía các dân ngoại, cũng đừng vào các thành nào của dân Sa-ma-ri. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en.”
Đây không phải là sự kỳ thị. Vào thời kỳ đó, người Do Thái không được giao thiệp với người Samari. Theo Tin Mừng thánh Luca cho biết, đã có “một làng Samari không đón tiếp Đức Giê-su” (x.Lc 9, 51).

Nói các ông hãy-đến-với các-con-chiên-lạc-nhà It-ra-en là bởi, Đức Giê-su thấy họ “lầm than vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt.”

Suy gẫm lời Đức Giê-su nói, Cha Charles E.Miller có lời chia sẻ: “Đây là cách Đức Giê-su bộc lộ một trái tim nhân bản trọn vẹn tròn đầy tình yêu của Thiên Chúa”.

Mà, đúng là vậy. Hồi ấy, Đức Giê-su đã chỉ thị cho nhóm mười hai tông đồ: “Hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần… Hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ.”

Và, cuối cùng Ngài khuyến cáo: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.”

***
Trước khi sai nhóm mười hai, Đức Giê-su đã nói với các ông rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.”

Nhắc lại lời nói này để làm gì? Thưa, để chúng ta tự hỏi mình rằng: Phải chăng, đây cũng là lời Đức Giê-su nói với chúng ta, hôm nay? Đúng vậy, cũng là lời Ngài nói với chúng ta, hôm nay.

Là chúng ta, bởi chúng ta cũng là môn đệ của Ngài. Vì thế, chúng ta cũng phải “xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”. Chúng ta cũng phải tiếp bước như các môn đệ xưa “đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”.

Xưa, các môn đệ được chỉ thị: “Hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần…”

Nay, chúng ta hãy rao giảng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời… Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,13-17).

Xưa, các môn đệ được chỉ thị: hãy-đến-với các-con-chiên-lạc nhà-It-ra-en.

Nay… Chúng ta hãy…

Hãy đến với những ai đang “rong ruổi đường đường gió bụi… gánh sầu thương mệt mỏi hai vai.” Nói với họ… “Về đây nấp bóng Sao Mai. Về đây quên lãng những ngày truân chuyên.”

Hãy đến với những ai “…Thiếu vỗ về người Mẹ. Tháng ngày trôi lặng lẽ cô liêu.” Nói với họ… “Về đây Mẹ sẽ thương yêu. Về đây Mẹ sẽ ban nhiều ơn thiêng.”

Hãy đến với những ai “Đang mê mải tìm hoan lạc. Những ngày đêm thổn thức băn khoăn.” Nói với họ… “Về đây ngỏ hết tâm can. Về đây Mẹ có muôn ngàn yêu thương.”

Hãy đến với những ai đang “Sống mãi trong do dự. Kiếp trần gian lữ thứ đau thương.” Nói với họ… “Về đây nấp bóng Trinh Vương. Về đây hưởng phúc thiên đàng yên vui.”

Khi chúng ta, đến với những ai rơi vào những hoàn cảnh nêu trên. Nói với họ, về những điều tốt lành như thế. Chúng ta chẳng khác gì một vị lương y, một vị lương y kê cho họ một toa thuốc “chữa lành”.

Làm như thế, chúng ta mới thực sự là đã thực thi lời Đức Giê-su chỉ thị: “Hãy chữa lành người đau yếu...”

Nói cách khác, làm như thế, chúng ta kéo họ ra khỏi thảm họa “ma đưa lối, quỷ dẫn đường”, một thảm họa sẽ dẫn họ đến “thung lũng âm u, nghi ngờ và chết chóc”.

***
Đừng nhát đảm nghĩ rằng, chúng ta không thể thực thi lời Đức Giê-su chỉ thị. Mọi sự đều có thể… có thể nếu chúng ta giàu lòng thương xót, như Đức Giê-su - Đấng giàu lòng thương xót.

