Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2026

Chúa ơi! hãy sai con đi...

 Chúa Nhật Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống

Chúa ơi! hãy sai con đi

SnTM 230526a


Như chúng ta được biết, vào đêm trước ngày hy sinh trên thập tự giá, Đức Giê-su đã cùng với các tông đồ tham dự bữa tiệc Vượt Qua.

Trong bữa tiệc này, Ngài có hứa với các tông đồ rằng: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em.”

Lời hứa này, ngay sau khi Đức Giê-su từ cõi chết trỗi dậy, đã thành hiện thực. Vâng, chính Ngài, với một thân xác Phục Sinh từ cõi chết, “hiện đến, đứng giữa các ông… thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.”

Sự kiện này, được ghi lại trong Tin Mừng Thánh Gio-an. (x.Ga 20, 19-23).

**
Theo Tin Mừng Gio-an ghi lại, thì: “Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái”.

Thật bất ngờ! “Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: Bình an cho anh em.” Chúc bình an cho các môn đệ xong, Ngài “cho các ông xem tay và cạnh sườn.”

Được xem những chứng tích cuộc khổ hình của Đức Giê-su, các môn đệ tin… tin Thầy mình thật sự đã Phục Sinh. Thánh sử Gio-an mô tả: “các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa.”

Niềm vui được thấy Chúa đã làm tan biến những lo sợ do truyền thông thế quyền Roma lẫn thần quyền Do Thái cáo gian rằng, các ông đã lợi dụng ban đêm lén đến “lấy trộm xác”. (Mt 28, 13).

Các ông không lấy-trộm-xác nhưng “xác” Thầy Giê-su đang đứng trước mặt các ông, rõ ràng là một Thầy Giê-su Phục Sinh. Rồi Thầy Giê-su lại chúc các ông một lần nữa: “Bình An cho anh em.”

“Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” Đó là một lệnh truyền. Sau lệnh truyền, Đức Giê-su - “Người thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20, 22).

Thổi hơi vào các ông và bảo các ông hãy nhận lấy Thánh Thần. Vâng, có thể nói, sự kiện này như một bằng chứng cho lời hứa mà Đức Giê-su đã hứa hôm Thầy và trò cùng mừng lễ Vượt Qua.

Hôm ấy, Đức Giê-su hứa rằng: “Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em…” (x.Ga 16, 7).

***
Đức Giê-su đã ra đi. Ngài đã “được đem lên trời”. Và, Đấng Bảo Trợ đã đến. Người đã đến vào “Ngày lễ Ngũ Tuần.”

Chuyện được ghi lại rằng: “Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp.

Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho.” (Cv 2, 4).

Hôm đó, “tại Giê-ru-sa-lem… có nhiều người kéo đến”. Họ kéo đến và đã phải “kinh ngạc vì ai nấy đều nghe các ông nói tiếng bản xứ của mình” (Cv 2, 6).

Chính họ… chính họ đã phải “sửng sốt thán phục và nói: Những người đang nói đó không phải là người Ga-li-lê sao? Thế sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của chúng ta?”

Hôm đó, các dân thiên hạ, dù là dân “Pác-thi-a, Mê-đi, Ê-lam, Mê-xô-pô-ta-mi-a, Giu-đê, Cáp-pa-đô-ki-a, Pon-tô, A-xi-a”, hoặc là dân “Phy-ghi-a, Pam-phy-li-a, Ai-cập, Roma hay Do Thái, người đảo Cơrêta hay người Ảrập”, v.v… tất cả mọi sắc dân đó đều nghe các môn đệ “dùng tiếng nói của (họ) mà loan báo những kỳ công của Thiên Chúa” (Cv 2, 11).

****
Xưa, các môn đệ đã được nhận lãnh Chúa Thánh Thần. Nay, chúng ta cũng được nhận lãnh Chúa Thánh Thần.

Các môn đệ nhận lãnh Chúa Thánh Thần qua hình thức “những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một.” Sau này, nhận lãnh Chúa Thánh Thần, qua hình thức “đặt tay”.

Sách Công Vụ có thuật lại rằng: “Các Tông Đồ ở Giê-ru-sa-lem nghe biết dân miền Sa-ma-ri đã đón nhận lời Thiên Chúa, thì cử ông Phê-rô và Gio-an đến với họ. Khi đến nơi, hai ông cầu nguyện cho họ, để họ nhận được Thánh Thần. Vì Thánh Thần chưa ngự xuống một ai trong nhóm họ: họ mới chỉ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giê-su. Bấy giờ hai ông đặt tay trên họ, và họ nhận được Thánh Thần.” (Cv 6, 14-17).

Thánh Phao-lô, một lần nọ đi qua miền thượng du đến Ê-phê-sô. Tại đây, ngài tông đồ gặp một số môn đệ và hỏi họ: “Khi tin theo, anh em đã nhận được Thánh Thần chưa? Họ trả lời: Ngay cả việc có Thánh Thần chúng tôi cũng chưa hề nghe nói.”

Sau một vài trao đổi, ngài Phao-lô biết được những người này chịu “phép rửa của ông Gio-an (Tẩy Giả)”. Thế là tông đồ Phao-lô giảng dạy cho họ rằng: “Ông Gio-an đã làm một phép rửa tỏ lòng sám hối, và ông bảo dân tin vào Đấng đến sau ông, tức là Đức Giê-su.”

Nghe nói thế, “Họ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giê-su. Và khi ông Phao-lô đặt tay lên họ, thì Thánh Thần ngự xuống trên họ, họ nói tiếng lạ và nói tiên tri. Cả nhóm có chừng mười hai người.” (x.Cv 19, 1-7).

Ngày nay, chúng ta nhận lãnh Chúa Thánh Thần (được gọi là Bí Tích Thêm Sức) qua nghi thức đặt tay của Giám Mục. Giám Mục là người kế thừa các thánh tông đồ xưa.

Có lẽ, mọi người trong chúng ta, ai ai cũng đã nhận lãnh Bí Tích Thêm Sức. Đã nhận lãnh Bí Tích Thêm Sức, có ai trong chúng ta được ơn “nói các thứ tiếng khác”! Có ai trong chúng ta được ơn “nói tiếng lạ và nói tiên tri”! Vâng, không cần thiết đâu!

Về việc nói tiếng lạ, nói tiên tri, thánh Phao-lô có lời truyền dạy: “Anh em thân mến, anh em hãy cầu mong những ơn cao trọng hơn. Và tôi chỉ bảo anh em một con đường hoàn hảo nhất. Nếu tôi nói được các tiếng của loài người và thiên thần, mà tôi không có bác ái, thì tôi chỉ là tiếng đồng la vang dội hoặc não bạt vang động. Và nếu tôi được ơn nói tiên tri, thông biết mọi mầu nhiệm và mọi khoa học; nếu tôi có đầy lòng tin, đến nỗi chuyển dời được núi non, mà không có bác ái, thì tôi vẫn là không.” (1Cor 13, 1-2).

Thế nên, chúng ta không cần nói tiếng lạ, không cần nói tiên tri. Điều chúng ta cần, đó là: “hãy để Thần Khí đổi mới tâm trí” chúng ta. Khi Thần Khí đổi mới tâm trí chúng ta, chúng ta mới có thể “sống theo Thần Khí”.

Sống theo Thần Khí - Thần Khí sẽ “sửa lại mọi sự trong ngoài chúng (ta)” Sống theo Thần Khí - Thần Khí sẽ “dạy dỗ chúng (ta) làm những việc lành”.

Sống theo Thần Khí - Thần Khí sẽ ban cho chúng ta “Ơn khôn ngoan” để chúng ta phân biệt đâu là lẽ phải, đâu là điều gian ác. Sống theo Thần Khí - Thần Khí sẽ ban cho chúng ta “Ơn hiểu biết” để chúng ta nhận biết đâu là lẽ thật - lẽ thật đem lại sự sống đời đời.

Sống theo Thần Khí - Thần Khí sẽ ban cho chúng ta “Ơn sức mạnh – Ơn thông minh” để chúng ta có thể chống chọi những cám dỗ, những cạm bẫy ngày một tràn lan, trong một xã hội duy vật vô thần, như hôm nay.

Sống theo Thần Khí - Thần Khí sẽ ban cho chúng ta “Ơn đạo đức – Ơn kính sợ Thiên Chúa” để chúng ta biết tôn kính sự công bằng và quyền phép của Người.

Khi chúng ta đã sống-theo-Thần-Khí, thánh Phao-lô có lời truyền dạy, lời dạy rằng: “Hãy nhờ Thánh Thần mà tiến bước.”

Sống theo Thần Khí và nhờ Thánh Thần mà tiến bước, kết quả đó là ”ngọn lửa của Thần Khí”… ngọn lửa “bác ái, hoan lạc, bình an nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, tiết độ”… cháy bùng trong ta.

Những ngọn lửa nêu trên, cháy bùng trong ta, ta có thể lớn tiếng nói: “Thần khí Chúa (hãy) sai tôi đi, sai tôi đi loan báo Tin Mừng. Thần khí Chúa (hãy) thánh hiến tôi , sai tôi đi Ngài sai tôi đi.” (St: Nguyễn Đức Tuấn).

Vâng… Chúa ơi! hãy sai con đi.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2026

Hãy nhìn đời… bằng đôi mắt yêu thương...

 Chúa Nhật VII - A - Lễ Thăng Thiên

Hãy nhìn đời… bằng đôi mắt yêu thương

SnTM 160526a


Như chúng ta được biết, vào đêm trước ngày Đức Giê-su hy sinh trên thập tự giá, Ngài đã cùng với các tông đồ tham dự “một bữa ăn.” (Ga 13, 4). Bữa ăn này, được gọi là bữa tiệc Vượt Qua.

Danh họa Leonardo da Vinci, có vẽ một bức bích họa lấy bối cảnh bữa ăn này, và đặt tên là: “Il Cenacolo (hay) L'Ultima Cena - Bữa ăn tối cuối cùng”.

