Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2026

Hãy nhờ Thần Khí lăn tảng đá

 Chúa Nhật Phục Sinh – Năm A

Hãy nhờ Thần Khí lăn tảng đá

SnTM 040426b


Đức Giê-su Ki-tô từ trong cõi chết, Ngài đã Phục Sinh. Đó là điều mà hôm nay, khoảng hai tỷ người Ki-tô hữu tin và đón nhận như là cứu cánh cho cuộc đời mình.

Với người Kitô hữu hôm nay, để tuyên xưng niềm tin Đức Giê-su Phục Sinh thật giản dị. Mỗi Chúa Nhật, người Kitô hữu đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ và sau phần Phụng Vụ Lời Chúa, tất cả cộng đoàn cùng tuyên xưng – tôi tin Đức Giêsu “Người chịu khổ hình và mai táng. Ngày thứ ba Người sống lại thật như lời Thánh Kinh”.

Niềm tin này không tự Giáo Hội đặt ra, nhưng là do các thánh tông đồ truyền dạy. Lời truyền dạy của các ngài, chúng ta gọi là “đức tin tông truyền”.

Các vị là những người đã từng chứng kiến tận mắt, được chạm tận tay, được nghe chính con người thật của Đức Giê-su, sau khi Ngài sống lại. Nói tắt một lời, họ “gặp Đức Giê-su Phục Sinh”.

Hai vị tông đồ Phê-rô và Gioan, có thể nói, là những người đầu tiên cảm nghiệm được sự kiện linh thiêng này. Chính thánh Gio-an đã kể lại cảm nghiệm đầy cảm xúc của mình khi đến ngôi mộ chôn Chúa Giê-su vào ngày thứ nhất trong tuần.

Ông đã thấy, thấy nơi đây chỉ còn là “ngôi mộ trống” và ông đã coi đó như là dấu chỉ Đức Giê-su Phục Sinh. Ông đã tin và đã ghi lại đầy đủ chi tiết về sự kiện này.

**
Sự kiện này được thánh Gio-an kể lại như sau: Chuyện xảy ra vào “sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối.”

Thánh Gio-an không kể, nhưng chúng ta có thể tưởng tượng rằng, đó là một buổi sáng đầy âu lo, thấp thỏm, hy vọng… đối với các vị môn đệ.

Âu lo vì có tin đồn các vị thượng tế và kỳ mục đã mua chuộc nhóm lính tung tin rằng “các môn đệ của ông Giêsu đã đến lấy trộm xác”.

Trộm hay ăn trộm là một trong Mười Điều Răn của Torah Do Thái – “Ngươi chớ trộm cắp”. Vi phạm… tòa án sẽ thi hành các biện pháp trừng phạt đối với kẻ trộm. Thế nên, cớ gì không âu lo!

Còn thấp thỏm và hy vọng ư! Vâng, tính từ hôm thứ-sáu-buồn, ngày Đức Giêsu thọ nạn, cho đến hôm nay - sang ngày thứ ba, chẳng biết lời Thầy đã phán hứa: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại”, đến lúc nào sẽ ứng nghiệm!

Khi Phê-rô và Gio-an đang mang trong lòng nỗi ưu tư ấy, thì bỗng nhiên hai ông nghe rõ tiếng chân chạy cùng tiếng lao xao mỗi lúc một gần.

Một người phụ nữ xuất hiện. Với khuôn mặt đầy sự căng thẳng, bà ta lắp ba lắp bắp nói với Simon Phêrô: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.” (x.Ga 20,1-2).

Người phụ nữ này chính là bà Maria Mác-đa-la. Hôm thứ sáu, ngày Đức Giê-su bị bắt, bà ta đã theo chân Ngài suốt con đường từ dinh Philato đến tận đỉnh đồi Golgotha. Chính mắt bà chứng kiến cảnh hành hình và cái chết của Ngài.

Khi ông Giosep, người Arimathe, được tổng trấn Phi-la-tô cho phép nhận thi hài Đức Giê-su để chôn “bà và một bà khác cũng tên là Maria…” có mặt ở đó. (x. Mt 27, 61).

Làm sao quên được hình ảnh ông Giô-sep “lấy tấm vải gai sạch mà liệm và đặt (thi hài Đức Giê-su) vào ngôi mộ đã đục sẵn trong núi đá”. Làm sao quên được việc ông ta đã “lăn tảng đá to lấp cửa mồ”! (x. Mt 27, 57-61).

Vậy mà sáng nay, khi đến mộ, bà Maria Mác-đa-la thấy “tảng đá đã lăn khỏi mộ”.

Nghe qua lời kể của Maria Mác-đa-la, không một phút chần chờ, chuyện kể rằng: “ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy”.

Hai ông chạy rất nhanh, nhanh như những vận động viên chạy cự ly 100 mét. Kết quả, “(người) môn đệ kia chạy nhanh hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước.” Tới nơi, người môn đệ này “cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó...”

Ông Si-mon Phê-rô theo sau “cũng đến nơi.” Không như người môn đệ kia “tới mộ trước… nhưng không vào”, ông Phê-rô “vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi.”

Thầy Giê-su đâu! Xác Thầy đâu! Ông Phê-rô không thấy. Và, để biết sự thật chắc chắn như thế nào, “người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào”. Chuyện kể rằng: “ông đã thấy và đã tin.”

Thánh Gio-an, người ghi lại sự kiện này, thú nhận: “Trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.” Hôm ấy, sau khi nhìn rõ những gì đã xảy ra nơi mai táng Đức Giê-su, chuyện kể rằng: “các môn đệ lại trở về nhà.”

Vâng, các ông đã trở về nhà. Hình ảnh “tảng đá đã lăn khỏi mộ” và “ngôi mộ trống” cũng về chung với hai ông. Bởi hai ông tin, tin rằng sự kiện này, chính là “dấu chỉ” Đức Giê-su Phục Sinh, điều Kinh Thánh đã nói: “Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.”
 
***
Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết. Bởi vì: “Nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng.”

Thánh Phao-lô, trong thư gửi tín hữu Cô-rin-tô, xác quyết như thế. (1Cor 15, 14).

Đừng ngạc nhiên, khi Satan và con cái chúng không bao giờ muốn chúng ta xác-quyết-như-thế. Đừng ngạc nhiên, khi Satan và con cái chúng luôn xuyên tạc sự kiện Đức Giê-su Phục Sinh.

Sự kiện Đức Giê-su Phục Sinh, ngay từ thời các tông đồ, đã bị xuyên tạc, một sự xuyên tạc do nhóm thượng tế dàn dựng.

Dùng thủ đoạn hối lộ, các thượng tế và kỳ mục: “cho lính một số tiền lớn” (Mt 28, 12) để họ vu khống lên rằng: “các môn đệ của (Giêsu) đã đến lấy trộm xác” hòng làm mất tính xác thực việc Đức Giêsu Phục Sinh.

Vô lý! Lấy trộm xác trong đêm tối, mà còn cẩn trọng tháo hết vải liệm, “xếp riêng ra một nơi”… vô lý quá!

Ngày nay, Satan và con cái chúng luôn miệng vu khống, gọi sự kiện linh thiêng này là “fake news - tin giả”. Đại loại như: “Ông Giê-su thực sự chưa chết. Ông ta chỉ ngất xỉu. Khi đưa vào mộ đá lạnh, (nhờ hơi lạnh) Ông ta dần hồi tỉnh lại.”

Thật nực cười… nếu là “fake news - tin giả”, thì nguồn tin này không thể tồn lại suốt hơn hai ngàn năm.

Đã có một số người khi càng cố tìm chứng cứ để phủ nhận sự kiện Đức Giê-su Phục Sinh, thì họ lại càng bị thuyết phục rằng “Ngài đã sống lại thật như lời đã phán hứa.”

Frank Morrison, một luật sư người Anh, như điển hình. Ông nghi ngờ về sự Phục Sinh của Chúa Giê-su. Vì thế, ông đã bỏ ra nhiều năm để đi tìm bằng chứng, “rằng sự Phục Sinh của Chúa Giê-su chỉ là trò bịp”.

Thế nhưng, càng tìm kiếm bằng chứng để phủ nhận, thì ông lại càng tìm ra nhiều bằng chứng đáng tin cậy để nói rằng: Chúa Giê-su thực sự đã Phục Sinh.

Chính vì thế, vào năm 1970, ông đã cho ra đời một tác phẩm có tên: “Who moved the stones – Ai đã lăn hòn đá”. Ra đời tác phẩm Ai-đã-lăn-hòn-đá như là cách ông xác tín niềm tin của mình, rằng: “Đức Giê-su Ki-tô từ trong kẻ chết Ngài đã phục sinh”.

Qua tác phẩm này, Frank Morrison đã bổ sung tên của ông vào danh sách tên của những nhà khoa học, bác học: Pascal, Isaac Newton, Louis Pasteur, Edison, Herry Jame v.v… là những người “đã thấy và đã tin”.

Người ta đã dựa vào Kinh Thánh và lịch sử để chứng minh cho sự kiện Đức Giê-su - “ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh”.

Về Kinh Thánh chúng ta có bốn sách Tin Mừng: Mát-thêu, Mác-cô, Luca và Gio-an. Tất cả bốn cuốn sách này đều đã ghi lại biến cố Đức Giê-su Phục Sinh rất, rất chi tiết.

Về lịch sử, khoa khảo cổ học đã tìm ra Bave (Stone Pavement - nền lát đá), nơi Đức Giê-su bị đem ra xử trước đám đông người Do Thái, đúng như trong sách Tin Mừng, ghi lại.

Thì đây, Tin Mừng Gio-an có ghi: “Ông Phi-la-tô truyền dẫn Đức Giê-su ra ngoài. Ông đặt Người ngồi trên tòa, ở nơi gọi là Nền Đá, tiếng Hip-ri gọi là Gap-ba-tha…” (x.Ga 19, 13).

Một học giả Do thái đã từng tuyên bố: “(Hơn) 2000 năm qua, đức tin của hàng triệu triệu người theo Chúa Giê-su không thể dựa vào một điều dối trá – the nineteen hundred years’ faith of millions is not founded on deception” (Joseph Klausner, “Jesus of Nazareth,” p. 35).