Đức Giê-su không loại trừ bất kỳ ai. Ngài luôn sẵn sàng đón nhận những tâm hồn đau khổ và mời gọi con người sám hối để được chữa lành. Ngài đã có lời truyền dạy: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15, 13).

Đức Giê-su đã thực sự “hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” Điều này đã làm cho thánh Phao-lô “hết sức kinh ngạc và sửng sốt”.

Vị tông đồ dân ngoại đã giải bày nỗi lòng mình với tín hữu thành Roma: “Hầu như không ai chết vì người công chính, họa may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng? Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.” (x.Rm 5, 7-8).

Là-bằng-chứng-Thiên-Chúa-yêu-thương-chúng-ta… có tôi… có anh! Vâng, đúng thế. Thế nên, chúng ta phải đáp lại lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho chúng ta.

Đáp lại bằng cách nào? Thưa, đó là chúng ta “Cố gắng yêu thương người. Dù người không yêu ta, hãy cứ yêu thương hoài. Mặc người ai quen ai, hãy cho nhau một lời. Dù là nghe chua cay, dù là lời thoáng qua tai...”

Một cách tích cực hơn, đó là chúng ta hãy “đem уêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm.”

Đó là: hãy “đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậу vào nơi thất vọng… rọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu.”

Đó là: hãy “tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm уêu mến người hơn được người mến уêu.”

Vâng, chúng ta… chúng ta “còn (nhiều) người ngồi quanh đây, trán in vết nhăn.” Vẫn còn rất nhiều vầng trán nhăn nhó vì phải đối diện với nỗi đau thể xác lẫn tinh thần.

Vẫn còn rất nhiều vầng trán in đầy vết nhăn, những vết nhăn do phải lựa chọn giữa sự ác và sự thiện, giữa điều phải làm và điều không nên làm.

Hãy đến với họ. Vì, chúng ta đã-được-cho-không, thì cũng-phải-cho-không-như-vậy. Hãy-xin-chủ-mùa-gặt-sai-đi. Hãy nói với Chúa: Lạy Chúa! Xin Ngài sai con.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2026

Hãy cùng nhau dự Tiệc Thánh Chúa

 Chúa Nhật Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô

Hãy cùng nhau dự Tiệc Thánh Chúa

SnTM 060626b


“Người ơi! Nào mau tới thờ lạy Chúa! Quỳ dâng lòng tôn kính Chúa trên cao. Linh thiêng ôi phút giây giờ đây khi đoàn con được chiêm ngắm nhan thánh Chúa chí nhân quyền uy. Người ơi! Nào mau tới thờ lạy Chúa! Đồng thanh hợp chung tiếng hát ca khen. Cảm mến ơn Chúa ban tràn lan cho trần gian Mình Máu Thánh nên nguồn sống tuôn ngày đêm.”

Những dòng chữ trên đây là phần trích đoạn bài thánh ca rất quen thuộc mà hầu như mọi người Công Giáo đều biết đến. Đó là bài PHÚT LINH THIÊNG.

PHÚT LINH THIÊNG do Lm. Thành Tâm sáng tác, là một bài hát nói về Bí Tích Thánh Thể, một Bí Tích đã được Đức Giê-su thiết lập trong bữa tiệc Lễ Vượt Qua.

Nói đến Bí tích Thánh Thể hay còn được gọi là Bí Tích Mình Thánh Chúa, có thể nói đó là Bí Tích rất quan trọng, rất quan trọng bởi bí tích này “là nguồn mạch và đỉnh cao của đời sống Kitô hữu. Nơi bí tích này, Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong hình bánh và rượu, liên kết người tín hữu vào Hy tế Thập giá và Mầu nhiệm Vượt qua, từ đó nuôi dưỡng và hiệp nhất toàn thể Giáo hội.”

Chất thể của Bí Tích Thánh Thể “là rượu, bánh và nước.” Mô thể của Bí Tích Thánh Thể là lời truyền phép: “Này là Mình Ta sẽ bị nộp vì các con… Này là chén Máu Ta, máu sẽ đổ ra vì các con…”

Đây là lời truyền phép vô cùng thiêng liêng. Chính Đức Giê-su đã đọc lời này trong bữa Tiệc Ly (Lễ Vượt Qua) để lập Bí tích, trước khi bước vào cuộc tử nạn.