Đặt tên là bữa-ăn-tối-cuối-cùng rất hợp lý. Hợp lý vì, trong bữa ăn, Đức Giê-su cũng đã có những “lời nói cuối cùng” với các tông đồ. Những lời-nói-cuối-cùng này, thánh sử Gio-an gọi là ”những lời cáo biệt”.

Hôm ấy, có một lời cáo biệt đã làm cho các tông đồ bất an, lời cáo biệt rằng: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi”.

Nghe những lời cáo biệt của Ngài, lòng các tông đồ xao xuyến. Trong nỗi xao xuyến về một ngày ly biệt, ông Si-môn Phê-rô trải lòng mình hỏi Đức Giê-su: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu vậy? Sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được?”

Đức Giê-su đã trả lời rằng: “Nơi Thầy đi, bây giờ anh không thể theo đến được, nhưng sau này anh sẽ đi theo.”

Để xua tan nỗi xao xuyến của các ông, Đức Giê-su đã có những lời an ủi chân tình, rằng: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”. Ngài còn cho các ông biết “nơi sau này các ông sẽ đi theo”, đó là ”Nhà Cha Thầy”.

Hôm ấy, Đức Giê-su đã thổ lộ với các ông, rằng: “Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về lại với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.”

Sau bốn mươi ngày, kể từ khi trỗi dậy từ cõi chết, Đức Giê-su “đi dọn chỗ”, đúng như lời Ngài đã thổ lộ với các tông đồ, một chiều năm xưa. Nói chính xác hơn, Đức Giê-su “được đem lên trời” (x.Lc 24, 50-51).

Vâng, Đức Giê-su “được đem lên trời”. Biến cố linh thiêng này, đã được ghi lại trong sách Công Vụ Tông Đồ.

**
Theo tác giả sách Công Vụ ghi lại thì, sau khi trỗi-dậy-từ-cõi-chết, Đức Giê-su đã “dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy là Người vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình: trong bốn mươi ngày.” (Cv 1, 3).

Trong bốn mươi ngày, có lần Đức Giê-su “…đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa.” Lại có lần: “đang khi dùng bữa với các Tông Đồ, Đức Giê-su truyền cho các ông không được rời khỏi Giê-ru-sa-lem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa…”

Điều-Chúa-Cha-đã-hứa, có thể nói, như một “tin mừng trọng đại”, đem lại cho các môn đệ sự lạc quan và hy vọng. Điều này được chứng thực khi các ông hỏi Thầy mình rằng: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy sẽ khôi phục vương quốc Israel không!”

Khôi phục vương quốc Israel, vào thời Đức Giê-su, đó là một mơ ước chính đáng. Thế nhưng, thật đáng tiếc! Khôi phục một vương quốc ở trần thế không phải là sứ vụ của Đức Giê-su, như có lần Ngài đã nói trước quan tổng trấn Philato: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (x.Ga 18, 36).

Bốn mươi ngày qua, kể từ khi trỗi-dậy-từ-cõi-chết, Đức Giêsu không ngừng hiện ra với các tông đồ. Mỗi khi hiện ra với các ông, ngoài những việc như ăn và uống để chứng minh rằng, Ngài “không phải là ma”, nhưng đã thật sự sống lại, Đức Giêsu còn chú trọng đến việc dạy dỗ.

Một trong những việc dạy dỗ quan trọng, đó là Đức Giêsu đã “mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh”. Ngài chưa một lần hứa sẽ thực hiện nguyện vọng nhuốm mùi “trần thế” của các ông.

Điều Đức Giê-su muốn các ông cần có, đó là sự bình an. Ngài đã chúc “Bình An” cho các ông. Quan trọng hơn, đó là Ngài đã “thổi hơi vào các ông và bảo: anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”.

Trở lại với câu hỏi của các tông đồ, Đức Giê-su có lời đáp: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (x.Cv 1, 8).

Hôm ấy, mười một vị tông đồ, với mười một đôi tai, nghe rõ mồn một lời Thầy Giê-su, đã tuyên phán như thế. ”Mây đem mưa trở lại. Mưa hay nhiều lời. Khiến trăng mỉm cười.” Nhưng, khôi phục vương quốc Israel… thì…. “không, trăm không ngàn lần.”

Vương quốc Đức Giê-su thiết lập không phải ở tại thế gian này, nhưng là ở Nhà-Cha-Thầy. Vương quốc Đức Giê-su thiết lập “là Giê-ru-sa-lem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống…” (Kh 21, 2).

Hôm ấy, mười một vị tông đồ đã nhìn thấy “Đức Giê-su về Nhà Cha”. Tác giả sách Công Vụ ghi rằng: “Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa” (Cv 1, 9).

***
Ngoài sách Công Vụ Tông Đồ, thánh sử Mác-cô, là người chúng ta được biết đã theo thánh Phê-rô sang truyền giáo ở La-mã, cũng đã ghi chép mạch lạc về cuộc đời của Đức Giê-su, dựa vào những lời giảng dạy của thánh Phê-rô. Và trong phần Đức Giê-su lên trời, ngài Mác-cô ghi vắn tắt: “Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa.” (x.Mc 16, 19).

Còn thánh sử Luca thì ghi như sau: Hôm ấy… Đức Giê-su “Người dẫn các ông tới gần Bê-ta-ni-a, rồi giơ tay chúc lành các ông. Và khi đang chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời” (x.Lc 24, 50-51).

Đức Giê-su đã được “cất lên”, đã được “đem lên trời”. Chuyện đã xảy ra hơn hai ngàn năm, và hôm nay chúng ta vẫn tiếp tục tuyên xưng niềm tin này, trong thánh lễ mỗi Chúa Nhật, qua kinh Tin Kính.

Tuy nhiên, để niềm tin của mình không chút nửa tin nửa ngờ, mỗi khi nghe một ai đó phản bác cho rằng, đó là chuyện nhảm nhí, chúng ta cần hiểu rằng, sự lên trời của Đức Giê-su không nên hiểu theo “mặt chữ” rằng, Ngài bay bổng lên không trung và các tầng mây quyện quanh thân Ngài.

Suy nghĩ như thế là cách suy nghĩ rất ấu trĩ. Vậy mà, trong quá khứ đã có người hiểu theo “mặt chữ”, vì thế người này cho rằng, chuyện Chúa Giê-su lên trời là chuyện “phịa”…

Người này… chính là Yuri Alekseyevich Gagarin. Ông ta là “một phi công và nhà du hành vũ trụ người Liên Xô, người đã thực hiện chuyến bay có người lái đầu tiên thành công vào không gian vũ trụ. Du hành trên Vostok 1, Gagarin đã hoàn thành một quỹ đạo quanh Trái Đất vào ngày 12 tháng 4 năm 1961, với chuyến bay kéo dài 108 phút.” (nguồn: internet).

Nhiều nguồn tin cho rằng, sau khi trở về trái đất, Gagarin có lời tuyên bố: “Tôi đã đi vào không gian, nhưng tôi đã không gặp thấy Thiên Chúa.”

“Neil Armstrong là người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng trong sứ mệnh Apollo 11 của NASA (Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Quốc gia) vào ngày 20 tháng 7 năm 1969. Ông đã hoàn thành sứ mệnh cùng với hai phi công phụ Edwin E. “Buzz” Aldrin và Michael Collins”.

Khi Neil đặt chân lên Mặt Trăng, ông ta cũng chẳng thấy Chúa đâu, nhưng ông cảm nghiệm Chúa đang hiện diện bên ông. Qua hệ thống viễn liên, một trong nhiều thông điệp mà ông đã gửi về mặt đất, đó là: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất”.

Vâng, lên trời bằng phi thuyền hay phi cơ thì làm sao thấy Chúa. Đức Giê-su “lên trời” không như một viên phi công lái một chiếc phản lực cơ, bay lên trời. Ngài không lên trời như một phi hành gia lên trời bằng một chiếc phi thuyền.

Trong Kinh Thánh, từ ngữ “trên trời” có nghĩa là chỉ nơi Thiên Chúa hiện diện. “Lên trời” là đi vào sự hiệp thông tuyệt hảo và vĩnh cửu với Chúa Cha và được chia sẻ với Chúa Cha quyền năng và vinh quang. Như có lời được ghi trong Thánh Vịnh: “Sấm ngôn của ĐỨC CHÚA ngỏ cùng Chúa Thượng tôi: Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân con”.

Những ai lên trời bằng phi thuyền hay phản lực cơ mà đòi được thấy Chúa… họ đúng là “những kẻ khờ khạo nhất hành tinh” này. Chúng ta chỉ có thể thấy Chúa bằng con mắt đức tin. Thế nên, cảm ơn ông Gagarin. Cảm ơn là bởi, lời “chứng” của ông rất đáng tin cậy!

****
Vâng, chỉ với con mắt đức tin, chúng ta mới có thể cất tiếng tuyên xưng, tuyên xưng rằng: Đức Giê-su “Người chịu khổ hình và mai táng, ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh. Người lên trời, ngự bên hữu Ðức Chúa Cha, và Người sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết, Nước Người sẽ không bao giờ cùng.”

Tuyên xưng đức tin bằng lời nói chưa đủ. Chúng ta còn phải tuyên xưng bằng việc làm. Bằng những “việc” Đức Giê-su đã truyền phải làm, đó là: mến Chúa - yêu người.

Một cách cụ thể, đó là: “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm.” Đó còn là: “đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậу vào nơi thất vọng, rọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu.” (Kinh Hòa Bình).

Thực thi những việc làm nêu trên, đó là chúng ta đã làm cho “Mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu”.

Khi “mọi người biết thương nhau” thì sao, nhỉ! Vâng, chắc chắn rằng, láng giềng chúng ta sẽ thân thiết, anh em chúng ta sẽ hòa thuận và vợ chồng chúng ta sẽ ý hợp tâm đầu. Láng giềng thân thiết, anh em hòa thuận, vợ chồng ý hợp tâm đầu - Kinh Thánh nói – “cả ba điều này đều đẹp lòng Đức Chúa và người ta” (Hc 25, 1).

Một khi làm “đẹp lòng Đức Chúa và người ta”, đó… đó chính là lúc chúng ta thực thi trọn vẹn lệnh truyền của Đức Giê-su năm xưa, lệnh truyền rằng: “anh em sẽ là chứng nhân của Thầy”.