****
Xưa…”dấu chỉ” về sự Phục Sinh của Đức Giê-su chỉ là “tảng đá đã lăn khỏi mộ”. và “ngôi-mộ-trống.”

Ngày nay… “dấu chỉ” để nói lên rằng, chúng ta tin Đức Giê-su đã Phục Sinh, cũng phải là thế. Là… những “tảng đá”… tảng-đá-hận-thù, tảng-đá-bất-hòa, tảng-đá-ghen-tuông, tảng-đá-nóng-giận, tảng-đá-tranh-chấp, tảng-đá-chia-rẽ, tảng-đá-bè-phái, tảng-đá-say-sưa-chè-chén v.v… phải được “lăn ra khỏi ngôi mộ tâm hồn” mình.

Nếu xưa kia, “thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra…”, thì ngày nay, Thần Khí Chúa – Ngài chính là người trợ giúp chúng ta.

Thần Khí Chúa sẽ trợ giúp, “nếu (chúng ta) để cho Thần Khí hướng dẫn”. Trước cộng đoàn Galat, thánh Phao-lô có lời truyền dạy, như thế. (Gl 5, 16).

Thế nên, chúng ta hãy để-cho-Thần-Khí-hướng-dẫn, hướng dẫn chúng ta lăn những tảng đá ô nhục (nêu trên), ra khỏi cuộc đời mình. Vì, những tảng đá đó, chính là vật cản, cản chúng ta đến Gặp Đức Giê-su Phục Sinh.

Gặp Đức Giê-su Phục Sinh,
Nếu muốn thật hết lòng...
Hãy nhờ Thần Khí lăn tảng đá.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2026

Một xin vâng ý Chúa mà thôi.

 “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha.”

Chúa Nhật Lễ Lá – Năm A
Một xin vâng ý Chúa mà thôi

SnTM 290326a


Mỗi năm, cứ đến Mùa Chay, đặc biệt là thứ Sáu tuần thánh, có một bài thánh ca luôn được các ca đoàn sử dụng, đó là bài: “Con Đường Chúa Đã Đi Qua”.

Con-Đường-Chúa-Đã-Đi-Qua là con đường nào? Thưa, theo Lm. Văn Chi - tác giả bài thánh ca - chúng ta được biết, đó là: “con đường thập tự - (đường) loan máu đào”.

Con đường thập tự - (đường) loan máu đào, còn được biết đến với tên gọi là “Via Dolorosa - Con đường thương khó”.

Via Dolorosa - Con đường thương khó… “là một tuyến đường nổi tiếng nằm trong cổ thành Jerusalem. Tuyến đường này tượng trưng cho hành trình mà Chúa Jesus đã đi qua, dưới sự cưỡng bức của lính La Mã, trên con đường dẫn đến nơi Ngài chịu đóng đinh trên thập tự giá.” (nguồn: internet).

Cung đường này khởi đi từ vườn Ghết-sê-ma-ni, chạy dài đến đồi Golgotha, nơi Đức Giê-su “chịu đóng đinh trên cây Thánh giá - đời quan Phongxiô Philatô”.

Hơn hai ngàn năm xa trước đó, Đức Giê-su đã chết trên thập giá tại Golgotha. Thánh Mát-thêu, một nhân chứng lịch sử, đã ghi lại cái chết bi hùng của Ngài, một cái chết để “cứu muôn người lỗi tội, đưa về trời đẹp tươi.”

**
Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại: Hôm ấy, khi Giê-ru-sa-lem như đã chìm trong giấc ngủ. Có một đoàn người đi trong lặng lẽ. Đoàn người này gồm có Đức Giê-su và nhóm môn đệ.

Vâng, “Đức Giê-su đi cùng các ông đến một thửa đất gọi là Ghết-sê-ma-ni”. (Mt 26, 36).

Tưởng chúng ta nên biết “Ghết-sê-ma-ni là một khu đất trồng cây ô-liu, người Do-thái trồng loại cây nầy để lấy trái ép dầu. Vì vậy trong những khu đất trồng cây ô-liu thường có những chỗ để ép dầu.”

Hôm ấy, Đức Giê-su đến Ghết-sê-ma-ni không phải để ”hái ô-liu ép dầu…” Ngài đến “để cầu nguyện, để dâng nỗi lòng cho Đức Chúa Cha…” Nỗi lòng của một người sắp phải “nhận chén đắng”.

Khi đã vào Ghết-sê-ma-ni, Đức Giê-su nói, bằng giọng nói rất nhẹ nhàng, chỉ đủ cho các môn đệ nghe: “Anh em ngồi lại đây, Thầy đến đàng kia cầu nguyện.”

“Phê-rô và hai người con ông Dê-bê-đê” được Ngài “đưa đi theo”. Nhìn ba người môn đệ, Đức Giê-su thì thầm nói: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy.”

Nói xong, Ngài “đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống, cầu nguyện rằng: Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén đắng này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.”

Lời cầu nguyện… buồn lắm, phải không, thưa quý vị! Lm. Ân Đức buồn lắm! Và ngài đã “hiệp thông” lời cầu nguyện với Đức Giê-su, nguyện rằng: “Chén đắng! Nếu được con khỏi uống, nếu được con khỏi uống, hồn con xiết bao ưu phiền. Chén đắng! Lẽ nào con chẳng uống, lẽ nào con chẳng uống, xin vâng ý Cha mà thôi.”

Hôm ấy, Đức Giê-su “buồn rầu xao xuyến”. Lm. Ân Đức cũng thốt lên: “Bây giờ con buồn lắm, linh hồn con sầu thảm, biết nói hết những gì đây.”

Sự thể là vậy. Thế mà, “Phê-rô và hai người con ông Dê-bê-đê” “không buồn rầu - không buồn lắm”. Các ông buồn ngủ!

Thật vậy. Chuyện kể rằng, cầu nguyện xong, Đức Giê-su “đến chỗ các môn đệ (Ngài) thấy các ông đang ngủ”. Nhìn Phê-rô Đức Giê-su nói: “Thế ra, anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao? Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng say nhưng thể xác lại yếu hèn.” (x.Mt 26, 41).

Nói xong, Đức Giê-su “lại đi cầu nguyện lần thứ hai”. Lần thứ hai, Ngài đã có lời nguyện rằng: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha.”

Vâng, quả là một lời cầu nguyện chúng ta cần ghi khắc trong con tim mình. Tại sao? Thưa, là bởi, sẽ có lúc chúng ta cũng “không sao tránh khỏi” những “chén đắng” ngoài ý muốn. Những chén đắng của sự phản bội, của sự ghen tỵ, của sự bất trung, bất tín, của sự chia rẽ v.v…

Lạy Cha, con đã bị v.v… và v.v… con phải làm gì? Nên chăng là, hãy ngước-mặt-lên-thánh-giá-Đức-Ki-tô và cầu nguyện như Đức Giê-su đã cầu nguyện tại vườn Ghết-sê-ma-ni, năm xưa!

Hôm ấy, Đức Giê-su “đi cầu nguyện lần ba”. Lần thứ ba Đức Giê-su “nói lại cũng một lời đó”. Cũng-một-lời-đó: “Cha ơi! Cha ơi! Xin đừng theo ý con, một xin vâng ý Cha, mà thôi.”

Một-xin-vâng-ý-Cha, có như thế để ứng nghiệm điều Đức Giê-su đã ba lần tuyên bố: “Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ kết án xử tử Người, sẽ nộp Người cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn và đóng đinh Người vào thập giá…”

Hôm ấy, Đức Giê-su không quở trách về việc các môn đệ “còn ngủ”. Ngài nhẹ nhàng nói: “Đứng dậy, ta đi nào! Kìa kẻ nộp Thầy đã tới.”
***
Kẻ-nộp-Thầy-đã-tới. Y tên là Giu-đa Itcariot. Được các thượng tế hứa hẹn sẽ “cho… ba mươi đồng bạc”, vì thế cho nên “từ lúc đó, hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Đức Giê-su.” (x.Mt 26, 15-16).

Trước đó, trong bữa tiệc mừng lễ Vượt Qua, đang bữa ăn, Đức Giê-su vén bức màn bí mật, khi Ngài tuyên bố trước nhóm mười hai, rằng: “Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy”.

Nguồn tin đó, khiến các môn đệ “buồn rầu quá sức”. Để phá tan mối nghi kỵ, các ông tranh nhau lên tiếng hỏi Đức Giê-su: “Thưa Ngài, chẳng lẽ con sao?”

Không trả lời trực tiếp, Đức Giê-su nói: “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy. Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào đã nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn”.

Thà-nó-đừng-sinh-ra-thì-hơn. Vâng, một lời trách tưởng nhẹ nhàng, nhưng rất thấm thía cho những tên phản bội.

Trở lại với lời tuyên bố của Đức Giê-su (nêu trên). Ơ hay! Nhóm Mười Hai chúng con, ai ai cũng đều “chấm chung một đĩa với Thầy”, thế thì cả mười hai người đều phản bội Thầy sao!

Rất… rất có thể các môn đệ nghĩ như thế! Và, đó là lý do Giu-đa, kẻ-sẽ-nộp-Người, cũng hỏi: Rap-bi, chẳng lẽ con sao!” Hôm ấy, Đức Giê-su trả lời Giu-đa rằng: “Chính anh nói đó.”

Như vậy là đã rõ mười mươi ai là kẻ phản bội. Thế nhưng, theo lời thánh Gio-an thì: “không ai hiểu tại sao Người nói với y như thế.” (x.Ga 13, 28).

Vâng, ở bữa tiệc mừng lễ Vượt Qua, các môn đệ không hiểu. Nhưng ở Ghết-sê-ma-ni, các ông hiểu, hiểu rằng: kẻ nộp Thầy Giê-su không là ai khác mà chính là Giu-đa Itcariot.

Vài hôm trước, “các thượng tế và kỳ mục nhóm họp tại dinh của vị thượng tế tên là Caipha, (họ) cùng nhau quyết định dùng mưu bắt Đức Giê-su và giết đi”. Và hôm nay, khi những vệt nắng cuối cùng khuất hẳn bầu trời Giêrusalem. Một nhóm người đã được các thượng tế và kỳ mục sai đi truy bắt Ngài.