Bí Tích Thánh Thể, có người còn gọi là “thần lương nhiệm mầu”. Gọi như thế bởi, tại Caphanaum, Đức Giê-su đã có một bài diễn từ nói đến “ơn phước nhiệm mầu” dành cho những ai “cầm lấy mà ăn - cầm lấy mà uống.” Sự kiện này, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an. (x.Ga 6, 51-58).

**
Vâng, Caphanaum trong một-ngày-như mọi-ngày. Từng đoàn người bên kia Biển Hồ tràn qua hội tụ nơi đây, khi họ biết rằng, có sự hiện diện của Đức Giêsu.

Lý do có cuộc hội tụ này, có thể là do vài hôm trước, vào một buổi chiều tà, Đức Giêsu đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để cứu đói họ.

Vì thế, hôm nay, họ lại “đi Caphanaum tìm Người”, đi tìm Đức Giê-su với ước muốn, biết đâu, một lần nữa, Ngài lại dùng quyền năng để làm một việc gì đó cứu đói họ chăng? Nếu đúng vậy, đó là ước muốn bình thường của những con người bình thường.

Vâng, những con người bình thường đó “khi gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ (liền) nói: Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?”

Đi-guốc-trong-bụng-họ, Đức Giê-su đã đáp lời rằng: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê”.

Đúng vậy, mấy hôm trước đó, chỉ với “năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá” Đức Giê-su đã “hóa bánh ra nhiều” cho năm ngàn người ăn no nê.

Còn hôm nay, Đức Giê-su có lời khuyến cáo với họ, rằng: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận.”

Nghe thế, một cuộc tranh luận “căng như dây đàn” giữa Đức Giê-su và họ, nổ ra.

Họ, chất vấn Đức Giê-su. Họ, bắt bẻ Ngài. Ôi thôi! đủ chiêu trò. Đúng như thành ngữ dân gian xưa nói: “bạc như dân, bất nhân như lính”.

Hôm trước, cho ăn no nê, đòi tôn Đức Giê-su làm vua. Hôm nay, nói vài câu phật ý, bắt bẻ, đòi dấu lạ: “Ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông?”

Thật đáng tiếc, Đức Giê-su không làm dấu lạ nào hết. Đối với họ, chuyện sống còn “dưới đất” là điều thật khẩn thiết. Nhưng, với Đức Giêsu, Ngài lại muốn họ nhận ra rằng, còn có sự sống “trên trời”. Sự sống đó, phải là thứ-lương-thực-Con-Người-sẽ-ban.

“Không…” Đức Giê-su nói tiếp: “…không phải ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian”.

Nhìn, những con người bình thường, với những ước muốn bình thường, Ngài tuyên bố: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói, ai tin vào tôi chẳng khát bao giờ… ”.

Nuốt không trôi lời Đức Giê-su nói, họ “liền xầm xì phản đối”, phản đối vì Ngài nói rằng: “Tôi là bánh từ trời xuống”. Họ phản đối chẳng sai. Họ nói: “Ông này chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống?”

Hôm đó, bất chấp những lời xầm xì nhỏ to, Đức Giêsu vẫn nói lên thông điệp từ trời, một thông điệp của tình yêu, rằng: “Thật tôi bảo thật với các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết.”

Tiếp đến, Đức Giê-su khẳng định: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.” (x.Ga 6, 51).

Lời công bố của Đức Giê-su dẫn đến một cuộc tranh luận sôi nổi. Chuyện kể rằng: “Người Do Thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?”

Mặc cho những lời tranh luận giữa họ với nhau. Đức Giêsu vẫn không rút lời: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy.” (x.Ga 6, 52-56).

 Đây không phải là một trò ảo thuật. Đây là ân sủng, một thứ ân sủng đến từ “Chúa Cha là Đấng hằng sống”.

