Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2026

Hãy nhìn… Đấng diệt cả hồn lẫn xác…

 Chúa Nhật XII – TN – A

Hãy nhìn… Đấng diệt cả hồn lẫn xác…

SnTM 200626b


Sợ… hay sợ hãi là gì? Thưa, “là một cảm xúc nguyên thủy tự nhiên của con người, đóng vai trò như một cơ chế sinh tồn thiết yếu. Phản ứng này giúp cơ thể nhận thức được mối đe dọa hoặc nguy hiểm và đưa ra quyết định đối phó hoặc bỏ chạy.” (nguồn: internet).

Nói rằng “là một cảm xúc nguyên thủy tự nhiên của con người”, không sai. Nói rằng “phản ứng này giúp cơ thể nhận thức được mối đe dọa hoặc nguy hiểm và đưa ra quyết định đối phó hoặc bỏ chạy” cũng không sai. Nguyên tổ Adam và Eva như một minh chứng cho định nghĩa này.

Theo Kinh Thánh ghi lại, trước lời mời mọc quá hấp dẫn của satan: “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác”, Adam và Eva không thể cưỡng lại, đã ăn. Hậu quả, “họ thấy mình trần truồng… họ trốn chạy… họ sợ hãi” (x.St 3, 1-10).

Như tội tổ tông, sự sợ hãi cũng là ác mộng không của riêng ai. Có mối sợ hãi khiến ta thẫn thờ, bất động. Ví dụ như sợ ma. Có mối sợ hãi làm cho ta hoảng loạn. Ví dụ như chiến tranh, thiên tai v.v…

Là người Công Giáo, có một mối sợ hãi khiến ta có thể “không dám suy nghĩ và hành động đúng theo niềm xác tín Công Giáo của mình”. Đó là sự bách hại.

Đây là mối sợ hãi đặc biệt thường do từ sự đe dọa. Sự đe dọa bởi một ai đó, bởi một thể chế nào đó, bởi một thế lực nào đó v.v…
 
Đức Giê-su rất quan tâm đến mối sợ hãi này. Trong những ngày ra đi rao giảng Tin Mừng, Ngài và Nhóm Mười Hai vẫn thường phải đối diện với nhiều sự đe dọa. Những sự đe dọa này, thường xuất phát từ giới thần quyền Do Thái. Đó là quý ông Phariseu, kinh sư, biệt phái.

Với Đức Giê-su, Ngài chưa một lần tỏ ra sợ hãi. Nhưng, với Nhóm Mười Hai… Có, có vấn đề! Thế nên, Đức Giê-su đã có những lời chỉ dạy thiết thực, hầu đem lại cho các ông niềm xác tín vững mạnh vào sứ vụ trong một tương lai mà các ông sẽ thực hiện. Những lời chỉ dạy này, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mát-thêu.

**
Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại, thì: Sau khi Đức Giê-su tiên báo những cuộc bách hại sẽ xảy ra, Ngài đã có những lời chỉ dạy cho các môn đệ của mình, rằng: “Anh em đừng sợ người ta.”

Đức Giê-su bảo đừng-sợ-người-ta” là bởi, những con người đó chỉ là phàm nhân. Là phàm nhân, giỏi lắm họ chỉ “giết được thân xác mà không giết được linh hồn”.

Nếu có sợ… Vâng, hôm ấy, Đức Giê-su nói: “Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục”.

Đấng-có-thể-tiêu-diệt cả-hồn-lẫn-xác trong-hỏa-ngục, là ai! Thưa, đó chính là Thiên Chúa.

Nhìn các môn đệ, Đức Giê-su nói tiếp: “Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi”. (x.Mt 10, 29-30).

Sau đó, Ngài cho các ông một lời khuyên: “Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ”.

***
Trên đây là những lời chỉ dạy của Đức Giê-su dành cho các môn đệ. Và các ông đã tuân giữ lời chỉ dạy của Ngài.

Chuyện kể rằng, một ngày nọ các môn đệ “đang đứng trong Đền Thờ và giảng dạy cho dân”. Hôm ấy, các ông đã giảng Tin Mừng Đức Kitô phục sinh.

Nguồn tin này lọt đến tai Thượng Hội Đồng. Lập tức, họ sai lãnh binh Đền Thờ cùng nhóm thuộc hạ đi bắt.