Ánh đuốc bập bùng phá tan màn đêm vườn “Ghết”, nơi họ được Giu-đa Itcariot cho biết rằng, Đức Giêsu cùng các môn đệ của Ngài đang ở đó.

Tiếng vó ngựa, tiếng gươm giáo khua vang đến rợn người. Sự tĩnh lặng của Ghết-sê-ma-ni không còn, khi tên phản bội, xuất hiện. Hắn “tiến lại gần Đức Giê-su” khuôn mặt lạnh lùng thường thấy trên khuôn mặt của những kẻ phản bội, và nói: “Ráp-bi, xin chào Thầy! rồi hôn Người.”

Nụ hôn của y, chính là ám hiệu ai sẽ là người cần bắt. Hôm trước, hắn đã nói với đồng bọn: “Tôi hôn ai thì chính là người đó. Các anh bắt lấy.” (x.Mt 26, 48).

Thật ra, đây không phải lần đầu tiên các thượng tế và kỳ mục tìm bắt Đức Giêsu. Đã nhiều lần họ tìm cách giết Ngài, đe dọa và ném đá Ngài. Đức Giêsu đều tìm cách lánh đi. (Ga 8, 59).

Nhưng hôm nay, tại Ghết-sê-ma-ni, Giêsu người Nazareth vẫn đứng lặng, mặc cho “địch thù gào thét”, mặc cho “ác nhân hà hiếp”. (Tv 55).

Hôm ấy, sau khi Giu-đa hôn Đức Giê-su. Thánh sử Mát-thêu thuật lại rằng: “Ngài bảo hắn: Này bạn, bạn đến đây làm gì thì cứ làm đi!”

Toán quân và viên chỉ huy cùng đám thuộc hạ người Do Thái, đã làm. “Họ tiến đến tra tay bắt Đức Giêsu.”

Ghết-sê-ma-ni trở thành nhân chứng của bạo lực. Suốt dòng lịch sử con người, “cái hôn” của Giu-đa trở thành “biểu tượng” của bất trung, của bội giáo, của lường gạt.

Chúng ta hãy để tâm hồn mình một phút trong thinh lặng và tự hỏi: “nụ hôn của Giu-đa – nụ hôn của thần chết” có là nụ hôn mà chúng ta thường thực hiện trong cuộc sống của mình!

Vâng, câu trả lời là của mỗi chúng ta. Tuy nhiên, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã biết rằng, nụ hôn của Giu-đa chẳng đem lại cho anh ta điều gì tốt đẹp ngoài cái chết bi thảm nhất của con người: thắt cổ tự vẫn.

****
“Các anh tìm ai? - Tìm Giê-su người Nadaret. - Chính tôi đây.” Tại Ghết-sê-ma-ni, Đức Giê-su chỉ cần một lời nói, “Chính tôi đây”, thế mà những người tìm bắt Ngài đã sợ hãi “lùi lại và ngã xuống đất”. (x.Ga 18, 6).

Quyền năng là thế, nhưng Giê-su người Nadaret không muốn các môn đệ của mình sẵn sàng “tuốt gươm”. Ngài không tán đồng công thức “si vis pacem, para bellum - muốn có hòa bình, phải sửa soạn chiến tranh”.

Và, đó là lý do, khi “một trong những kẻ theo Ngài… vung tay tuốt gươm ra, chém phải tên đầy tớ của thượng tế làm nó đứt tai”, Đức Giê-su đã bảo người ấy: “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm” (Mt 26, 52).

Hôm ấy, Ghết sê-ma-ni là nhân chứng về một Giê-su “hiền hậu và khiêm nhường” qua lời tuyên bố với kẻ đã “tuốt gươm ra chém tên đầy tớ”, rằng: “Hay anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần!”

Không… không phải “mười hai đạo binh thiên thần” bị cô lập hóa. Chẳng qua là Đức Giê-su không muốn “Hiến Chương Nước Trời” bị hoen ố bởi bạo lực.

Nói với người môn đệ của mình “hãy xỏ gươm vào vỏ”, Đức Giê-su muốn đưa ra một thông điệp, thông điệp rằng: đừng phản ứng lại sự ác bằng một sự ác khác, đừng dùng bạo lực để trấn áp bạo lực.

“Còn Thầy!” Đức Giê-su nói: “Thầy bảo anh em: hãy yêu thương kẻ thù nghịch và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ anh em” (Mt 6, 43).
Ghết-sê-ma-ni, ngày hôm ấy còn chứng kiến một Giê-su “yêu thương kẻ thù”, Ngài đã chữa lành tên đầy tớ bị chém đứt tai. Tin Mừng thánh Luca thuật rằng: “Người sờ vào tai tên đầy tớ mà chữa lành”. (Lc 22, 51).
*****
Giu-đa Itcariot thắt cổ chết. Các môn đệ thì “bỏ Người mà chạy trốn hết”. Còn Đức Giê-su? Thưa, “họ bắt Ngài rồi điệu đến dinh thượng tế Caipha.”

Tất cả thành viên Hội Đồng Công Tọa quá đỗi vui mừng trước chiến tích của Guida Iscariot. Một “toà án nhân dân” được vội vàng dựng lên. Họ “tìm chứng gian buộc tội Đức Giê-su để lên án tử hình”. Oái ăm thay! họ không tìm ra, “mặc dù có nhiều kẻ đã đứng ra làm chứng gian” (Mt 26, 59).

Có hai người bước ra khai rằng: “Tên này đã nói: tôi có thể phá Đền Thờ Thiên Chúa và nội trong ba ngày, sẽ xây cất lại.”

Đúng… đúng là một lời cáo gian. Đức Giê-su chưa bao giờ nói như thế. Nếu có nói, Ngài đã nói rằng: “Các ông, cứ phá hủy Đền Thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại.”

“Các Ông” chứ không phải là “Tôi có thể”, đó là lý do Đức Giê-su “vẫn làm thinh”, trước những người tố cáo mình.

Thế là, một cái bẫy đã được quý ông thượng hội đồng dàn dựng, đúng như lời Kinh Thánh có chép: “Không gì nham hiểm và bất trị như lòng người” (Gr 17, 9).

Một vị thượng tế hỏi Đức Giê-su: “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết: ông có phải là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa không?”
Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa ư! Vâng, đó là điều Đức Giê-su đã “cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai biết” vì giờ-Ngài-chưa-đến. Nhưng hôm nay thì “Giờ đã đến” - “đã đến giờ Con Người được tôn vinh”.

Hôm đó, tại dinh thượng hội đồng, Đức Giê-su dõng dạc lên tiếng: “Chính ngài vừa nói. Hơn nữa, tôi nói cho các ông hay: từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời  đến.”

Lời tuyên bố của Ngài, chính là “chứng cứ sống” mà các vị thượng tế chờ đợi. Họ cho rằng, đó là “lời nói phạm thượng – phạm đến Thiên Chúa”. Rồi tất cả đều đồng thanh nói: “Hắn đáng chết”. (Mt 26, 66).

******
“Hắn đáng chết”. Đức Giê-su – Ngài đã chết.

“Giêsu đã chết thật. Thiên Chúa trong hình hài của một con người đã chết thật. Đức Giê-su đã chết thật sự trên thập giá vào khoảng 3 giờ chiều ngày thứ Sáu (14 tháng Nisan), đỉnh cao của mầu nhiệm cứu độ. Ngài chịu đóng đinh, quất roi, đội mão gai và bị đâm giáo vào sườn, trút hơi thở cuối cùng trước khi được mai táng.”

Và, đó là lý do, hôm nay, chúng ta “Tưởng niệm cuộc thương khó của Đức Giê-su”. Theo truyền thống, chúng ta Đi Đàng Thánh Giá.

Vâng, chúng ta Đi Đàng Thánh Giá. Với mười bốn chặng đàng Thánh Giá, “được mô tả rất chi tiết”, đúng như những gì Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại, và được công bố trong phần Phụng Vụ Lời Chúa - Chúa Nhật Lễ Lá, hôm nay.

Qua việc Đi Đàng Thánh Giá, hãy tự hỏi, tôi là ai trong số những người đã hiện diện, đã tham gia trong cuộc xử án Ngài!

Là Giu-đa ư! Là tiếp tục sử dụng nụ-hôn-của-thần-chết!

Là sẽ thực hiện những “nụ hôn”, nói theo ngôn ngữ ngày nay, đó là những “cái bắt tay” để tạo ra những liên minh ma quỷ: gây hận thù, bất hòa, bè phái, tranh chấp, chia rẽ v.v… trong gia đình, ngoài xã hội, “khủng” hơn nữa là trong Giáo Hội, là trên toàn thế giới! Tất nhiên, không ai trong chúng ta muốn mình là nhân vật đầy tai tiếng này.

Tuy nhiên, trước một xã hội ngày một tục hóa, một xã hội ngày càng cổ vũ cho một nền văn hóa sự chết, một nền văn hóa tự do luyến ái, tự do phá thai, tự do hôn nhân đồng tính, một nền văn hóa đánh giá con người không trên đạo đức mà là trên quyền lực, tiền bạc, danh vọng v.v… thì sự “cám dỗ” để trở thành Giu-da Itcariot là điều rất, rất lôi cuốn.

Vâng, đừng để mắt chúng ta “nặng trĩu” trước sự cám dỗ này. Hãy nhớ lời Đức Giê-su đã truyền dạy: “Lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì ích gì”.

Là Simon người Kyrene! người bị lính La Mã bắt buộc phải vác cây thập tự thay cho tên tử tội dở sống dở chết là Giê-su ư! Là Phê-rô, chối Chúa! Vâng, dù chúng ta là ai, thì Thiên Chúa vẫn luôn rình rập chờ đợi chúng ta trên khắp mọi nẻo đường.

Ánh mắt Đức Giê-su với sự “rình rập” của Ngài, sẽ không còn làm cho chúng ta cảm thấy “buồn rầu xao xuyến” khi phải đi trên “con đường thương khó mình đang trải qua”, một con đường ai cũng phải trải qua.

Thế nên, đừng sợ, khi chúng ta phải nhìn thấy chính bản thân mình đang trải qua những nỗi đau tuyệt vọng. Tuyệt vọng khi phải chứng kiến cảnh người thân yêu của mình ra đi. Nỗi tuyệt vọng với tâm trạng: “người đi một nửa hồn tôi chết. Một nửa hồn tôi hóa dại khờ”!