Tin mừng thánh Gio-an có lời chép rằng:“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,13-17).

Và tình yêu ấy, đã được Đức Giêsu xác quyết mạnh mẽ, rằng: “Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” (Ga 6, 58).

***
Những điều được trình bày trên đây: “đó là những điều Đức Giê-su đã nói khi giảng dạy trong hội đường, ở Ca-phac-na-um” (x.Ga 6, 59). Và, đó chính là lý do, hôm nay, Giáo Hội long trọng mừng lễ Mình Máu Chúa Ki-tô.

Hôm nay, Giáo Hội tiếp tục nói với mọi người tín hữu điều Đức Giêsu đã truyền dạy năm xưa, lời truyền dạy rằng: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”

Hôm nay, Đức Giê-su, qua vị linh mục chủ tế, cùng lời truyền thánh hiến Bánh, nói với chúng ta, rằng: “Tất cả các con hãy lãnh nhận mà ăn, vì này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con”. Đức Giê-su, qua vị linh mục chủ tế, cùng lời truyền thánh hiến Rượu, nói với chúng ta, rằng: “Tất cả các con hãy lãnh nhận mà uống, vì này là Chén Máu Thầy, Máu Tân Ước vĩnh cửu sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”.

Vâng, trong mỗi thánh lễ, vị linh mục chủ tế “làm việc này (để) tưởng nhớ tới Thầy”. Là một Ki-tô hữu, trong mỗi thánh lễ, chúng ta cũng “hãy làm việc này(rước lễ) mà nhớ đến Chúa”.

Như có lời nói rằng: “Biết điều đó thì khác xa với những ai đã nếm được điều đó”.

Thế nên, hãy đáp lời mời gọi của Thiên Chúa, lời mời gọi, rằng “Hãy đến mà ăn bánh của ta và uống rượu do ta pha chế! Đừng ngây thơ khờ dại nữa, và các con sẽ được sống, hãy bước đi trên con đường hiểu biết” (x.Cn 9, 5-6).

Con-đường-hiểu-biết, đó là đáp lời mời gọi của Thiên Chúa. Đó là hãy-đến-mà-ăn. Bởi “Khi ta cùng bẻ Bánh Thánh”, tông đồ Phao-lô nói, “đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao?”

Nhắc đến điều này để làm gì? Thưa, để chúng ta nhớ, nhớ rằng, Đức Giê-su đã phán hứa: “Kẻ ăn tôi… sẽ nhờ tôi mà được sống” (x.Ga 6, …57).

Vâng, nhạc sĩ Ignatiô Nguyễn Hùng Lân, khi còn tại thế, cũng đã cất tiếng nhắn nhủ chúng ta: “Hãy đến mà ăn, đây bánh Ta ban dưỡng nuôi linh hồn. Cùng dự Tiệc Thánh Chúa nhiệm tích muôn ngàn ơn thiêng...

Chúng ta không cần tranh luận hay xầm xì về những lời Đức Giêsu đã phán truyền. Bởi… bởi vì… “Đây là mầu nhiệm đức tin”.

Thế nên, đã là một Ki-tô hữu, chúng ta: Hãy đến mà ăn. Hãy cùng nhau dự Tiệc Thánh Chúa.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2026

Vinh Danh Chúa Ba Ngôi...

 Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi

Vinh Danh Chúa Ba Ngôi

SnTM 320526b


Chúa Nhật hôm nay (31/05/2026), là ngày cuối cùng của tháng năm. Nói tới tháng năm, theo truyền thống, được gọi là tháng hoa - Kính Đức Maria.

Tuy nhiên, nếu làm một bảng tổng kết, tổng kết những bài Tin Mừng đọc trong phần phụng vụ Lời Chúa, (suốt tháng này), chúng ta có thể nói thêm rằng, tháng năm còn là tháng của Lòng Chúa Thương Xót.