Bắt được, lãnh binh Đền Thờ điệu các ông đến Thượng Hội Đồng. Vị thượng tế hỏi các ông: “Chúng tôi đã nghiêm cấm các ông không được giảng dạy danh ấy nữa, thế mà các ông đã làm cho Giê-ru-sa-lem ngập đầy giáo lý của các ông, lại còn muốn cho máu người ấy đổ trên đầu chúng tôi.”

Nghe thế, các môn đệ phản ứng thế nào! Thưa, các ông đáp lại: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm…”

Ngôn sứ Giê-rê-mi, được mênh danh là “Người của Thiên Chúa”, thấu hiểu điều này, bởi ông cũng từng bị nhạo báng, bị sỉ nhục và chế giễu.

“Nhưng…” ông nói: “…ĐỨC CHÚA hằng ở bên con như một trang chiến sĩ oai hùng. Vì thế những kẻ từng hại con sẽ thất điên bát đảo, sẽ không thắng nổi con. Chúng sẽ phải thất bại, và nhục nhã ê chề: đó là một nỗi nhục muôn đời không thể quên.” (x.Gr 20, 11).

Khi có ĐỨC CHÚA hằng-ở-bên, dù chưa bao giờ nghe Chúa Giê-su tuyên phán: “Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày, và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng…”, nhưng ông biết… Giê-rê-mi biết sấm ngôn của ĐỨC CHÚA phải “nói ra giữa ban ngày”.

Chuyện được kể lại rằng: “Giê-rê-mi bị những kẻ chống lại ông buộc phải lên đường trốn sang Ai Cập. Theo truyền thuyết, ông bị một số đồng bào của mình giết hại tại đó.”

Lm Charles E.Miller, suy tư vụ thảm sát của Giê-rê-mi, có lời chia sẻ rằng: “Những con người độc ác (những kẻ giết ông) không được ai nhắc nhở, nhưng với Giê-rê-mi thì ngược lại. Ông vẫn tồn tại không chỉ trong các trang Sách Thánh, mà còn trên Thiên Đàng với Chúa Giê-su, Đấng Mesia mà ông chưa từng biết tới trên cõi đời này, nhưng luôn giữ một lòng trung tín với Người tuy không hề nhận biết.”

Nói tắt một lời, Giê-rê-mi: vâng-lời-Thiên-Chúa hơn-vâng-lời-người-phàm.
 
****
Là người Công Giáo, có phần chắc, chúng ta nhận biết Chúa Giê-su. Có phần chắc, chúng ta đã được nghe những lời chỉ dạy thiết thực (nêu trên), của Ngài.

Hãy xem những lời chỉ dạy này, như chiếc kim- chỉ-nam cho cuộc hành trình về Thiên Quốc, của chúng ta. Bởi, chiếc kim-chỉ-nam này, chính là bửu bối, đem lại cho chúng ta sức mạnh kỳ diệu, sức mạnh của một Thiên Chúa “có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục”.

Phải mang trong mình chiếc kim-chỉ-nam này. Có như thế, chúng ta mới có thể chiến thắng trước những sự đe dọa của Satan, thông qua “những trào lưu nguy hiểm” đầy dẫy trong xã hội, hôm nay.

Mang trong mình chiếc kim-chỉ-nam này, chúng ta không ngại khi bị “chụp cho một cái mũ vi phạm nữ quyền” vì mình quá nhấn mạnh “phá thai là một tội ác không sao tả xiết”.

Mang trong mình chiếc kim-chỉ-nam này, chúng ta không ngại khi những người tôn thờ “chủ nghĩa cá nhân” nhìn chúng ta bằng cặp mắt hình “viên đạn đồng đen” vì chúng ta “cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc” v.v…

Mang trong mình chiếc kim-chỉ-nam này, chúng ta vẫn có thể tự tin “ngước mặt nhìn đời”, mặc thế gian “chê bai và ganh ghét”, chê-bai-và-ganh-ghét vì chúng ta rao giảng những lời giáo huấn mà Đức Giê-su Ki-tô đã truyền dạy, năm xưa.