Để thực thi lệnh truyền của Đức Giê-su, chúng ta đừng có đứng “đăm đăm nhìn lên trời” nữa, mà “Hãy ngước mặt nhìn đời. Nhìn tha nhân (đừng) buông tiếng cười…”
 
Thói đời “chỉ yêu gian dối…” Đời thì “cay đắng như vôi...” Do vậy, tha nhân rất cần chúng ta nhìn họ bằng đôi mắt yêu thương.

Thế nên, chúng ta “hãy nhìn đời… bằng đôi mắt yêu thương”.

Petrus.t

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

Trong Chúa - chúng ta không mồ côi

 Chúa Nhật VI Phục Sinh – A

Trong Chúa - chúng ta không mồ côi

SnTM 090526a


“1. Một chiều năm xưa giữa bữa tiệc vui, thì thầm bên tai Chúa nói biệt ly, này đoàn con ơi chớ hãi sợ chi, Ta sẽ ra đi nhưng Ta lại tới. Về cùng Cha Ta Ðấng đã gọi Ta, một thời gian thôi chẳng có là bao, vì này Ta đi lo cho các ngươi, dọn chỗ các ngươi bên Ta sau này.

2. Này đoàn chiên ơi giữ vững niềm tin, vì này Ta đi sẽ có lợi hơn. Ðừng buồn lo chi sẽ có ngày vui, khi Ðấng Ủi An nơi Cha ngự đến, Ngài là Ngôi Ba xuất phát từ Cha, và Ngài thay Ta hướng dẫn đường đi, là nguồn ơn thiêng yêu thương chứa chan, ban sức, thêm ơn, ủi an, vỗ về.”

Những dòng chữ nêu trên, là hai tiểu khúc trong bài thánh ca nổi tiếng “Hãy Yêu Thương Nhau”, tác giả là Linh mục Thành Tâm.

Lấy cảm hứng từ Tin Mừng thánh Gio-an, bài thánh ca Hãy-Yêu-Thương-Nhau, có thể được ví như một bức tranh sống động, tái hiện lại hình ảnh bữa tiệc Vượt Qua, một bữa tiệc Đức Giê-su và các môn đệ cùng đồng bàn “trong một bữa ăn”, một bữa ăn… buồn vui lẫn lộn.

**
Vâng, theo Tin Mừng thánh Gio-an, câu chuyện được bắt đầu vào một buổi chiều. Buổi chiều hôm ấy, Đức Giê-su và các môn đệ cùng đồng bàn “trong một bữa ăn.” (Ga 13, 4). Bữa ăn này, được gọi là bữa tiệc Vượt Qua. Linh mục Thành Tâm gọi bữa tiệc này là bữa-tiệc-vui.

Đúng, vui vì bữa tiệc này “tưởng nhớ sự kiện Thiên Chúa giải cứu dân Do Thái khỏi ách nô lệ ở Ai Cập (năm 1513 TCN), một sự kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc Do Thái.”

Thế nhưng, vui chưa được bao lâu, thì nỗi buồn ập tới. Vâng, buồn vì… “thì thầm bên tai Chúa nói biệt ly.”

Nguyên văn lời-thì-thầm được thánh sử Gio-an ghi như sau: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi”.

Nghe thế, ông Si-môn Phê-rô hỏi rằng: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu vậy?” Và, Đức Giê-su đã trả lời rằng: “Nơi Thầy đi, bây giờ anh không thể theo đến được.”

Để cho các ông không còn phải lo lắng về sự ra đi của mình, Đức Giê-su đã có lời khuyên bảo với các ông rằng: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em”. (Ga 14, 16-17) .

Nhìn các ông, với ánh mắt của một Đấng giàu lòng thương xót, Đức Giê-su nói: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi” (Ga 14, 18).

***
“Thầy sẽ không để anh em mồ côi.” Đúng vậy, sau khi Đức Giê-su “được đem lên trời”, Thần-Khí-sự-thật đã ngự xuống trên các môn đệ, từng-người-một, trong ngày lễ Ngũ Tuần.

Các ông không còn là nhóm mười một cô đơn trong căn phòng đóng cửa kín tại Giê-ru-sa-lem. “Ông Phi-lip-phê xuống một thành miền Samari và rao giảng Đức Ki-tô cho dân cư tại đó. Đám đông một lòng chú ý đến những điều ông Phi-lip-phê giảng, bởi được nghe đồn và được chứng kiến những dấu lạ ông làm” (Cv 8, 5-6).

“Các Tông Đồ ở Giê-ru-sa-lem nghe biết dân Samari đã đón nhận lời Thiên Chúa, thì cử ông Phê-rô và ông Gio-an đến với họ. Khi đến nơi, hai ông cầu nguyện cho họ, để họ nhận được Thánh Thần… hai ông (Phê-rô và Gio-an) đặt tay trên họ, và họ nhận được Thánh Thần.” (Cv 8, 14).

Với “Uy lực Chúa Thánh Thần”, một Hội Thánh đã được hình thành, khởi đầu thêm khoảng ba ngàn người theo và sau này đã trở thành một Hội Thánh toàn cầu, trải rộng từ “Giê-ru-salem ra khắp các miền Giu-đê, Samari, và cho đến tận cùng trái đất”.

Nhắc tới điều này để làm gì? Thưa, là để thấy “Uy lực Chúa Thánh Thần” là điều không thể thiếu cho đời sống đức tin của mỗi chúng ta.

Không có Chúa Thánh Thần ngự trị trong đời sống đức tin, thật quá khó để chúng ta có thể đương đầu với một thế giới ngày một cổ vũ cho một nền văn-hóa-sự-chết, một nền văn hóa phá thai, hôn nhân đồng tính, như hôm nay!

Không có Chúa Thánh Thần - Đấng “ban cho trí hồn (ta). Ơn biết khôn ngoan tìm theo chân lý”, làm sao chúng ta có thể “xa điều gian dối”… những gian dối nhan nhản trên truyền thông đại chúng, một thứ truyền thông được điều hành bởi những kẻ vô thần, vô đạo đức!

Đừng bao giờ biến mình thành một tên “thuỷ thủ say khướt”, điều đó làm cho chúng ta không thể gặt hái hoa trái Chúa Thánh Thần.

Mà, nếu không có hoa trái Chúa Thánh Thần, hoa trái “bác ái, vui vẻ, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm”… làm sao chúng ta có thể “Đem yêu thương vào nơi oán thù. Đem thứ tha vào nơi lăng nhục. Đem an hòa vào nơi tranh chấp. Đem chân lý vào chốn lỗi lầm”!

Nếu không có hoa trái Chúa Thánh Thần, hoa trái “tiết độ và trong sạch”… làm sao chúng ta có thể chế ngự những dục vọng, một trong nhiều nguyên nhân gây đổ vỡ hôn nhân gia đình!?

****
“Thầy sẽ không để anh em mồ côi.” Đúng, Đức Giê-su “đi”, nhưng chúng ta không mồ côi, bởi vì Ngài “sẽ trở lại”.

Thật vậy, hôm ấy, Đức Giê-su còn có lời tuyên bố, rằng: “Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống.”

Thế nên, hãy nhớ lời Đức Giê-su truyền dạy: “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.” (x.Ga 14, 21).

“Giữ các điều răn của Chúa”, nào có gì khó đâu! Chỉ là mến Chúa – yêu người, mà thôi.

Nhớ và giữ điều răn của Chúa truyền dạy, nó chính là “bảo chứng” chứng thực, chúng ta ở trong Chúa - Chúa ở trong chúng ta.

Chúa ở trong chúng ta - chúng ta không phải là một Ki-tô hữu, mồ côi.

Nói ngắn gọn, “trong Chúa - chúng ta không mồ côi.”

Petrus.tran

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2026

Chúa ơi… tim con đã vui trở lại

 Chúa Nhật V Phục Sinh – A

Chúa Nhật V Phục Sinh – A
 Chúa ơi… tim con đã vui trở lại

SnTM 020526a


“Tìm một con đường tìm một lối đi. Ngày qua ngày… Đời nhiều vấn nghi. Lạc loài niềm tin sống không ngày mai. Sống quen không ai cần ai. Cứ vui cho trọn hôm nay. Rồi cuộc vui tàn, mọi nguời buớc đi. Một mình tôi về, nhiều lần uớt mi.”

Vâng, những dòng chữ nêu trên, là câu hát mở đầu rất quen thuộc trong bài hát “Và Con Tim Đã Vui Trở Lại” của nhạc sĩ Đức Huy.

Có thể nói rằng, những ca từ nêu trên, như một tâm sự buồn, tâm sự buồn của một người “đang đối mặt với một cuộc sống lạc lõng, hoang mang, nghi ngờ và mất phương hướng”.

Nhạc sĩ Đức Huy có mang tâm sự buồn, như những lời ông đã viết! Nhạc sĩ Đức Huy có tìm-cho-mình-một-con-đường-một-lối-đi! Nhạc sĩ Đức Huy có lạc-loài-niềm-tin! Con tim ông ta có-vui-trở-lại? Chúng ta không biết!

Nhưng… không ngại để nói rằng: ngày nay, không ít người (có thể có cả chúng ta), nặng trĩu những tâm sự buồn. Nhiều người (có thể có cả chúng ta), đang tìm-cho-mình-một-con-đường-một-lối-đi. Nhiều người (có thể có cả chúng ta), rất mong muốn “con tim mình vui trở lại”.

Tìm một con đường… Con đường đó ở đâu! Tìm một lối đi… Lối đi đó chỗ nào? Làm sao để con-tim-vui-trở-lại! Đó là những nan đề, không của riêng ai. Các môn đệ xưa, cũng không ngoại lệ.

** 
Câu chuyện được bắt đầu bằng một buổi chiều, một buổi chiều Đức Giê-su và các môn đệ cùng đồng bàn “trong một bữa ăn.” (Ga 13, 4) Đó là một bữa ăn của những tin tức xấu, những tin tức buồn, của nhiều vấn nghi và bối rối.