Gọi là tháng của Lòng Chúa Thương Xót, bởi đa số những bài đọc đều được trích từ Tin Mừng thánh Gio-an (24 bài). Mà, Tin Mừng thánh Gio-an chẳng phải là Tin Mừng nói về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, đó sao!

Thật vậy, qua 24 bài đọc, Lòng Thương Xót của Thiên Chúa tràn ngập, nhìn đâu cũng thấy. Và được mô tả như là “nguồn mạch của mọi ơn lành”… ơn bình an, ơn cứu độ, ơn được sống đời đời.

Đơn cử như trích đoạn trong thánh lễ Chúa Nhật 3/5: “Anh em đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về lại với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.”

Đó… đó là một lời phán hứa, một lời hứa hẹn, rằng: Thiên Chúa là nguồn mạch của sự bình an, Và, tiếp theo là gì! Thưa, là một lời khẳng định, khẳng định Thiên Chúa là tình yêu: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy.” (Ga 15, 9).

**
Vâng, Tình yêu của Thiên Chúa không từ trời rơi xuống một cách ngẫu nhiên, nhưng qua Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô.

Tin Mừng thánh Gio-an ghi rằng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời”. (Ga 3, 16).

Trong ba năm thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng. “Con của Người” là Đức Giêsu, qua những lời giảng dạy, Ngài đã nhấn mạnh với con người rằng “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Ga 3, 17).

Chúng ta hãy nhớ lại đi! Một ngày nọ, “Con của Người” là Đức Giêsu đã nói: “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.”

Đặc biệt với bài dụ ngôn “người con hoang đàng” (Lc 15, 11-32), qua nhân vật người cha, Đức Giêsu đã cho con người thấy rõ nét về một “Chúa Cha nhân hậu và bao dung.” Một Thiên Chúa luôn “chạnh lòng thương xót” trước những hối nhân trở về.

Cũng với bài dụ ngôn (nêu trên), với nhân vật người con thứ, Đức Giêsu đã gửi đến mọi người một thông điệp rằng, con người chỉ có thể đón nhận lòng nhân hậu và sự bao dung của Thiên Chúa với điều kiện, đó là “tin”, tin vào sự tha thứ, đó là, đứng lên và đi về với Thiên Chúa, như người con hoang đàng đã “tin” và đã “đứng lên, đi về cùng cha”.

Vâng, thông điệp này, cũng đã được ghi trong Tin Mừng thánh Gio-an, lời ghi rằng: “Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa” (Ga 3,18).

***
Tình yêu của Thiên Chúa là thế đấy. Tình yêu của Thiên Chúa không chỉ mang đến ơn cứu độ cho thế gian, nhưng nó còn mặc khải cho thế gian thấy mầu nhiệm “Ba Ngôi Thiên Chúa”. Hay có thể nói: mầu nhiệm “Một Chúa Ba Ngôi - Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.

Đây không phải là một niềm tin vu vơ, mơ hồ. Niềm tin này đã được chính “Con của Người” là Đức Giêsu mặc khải trong đêm Ngài trò chuyện với Nicôđêmô.

Trong đêm đó, Đức Giêsu đã nói rằng “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí” (Ga 3,5).

Thần Khí là ai? Thưa, hôm đó, Đức Giê-su đã giải thích với ông Ni-cô-đê-mô rằng: “Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy” (Ga 3, 8).

Thần Khí là ai? Thưa, trong bữa tiệc Vượt Qua, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em”. (Ga 14, 16-17).

Và quả thật, điều Đức Giê-su nói đã trở thành sự thật, sau khi Ngài về trời. Sự thật đó đã xảy ra vào ngày lễ Ngũ Tuần, khi các môn đệ đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp.

Chuyện được kể lại rằng, các môn đệ đã nhìn thấy “những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một”. Và từ đó, các ông “được tràn đầy ơn Thánh Thần” (Cv 2 ,2).

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một”. Con-của-Người là Đức Giêsu nói: “Tôi và Chúa Cha là một”. Các môn đệ tràn-đầy-ơn-Thánh-Thần. Ba sự kiện này, chẳng phải là như một thông điệp mở, mở đôi mắt đức tin rằng, đó chính là mạc khải, mạc khải mầu nhiệm “Một Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”, sao!