Đừng sợ, nếu phải đối diện với những nỗi “buồn hiu hắt buồn”... Những nỗi buồn “đến-chết-được”... vì sự dối trá… vì sự lừa lọc... vì sự phản bội v.v…
Cũng đừng quá âu lo, âu lo trước sự bắt bớ, tù đày, ngược đãi v.v… chỉ vì sống chứng nhân cho “chân lý và sự thật”.

Vì, đó là lúc chúng ta vào “vườn Ghết”, lên Golgotha, uống chén đắng. Hãy nhìn lên thánh giá Chúa Ki-tô, và nói “Chúa ơi! Xin đừng theo ý con một xin vâng ý Chúa mà thôi.”

Petrus.tran

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2026

Chúng ta có tin thế không?

 Chúa Nhật V – MC – A

Chúng ta có tin thế không?

SnTM 210326a


Suốt hơn tuần qua, một vài công ty phục vụ mai táng ở Tân Bình, làm ăn khấm khá. Làm-ăn-khấm-khá có nghĩa là, có nhiều người đã phải bước qua cửa tử. Cửa tử, nghĩa là chết.

Giáo xứ Chí Hòa ba người. Giáo xứ Nam Hòa ba người. Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cũng ba người. Trong số đó, có Cha Giuse Chu Đình Chuyển, C.Ss.R.

Cha Giuse còn được biết đến là một nhạc sĩ, với bút hiệu Chu Đình Bình Yên. Cha Giuse sáng tác rất nhiều nhạc phẩm. Trong số đó, nhạc phẩm “Hai con thằn lằn con” là một ca khúc được nhiều đoàn thể như: Hướng Đạo Sinh, Thiếu Nhi Thánh Thể v.v… đem ra sử dụng trong những buổi sinh hoạt vào mỗi Chúa Nhật, hằng tuần.

Trở lại sự việc phải-bước-qua-cửa-tử. Qua chín đám tang nêu trên, chúng ta có thể nói rằng: dù là giáo dân, là nhạc sĩ hay là linh mục, tất cả đều phải chết. Đúng như Kinh Thánh có lời chép: “Dưới bầu trời này, mọi sự đều có lúc, mọi sự đều có thời… một thời để chào đời, một thời để lìa thế.” (Gv 3, 1-2).

Muốn sống thọ, sống lâu ư! Vâng, đó chỉ là khát vọng mong manh. Mong manh, vì nó đụng phải một bức tường vô hình, vô cùng khốc liệt, đó là vòng tuần hoàn khép kín: sinh-lão-bịnh-tử.

Muốn trường sinh bất tử ư! Khó lắm! Bởi vì: “Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục, mạnh giỏi chăng là được tám mươi, mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ, cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi.” (Tv 90, 10).

Vâng, tất cả mọi người, ai cũng sẽ phải chết. Tuy nhiên, là một Ki-tô hữu, điều đó không đáng sợ. Không đáng sợ, bởi đức tin Ki-tô giáo dạy rằng: “Sự sống này chỉ thay đổi mà không mất đi, lúc con người nằm im giấc ngủ, mắt nhắm lại rồi là thấy tương lai.”

Không đáng sợ vì “tương lai” mà người Ki-tô hữu sẽ thấy là một tương lai: “chẳng có chia lìa, chẳng có hợp tan.”

Đây không phải là niềm tin mơ hồ, nhưng được đặt trên nền tảng những lời Đức Giê-su đã tuyên phán. Đức Giê-su, trong những ngày còn tại thế, Ngài đã từng tuyên phán rằng: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin ta, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống” (Ga 11, 25).

Để củng cố cho niềm tin này, Đức Giê-su đã thực hiện một phép lạ vô tiền khoáng hậu, đó là, cho một người đã chết bốn ngày, được sống lại. Sự kiện này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an. (Ga 11, 1-45).

**
Tin Mừng thánh Gio-an ghi lại như sau: “Có một người… tên là La-da-rô, quê ở Bêtania”. Anh ta có hai người chị tên là Mác-ta và Maria.

Vâng, một gia đình với ba chị em. Và là một gia đình, Đức Giê-su rất thương mến.

Cuộc sống của họ tưởng chừng như lúc nào cũng chỉ có niềm vui. Nhưng… buồn thay! sương mù và giá lạnh đã phủ trùm lên gia đình họ. Chuyện là La-da-rô, bị đau nặng!

Nhìn người em trong tình trạng thập tử nhất sinh, hai người chị cho người (tìm) đến Đức Giê-su. Khi gặp Đức Giê-su, họ nói: “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng.”

Tin báo là như thế. Thế nhưng, Đức Giê-su vẫn không vội đến thăm viếng người bịnh. Ngài còn nói: “Bệnh này không đến nỗi chết đâu…” Không để những người tìm đến mình báo tin thêm âu lo phiền muộn, Đức Giê-su tiếp lời: “… nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh.” (Ga 11, 4).

Rất bình tâm, Đức Giê-su đã “lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở… sau khi được tin La-da-rô lâm bệnh.” Sau đó, Ngài trở lại miền Giu-đê. Trên đường đi, Đức Giê-su nói: “La-da-rô đã chết. Thầy mừng cho anh em, vì Thầy không có mặt ở đó, để anh em tin. Thôi, nào chúng ta đến với anh ấy.”

Rồi… khi đến nơi, Đức Giê-su thấy “anh La-za-rô đã chôn trong mồ được bốn ngày rồi. Nhiều người Do-thái đến chia buồn với hai cô Mác-ta và Maria”.

Và khi nhận được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết.”

Còn bây giờ… bây giờ có Thầy ở đây, thì sao! Có-Thầy-ở-đây… vâng, ngọn lửa đức tin trong cô đã bùng lên, bùng lên và cô nói tiếp: “Nhưng bây giờ con biết: Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, người cũng sẽ ban cho Thầy” (Ga 11, …22).

Kinh Thánh có chép rằng: “Chúa tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi, thương chữa lành các bệnh tật ngươi. Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt, bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà, ban cho đời ngươi chứa chan hạnh phúc, khiến tuổi xuân ngươi mạnh mẽ tựa chim bằng.” (Tv 103, 3-5).

Và, quả thật, Đức Giê-su đã làm cho lời Kinh Thánh (nêu trên), thành sự thật. Hôm ấy, La-da-rô đã được Đức Giê-su đem ra khỏi-đáy-huyệt. Ngài đã khiến-tuổi-xuân-Ladaro-mạnh-mẽ, như xưa.

Vâng, em chị sẽ được chính Thầy Giê-su “đưa lên khỏi huyệt”, ngay hôm nay, để ứng nghiệm lời loan báo của ngôn sứ Ê-dê-ki-en xưa kia: “Chính ta mở huyệt cho các ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt”.

Hôm ấy, nhìn Mác-ta, Đức Giê-su nói: “Em chị sẽ sống lại”. Mác-ta thưa: “Con biết, em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sẽ sống lại trong ngày sau hết.”

Cô Mác-ta đã tin như thế, đấy! Còn chúng ta! Chúng ta có tin “xác loài người ngày sau sống lại”! Chúng ta có “trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”!

Hãy tin và hãy trông đợi. Bởi vì hôm đó, Đức Giê-su đã có lời phán truyền, rằng: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết.” Nhìn Cô Mác-ta, Ngài hỏi: “Con có tin điều đó không?”

Hãy tin và hãy trông đợi. Bởi vì Đức Giê-su - người Na-da-ret - “là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian”, điều cô Mác-ta đã tuyên xưng với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô…”

***
Có sự “ra đi” nào của người tôi rất thương mến, lại không làm cho “một nửa hồn tôi mất… một nửa hồn tôi bỗng dại khờ”!!!

Đức Giê-su rất-thương-mến La-da-rô. Sự-ra-đi của Ladaro đã làm cho Con Trời “thổn thức trong lòng”. Hôm đó, Đức Giêsu đã “bật khóc”. Ngài khóc không phải bởi tại không có mặt kịp thời kể cứu Ladaro. Đức Giê-su khóc là do “tình bạn”. Tình bạn giữa Ngài và gia đình ba chị em Mác-ta, Maria và Ladaro.

Suy tư về tình bạn của Đức Giê-su với gia đình cô Mác-ta, Lm. Charles E.Miller có lời chia sẻ: “Là người thật, Đức Ki-tô đã khóc La-da-rô, bạn hữu Người, là Thiên Chúa hằng sống, Người đã truyền cho La-da-rô sống lại ra khỏi mồ.”

Hôm đó, sau lời cầu nguyện của Đức Giê-su và qua lời phán bảo của Ngài với người chết, rằng: “Anh Ladaro, hãy ra khỏi mồ”. Kỳ diệu thay! “Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải và mặt còn phủ khăn”.

Sau đó, Đức Giê-su bảo: “Cởi khăn và vải cho anh ấy, và để anh ấy đi”. Chứng kiến việc Đức Giê-su làm “có nhiều kẻ đã tin vào Người”.

***
Có-nhiều-kẻ-đã-tin-vào-Người. Nhiều kẻ đó, có chúng ta? Câu trả lời là của mỗi chúng ta. Nhưng, hãy nhớ rằng: “Sự sống lại và sự sống đời sau” là món quà không chỉ dành cho anh La-da-rô, xưa. Mà còn… còn là món quà dành cho những ai tin vào Đức Giê-su, hôm nay.

Hãy nhớ rằng: khi chúng ta tin vào Ngài – Ngài sẽ “không còn gọi (chúng ta) là tôi tớ nữa... Nhưng… gọi là bạn hữu…” Khi gọi chúng ta là bạn hữu, Ngài yêu thương chúng ta như Ngài đã yêu thương anh La-da-rô.

Qua Bí Tích Rửa Tội, Ngài đã đem chúng ta ra khỏi “nấm mồ tội lỗi”. Qua Bí Tích Thêm Sức, Ngài đã ban cho chúng ta ơn “tái sinh”, một sự tái sinh bởi Thần Khí. Tái sinh bởi Thần Khí, thánh Phao-lô nói, chính là lúc “thân xác của (chúng ta) được sự sống mới” (Rm 8, 11).