Làm sao các môn đệ không vấn nghi cho được, khi Đức Giê-su công bố: “Thật, Thầy bảo thật anh em: có một người trong anh em sẽ nộp Thầy”.

Làm sao các môn đệ không bối rối cho được, khi Đức Giê-su nói thẳng với Phê-rô, rằng: “gà chưa gáy, anh đã chối Thấy ba lần”!

Và quả đúng là một buổi chiều buồn lê thê, khi Thầy Giêsu tuyên bố: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi”.

Trong ba năm qua, các môn đệ đã bỏ hết mọi sự, nghề nghiệp, cuộc sống gia đình để theo Thầy Giêsu, với tất cả niềm tin và lòng phó thác.

Họ đã có một cuộc sống an tâm bên cạnh Ngài. Khi thiếu bánh ăn, Thầy Giêsu hóa bánh ra nhiều. Khi gặp phong ba bão táp, Thầy Giêsu giải cứu họ. Khi cần, Thầy Giêsu dạy dỗ họ… Thế mà hôm nay, Thầy Giêsu lại nói: “Nơi Thầy đi, bây giờ (các) anh không thể đến được”.

Phê-rô không ngần ngại bộc lộ ưu tư của mình, đã hỏi Đức Giê-su: “Thầy đi đâu? Sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được?”

Đức Giê-su đã xua tan những lo lắng và bối rối của ông qua những lời đàm đạo chân tình. Ngài không chỉ hé mở cho các môn đệ thấy nơi các ông sẽ đến, nhưng Ngài còn vẽ ra một “sinh lộ”, một “con đường” cho cuộc hành trình mà các ông sẽ phải đi qua.

Hôm ấy, Đức Giê-su đã thổ lộ với các ông rằng: “Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về lại với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.”

Đến Tô-ma, ông lúng túng hỏi: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao biết được đường”! Đức Giê-su đáp: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14, 6).
 
Không chỉ có Phê-rô và Tô-ma, ông Philipphê cũng không khỏi lo lắng và bối rối khi đặt một câu hỏi với Đức Giêsu “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện”.

Và ông ta đã mãn nguyện khi Đức Giêsu trả lời: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”. Và rằng “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy” (Ga 14,9…11).

Có thể nói, câu trả lời của Đức Giêsu như một gạnh nối, nối kết “Trời và Đất”. Nó đã phá vỡ sự ngăn cách giữa con người và Thiên Chúa, sự ngăn cách mà xưa kia nguyên tổ Adam và Eva đã gây ra. Và hơn nữa, nó đã xóa tan những ưu tư phiền muộn, những lo lắng và bối rối, nơi các môn đệ, về sự ra đi của Đức Giê-su.

***
“Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14, 6).

Các môn đệ có tin lời Đức Giê-su tuyên phán? Thưa có. Niềm tin chính-Thầy-là-con-đường-là-sự-thật-và-là-sự-sống, đã “biến đổi tâm hồn (các môn đệ) thành một người mới, một người mới, “chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa.” (Cv 6,4).

Các môn đệ không chỉ phục vụ những công việc phần hồn, làm cho “Tại Giê-ru-sa-lem số các môn đệ tăng thêm rất nhiều, lại cũng có một đám rất đông các tư tế đón nhận đức tin” (Cv 6, 7), nhưng còn phục vụ những công việc phần xác, ngài tông đồ trưởng đã “chữa lành một người què từ khi lọt lòng mẹ… đi lại được” ngay tại “cửa Đền Thờ gọi là Cửa Đẹp” (x.Cv 3, 1-8).

Các môn đệ đã xác tín Đức Giê-su là con đường, là sự thật và là sự sống. Các môn đệ đã chọn Đức Giê-su là “con đường tình ta đi”.

Còn chúng ta? Vâng, câu trả lời là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, đừng quên, Đức Giê-su đã có lời khuyến cáo: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (x.15, 5).

Ví mình là cây nho, và chúng ta là cành, Đức Giê-su có lời khuyên rằng: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.

Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi. Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý. Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là: Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy.”

Thế nên, nếu chúng ta muốn tìm-cho-mình-một-con-đường, hãy tìm Đức Giê-su - Ngài là con đường. Con đường duy nhất dẫn đến Nước Trời.

Không có con đường nào khác đưa ta về Nước Trời. Không có con đường nào khác dẫn ta đến với Chúa Cha. Vâng, chúng ta cùng nghe lại lời Thầy Giê-su tuyên phán: “Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.”

Nếu chúng ta muốn tìm-cho-mình-một-lối-đi, hãy tìm Đức Giê-su - Ngài là sự thật và là sự sống.

Đức Giê-su là “sự thật.” Một sự thật mà không ai có thể phủ nhận. Trong bài giảng, một bài giảng mà hôm nay chúng ta quen gọi là “Bài giảng trên núi”, Ngài đã nói lên sự thật, (chúng ta có thể gọi đó là lẽ thật), và lẽ thật đó khiến cho ngày xưa cũng như ngày nay, ai nghe đến cũng phải sững sờ: “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng… Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết…”

Chính Đức Giê-su, với luật pháp của Thiên Chúa, đã đem đến cho nhân loại lẽ thật duy nhất cho sự công bình. Đức Giê-su nói rằng: “Thầy đến… là để kiện toàn” (Mt 5, 17).

Cuối cùng, Đức Giê-su “là sự sống”. Trong bài thuyết giảng về “Mục Tử nhân lành”, Đức Giê-su tuyên bố: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được. Nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy.”

****
Vâng, như vậy, chúng ta đã biết được rằng: Đức Giê-su – Ngài con đường duy nhất dẫn đến Nước Trời. Ngài là lẽ thật duy nhất cho việc thưc thi công bình. Ngài là nguồn gốc của sự sống thuộc thể lẫn thuộc linh.

Những gì Ngài đã làm cho các môn đệ xưa, thì nay Ngài cũng sẽ làm cho chúng ta.

Xưa, Ngài đã “xóa tan màn đêm u tối cho (các môn đệ) biến đổi tâm hồn (các ông) thành một người mới”, thì nay, Ngài cũng xóa tan những mệt mỏi và gánh nặng, thể xác lẫn tâm hồn của chúng ta.

Hãy nhớ! Ngài luôn mời gọi chúng ta: “Hỡi những ai mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho các con được yên nghỉ.”

Thế nên, nếu chúng ta có phải mệt mỏi và gánh nặng, bởi sự khủng hoảng kinh tế, bởi nạn thất nghiệp tràn lan, bởi những sự dữ mà Satan và con cái chúng gây ra, v.v… Đừng xao xuyến! Hãy đến cùng Giê-su. Bởi vì, Ngài đã hứa: “Dù khi con đi trong trũng bóng chết. Con sẽ chẳng sợ tai họa nào. Vì Chúa ở cùng con; Cây trượng và cây gậy của Chúa an ủi con.” (Tv 23, 4).

Đối diện trước cám dỗ của danh vọng, của tiền bạc, của quyền bính ư! Đừng xao xuyến! Hãy đến cùng Giê-su. Ngài sẽ cho chúng ta biết được lẽ thật, rằng: “Được cả thế gian mà mất linh hồn thì nào ích gì.”

Người xưa có nói: “All roads lead to Rome - Đường nào cũng về La Mã”. Đúng, thế gian là vậy. Là những con đường “đi ngang về tắt”, là những con đường chỉ dẫn đến thung lung âm u, nghi ngờ, chết chóc. Tránh xa chúng ra, thưa quý vị!

Với chúng ta, để “về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” thì chỉ có một con đường, một con đường mang tên Giê-su, mà thôi.

Thánh Lễ chính là nơi chúng ta sẽ tìm thấy con đường mang tên Giê-su. Trong Thánh Lễ, chúng ta sẽ tìm được “Sự Thật” qua những lời Kinh Thánh. Trong Thánh Lễ, chúng ta sẽ nhận được “Sự Sống” qua Bí Tích Thánh Thể.

Tìm thấy con đường mang tên Giê-su, tìm thấy sự thật, tìm thấy sự sống… Vâng, đó chính là tiền đề, để chúng ta có thể cất tiếng thưa với Chúa Giê-su, rằng: “Chúa ơi… tim con đã vui trở lại.”

Petrus.tran

SnTM 020526a


“Tìm một con đường tìm một lối đi. Ngày qua ngày… Đời nhiều vấn nghi. Lạc loài niềm tin sống không ngày mai. Sống quen không ai cần ai. Cứ vui cho trọn hôm nay. Rồi cuộc vui tàn, mọi nguời buớc đi. Một mình tôi về, nhiều lần uớt mi.”

Vâng, những dòng chữ nêu trên, là câu hát mở đầu rất quen thuộc trong bài hát “Và Con Tim Đã Vui Trở Lại” của nhạc sĩ Đức Huy.

Có thể nói rằng, những ca từ nêu trên, như một tâm sự buồn, tâm sự buồn của một người “đang đối mặt với một cuộc sống lạc lõng, hoang mang, nghi ngờ và mất phương hướng”.

Nhạc sĩ Đức Huy có mang tâm sự buồn, như những lời ông đã viết! Nhạc sĩ Đức Huy có tìm-cho-mình-một-con-đường-một-lối-đi! Nhạc sĩ Đức Huy có lạc-loài-niềm-tin! Con tim ông ta có-vui-trở-lại? Chúng ta không biết!

Nhưng… không ngại để nói rằng: ngày nay, không ít người (có thể có cả chúng ta), nặng trĩu những tâm sự buồn. Nhiều người (có thể có cả chúng ta), đang tìm-cho-mình-một-con-đường-một-lối-đi. Nhiều người (có thể có cả chúng ta), rất mong muốn “con tim mình vui trở lại”.

Tìm một con đường… Con đường đó ở đâu! Tìm một lối đi… Lối đi đó chỗ nào? Làm sao để con-tim-vui-trở-lại! Đó là những nan đề, không của riêng ai. Các môn đệ xưa, cũng không ngoại lệ.