Chúng ta đang sống trong thời kỳ cuối cùng. Thời kỳ “Có nhiều kẻ sẽ mạo danh Thầy đến, nói rằng: Chính Ta đây! Và họ sẽ lừa gạt được nhiều người”. (Mc 13, 6).

Có nhiều rồi đấy, thưa quý vị! Đã có người nói: “Tui là thư ký của Chúa”. Tin không! Đừng tin. Đừng tin, vì nó chính là “đệ ruột” của Satan, đội lốt người.

Đây là lúc chúng ta cần sự khôn ngoan. Sự khôn ngoan đích thực, đó là chúng ta hãy “nhìn xem Đức Giê-su như là cội rễ và cuối cùng của đức tin” (Dt 12, 2).

Nói cách khác, chúng ta “Hãy nhìn… Đấng diệt cả hồn lẫn xác”, xem đó như là cội rễ và cuối cùng đức tin của chúng ta.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

Lạy Chúa! Xin Ngài sai con.

 Chúa Nhật XI – TN – A

Lạy Chúa! Xin Ngài sai con

SnTM 130626a


Theo lịch sử Giáo Hội, chúng ta được biết, Đạo Công Giáo đã hiện diện trên thế giới này hơn hai ngàn năm. Và theo thống kê mới nhất (năm 2025) trên toàn thế giới có 1 tỷ 406 triệu tín hữu Công Giáo.

Đó là một con số không nhiều, không ít. Không nhiều, vì nó chỉ chiếm khoảng 17,8% dân số toàn cầu. Không ít, vì so với “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” nó chỉ vọn vẹn có mười hai người, thêm dăm-ba-bà-đạo đức, vài quý ông nhận ra Đức Giêsu “là một vị tôn sư được Thiên Chúa tuyển chọn” như Nicôđimô… là cùng!

Vâng, lúc khởi đầu, chỉ là mười hai. Mười hai người này đã được Đức Giê-su tuyển chọn và được gọi là Tông Đồ.

**
Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại: “Tên của nhóm mười hai Tông Đồ: đứng đầu là ông Si-mon, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông. Sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông. Ông Phi-lip-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô, ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế, ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô, ông Si-mon thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là chính kẻ nộp Người.”

Chỉ là mười hai Tông Đồ. Họ đã được Đức Giê-su sai đi. Họ đã được Ngài ban cho “quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền”, cùng với lời chỉ thị, rằng: “Anh em đừng đi về phía các dân ngoại, cũng đừng vào các thành nào của dân Sa-ma-ri. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en.”
Đây không phải là sự kỳ thị. Vào thời kỳ đó, người Do Thái không được giao thiệp với người Samari. Theo Tin Mừng thánh Luca cho biết, đã có “một làng Samari không đón tiếp Đức Giê-su” (x.Lc 9, 51).

Nói các ông hãy-đến-với các-con-chiên-lạc-nhà It-ra-en là bởi, Đức Giê-su thấy họ “lầm than vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt.”

Suy gẫm lời Đức Giê-su nói, Cha Charles E.Miller có lời chia sẻ: “Đây là cách Đức Giê-su bộc lộ một trái tim nhân bản trọn vẹn tròn đầy tình yêu của Thiên Chúa”.

Mà, đúng là vậy. Hồi ấy, Đức Giê-su đã chỉ thị cho nhóm mười hai tông đồ: “Hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần… Hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ.”

Và, cuối cùng Ngài khuyến cáo: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.”

***
Trước khi sai nhóm mười hai, Đức Giê-su đã nói với các ông rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.”

Nhắc lại lời nói này để làm gì? Thưa, để chúng ta tự hỏi mình rằng: Phải chăng, đây cũng là lời Đức Giê-su nói với chúng ta, hôm nay? Đúng vậy, cũng là lời Ngài nói với chúng ta, hôm nay.

Là chúng ta, bởi chúng ta cũng là môn đệ của Ngài. Vì thế, chúng ta cũng phải “xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”. Chúng ta cũng phải tiếp bước như các môn đệ xưa “đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”.

Xưa, các môn đệ được chỉ thị: “Hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần…”

Nay, chúng ta hãy rao giảng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời… Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,13-17).

Xưa, các môn đệ được chỉ thị: hãy-đến-với các-con-chiên-lạc nhà-It-ra-en.