Ra khỏi nấm-mồ-tội-lỗi, với một thân-xác-được-sự-sống-mới, chẳng phải là chúng ta đã “cởi khăn và vải”, những tấm khăn trần tục: tấm khăn dối trá, tấm khăn dâm bôn, tấm khăn ô uế, tấm khăn phóng đãng, tấm khăn thờ quấy, v.v… và những tấm vải, những tấm vải hận thù, bất hòa, chia rẽ, ganh tị, say sưa, chè chén, v.v… ra khỏi tâm hồn mình, đó sao !?

Phải cởi những tấm khăn và những tấm vải (nêu trên), ra khỏi tâm hồn mình, có như thế, chúng ta mới có thể BƯỚC ĐI TRONG THẦN KHÍ (Gl 5,16). Bước đi trong Thần Khí, chúng ta mới có thể bước vào Nước Thiên Chúa.

Trở lại câu chuyện anh La-da-rô. Sự sống… sự sống lại của Ladarô, dù sao cũng chỉ là tiếp nối cuộc sống dương trần, cùng lắm “trong ngoài bảy chục”, hơn chút nữa “là được tám mươi”, rồi cũng chết.

Điều quan trọng, đó là sự sống đời đời, mà chính Thiên Chúa sẽ đem lại cho chúng ta.

Vâng, Thiên Chúa đã đem lại cho chúng ta. “(Người) yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một”, người Con Một chính là Đức Giê-su, “để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.”

Đức Giê-su cũng đã từng nói: “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.” (Ga 10, 10). Chúng ta có tin thế không?

Petrus.tran

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2026

Tôi đã rửa và tôi nhìn thấy… tại sao không!

 Chúa Nhật IV – MC – A

Tôi đã rửa và tôi nhìn thấy… 

...................... tại sao không!

SnTM 140326a


Sau ba mươi năm sống ẩn dật ở Na-da-rét, Đức Giê-su rời bỏ quê nhà, ra đi loan báo Tin Mừng. Bất cứ nơi đâu có sự hiện diện của Đức Giê-su, thiên hạ lập tức mang đến cho Ngài “mọi kẻ ốm đau, mắc đủ tức bệnh hoạn tật nguyền.” Kinh thánh cho biết: “Ngài đã chữa họ” (Mt 4, 24).

Vâng, Đức Giê-su đã chữa họ. Sự kiện này được loan truyền khắp vùng Thập Tỉnh, thành Giê-ru-sa-lem, miền Giu-đê và cả bên kia sông Gio-đan.

Ông Gio-an Tẩy Giả cũng “nghe biết những việc Đức Giê-su làm”. Do… “lúc ấy đang ngồi tù…” nên ông sai môn đệ tìm đến Đức Giê-su để làm rõ sự thật.

Gặp Đức Giê-su, họ hỏi Ngài: Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác.”

Hôm ấy, Đức Giê-su trả lời: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người phong được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.”

Nghe thế, các môn đệ ông Gio-an trở về. Họ trở về, có-thuật-lại cho ông Gio-an những-điều-mắt-thấy-tai-nghe, không? Vâng, chúng ta không biết!

Điều chúng ta biết, đó là Đức Giê-su… quả thật, Ngài đã làm cho người-mù-xem-thấy. Sự kiện này, đã được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gioan, qua câu chuyện: “Đức Giê-su chữa một người mù từ thuở mới sinh” (Ga 9, 1-41).

**
Tin Mừng thánh Gio-an kể rằng: Hôm ấy, khi Đức Giê-su ra khỏi Đền Thờ, Ngài “nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh.”

Tưởng chúng ta nên biết, mù từ thuở mới sinh, hay còn được gọi là mù bẩm sinh, là “tình trạng suy giảm thị lực nghiêm trọng hoặc mất hoàn toàn thị lực ngay khi sinh hoặc trong những tháng đầu đời, do dị tật di truyền gây thoái hóa võng mạc.” (nguồn: internet).

Trở lại câu chuyện, hôm ấy, những người môn đệ đi theo Ngài, cũng nhìn thấy. Thấy, nhưng thay vì nhìn anh mù mang một căn bệnh “tồi tệ dần theo thời gian”, với một tấm lòng xót thương, các ông lại nhìn anh ta với một ánh mắt chất chứa những định kiến, những tập tục sẵn có, do người xưa để lại.

Theo tập tục Do Thái giáo, với những ai bị tật nguyền như đui mù què quặt, họ cho rằng, kẻ đó bị Thiên Chúa trừng phạt.

Chính vì thế, khi nhìn thấy anh mù, các môn đệ đã hỏi Đức Giêsu: “Thưa Thầy! ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?”

Hôm ấy, để xóa bỏ những định kiến cổ hủ người xưa để lại, Đức Giê-su trả lời, rằng: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa tỏ hiện nơi anh”.

Đúng vậy! anh mù-bẩm-sinh, chính là công trình mà Thiên Chúa đã tác tạo nên, làm sao Đức Giêsu có thể vô cảm nhìn anh ta đang phải “Lần mò từng bước tôi đi… Mò trong bóng tối biết gì thời gian!”

“Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng… Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.” Đức Giê-su đã tiếp lời, như thế đấy!

Và, không để các môn đệ luẩn quẩn trong một mớ tập tục phản nhân bản, “Đức Giêsu nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và sức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta: Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa”.

Chuyện kể tiếp rằng: “Anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được” (Ga 9, 7).

***
“Anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.” Anh ta có vui, sau khi được nhìn thấy?

Theo J.Z Young, một chuyên gia trong ngành chức năng não bộ, mô tả như sau: “Khi được mở mắt, bệnh nhân chỉ rất ít hoặc hoàn toàn không vui thú gì, thật vậy, họ đối diện với cảm nghiệm đầu tiên này trong đau đớn. Trước mắt họ chỉ là một đống hỗn độn ánh sáng và màu sắc quay vòng vòng. Rõ ràng là với thị giác, họ gần như không thể cầm nắm đồ vật, nhận diện và gọi tên chúng. Họ không có khái niệm về không gian và vật thể, cho dù họ đã biết và xác định được tất cả mọi vật này bằng xúc giác”. (nguồn: internet).

Vâng, những lời J.Z Young mô tả, đúng là vậy. Anh mù bẩm sinh, không-vui-thú-gì, (ít nhất là về mặt tinh thần), khi từ Si-lô-ác trở về.

Làm sao vui khi dư luận thế gian đã bủa vây anh ta với tất cả sự hoài nghi: “Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?” Có người nói: “Chính hắn đó”. Kẻ khác nói: “Không phải đâu! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi!”.

Thế nhưng, dù dư luận thế gian có: “nói ngả nói nghiêng” lòng tin anh mù “vẫn vững như kiềng ba chân”. Hôm ấy, anh mù vẫn một lời quả quyết: “Chính tôi đây… Người tên là Giê-su đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo: Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa. Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy.” (x.Ga 9, 11).

Rồi, có đau đớn không, khi biết được người chữa lành anh là một “Người tên là Giê-su”! Những ông kẹ Phariseu đã ra sức gây cho anh sự hoang mang. Họ nói: “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày Sabat”. Có người phản biện: “Một người tội lỗi sao có thể làm những dấu lạ như vậy?”

Hôm ấy, giữa họ đã xảy ra sự chia rẽ. Riêng anh mù, anh ta vẫn lớn tiếng nói, Đức Giê-su “là một vị ngôn sứ”. Lời tuyên bố của anh mù như một thách thức lớn đối với người Pha-ri-sêu. Họ đã “gọi cha mẹ anh ta đến” để làm một cuộc điều tra.

Kết quả, cha mẹ anh ta đã khéo léo trả lời, rằng: “Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đó mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó, nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được.”

Thế là, mấy ông Phariseu hỏi anh mù, lần nữa. Anh mù “tự khai” tất cả những gì Đức Giê-su đã làm cho anh, rằng: “Tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được… Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi, còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì”.

Những lời tự khai của anh mù đã làm quý ông Pha-ri-sêu nổi giận lôi đình. Và rồi quý ông Pha-ri-sêu đã “trục xuất anh”. Như họ đã từng “trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô.”

Họ đã trục xuất anh, nhưng Đức Giê-su thì không. Khi gặp lại anh, Ngài hỏi: “Anh có tin vào Con Người không?… Chính Người đang nói với anh đây”. Trước mặt Đức Giê-su, anh mù nói: “Thưa Ngài, tôi tin. Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người”.

****
“Trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được.” Vâng, một người mù bẩm sinh lại được trông thấy hết thảy mọi sự vật nhờ vâng lời Đức Giê-su, sau khi đi đến hồ Si-lo-ác rửa đôi mắt mình.

Nhắc lại điều này để làm gì? Thưa, có thể chúng ta sinh ra không mù bẩm sinh, nhưng chúng ta đã sinh ra giữa sự tăm tối mù mịt phần linh hồn.

Giữa sự tăm tối mù mịt phần linh hồn, thì sao! Thưa, thế rồi một ngày nọ, “ánh sáng trong Đức Giê-su là ơn đức tin được ban cho chúng ta nhờ Bí Tích Rửa Tội.”

Vâng, sinh ra chúng ta mù thuộc linh, khi đến “Hồ Rửa Tội”, chúng ta được biết và được “trông thấy” lẽ thật. Lẽ thật rằng: chúng ta có một Thiên Chúa - Người là Cha.

Người “…yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3, 16).

Thế nên, từ hồ-rửa-tội, trở về với đời sống đức tin, chúng ta hãy lớn tiếng nói, như anh mù bẩm sinh đã nói: “Thưa Ngài, tôi tin” – “Lạy Chúa Giê-su – con tin Ngài”.

Không tuyên xưng, như thế… Cha Charles E.Miller có lời khuyến dụ: “Khi ‘nhìn’ người anh em đồng loại, chúng ta chỉ thấy một con vật có lý trí.”

Còn nếu chúng ta tuyên xưng “Lạy Chúa Giê-su – con tin Ngài”, Cha Charles E.Miller có lời chia sẻ: “chúng ta sẽ ‘thấy’ đó là một người con của Thiên Chúa”.

Ơn đức tin còn được tăng cường bởi Bí Tích Thêm Sức. Nói rõ hơn, đó chính là Thần Khí sự thật. Điều Đức Giê-su đã phán hứa: “Khi nào Thần Khí sự thật đến. Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn”. (Ga 16,13).