** 
Câu chuyện được bắt đầu bằng một buổi chiều, một buổi chiều Đức Giê-su và các môn đệ cùng đồng bàn “trong một bữa ăn.” (Ga 13, 4) Đó là một bữa ăn của những tin tức xấu, những tin tức buồn, của nhiều vấn nghi và bối rối.

Làm sao các môn đệ không vấn nghi cho được, khi Đức Giê-su công bố: “Thật, Thầy bảo thật anh em: có một người trong anh em sẽ nộp Thầy”.

Làm sao các môn đệ không bối rối cho được, khi Đức Giê-su nói thẳng với Phê-rô, rằng: “gà chưa gáy, anh đã chối Thấy ba lần”!

Và quả đúng là một buổi chiều buồn lê thê, khi Thầy Giêsu tuyên bố: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi”.

Trong ba năm qua, các môn đệ đã bỏ hết mọi sự, nghề nghiệp, cuộc sống gia đình để theo Thầy Giêsu, với tất cả niềm tin và lòng phó thác.

Họ đã có một cuộc sống an tâm bên cạnh Ngài. Khi thiếu bánh ăn, Thầy Giêsu hóa bánh ra nhiều. Khi gặp phong ba bão táp, Thầy Giêsu giải cứu họ. Khi cần, Thầy Giêsu dạy dỗ họ… Thế mà hôm nay, Thầy Giêsu lại nói: “Nơi Thầy đi, bây giờ (các) anh không thể đến được”.

Phê-rô không ngần ngại bộc lộ ưu tư của mình, đã hỏi Đức Giê-su: “Thầy đi đâu? Sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được?”

Đức Giê-su đã xua tan những lo lắng và bối rối của ông qua những lời đàm đạo chân tình. Ngài không chỉ hé mở cho các môn đệ thấy nơi các ông sẽ đến, nhưng Ngài còn vẽ ra một “sinh lộ”, một “con đường” cho cuộc hành trình mà các ông sẽ phải đi qua.

Hôm ấy, Đức Giê-su đã thổ lộ với các ông rằng: “Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về lại với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.”

Đến Tô-ma, ông lúng túng hỏi: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao biết được đường”! Đức Giê-su đáp: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14, 6).
 
Không chỉ có Phê-rô và Tô-ma, ông Philipphê cũng không khỏi lo lắng và bối rối khi đặt một câu hỏi với Đức Giêsu “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện”.

Và ông ta đã mãn nguyện khi Đức Giêsu trả lời: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”. Và rằng “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy” (Ga 14,9…11).

Có thể nói, câu trả lời của Đức Giêsu như một gạnh nối, nối kết “Trời và Đất”. Nó đã phá vỡ sự ngăn cách giữa con người và Thiên Chúa, sự ngăn cách mà xưa kia nguyên tổ Adam và Eva đã gây ra. Và hơn nữa, nó đã xóa tan những ưu tư phiền muộn, những lo lắng và bối rối, nơi các môn đệ, về sự ra đi của Đức Giê-su.

***
“Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14, 6).

Các môn đệ có tin lời Đức Giê-su tuyên phán? Thưa có. Niềm tin chính-Thầy-là-con-đường-là-sự-thật-và-là-sự-sống, đã “biến đổi tâm hồn (các môn đệ) thành một người mới, một người mới, “chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa.” (Cv 6,4).

Các môn đệ không chỉ phục vụ những công việc phần hồn, làm cho “Tại Giê-ru-sa-lem số các môn đệ tăng thêm rất nhiều, lại cũng có một đám rất đông các tư tế đón nhận đức tin” (Cv 6, 7), nhưng còn phục vụ những công việc phần xác, ngài tông đồ trưởng đã “chữa lành một người què từ khi lọt lòng mẹ… đi lại được” ngay tại “cửa Đền Thờ gọi là Cửa Đẹp” (x.Cv 3, 1-8).

Các môn đệ đã xác tín Đức Giê-su là con đường, là sự thật và là sự sống. Các môn đệ đã chọn Đức Giê-su là “con đường tình ta đi”.

Còn chúng ta? Vâng, câu trả lời là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, đừng quên, Đức Giê-su đã có lời khuyến cáo: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (x.15, 5).

Ví mình là cây nho, và chúng ta là cành, Đức Giê-su có lời khuyên rằng: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.

Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi. Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý. Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là: Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy.”

Thế nên, nếu chúng ta muốn tìm-cho-mình-một-con-đường, hãy tìm Đức Giê-su - Ngài là con đường. Con đường duy nhất dẫn đến Nước Trời.

Không có con đường nào khác đưa ta về Nước Trời. Không có con đường nào khác dẫn ta đến với Chúa Cha. Vâng, chúng ta cùng nghe lại lời Thầy Giê-su tuyên phán: “Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.”

Nếu chúng ta muốn tìm-cho-mình-một-lối-đi, hãy tìm Đức Giê-su - Ngài là sự thật và là sự sống.

Đức Giê-su là “sự thật.” Một sự thật mà không ai có thể phủ nhận. Trong bài giảng, một bài giảng mà hôm nay chúng ta quen gọi là “Bài giảng trên núi”, Ngài đã nói lên sự thật, (chúng ta có thể gọi đó là lẽ thật), và lẽ thật đó khiến cho ngày xưa cũng như ngày nay, ai nghe đến cũng phải sững sờ: “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng… Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết…”

Chính Đức Giê-su, với luật pháp của Thiên Chúa, đã đem đến cho nhân loại lẽ thật duy nhất cho sự công bình. Đức Giê-su nói rằng: “Thầy đến… là để kiện toàn” (Mt 5, 17).

Cuối cùng, Đức Giê-su “là sự sống”. Trong bài thuyết giảng về “Mục Tử nhân lành”, Đức Giê-su tuyên bố: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được. Nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy.”

****
Vâng, như vậy, chúng ta đã biết được rằng: Đức Giê-su – Ngài con đường duy nhất dẫn đến Nước Trời. Ngài là lẽ thật duy nhất cho việc thưc thi công bình. Ngài là nguồn gốc của sự sống thuộc thể lẫn thuộc linh.

Những gì Ngài đã làm cho các môn đệ xưa, thì nay Ngài cũng sẽ làm cho chúng ta.

Xưa, Ngài đã “xóa tan màn đêm u tối cho (các môn đệ) biến đổi tâm hồn (các ông) thành một người mới”, thì nay, Ngài cũng xóa tan những mệt mỏi và gánh nặng, thể xác lẫn tâm hồn của chúng ta.

Hãy nhớ! Ngài luôn mời gọi chúng ta: “Hỡi những ai mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho các con được yên nghỉ.”

Thế nên, nếu chúng ta có phải mệt mỏi và gánh nặng, bởi sự khủng hoảng kinh tế, bởi nạn thất nghiệp tràn lan, bởi những sự dữ mà Satan và con cái chúng gây ra, v.v… Đừng xao xuyến! Hãy đến cùng Giê-su. Bởi vì, Ngài đã hứa: “Dù khi con đi trong trũng bóng chết. Con sẽ chẳng sợ tai họa nào. Vì Chúa ở cùng con; Cây trượng và cây gậy của Chúa an ủi con.” (Tv 23, 4).

Đối diện trước cám dỗ của danh vọng, của tiền bạc, của quyền bính ư! Đừng xao xuyến! Hãy đến cùng Giê-su. Ngài sẽ cho chúng ta biết được lẽ thật, rằng: “Được cả thế gian mà mất linh hồn thì nào ích gì.”

Người xưa có nói: “All roads lead to Rome - Đường nào cũng về La Mã”. Đúng, thế gian là vậy. Là những con đường “đi ngang về tắt”, là những con đường chỉ dẫn đến thung lung âm u, nghi ngờ, chết chóc. Tránh xa chúng ra, thưa quý vị!

Với chúng ta, để “về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” thì chỉ có một con đường, một con đường mang tên Giê-su, mà thôi.

Thánh Lễ chính là nơi chúng ta sẽ tìm thấy con đường mang tên Giê-su. Trong Thánh Lễ, chúng ta sẽ tìm được “Sự Thật” qua những lời Kinh Thánh. Trong Thánh Lễ, chúng ta sẽ nhận được “Sự Sống” qua Bí Tích Thánh Thể.

Tìm thấy con đường mang tên Giê-su, tìm thấy sự thật, tìm thấy sự sống… Vâng, đó chính là tiền đề, để chúng ta có thể cất tiếng thưa với Chúa Giê-su, rằng: “Chúa ơi… tim con đã vui trở lại.”

Petrus.tran

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

Giê-su… Chúa Chiên nhân từ...

 Chúa Nhật IV Phục Sinh – Năm A

Giê-su… Chúa Chiên nhân từ

SnTM 250426a

 
Con Chiên… Con Chiên là con gì? Bạn có từng được thấy? Vâng, dưới góc độ sinh vật học và thực tế trong chăn nuôi, chúng ta được biết, con chiên là con cừu non, thường là dưới một năm tuổi. Còn theo quan niệm tôn giáo (Công Giáo), con chiên là hình ảnh biểu tượng cho người tín hữu, người tin theo Chúa.

Gọi người tin theo Chúa là con chiên, vì con chiên trong Kinh Thánh được dùng làm biểu tượng cho những người hiền lành, đạo đức. Trong dụ ngôn về ngày phán xét, Chúa đã tách chiên ra khỏi dê. Chiên ở bên phải, dê ở bên trái. Ở bên phải sẽ đi đâu! Ở bên trái sẽ đi đâu! Chúng ta biết rồi…

Cho nên không lạ, khi người Công giáo rất tự hào vì mình là con chiên của Chúa. Và, như một hồng ân, Chúa Giê-su chính là người mục tử, người mục tử của những ai tin theo Ngài.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Vi, biểu lộ niềm vui trước hồng ân này, nên đã, ngón tay vuốt nhẹ phím đàn, miệng ông cất tiếng ca vang lời rằng: “Chúa là Mục Tử, Người dẫn lối chỉ đường cho con đi. Đi trong tay Chúa nào con thiếu chi con sợ chi? Cỏ tươi rợn đồng xanh con no thỏa không bao giờ thiếu nữa. Suối nước trường sinh con nghỉ uống no đầy.”