Nay… Chúng ta hãy…

Hãy đến với những ai đang “rong ruổi đường đường gió bụi… gánh sầu thương mệt mỏi hai vai.” Nói với họ… “Về đây nấp bóng Sao Mai. Về đây quên lãng những ngày truân chuyên.”

Hãy đến với những ai “…Thiếu vỗ về người Mẹ. Tháng ngày trôi lặng lẽ cô liêu.” Nói với họ… “Về đây Mẹ sẽ thương yêu. Về đây Mẹ sẽ ban nhiều ơn thiêng.”

Hãy đến với những ai “Đang mê mải tìm hoan lạc. Những ngày đêm thổn thức băn khoăn.” Nói với họ… “Về đây ngỏ hết tâm can. Về đây Mẹ có muôn ngàn yêu thương.”

Hãy đến với những ai đang “Sống mãi trong do dự. Kiếp trần gian lữ thứ đau thương.” Nói với họ… “Về đây nấp bóng Trinh Vương. Về đây hưởng phúc thiên đàng yên vui.”

Khi chúng ta, đến với những ai rơi vào những hoàn cảnh nêu trên. Nói với họ, về những điều tốt lành như thế. Chúng ta chẳng khác gì một vị lương y, một vị lương y kê cho họ một toa thuốc “chữa lành”.

Làm như thế, chúng ta mới thực sự là đã thực thi lời Đức Giê-su chỉ thị: “Hãy chữa lành người đau yếu...”

Nói cách khác, làm như thế, chúng ta kéo họ ra khỏi thảm họa “ma đưa lối, quỷ dẫn đường”, một thảm họa sẽ dẫn họ đến “thung lũng âm u, nghi ngờ và chết chóc”.

***
Đừng nhát đảm nghĩ rằng, chúng ta không thể thực thi lời Đức Giê-su chỉ thị. Mọi sự đều có thể… có thể nếu chúng ta giàu lòng thương xót, như Đức Giê-su - Đấng giàu lòng thương xót.

Đức Giê-su không loại trừ bất kỳ ai. Ngài luôn sẵn sàng đón nhận những tâm hồn đau khổ và mời gọi con người sám hối để được chữa lành. Ngài đã có lời truyền dạy: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15, 13).

Đức Giê-su đã thực sự “hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” Điều này đã làm cho thánh Phao-lô “hết sức kinh ngạc và sửng sốt”.

Vị tông đồ dân ngoại đã giải bày nỗi lòng mình với tín hữu thành Roma: “Hầu như không ai chết vì người công chính, họa may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng? Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.” (x.Rm 5, 7-8).

Là-bằng-chứng-Thiên-Chúa-yêu-thương-chúng-ta… có tôi… có anh! Vâng, đúng thế. Thế nên, chúng ta phải đáp lại lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho chúng ta.

Đáp lại bằng cách nào? Thưa, đó là chúng ta “Cố gắng yêu thương người. Dù người không yêu ta, hãy cứ yêu thương hoài. Mặc người ai quen ai, hãy cho nhau một lời. Dù là nghe chua cay, dù là lời thoáng qua tai...”

Một cách tích cực hơn, đó là chúng ta hãy “đem уêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm.”

Đó là: hãy “đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậу vào nơi thất vọng… rọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu.”

Đó là: hãy “tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm уêu mến người hơn được người mến уêu.”

Vâng, chúng ta… chúng ta “còn (nhiều) người ngồi quanh đây, trán in vết nhăn.” Vẫn còn rất nhiều vầng trán nhăn nhó vì phải đối diện với nỗi đau thể xác lẫn tinh thần.

Vẫn còn rất nhiều vầng trán in đầy vết nhăn, những vết nhăn do phải lựa chọn giữa sự ác và sự thiện, giữa điều phải làm và điều không nên làm.