Sự thật toàn vẹn, chính là “Kẻ không có đức tin ‘nhìn’ cảnh đau khổ thì chỉ thấy một thảm kịch. Còn ai có niềm tin thì ‘thấy’ và xác tín rằng, đau khổ là được thông phần vào thập giá của Đức Ki-tô”.

 Sự thật toàn vẹn, chính là “Kẻ không có đức tin cầm một quyển Kinh Thánh trong tay thì ‘chỉ thấy’ toàn là những dòng chữ. Còn ai có đức tin thì ‘nhìn thấy’ đó là ‘đèn soi ta bước, là ánh sáng chỉ đường ta đi”.

Thật phải đạo, khi chúng ta ghi khắc trong con tim mình, lẽ thật rằng: “mù mắt sáng hồn hơn mù hồn sáng mắt”.

Ngày nay, mù-thể-lý không còn là điều đáng sợ. Y học ngày nay cho biết, những bệnh có thể gây mù, lé, nhược thị ở trẻ em thường gặp nhất, đó là: bệnh ROP, glocom bẩm sinh, đục thủy tinh thể và bướu nguyên bào võng mạc. Nhưng, nếu được phát hiện và điều trị sớm sẽ ngăn ngừa được mù lòa, giảm thiểu biến chứng.

Có sợ, hãy sợ căn bệnh “mù quáng”. Người-mù-quáng thấy rõ những “cái rác trong đôi mắt của người anh em”, nhưng lại không nhìn thấy “cái xà trong con mắt của mình”.

Mù thể lý là một mất mát lớn, nhưng không làm hại ai. Còn người bị bệnh “mù quáng”, họ có thể gây ra vô số điều tai hại cho mình cũng như cho tha nhân. Kinh Thánh cho chúng ta thấy, những ai mắc căn bệnh mù quáng, dễ trở thành kẻ sát nhân.

Vua David như một điển hình. Tuy đã có nhiều thê thiếp, nhưng David lại say mê bà Bát-sa-bê là vợ của Uria. Sự say mê đó đã làm cho nhà vua trở nên “mù quáng”. Bất chấp đạo lý, ông ta tìm cách chiếm đoạt Bát-sa-bê.

Một âm mưu thâm độc được ông ta vạch ra. Đó là, mượn tay quân địch giết chết Uria chồng bà Bát-sa-bê, ngoài mặt trận. Uria chết, ông David công khai lấy bà Bát-sa-bê.

Thế là cùng một lúc David phạm hai tội ác: tội ngoại tình và tội giết người. Thế mà, nhà vua vẫn bình thản như không thấy gì.

Sau này, nhờ Ngôn Sứ Na-ta-an đến cảnh tỉnh, David mới nhận ra căn bệnh “mù quáng” của mình, ông ăn năn thống hối. (II Sm 11,1-12,12).

Tưởng chúng ta cũng nên nhắc đến một ông vua nữa, ông Hê-rô-đê. Trước “một điệu vũ làm cho nhà vua và khách dự tiệc vui thích” của con gái bà Hê-rô-đi-a, Hê-rô-đê trở nên “mù quáng” chém đầu Gio-an Tẩy Giả, để đáp ứng lời yêu cầu của nàng vũ nữ. (Mc 6, 17-29).

Căn bệnh “mù quáng” rất đáng sợ. Khi nhiễm bệnh, nó sẽ làm cho ta sơ cứng tâm hồn. Sơ cứng tâm hồn, hậu quả là mất sức đề kháng (mất lý trí). Mất mất lý trí, những con virus-ích-kỷ, virus-vô-cảm, virus-thành-kiến, virus-tự-cao-tự-đại v.v… tha hồ tung hoành ngang dọc trong tâm hồn ta.

Điều hiển nhiên… chúng ta sẽ “mù bác ái, mù nhân hậu, mù từ tâm, mù nhẫn nhục, mù-trung-tín, mù-khiêm-nhường, mù-đức-tin” v.v…

Thế nên, hãy kiểm tra lại đôi mắt tâm hồn của ta và tự hỏi: tôi có đang mắc phải căn bệnh mù quáng?

Nếu có, hãy đến, không phải là đến hồ Si-lô-ác năm xưa, nhưng là “hồ Thánh Kinh”. Nơi đây, đôi mắt tâm linh của ta sẽ được tẩy rửa bằng Lời Chúa. Nơi đây, Lời Chúa sẽ tẩy rửa đôi mắt tâm linh của ta khỏi mọi sự gian tà, đem lại sự chữa lành và chúng ta sẽ “hấp thụ” được một thứ ánh sáng, một thứ ánh sáng “lương thiện, công chính và chân thật” (Ep 5, 9).

Khi hấp thụ được thứ ánh sáng “lương thiện, công chính và chân thật”, chúng ta không ngại để nói: “tôi đã rửa và tôi nhìn thấy”.

Tôi đã rửa và tôi nhìn thấy, tại sao không!

Petrus.tran

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2026

Hãy khát mong gặp gỡ Đức Ki-Tô

Chúa Nhật III – MC – A
Hãy khát mong gặp gỡ Đức Ki-Tô

SnTM 070326a


Như chúng ta được biết, năm ngoái (2025), nhân ngày Thế Giới Truyền Giáo trong Năm Thánh, với thông điệp trung tâm là Niềm Hy Vọng. Cố Giáo Hoàng PHANXICÔ đã chọn khẩu hiệu: “Những Nhà Truyền Giáo của Niềm Hy Vọng giữa Muôn Dân”.

“Khẩu hiệu này” ngài cố Giáo Hoàng nói: “(nhằm) nhắc nhở mỗi Kitô hữu và toàn thể Hội Thánh – cộng đoàn những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội – về ơn gọi nền tảng của chúng ta, là những người bước theo Chúa Kitô, trở thành sứ giả và người kiến tạo hy vọng.”

Trở-thành-sứ-giả-và-người-kiến-tạo-hy-vọng. Đó… đó là điều cấp thiết “trong một thế giới đang bị bao phủ bởi những bóng tối nặng nề”, như hôm nay.

Mỗi Kitô hữu “được mời gọi loan báo Tin Mừng bằng cách chia sẻ những hoàn cảnh sống cụ thể của những người mà họ gặp gỡ, qua đó trở thành những người mang và kiến tạo niềm hy vọng”, ngài cố Giáo Hoàng, thêm lời truyền dạy, như thế.

Vâng, phải là vậy… vì Đức Giê-su đã làm vậy. Trong ba năm thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su là người-kiến-tạo-hy-vọng, những người Ngài gặp gỡ, họ đều nhận được niềm hy vọng, niềm hy vọng nơi một “Thiên Chúa là tình yêu”, được tỏ lộ qua Đức Giê-su, một Giê-su “cúi xuống với những ai nghèo khổ, đau buồn, tuyệt vọng và bị áp bức, xức dầu an ủi lên vết thương của họ và đổ rượu hy vọng vào lòng họ.” (Kinh Tiền tụng “Chúa Giêsu – Người Samaritanô Nhân Hậu”).

Cha Giu-se Tiến Lộc, cảm nghiệm được điều này, ngài đã kiến-tạo-niềm-hy-vọng cho mọi người, 
Qua những lời chia sẻ, như sau: “Gặp gỡ Đức Ki-Tô, biến đổi cuộc đời mình. Gặp gỡ Đức Ki-Tô đón nhận ơn tái sinh. Gặp gỡ Đức Ki-Tô chân thành mình gặp mình. Gặp gỡ Đức Ki-Tô nảy sinh tình đệ huynh.”


Ông Lê-vi, còn có tên gọi khác là Mát-thêu, như một điển hình. Sau khi gặp gỡ Đức Giê-su, ông đã biến-đổi-cuộc-đời-mình, biến đổi từ một người thu thuế thành người môn đệ của Đức Giê-su.

Rồi đến trường hợp ông Da-kêu. Là thủ lãnh những người thu thuế, một hạng người bị cho là kẻ tội lỗi, thật khó có hy vọng được gặp gỡ Đức Giêsu. Thế mà, ông lại được gặp Ngài. Hay nói đúng hơn, Đức Giê-su chủ động gặp ông, ngay ở-trong-nhà-ông.

Qua sự kiện gặp gỡ này, Đức Giêsu đã chinh phục được tâm hồn ông. Từ một hạng người bị mọi người xầm xì cho là “người tội lỗi”, ông đã được cảm hóa và được nhận lãnh ơn-tái-sinh.

Gặp-gỡ-Đức-Giê-su-chân-thành-mình-gặp-mình, đó là trường hợp của một người phụ nữ tại Samari. Câu chuyện này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an. (x.Ga 4, 5-42).

**
Tin Mừng thánh Gio-an thuật lại rằng: Hôm ấy, Đức Giêsu “đến một thành xứ Samari, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cop đã cho con là ông Giu-se. Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp”.

Từ miền Giu-đê trở lại miền Ga-li-lê, rồi băng qua Samari để đến Xy-kha, “Người mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.” (x.Ga 4, 5-6).

Là khoảng-mười-hai-giờ-trưa, một khoảng thời khắc rất nóng. Ấy thế mà, bất chấp nắng nóng, chuyện kể tiếp rằng: “Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước”. Khi thấy người phụ nữ này, “Đức Giê-su nói với người ấy: Chị cho tôi xin chút nước uống.”

Với chúng ta hôm nay, đó là chuyện bình thường. Nhưng, với người Do Thái, đó là chuyện bất bình thường. “Người Do Thái không được giao tiếp với người Samari”. Nguyên nhân sâu xa là bởi, từ năm 727 TC, mười chi phái Do Thái phương Bắc bị Ðế quốc A-si-ri bắt làm phu tù. Vua A-si-ri đem những người Babylone đến định cư ở đó. Vì vậy, có một số người Do Thái ở Samari bị pha lẫn giòng máu người ngoại bang. Chính vì thế, người Do Thái chính gốc tẩy chay người Samari.

Thế nên, người phụ nữ rất ngạc nhiên và nói: “Ông là người Do Thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông uống nước sao?”

Nghe thế, Đức Giê-su vẫn không có một cử chỉ gì gọi là kỳ thị. Trái lại, Ngài lại có những lời nói rất chân tình, nói rằng: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị ‘Cho tôi chút nước uống’ thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.” (x.Ga 4, 10).