Vâng, Chúa Giê-su chính là mục tử. Trong những ngày còn tại thế, Chúa Giê-su, mỗi khi nhìn thấy đoàn dân đông đúc kéo đến, Ngài không khỏi chạnh lòng thương xót, lòng thương xót của một người mục tử, và đã gọi họ là “bầy chiên không người chăn dắt” (Mc 6,34).

Làm sao không chạnh lòng thương xót cho được, khi họ phải sống trong sự bất an trước ách thống trị của bạo quyền Roma. Đồng thời, họ còn phải oằn vai gánh nặng những luật lệ do “các kinh sư và Pharisieu” đặt ra hết sức phi lý.

Có phi lý không kia chứ! Quý ông kinh sư và Pharisieu chỉ biết “ngồi trên tòa Môse giảng dạy… rủ cho được một người theo đạo, nhưng khi họ theo rồi, lại làm cho họ đáng xuống hỏa ngục…”.

Có tệ không kia chứ! Quý ông kinh sư và Pharisieu đã chăn dắt con dân mình theo cung cách của những “kẻ cướp, kẻ trộm”. Thế nên, Đức Giê-su đã không ngại gọi họ là những kẻ “cướp bóc và ăn chơi vô độ.” Ngài xếp họ vào thành phần những “kẻ chăn thuê”. Còn dân chúng, Ngài nhìn họ “như những con chiên lạc của nhà Israel”.

Chính vì thế, một lần nọ, bất chấp những căng thẳng vốn đã xảy ra giữa Ngài và nhóm Pharisieu. Đức Giêsu thẳng thắn tuyên bố rằng: “Tôi là cửa cho chiên ra vào. Mọi kẻ đến trước tôi đều là tên trộm cướp; nhưng chiên đã không nghe họ. Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ. Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy.” (x.Ga 10, 7-10).

Cuối cùng, Ngài đưa ra một thông điệp, một thông điệp mạnh mẽ: “Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.”

**
“Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.”

Xưa kia, Đức Giê-su đã tuyên bố như thế, trước những người Pharisieu. Ngày nay, Ngài cũng vẫn khẳng định như thế, trước mỗi chúng ta.

Xưa kia, người Pharisieu không tin, không theo Đức Giê-su. Ngày nay, chúng ta tin và theo Đức Giê-su!

Vâng, câu trả lời là của riêng mỗi chúng ta. Thế nhưng, đừng quên, chỉ khi chúng ta đi-theo-sau-Ngài chúng ta mới có thể “ra vào và gặp được đồng cỏ”.

Ngoài việc gặp-được-đồng-cỏ, Đức Giê-su còn ban “ơn cứu độ” như lời Ngài đã tuyên phán: “Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu.”

Tất cả là hồng ân. Và hồng ân chỉ dành cho những ai “nghe tiếng của Chúa - nhận biết Chúa”.

Muốn nghe được tiếng của Chúa ư! Thánh Kinh… Thánh Kinh chính là nơi “tiếng của Chúa” nói. Muốn nhận biết Chúa ư! Thánh Lễ… Thánh Lễ là nơi chúng ta ”nhận biết Chúa”, một Chúa Giê-su ban cho chúng ta một thứ cỏ, không phải “cỏ dại” nhưng là một thứ cỏ đem đến “sự sống đời đời”. Nói rõ hơn, đó là Mình-Máu-Thánh-Chúa.

***
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ truyền thông hiện đại. Một trong những đặc tính của cuộc sống hôm nay là có quá nhiều tiếng gọi, có quá nhiều điều được rao giảng, được tuyên truyền trên trần gian này.

Thế nhưng, không phải tiếng gọi nào chúng ta cũng có thể đáp lời. Bởi có thể tiếng gọi đó của Satan, của cám dỗ, của sự dữ, của “kẻ chăn thuê”.

Không phải lời rao giảng nào chúng ta cũng nghe theo. Bởi có thể đó là lời rao giảng của “tà giáo – tà quyền”.

Không phải lời tuyên truyền nào cũng dẫn đưa đến một cuộc sống hạnh phúc. Bởi có thể đó là lời tuyên truyền láo khoét.

Đừng quên, tấm gương của nguyên tổ Adam và Eva. Chỉ vì đáp lại tiếng nói của Satan quyến rũ, rằng thì-là-mà “chẳng chết chóc gì đâu”, kết quả thật thê thảm, sau khi bước vào “cánh cửa mê hồn trận” của Satan, “hái trái cây mà ăn… họ thấy mình trần truồng”.

Kết quả… chúng ta cũng biết rồi… cái chết!

****
Chúa Nhật hôm nay (26/04/2026), theo truyền thống, chúng ta gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành. Vào Google, một trang mạng với chức năng tìm kiếm, đánh lên đó dòng chữ “Chúa Chiên Lành”, vâng, chúng ta sẽ thấy rất nhiều hình ảnh Đức Giêsu là một người thanh niên ẵm hoặc vác con chiên trên vai, muôn kiểu, muôn màu, muôn sắc.

Có một số người dị ứng với Ki-tô giáo, nên - qua hình ảnh đó - họ cho rằng, Đức Giê-su đã biến “con người” thành “con vật” khi gọi những người theo Ngài là “con chiên”.

Có thể nói rằng, những kẻ suy nghĩ như thế là những kẻ thiếu hiểu biết. Còn nếu họ biết nhưng lại vờ như không biết, thì họ chẳng khác nào có mắt như mù. Nói tắt một lời, họ chỉ là những kẻ thiếu lương thiện, mà thôi.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên nói: “Các tín hữu Công Giáo theo Chúa không phải để trở thành con chiên. Một người ngớ ngẩn và một người vô học cũng không nghĩ là một người theo đạo để trở thành con chiên. Con chiên là một hình ảnh để sánh ví nói lên sự hợp nhất của Giáo hội, có một chủ chăn và có rất nhiều tín hữu là con chiên.

Hình ảnh con chiên nói lên sức mạnh, sự hiệp nhất và gắn bó với chủ chiên. Chúng ta theo Chúa Giêsu là để được nên giống Chúa Giêsu, nên giống Chúa Giêsu hoàn toàn, không phải giống con chiên. Đó là lý tưởng và ơn gọi của chúng ta...” (source: internet).

Hình ảnh người mục tử và con chiên trên vai… đó chính là hình ảnh trong Cựu Ước thường dùng như là biểu tượng nói về lòng thương xót, sự chăm lo, bảo vệ và nâng đỡ của Thiên Chúa đối với con người.

Thiên Chúa (người mục tử) “đi trước và chiên đi theo sau” gợi cho chúng ta nhớ đến Thánh Vịnh thứ hai mươi ba: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ”.

Chỉ trong sáu câu ngắn ngủi (Tv 23, 1-6) thế mà, cũng đủ để mô tả toàn cảnh hình ảnh người mục tử nhân lành đầy quyền uy: “Dầu qua thung lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm”.

Nếu xưa kia, Israel thời Cựu Ước vui mừng đặt niềm tin vào Thiên Chúa qua hình ảnh như thế, thì hôm nay, niềm vui đó phải được nhân đôi, nhân đôi là vì chính Chúa Giêsu đã cất tiếng hòa theo nhịp điệu mừng vui đó, rằng: “Thật, tôi bảo thật: Tôi là cửa cho chiên ra vào”. (Ga 10, 7).

****
Chúa Giêsu là cửa… cửa cho chúng ta vào Thiên Đàng. Để vào Thiên Đàng, chúng ta sẽ phải đối diện với những thế lực ác tà, những thế lực ác tà dưới sự chỉ huy bởi ”quái thú Khải Huyền” (x.Kh 13, 18).

Nó là kẻ vô luật pháp và là kẻ chống Chúa. Sự nguy hiểm mà chúng ta sẽ phải đối mặt với nó, đó là, nó chính là ma quỷ đội lốt người.

Đội lốt người thì sao? Thưa, nó có thể là một ông thầy tu, một ông giáo sỹ… Và có thể hơn hơn thế nữa. Nó có thể “bô lô ba la” nói rằng: “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa”, nhưng lại “ngoảnh mặt làm ngơ bơ đi mà sống”, trước những thế lực ác tà, những thế lực gây ra biết bao tội ác, dưới gầm trời này.

Để chúng ta không mất đi niềm tin vào Mục Tử Giê-su. Để chúng ta không lạc lối vì những lời mê hoặc của quái-thú-Khải-Huyền, hãy nhìn Mục Tử Giê-su “như là cội rễ và cuối cùng của đức tin”.

Chúng ta phải tin, tin rằng: “Tôi biết Đấng tôi tin cậy, và tôi chắc chắn rằng Ngài có thể gìn giữ điều tôi đã tín thác Ngài, cho đến ngày Ngài trở lại” (2Tm 1, 12).

Mục Tử Giê-su sẽ trở lại. phần chúng ta, chúng ta hãy cùng nhạc sĩ Nguyễn Duy Vi cất tiếng ca vang, lời ca rằng: “Chúa Chiên nhân từ, Người dẫn con tới đồng nội. Này suối nước mát bóng, con tới uống thảnh thơi. Chúa ơi sướng vui trong tay Chúa, Người dẫn con đi. Đi giữa suối mát, cỏ xanh con thiếu gì.”

Hãy tín thác Mục Tử Giê-su. Người là Chúa Chiên nhân từ.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2026

Mời Chúa ở lại với chúng con

 Chúa Nhật III Phục Sinh – Năm A

Mời Chúa ở lại với chúng con

SnTM 180426a


“Đức Giê-su Ki-tô từ trong cõi chết, Ngài đã Phục Sinh. Sự kiện này là nền tảng cốt lõi của đức tin Kitô giáo, khẳng định Người là Con Thiên Chúa, Đấng đã chịu chết, được mai táng và sống lại ngày thứ ba theo Kinh Thánh.” (nguồn: internet).

Vâng, đó là trung tâm điểm đức tin Ki-tô giáo. Là một người Ki-tô hữu, mỗi thánh lễ vào ngày Chúa Nhật, chúng ta tuyên xưng, Đức Giê-su: “Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng ta, thời quan Phongxiô Philatô, Người chịu khổ hình và mai táng, ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh”.