Phaolô sau khi trở thành tông đồ của Chúa, cũng nhận đã nhận ra mạc khải trọn vẹn về “Ba Ngôi Thiên Chúa”. Thánh nhân đã không quên chia sẻ mạc khải này trong thư gửi cho cộng đoàn Roma.

Thư được viết rằng: “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5, 5). Và hơn thế nữa, thánh nhân luôn “cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa và ơn hiệp thông của Thánh Thần” (2Cor13,13).

****
Chúa Nhật hôm nay, toàn thể Giáo Hội Công Giáo xác tín lại niềm tin này qua việc cử hành “Lễ Chúa Ba Ngôi”. Nếu… nếu hôm nay, chúng ta được mời đến một cộng đoàn, hoặc một nhóm nhỏ, để nói về Ba Ngôi Thiên Chúa… Vâng, chúng ta sẽ nói gì?

Phải chăng chúng ta sẽ “bổn cũ soạn lại”, theo chân những nhà thần học xưa, cố gắng diễn tả cho mọi người nhận biết mầu nhiệm “Một Chúa Ba Ngôi” theo nhiều cách thế khác nhau!

Phải chăng chúng ta sẽ diễn tả Ba Ngôi Thiên Chúa giống như H2O, tuy ở ba dạng thể: thể lỏng (nước lỏng), thể rắn (nước đá),và thể khí (hơi nước) nhưng tất cả đều được gọi là “nước”?

Phải chăng chúng ta sẽ nói về một quả trứng. Nó có vỏ bọc, có lòng đỏ và có lòng trắng, nhưng cũng chỉ là quả trứng? Phải chăng chúng ta không quên hình ảnh về mặt trời nơi phát ra ánh sáng và sức nóng nhưng cũng chỉ được gọi là mặt trời?

Thiên Chúa là Đấng vô hạn, chính vì thế, chúng ta không thể dùng những vật thể hữu hạn để mà so sánh về Người. Và Thiên Chúa nào có cao xa… Người đã mặc lấy xác phàm và đang cư ngụ giữa chúng ta kia mà!

Vâng, nói về Ba Ngôi Thiên Chúa, với ngôi thứ nhất là Chúa Cha, không gì tốt hơn là chúng ta hãy có một tấm lòng bao dung, chậm giận và hay tha thứ. Vì Chúa Cha “có lòng thương xót, hay làm ơn, chậm nóng giận, và đầy sự nhân từ.” (Tv 103, 8).

Nói về Ba Ngôi Thiên Chúa, với ngôi thứ hai là Chúa Con, không gì tốt hơn là chúng ta hãy học nơi Đức Giêsu, sự hiền lành và khiêm nhường. Vì đó là điều Đức Giêsu mời gọi, gọi rằng: “Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11, 29).

Nói về Ba Ngôi Thiên Chúa, với ngôi thứ ba là Chúa Thánh Thần, không gì tốt hơn là chúng ta hãy “sống theo Thần Khí”. Thế nào là sống theo Thần Khí? Thưa, đó là sống bác ái, sống trung tín.

Thực hiện trọn vẹn những gợi ý nêu trên, đó là chúng ta đã: “tấu lên muôn muôn điệu nhạc, ngợi khen Ðấng quyền năng vô biên.” Và, chúng ta không hổ thẹn mỗi khi đặt tay lên trán và cất tiếng đọc, rằng: “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.

Thực hiện trọn vẹn những gợi ý nêu trên, nói cách khác, đó là chúng ta: Vinh Danh Chúa Ba Ngôi.

Petrus.tran

Điều Chúa muốn - Hãy trở thành đất tốt.

  Chúa Nhật XV – TN – A Điều Chúa muốn - Hãy trở thành đất tốt Như chúng ta được biết, sau ba mươi năm sống ẩn dật tại quê nhà Nadarét, Đức ...