Điều gì là ân-huệ-Thiên-Chúa-ban! Nước gì lại gọi là nước-hằng-sống! Chắc hẳn người phụ nữ này không hiểu. Và, chính vì không hiểu nên chị Samari đã nói với Đức Giê-su: “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.”

Trả lời người phụ nữ Samari, Đức Giê-su nói: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ phải khát. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (x.Ga 4, 13).

Khi nghe Đức Giê-su nói thế, người phụ nữ Samari liền nói với Ngài, rằng: “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.”

Phải chăng, chị Samari này nghĩ rằng “nước tôi cho” chính là loại nước chị ta dùng hằng ngày?

Cứ cho là chị ta nghĩ như thế! Vâng, thật đáng cảm phục về lòng tin của chị ta. Chỉ mới diện kiến lần đầu. Chưa biết Đức Giêsu là ai, thế mà chị ta vẫn cứ tin vào lời nói của Ngài.

Nghĩ về hành động của chị Samari, thật phải đạo khi chúng ta tự hỏi: còn tôi, đức tin của tôi có đủ để tin vào những lời Đức Giê-su đã phán dạy rằng: “Ai khát, hãy đến với tôi, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống”? (x.Ga 7, 37).

Đấy… đấy là ân sủng, và thánh Phao-lô khẳng định rằng: “…Đức Giêsu đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hiện nay” (x.Rm 5,2).

***
Rất, có rất nhiều điều Đức Giê-su đã nói với người phụ nữ này. Và nó như là tiếng chuông cảnh tỉnh chị ta.

Làm sao không cảnh tỉnh cho được! Chỉ là một kẻ xa lạ, và mới chỉ là cuộc gặp gỡ lần đầu, thế mà Đức Giêsu đã biết rất rõ cuộc đời không mấy sáng sủa của chị ta. Chị ta không thể tin nổi khi Đức Giê-su biết rõ ràng rằng: “chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị” (Ga 4, 18).

Tiếng chuông cảnh tỉnh này, khiến chị ta chỉ còn biết thốt lên rằng: “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ”.

Tiếng chuông cảnh tỉnh tiếp theo, không chỉ cho chị ta, mà còn cho cả chúng ta, hôm nay. Đó là, phải thờ phượng Thiên Chúa ở đâu? Trên núi Garizim hay Giêrusalem! Chị Samari đã thắc mắc, như thế.

Hôm ấy, Đức Giê-su nói: “Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” (x.Ga 4, 23-24).

Có một sự ngạc nhiên nơi các môn đệ, khi họ thấy “Người nói chuyện với một phụ nữ”.

Phần người phụ nữ Samari, bà ta “để vò nước lại, vào thành và nói với người ta: Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm”. Không dừng ở đó, người phụ nữ Samari còn nói tiếp rằng: “Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao?” (x. Ga 4, 28).

Có thể nói rằng, cuộc gặp gỡ giữa người phụ nữ Samari và Đức Giê-su là một cuộc gặp gỡ không chỉ làm cho bà ta thấy rõ “mình gặp mình”, mà còn “nảy sinh tình đệ huynh.”

Hôm ấy, những người đệ-huynh trong thành, sau khi nghe những lời tường trình của bà, “Họ ra khỏi thành và đến gặp (gỡ) Người.

Khi đến gặp Người, chuyện kể tiếp rằng: “Có nhiều người… đã tin vào Đức Giê-su.” Dân Samari xin Người ở lại với họ, và “Người đã ở lại đó hai ngày.”

Ở-lại-đó-hai-ngày, thế mà, dân Samari đã nhận ra, Đức Giê-su… “Người thật là Đấng cứu độ trần gian”.

Còn chúng ta, Đức Giê-su đã ở lại với chúng ta, mười năm, năm mươi năm… chúng ta có nhận ra: Ngài là Cứu Chúa đời ta!

****
Thật ra, Đức Giêsu đã ở lại với chúng ta “mọi ngày cho đến tận thế”. Ngài vẫn tiếp tục mời gọi mỗi chúng ta “uống nước tôi cho”.

Chúng ta sẽ theo gương chị Samari và nói: “Xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát”! Câu trả lời là của mỗi chúng ta.

Thế nhưng, đừng quên, những loại nước mà thế gian ưa chuộng và cho rằng, uống nó mới là dân-sành-điệu… đại loại như: Hennessy, Martell, Chivas… hoặc như: Heneken, Tiger, v.v… coi chừng!

Đó là những loại nước uống vào, chết chắc! Uống vào, thoạt tiên thấy mình ”quay cuồng theo tiếng nhạc vui”, nhưng rồi “sau những cơn vui thấy lòng mình (sao) vẫn bơ vơ.”

Nguy hiểm hơn, khi con ma men xuất hiện, chúng ta sẽ không còn chế ngự hoặc kiểm soát được bản thân mình.

Không kiểm soát được bản thân mình, nguy hiểm lắm! Con ma… ma dâm bôn, ma nóng giận sẽ kiểm soát bản thân mình.

Quay cuồng với con ma nóng giận, bất hòa trong gia đình sẽ xảy ra. Xảy ra nhiều lần, sẽ có người cất tiếng ca: “Thôi là hết em đi đường em. Tình duyên mình chỉ bấy nhiêu thôi. Còn mong gì hình bóng xa xôi. Nhắc làm gì chuyện năm xưa. Cho tim thêm ngẩn ngơ.”

Quay cuồng với con-ma-dâm-bôn, tệ lắm! Thánh Phao-lô khuyến cáo: “những kẻ làm điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa” (Gl 5, 19-21).

Thế nên, để được thừa hưởng Nước Thiên Chúa, bằng mọi giá, chúng ta phải “Gặp gỡ Đức Ki-Tô”. Gặp gỡ Đức Ki-Tô và nói: “Xin Ngài cho con thứ nước ấy.”

Nước- Đức-Giêsu-cho, đó chính là “nguồn suối Thánh Kinh”. Với nguồn nước này, chúng ta sẽ được thỏa lòng khao khát, chúng ta sẽ nhận được mạch nước của Thần Khí: mạch nước bác ái, mạch nước nhẫn nhục, mạch nước nhân hậu, mạch nước từ tâm, mạch nước trung tín, mạch nước hiền hòa, mạch nước tiết độ.

Chính những mạch nước này sẽ thỏa lấp những cơn khát của chúng ta, những cơn khát tình yêu thương: tình yêu thương gia đình, tình yêu thương vợ chồng, tình yêu thương tha nhân.

Khi đã thỏa lòng những cơn khát nêu trên, đó chính là lúc chúng ta “trở thành một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời”, cho chính chúng ta.

Thánh Vịnh (42, 1) có chép rằng: “Như nai rừng khát mong nguồn suối, hồn con cũng khát mong Chúa”. Là một Ki-tô hữu, nói theo cách nói, hôm nay: “Như nai rừng khát mong nguồn suối, con cũng khát mong gặp gỡ Đức Ki-tô”.

Vâng, đừng khát mong gì cả, đừng khát quyền lực, đừng khát danh vọng, đừng khát tiền bạc, v.v… vì tất cả chỉ là phù vân. Hãy nghe Cohelet nói: “Phù vân, quả là phù vân... tất cả chỉ là phù vân. Thú vui trần gian ư?! Nhà cửa, bạc vàng và vật quý ư?! Đào kép, mỹ nữ cung phi ư?! Tôi đã trổi vượt và giàu có hơn mọi người... Tôi nhận thấy: tất cả chỉ là phù vân” (x.Gv 2,11).

Có khát mong! Hãy khát mong gặp gỡ Đức Ki-Tô.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2026

Đến nhà thờ… để được ngời sáng như Chúa

 Chúa Nhật II – MC – A

Đến nhà thờ… để được ngời sáng như Chúa


snTM 280226a


Để cho sứ vụ rao giảng Tin Mừng được loan báo khắp tứ phương thiên hạ, Đức Giê-su đã tuyển chọn một số người. Số người này được gọi là Nhóm Mười Hai. Chỉ với một lời mời gọi, ngắn và rõ ràng: “Hãy theo Ta”, lập tức những người được mời gọi bỏ hết mọi sự và đi theo Ngài.

Trong việc tuyển chọn Nhóm Mười Hai, có một số trường hợp, ngoài lời mời gọi, Đức Giê-su còn thêm đôi lời nhắn nhủ, đôi lời dạy bảo, chân tình.

Đầu tiên, là trường hợp bốn chàng ngư phủ: Phê-rô, An-rê, Gia-cô-bê và Gio-an. Bốn chàng ngư phủ này, đã được Đức Giê-su thêm lời nhắn nhủ: “Tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người.”

Kế tiếp là trường hợp ông Na-tha-na-en. Chuyện kể rằng: khi nghe ông Phi-lip-phê nói: “Đấng mà sách Luật Mô-sê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp: đó là ông Giê-su, con ông Giu-se, người Na-da-ret”, ông Na-tha-na-en liền bảo: “Từ Na-da-ret làm sao có cái gì hay được?” Ông Phi-lip-phê trả lời: “Cứ đến mà xem.”

Ông Na-tha-na-en đã đến. Và ông đã thấy quyền năng của Đức Giê-su, một Giê-su “đã thấy ông… ở dưới cây vả… trước khi Phi-lip-phê gọi ông”.

Hôm ấy, Đức Giê-su cho Na-tha-na-en một lời dạy dỗ: “Vì tôi nói với anh là tôi thấy anh dưới cây vả, nên anh tin. Anh sẽ còn được thấy nhiều điều lớn lao hơn thế nữa.”

Vâng, Đức Giê-su nói như thế. Và Ngài đã thực hiện rất nhiều điều lớn lao. Một trong những điều lớn lao khiến cho Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an “kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất”, đó là sự kiện Đức Giê-su hiển dung. Sự kiện này được ghi lại trong Tin Mừng Thánh Mát-thêu. (Mt 17, 1-9).

**
Sự kiện Đức Giê-su hiển dung được thánh Mát-thêu ghi lại, như sau: Hôm ấy, “Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình”. Sau khi tách biệt ba ông khỏi nhóm chín người, còn lại. “Ngài đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao.”