Thế nhưng, với các môn đệ xưa thì không như thế. Chúa-Nhật-đầu-tiên, theo cách gọi của Kinh Thánh là “ngày thứ nhất trong tuần”, các ông mang tâm trạng lo lắng, sợ hãi, bồn chồn và hồi hộp.

Mang tâm trạng như thế, thế nên “Chúa Nhật” hôm đó, “nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái”.

Tuy Kinh Thánh không nói đến, nhưng chúng ta có thể nghĩ rằng, tâm hồn các môn đệ “…như lá úa trong cơn mê chiều, nhiều cơn gió cuốn xoáy xoay trong hồn và cơn đau này vẫn còn đây.” Riêng Tôma, ông đã bỏ các bạn đồng môn “đi lang thang… mang (nỗi) buồn đi bốn phương trời.”

Ngoài ông Tôma, còn có hai người, có lẽ thuộc nhóm bảy mươi hai môn đệ, cũng đi-lang-thang… cũng mang-nỗi-buồn-đi… nhưng không đi-bốn-phương-trời, mà là đi về quê “cắm câu”.

Đây là một câu chuyện, một câu chuyện “đầy cảm xúc về hai môn đệ gặp Đức Giê-su Phục Sinh, trên con đường về quê nhà”. Câu chuyện này được ghi trong Tin Mừng thánh Luca. (x.Lc 24, 13-35).

**
Tin Mừng thánh Luca ghi lại rằng: “Cùng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau.”

Hai người môn đệ này là ai? Thưa, thánh Luca cho biết: “một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát.” Như vậy, hai ông rất có thể thuộc nhóm bảy mươi hai, một nhóm đã được Đức Giê-su “chọn thêm”, chọn thêm để “sai các ông cứ từng hai người đi trước Người, đến các thành và các nơi mà chính Người sẽ tới.”

Nhóm bảy mươi hai đã được sai đi với lời dặn dò rằng, hãy nói cho mọi người biết: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần” (Lc 10, 9).

Triều-Đại-Thiên-Chúa-đã-đến-gần là một ước mơ lớn đối với các ông. Các ông từng ước mơ rằng, Thầy Giê-su sẽ xây dựng một Triều Đại Mới, một Triều Đại sẽ đem lại cho Israel, cho gia đình, cho mọi người thoát khỏi ách thống trị của đế quốc Roma.

Vì thế, ba năm theo Thầy Giê-su cũng là ba năm các ông mong đợi cho “Triều Đại” ấy mau đến. Hy vọng một khi Triều-Đại-Thầy đến, tệ lắm các ông cũng được một chức vụ gì đó trong Triều Đại của Thầy mình.

Thật đáng tiếc! Sự việc lại không như mong muốn. Thê thảm quá! Thật không thể hiểu nổi, một người đầy quyền năng như “sư phụ”, cho người chết sống lại, thế mà lại bị giết chết bởi các thượng tế và kinh sư, chỉ là lũ phàm nhân.

Bước qua ngày thứ ba rồi. Ngày Thầy Giê-su sẽ sống lại, như lời Thầy tuyên bố, sao chưa thấy ứng nghiệm! Thế là “mộng vàng tan mây”!

Mang tâm trạng “chẳng còn chi… chẳng còn chi… ngoài con tim héo”, hai người môn đệ, với “vẻ mặt buồn rầu”, với trái tim khắc khoải sầu thương “về những sự việc vừa mới xảy ra” cho Thầy Giêsu, hai ông “nhọc nhằn lê gót chân buồn” đi về Emmau. Con đường chỉ “chừng mười một cây số”, nhưng hai ông vẫn cảm thấy “như (sao) đường về quá xa.”

Đang chìm trong tâm trạng “nhớ nhớ buồn buồn với chán chường”, thì bất ngờ Đức Giê-su xuất hiện. Ngài “tiến đến gần và cùng đi với các ông” (Lc 24, 15).

“Chính Đức Giêsu”, thế mà các ông “không nhận ra Người”. Thôi kệ! Cũng chẳng sao! Thêm người thêm vui. Thế là, đường về Em-mau, bây giờ người ta thấy có ba người.

Ba người, thì “một người đi với một người”, còn người kia, người kia “đi với nụ cười hắt hiu.” Ai cười hắt hiu? Thưa, ông Cơ-lê-ô-pát. Hôm ấy, sau khi Đức Giê-su hỏi hai ông: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau chuyện gì vậy?” Chuyện kể rằng: “Họ dừng lại vẻ mặt buồn rầu.”

Với vẻ mặt buồn rầu, ông Cơ-lê-ô-pát trả lời: “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” – Đức Giê-su hỏi: “Chuyện gì vậy?”

Như có lời nói: “Nỗi buồn càng dấu kín càng thêm buồn khổ”. Nay có ông bạn đồng hành muốn nghe nỗi buồn của mình, cớ sao không nói ra!

Thế là các ông nói: “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình và đã đóng đinh Người vào thập giá.” Ông-không-biết-sao?!

“Phần chúng tôi…” Cơ-lê-ô-pát với ánh mắt buồn-hiu-hắt-buồn, nói tiếp: “…trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi.”

Nhìn “ông bạn đường” không hẹn mà gặp, Cơ-lê-ô-pát tiếp tục kể lể: “Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra và bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói, còn chính Người thì họ không thấy.”

Thấu hiểu nỗi buồn, thất vọng, nghi nan của hai môn đệ, Đức Giê-su cất tiếng nói: “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ! Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?”.

Để cho hai môn đệ không còn chìm trong tâm trạng “nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt”, Đức Giê-su “bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.”

Hôm ấy, khi gần tới làng hai môn đệ muốn đến, chuyện kể rằng: “Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa.” Thấy thế, hai môn đệ “nài ép Người” ở lại với họ. Họ nói: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn.”

Đức Giê-su đã ở lại với họ. Và rồi, khi đồng bàn với hai môn đệ, “Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người”. Tiếc thay! Đức Giê-su, sau đó “Người lại biến mất”.

Sau vài giây phút “ra ngẩn vào ngơ”, hai môn đệ thì thầm với nhau: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?”

Thế là, ngay lập tức, hai ông “quay trở lại Giê-ru-sa-lem gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó.”
Nhóm Mười Một cho biết: “Chúa trỗi dậy thật rồi và đã hiện ra cho ông Si-môn.” Còn hai người môn đệ, họ “thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh” (x.Lc 24, 35).

***
Chúng ta vừa nghe lại câu chuyện “Đức Giê-su hiện ra với hai môn đệ trên đường Em-mau”. Vâng, đọc lại câu chuyện này, nói không sợ sai, đó là một câu chuyện vẫn còn tính thời sự đối với mỗi chúng ta, hôm nay.

Vẫn-còn-tính-thời-sự là bởi, cuộc đời mỗi chúng ta đang sống, đường đời mỗi chúng ta đang đi, “không phải lúc nào cũng chỉ có niềm vui, còn có cả sương mù và giá lạnh.” (Louis Evely).

Sẽ có lúc “sương mù” phủ kín đời ta. Sương mù đó, có thể là sự mất mát một người cha, một người mẹ, hay có thể là “một người em gái tôi thương”.

Sẽ có lúc “giá lạnh” hủy diệt hồn ta. Giá lạnh đó, có thể là, mới “Chiều hôm nao tiếng hát bay cao. Quỳ bên nhau trước Đấng Tối Cao. Hứa yêu nhau trao câu thề chung sống trọn đời”, nhưng chỉ vì một thoáng “đời buồn vui”, thế là “người ta lại bỏ con rồi, Chúa ơi!”

Sương mù và giá lạnh đó, còn có thể là một cơn hoạn nạn bởi thiên tai, một căn bệnh hiểm nghèo, một rủi ro trong kinh doanh, một thất bại trên tình trường.

Rất… rất nhiều sương mù và giá lạnh vây quanh cuộc đời ta, đeo bám suốt con đường đời ta đi.

Chúng ta sẽ làm gì? Chúng ta sẽ mang những nỗi buồn đó, những thất vọng đó, trên đôi vai mình “nhọc nhằn lê gót chân buồn đường dài!” Hay chúng ta sẽ trải lòng ra với Đức Giê-su!

Hai môn đệ trên đường Emmau, họ không dấu kín nỗi buồn, không chôn những thất vọng, trong tâm hồn mình. Họ trải lòng ra với Đức Giêsu. Và hơn hết, họ cùng đồng bàn với Ngài.

Với chúng ta hôm nay, cũng phải như thế! Sát thực nhất, đó là hãy đi đến nhà thờ, một con đường Em-mau mới, để “trò chuyện và bàn tán” với Đức Giê-su, để trải lòng ra với Ngài.

Đến nhà thờ, vị Linh Mục như là hiện thân của Đức Giêsu Phục Sinh, ngài sẽ “giải thích Kinh Thánh” cho chúng ta nghe, qua bài giảng trong Thánh lễ. Đừng quên, lòng-hai-môn-đệ-đã-bừng-cháy-lên sau khi hai ông đã được nghe Đức Giêsu Phục Sinh “nói chuyện và giải thích Kinh Thánh”.

Đến nhà thờ, nơi đó, chúng ta có thể nhận ra Đức Giê-su qua Bàn Tiệc Thánh Thể, một “Bàn Tiệc” kiện toàn cho đức tin, đức cậy và đức mến. Hãy nhớ rằng, nhờ bàn tiệc đó, hai môn đệ trên đường Emmau “đã nhận ra Chúa thể nào khi Người bẻ bánh” (Lc 24,…35).

Thưa quý vị, giữa cuộc đời này, có ai mà không từng rơi lệ! Có ai mà không một lần nức nở thở than: “Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau”! Có ai mà không hơn một lần: “Khóc lẻ loi một mình”!

Đừng thất vọng! Chúa Giê-su của làng Emmau vẫn đang đồng hành với chúng ta. Có Ngài “tiến bước theo ngay bên”, cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên tốt lành.