Nói tới núi, tưởng chúng ta nên biết, “trong Kinh Thánh và truyền thống Do Thái giáo, núi không chỉ là địa danh địa lý nhưng còn mang biểu tượng thiêng liêng, được coi là nơi cao cả, ánh sáng và là nơi Thiên Chúa ngự trị, mặc khải, gặp gỡ con người.”

Mà đúng vậy. Khi Đức Giê-su và các ông đang ở trên núi, một sự kiện vô tiền khoáng hậu đã xảy ra. Đó là, “Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng”. (x.Mt 17, 2).

Chưa hết, Phê-rô, Gia-cô-bê và Gioan còn chứng kiến một thị kiến khác, đó là ”ông Môse và ông Elia hiện ra đàm đạo với (Đức Giêsu)”.

Thấy thế, không chần chừ, ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su: “Lạy Ngài chúng con ở đây thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a”. (x.Mt 17, 4).

Thế nhưng, khi ông-còn-đang-nói… “Chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng: Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người”.

Vâng, tại sông Gio-dan, sau khi Đức Giê-su “chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên…” cũng có tiếng từ trời phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (x.Mt 3, 16-17).

Hai lời phán “từ trời” rất giống nhau. Rất giống, nhưng trong sự giống đó, lại có một sự khác biệt, khác biệt ở người nghe.

Trước kia, khi nghe lời phán từ trời, ông Gio-an Tẩy Giả đã trở thành một nhân chứng sống động, một nhân chứng “chứng thực rằng (Đức Giê-su) - Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” (x.Ga 1, 34).

Còn hôm nay, tại ngọn núi này, ba chàng ngự lâm Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê , thấy Môse và Elia… là những người “từ cõi chết trở về”, các ông không sợ. Nghe có-tiếng-từ-đám-mây-phán, các ông lại sợ. Chuyện kể rằng: “Các môn đệ kinh hoàng ngã sấp mặt xuống đất”.

Hôm ấy, để xoá tan nỗi kinh hoàng của các ông, Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo: “Trỗi dậy đi, đừng sợ”. Cái chạm của Đức Giê-su đã đem các ông trở về với thực tại.

Chuyện kể tiếp rằng: “Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su mà thôi. Đang khi thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông rằng: Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy”.

***
Sáu ngày trước, tính từ lúc bốn Thầy trò lên núi, Đức Giê-su cũng đã có một cuộc đàm đạo, một cuộc đàm đạo xoay quanh chuyện “đi Giê-ru-sa-lem”, với các ông.

Hôm ấy, Đức Giê-su bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: “Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại.”

Điều này đã làm cho “các môn đệ buồn phiền lắm”. Ông Phê-rô, khi nghe lời công bố này, không một chút đắn đo, “Liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện đó”.

Nhưng Đức Giê-su đã bảo Phê-rô rằng: “Sa-tan, lùi lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.”

Không thể để cho tư-tưởng-của-Phêrô loanh quanh trong mớ tư-tưởng-của-loài-người, Đức Giê-su đã “đem ông Phê-rô… đi theo mình… tới một ngọn núi cao.”, như đã được kể lại, phần trên.

Trên núi, ông đã nghe, nghe rõ ông Môse và ông Elia nói với Thầy mình: “về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem.” (Lc 9, 31).

Như vậy, mọi sự đã rõ. Thánh Mat-thêu cho biết: “Bấy giờ các môn đệ hiểu Người” (Mt 17, 13).

Vâng, các môn đệ thật sự hiểu Đức Giê-su. Đức Giê-su không chỉ là “con bác thợ mộc tên là Giu-se”, nhưng còn là “Con yêu dấu của Thiên Chúa”.

“Con yêu dấu của Thiên Chúa” phải thực hiện cuộc xuất hành lên Giê-ru-sa-lem. Cuộc xuất hành lên Giê-ru-sa-lem phải được “hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem”.

Người môn đệ của Đức Giê-su, phải như một “mãnh hổ hạ sơn”. Phải cuốn lều xuống núi. Xuống núi… vâng nghe lời Người, vác-thập-giá-mình, như lời Người đã truyền dạy: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (x.Mt 16, 24).

 Theo truyền tụng, tháng 8 năm 64, hoàng đế Nero bắt đầu bách hại Ki-tô giáo. Tông đồ Phê-rô quyết định đi khỏi Rôma tìm nơi trú ẩn. Nhưng trên con đường Appia, gần cửa Capena, ông đã gặp Chúa Giêsu vác thập giá trên vai. Phêrô hỏi: “Lạy Chúa, Chúa đi đâu?” Chúa Giê-su đáp: “Thầy vào thành Roma để chịu đóng đinh một lần nữa”. Phêrô hiểu ra ẩn ý của Chúa. Ông trở vào thành và chịu tử đạo.

Phê-rô đã “Vâng nghe lời Người”.

****
Hôm nay, Đức Giê-su cũng gọi đích danh mỗi chúng ta. Ngài cũng muốn “đưa-chúng-ta-đi-riêng-ra-một-chỗ. Một chỗ tách biệt khỏi satan và những gì thuộc về chúng.

Những-gì-thuộc-về-chúng… chúng ta biết rồi, đó là: “dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quẫy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén…” (Gl 5, 19-21).

Hãy thận trọng! Bởi đó là những chước-cám-dỗ rất quyến rũ, chỉ một chút xao lòng, chúng ta sẽ sa vào. Nói cách khác, chúng ta sẽ sa ngã.

Làm thế nào để không bị sa ngã! Thưa, hãy lên núi. Cùng Đức Giê-su lên núi. Cùng Đức Giê-su lên núi, đó là đến nhà thờ, là tham dự thánh lễ.

Đến nhà thờ tham dự thánh lễ, chúng ta cũng sẽ được nghe tiếng-từ-đám-mây-phán, nói rõ hơn, tiếng Thiên Chúa phán, qua phần Phụng Vụ Lời Chúa. Chúng ta cũng sẽ gặp được con người lịch sử “Mô-se và Ê-li-a” khi nghe công bố Lời Chúa phần Cựu Ước.

Lời Chúa (Kinh Thánh) sẽ giúp chúng ta không sa vào những chước cám dỗ, nêu trên. Lời Chúa sẽ “biến đổi” tâm hồn chúng ta. Từ một tâm hồn ích kỷ - hại nhân, sẽ “biến thành” một tâm hồn hoan lạc, một tâm hồn tràn ngập tình yêu thương, sự bác ái, lòng từ tâm, sự trung tín, sự hiền hòa, sự tiết độ.

Điều này sẽ thành hiện thực, hiện thực khi chúng ta “đặt lời Chúa trong miệng” chúng ta. (x.Gr 1, 9).

Chưa hết, đến nhà thờ tham dự thánh lễ, chúng ta cũng sẽ được nhìn thấy Đức Giê-su hiển dung. Ngài hiển dung nơi Bàn Tiệc Thánh Thể.

Bàn Tiệc Thánh Thể… Vâng, nơi đây chúng ta sẽ nhìn thấy một Đức Giê-su hiển dung, qua lời truyền phép của linh mục chủ tế “bánh và rượu” sẽ biến thành “Mình và Máu Thánh Chúa Ki-tô”.

Tham dự Tiệc Thánh Thể, sẽ có một sự ‘biến đổi” phi thường. Đó là, thể xác chúng ta không còn phải chết, nhưng “được sống muôn đời”.

Tại Caphanaum, Đức Giê-su, chẳng phải là đã phán: “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống”, đó sao! (x.Ga 6, 54-55).

 
Hãy cùng Đức Giê-su lên núi. Hãy đến nhà thờ, tham dự thánh lễ. Đến nhà thờ, tham dự thánh lễ, không chỉ để thấy Chúa biến-đổi-hình-dạng nơi Bàn Tiệc Thánh Thể, mà còn để Chúa biến đổi tâm hồn chúng ta, biến hoá con người chúng ta.

Trong một thế giới, một xã hội ngày càng “tục hoá” nếu chúng ta không biến đổi tâm hồn chúng ta, không biến hoá con người chúng ta, chẳng-chóng-thì-chầy, chúng ta sẽ bị “đồng hoá” với đời. Bản chất Ki-tô hữu của chúng ta sẽ chết dần theo thời gian. Nói cách khác, tình yêu của chúng ta đối với Chúa sẽ hoá thành “tình chết theo mùa Đông năm nao.”

Để tình yêu với Chúa, hoá thành tình-chết-theo-mùa-Đông-năm-nao, chúng ta sẽ không có cơ hội “Đến núi Si-on và đến thành của Đức Chúa Trời hằng sống, là Giê-ru-sa-lem trên trời” (Dt 12, 22).

Đừng quên, đức tin Ki-tô giáo dạy rằng: người Ki-tô hữu chỉ là lữ khách trần gian, sống giữa đời nhưng không đồng hoá với đời. Chính vì thế, hãy để một phút hồi tâm và tự hỏi, hôm nay, tôi đã “đi riêng ra một chỗ”, tôi đã “cùng Đức Giê-su lên núi”!!!

Vì tương lai cho sự hiện diện ở “núi Si-on”, chúng ta hãy cùng Đức Giê-su “lên núi”. Đừng để mất nhiều thời gian “lên mạng”. Lên mạng… nguy cơ mất mạng không nhỏ…

Thế nên, hãy lên núi, hãy đến nhà thờ. Đến nhà thờ, hãy mượn lời Rabbouni cầu nguyện, nguyện rằng: “Lạy Chúa Giêsu, mỗi lần con thấy Chúa, xin biến đổi mắt con. Mỗi lần con rước Chúa, xin biến đổi môi miệng con. Mỗi lần con nghe lời Chúa, xin biến đổi tai con. Xin cho khuôn mặt con ngời sáng hơn sau mỗi lần gặp Chúa.”

Với lời nguyện chân tình như thế, hãy tin, chúng ta sẽ được ngời sáng như Chúa. Nói tóm lại: Đến nhà thờ… để được ngời sáng như Chúa.

Petrus.tran

Hãy nhờ Thần Khí lăn tảng đá

  Chúa Nhật Phục Sinh – Năm A Hãy nhờ Thần Khí lăn tảng đá Đức Giê-su Ki-tô từ trong cõi chết, Ngài đã Phục Sinh. Đó là điều mà hôm nay, kho...