Muốn được vậy, chúng ta hãy lớn tiếng nguyện cầu, lời nguyện rằng: “Mời ông ở lại với chúng tôi”. (Lc 24, 29).
Vâng, chúng ta hãy cầu nguyện rằng: Mời Chúa ở lại với chúng con.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2026

Thánh lễ… nơi Chúa Phục Sinh gặp ta

 Chúa Nhật II Phục Sinh – Năm A

Thánh lễ… nơi Chúa Phục Sinh gặp ta

SnTM 110426a


“Chúa hóa nên người vì thương chúng ta, sống kiếp con người lam lũ hy sinh. Chiến thắng khải hoàn quyền uy cõi chết Thiên Chúa chúng ta Phục sinh.

ÐK: Cùng nhau ta hát khúc hát Chúa đã sống lại vui thay! Người ơi reo lên tiếng ca Phục sinh Allêluia. Ðồng thanh ta hát khúc hát Chúa đã Phục sinh quang vinh, Chúa ta thương ta Người đã hiển vinh.”

Những dòng chữ trên đây, là một phần trích đoạn trong bài thánh ca mang tên CHÚA SỐNG LẠI RỒI. Tác giả là Lm Thành Tâm.

“Chúa đã sống lại vui thay! Chúa đã Phục sinh quang vinh”. Vâng, đó là trung tâm điểm đức tin Ki-tô giáo. Là một người Ki-tô hữu, chúng ta tuyên xưng, Đức Giê-su: “Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng ta, thời quan Phongxiô Philatô, Người chịu khổ hình và mai táng, ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh”.

Niềm tin Chúa-đã-Phục-Sinh không phải do Giáo Hội tự bịa đặt ra. Nhưng là do các thánh tông đồ truyền dạy. Các ngài đã truyền dạy rằng: “Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước, Đức Giê-su đã bị nộp… kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết.” (x.Cv 2, 23-24).

Hôm nay, dù không được chứng kiến tận mắt, được chạm tận tay, được nghe chính con người thật của Đức Giê-su, sau khi Ngài sống lại, nhưng chúng ta vẫn tin một cách đơn sơ, chân thành.

Chúng ta vẫn tin, bởi vì Đức Giê-su Phục Sinh đã có lời truyền dạy: “Phúc thay những người không thấy mà tin” (Ga 20, …29).

Lời truyền dạy này, đã được Ngài truyền dạy cho tông đồ Tôma, vì ông không tin sự kiện “Người đã sống lại thật”, khi tất cả các môn đệ đều xác quyết rằng, “chúng tôi đã được thấy Chúa”, năm xưa.

Vâng, câu chuyện này đã được ghi lại trong Tin Mừng Thánh Gio-an. (x.Ga 20, 19-31).

**
Tin Mừng thánh Gio-an thuật lại, rằng: “Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái.” (Ga 20, 19).

Sợ-người-Do-Thái là sợ cái gì? Thưa, thánh sử Gio-an không nói lý do. Nhưng, chúng ta có thể suy đoán rằng, các môn đệ sợ là bởi, “người Do Thái”, đại diện là nhóm thượng tế và các kỳ mục, đã nham hiểm cho đám lính canh mộ Đức Giê-su một số tiền lớn và bảo họ tung tin đồn rằng, vào ban đêm “các môn đệ của ông Giê-su đã đến lấy trộm xác” (Mt 28, 13).

Trong 613 điều luật của Do Thái giáo, có hai điều liên quan đến xác chết. Điều 224. Không đến gần xác chết. Và điều 225. Không tiếp xúc với người chết. (nguồn: internet). Thế nên, tội trộm xác, chết chắc!

Lo sợ là thế. Thế mà, chiều hôm ấy, nơi các ông ở, lại xảy ra chuyện “người chết trở về”. Vâng, Đức Giê-su trở về với các ông. Thế nhưng, Ngài không trở về trong chiếc “poncho buồn liệm kín hồn anh”, nhưng bằng một thân xác Phục Sinh từ cõi chết.

Chuyện kể rằng: “Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông…” Thầy Giêsu đó ư! Đúng. Chính Đức Giêsu chứ không là ai khác. Trong giây phút lịch sử đầy linh thiêng đó, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Bình an cho anh em. Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn.”

“Và con tim đã vui trở lại”. Vâng, hôm đó, “mười con tim” của các ông “đã vui trở lại”. Các ông đã không còn “lạc loài niềm tin, sống không ngày mai.”

Các ông đã… đã được Đức Giê-su, “biến đổi tâm hồn thành một người mới”, qua việc “thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”
 
Thật đáng tiếc! Tông đồ Tôma, hôm đó không có mặt. Do vậy, ông đã không tin sự kiện “Người đã sống lại thật”, mặc cho tất cả các môn đệ đều xác quyết rằng, “chúng tôi đã được thấy Chúa”.

Không tin, bởi ông Tô-ma cho rằng: “Bách văn bất như nhất kiến - Trăm nghe không bằng một thấy”. Và ông đã lớn tiếng nói với các bạn đồng môn của mình, rằng “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20, 25).

Thế rồi, tám ngày sau. “Khi các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả Tô-ma ở đó với các ông.” Cũng giống như lần trước, mặc cho “Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: ‘Bình an cho anh em’. Rồi Người bảo ông Tô-ma rằng, Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” (Ga 20, 27).

Nhìn Thầy Giê-su, một Giê-su bằng xương bằng thịt, với tất cả dấu tích của cuộc khổ hình, sự hồ nghi đã biến khỏi tâm hồn của Tôma, thay vào đó là một tâm hồn tan vỡ, một tâm hồn mở ra, xác tín niềm tin của mình rằng, Đức Giê-su đã Phục Sinh, với lời tuyên xưng thống thiết: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (Ga 20, 28).

Hôm ấy, sau khi nghe Tô-ma tuyên xưng, Đức Giê-su nói: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin”.

***
“Vì đã thấy Thầy, nên anh tin”. Phải chăng đây là lời Đức Giêsu trách cứ Tôma? Thực ra, nếu phải trách cứ, Đức Giê-su có rất nhiều điều để mà trách cứ, không chỉ Tô-ma, mà luôn cả nhóm mười người còn lại.

Niên trưởng Phê-rô, với ba lần chối Thầy không đáng trách sao!

Còn Giacôbê, “con của sấm sét”… khi Thầy nói “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống?”, rõ ràng anh đã trả lời “Thưa được”. Sao lúc Thầy bị bắt, anh lại “chém vè”!

Chín anh còn lại, sao không chạy đến, mỗi người tay đỡ tay nâng, phụ vác thập giá cho Thầy! Sao lại để cho một anh “ngoại đạo” tên là Simon xứ Kyrene làm công việc đó!

Không! Đức Giêsu Phục Sinh và hiện đến không phải để “tính sổ” các ông. Càng không phải để trách móc những yếu đuối của các môn đệ.

Đức Giêsu Phục Sinh và hiện đến là để chứng tỏ cho các ông biết rằng, Ngài đã chiến thắng sự chết, như lời Ngài đã phán rằng “Ngày thứ ba Người sẽ chỗi dậy”.

 Đức Giê-su Phục Sinh và hiện đến còn là để biểu lộ lòng xót thương qua việc “Ban Bình An” cho các ông. Một thứ bình an không theo kiểu thế gian ban cho. Một thứ bình an chỉ thật sự bình an “nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20,…31).

Còn sự hoài nghi của Tô-ma ư! Thưa, Tôma muốn được dùng chính “thị giác” hơn là “thính giác” để biểu lộ lòng tin của mình thì có gì là đáng trách!

Vâng, có gì phải đáng trách chứ! Chính việc tông đồ Tôma có nhu cầu “nhìn sự thật” hơn là “nghe sự thật”, nên nhờ đó Đức Giêsu ưu ái tặng cho các môn đệ và cũng là cho chúng ta hôm nay, thêm một lời chúc phúc: “Phúc thay những người không thấy mà tin” (Ga 20, …29).

****
Chúa Giê-su đã sống lại. Chúa Giê-su đã Phục sinh. Ngài không quá thiên vị, Ngài vẫn hiện đến với chúng ta, mỗi ngày, mỗi tuần, trong thánh lễ.

Chúng ta sẽ được nghe tiếng Ngài nói, qua phần Phụng Vụ Lời Chúa. Chúng ta sẽ được nghe Đức Giê-su truyền đạt những lời nhắn nhủ, như Ngài đã nhắn nhủ các môn đệ năm xưa, rằng: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Và rằng: “Hỡi những ai mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng Ta. Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.”

Chúng ta sẽ được thấy, được chạm, được “đặt bàn tay vào cạnh sườn Người”, nơi Bàn Tiệc Thánh Thể. Nơi bàn Tiệc-Thánh-Thể, qua các vị linh mục, chúng ta sẽ được Đức Giê-su chúc phúc, lời chúc rằng: “Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa”. Nơi Bàn Tiệc Thánh Thể. “Mình và Máu Chúa Phục Sinh - Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết” sẽ đem lại cho chúng ta “sự sống đời đời”.

Thế nên, chúng ta hãy siêng năng tham dự thánh lễ. Vì đó là một “ngày đại hội”, Lm Charles E. Miller có lời dạy, như thế. Và, ngài có lời khuyên nhủ: “Anh chị em không được vắng mặt tại ngày đại hội này, như tông đồ Tô-ma tại buổi họp đầu tiên của các môn đệ”.

Nói, theo cách nói hôm nay, đó là: chúng ta đừng vắng mặt nơi Bàn Tiệc Thánh vào những ngày Chúa Nhật, mỗi tuần.

Một hình ảnh mẫu mực, mà chúng ta cần noi theo, để được gặp Đức Giê-su Phục Sinh và nhận được sự “Bình An trong Chúa” đó chính là hình ảnh cộng đoàn tiên khởi “luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2, 42).

Nói tắt một lời… Thánh lễ là nơi Chúa Phục Sinh gặp ta.

Petrus.tran

Chúa ơi! hãy sai con đi...

  Chúa Nhật Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống Chúa ơi! hãy sai con đi Như chúng ta được biết, vào đêm trước ngày hy sinh trên thập tự giá, Đức G...