Hãy đến với họ. Vì, chúng ta đã-được-cho-không, thì cũng-phải-cho-không-như-vậy. Hãy-xin-chủ-mùa-gặt-sai-đi. Hãy nói với Chúa: Lạy Chúa! Xin Ngài sai con.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2026

Hãy cùng nhau dự Tiệc Thánh Chúa

 Chúa Nhật Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô

Hãy cùng nhau dự Tiệc Thánh Chúa

SnTM 060626b


“Người ơi! Nào mau tới thờ lạy Chúa! Quỳ dâng lòng tôn kính Chúa trên cao. Linh thiêng ôi phút giây giờ đây khi đoàn con được chiêm ngắm nhan thánh Chúa chí nhân quyền uy. Người ơi! Nào mau tới thờ lạy Chúa! Đồng thanh hợp chung tiếng hát ca khen. Cảm mến ơn Chúa ban tràn lan cho trần gian Mình Máu Thánh nên nguồn sống tuôn ngày đêm.”

Những dòng chữ trên đây là phần trích đoạn bài thánh ca rất quen thuộc mà hầu như mọi người Công Giáo đều biết đến. Đó là bài PHÚT LINH THIÊNG.

PHÚT LINH THIÊNG do Lm. Thành Tâm sáng tác, là một bài hát nói về Bí Tích Thánh Thể, một Bí Tích đã được Đức Giê-su thiết lập trong bữa tiệc Lễ Vượt Qua.

Nói đến Bí tích Thánh Thể hay còn được gọi là Bí Tích Mình Thánh Chúa, có thể nói đó là Bí Tích rất quan trọng, rất quan trọng bởi bí tích này “là nguồn mạch và đỉnh cao của đời sống Kitô hữu. Nơi bí tích này, Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong hình bánh và rượu, liên kết người tín hữu vào Hy tế Thập giá và Mầu nhiệm Vượt qua, từ đó nuôi dưỡng và hiệp nhất toàn thể Giáo hội.”

Chất thể của Bí Tích Thánh Thể “là rượu, bánh và nước.” Mô thể của Bí Tích Thánh Thể là lời truyền phép: “Này là Mình Ta sẽ bị nộp vì các con… Này là chén Máu Ta, máu sẽ đổ ra vì các con…”

Đây là lời truyền phép vô cùng thiêng liêng. Chính Đức Giê-su đã đọc lời này trong bữa Tiệc Ly (Lễ Vượt Qua) để lập Bí tích, trước khi bước vào cuộc tử nạn.

Bí Tích Thánh Thể, có người còn gọi là “thần lương nhiệm mầu”. Gọi như thế bởi, tại Caphanaum, Đức Giê-su đã có một bài diễn từ nói đến “ơn phước nhiệm mầu” dành cho những ai “cầm lấy mà ăn - cầm lấy mà uống.” Sự kiện này, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an. (x.Ga 6, 51-58).

**
Vâng, Caphanaum trong một-ngày-như mọi-ngày. Từng đoàn người bên kia Biển Hồ tràn qua hội tụ nơi đây, khi họ biết rằng, có sự hiện diện của Đức Giêsu.

Lý do có cuộc hội tụ này, có thể là do vài hôm trước, vào một buổi chiều tà, Đức Giêsu đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để cứu đói họ.

Vì thế, hôm nay, họ lại “đi Caphanaum tìm Người”, đi tìm Đức Giê-su với ước muốn, biết đâu, một lần nữa, Ngài lại dùng quyền năng để làm một việc gì đó cứu đói họ chăng? Nếu đúng vậy, đó là ước muốn bình thường của những con người bình thường.

Vâng, những con người bình thường đó “khi gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ (liền) nói: Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?”

Đi-guốc-trong-bụng-họ, Đức Giê-su đã đáp lời rằng: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê”.

Đúng vậy, mấy hôm trước đó, chỉ với “năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá” Đức Giê-su đã “hóa bánh ra nhiều” cho năm ngàn người ăn no nê.

Còn hôm nay, Đức Giê-su có lời khuyến cáo với họ, rằng: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận.”

Nghe thế, một cuộc tranh luận “căng như dây đàn” giữa Đức Giê-su và họ, nổ ra.

Họ, chất vấn Đức Giê-su. Họ, bắt bẻ Ngài. Ôi thôi! đủ chiêu trò. Đúng như thành ngữ dân gian xưa nói: “bạc như dân, bất nhân như lính”.

Hôm trước, cho ăn no nê, đòi tôn Đức Giê-su làm vua. Hôm nay, nói vài câu phật ý, bắt bẻ, đòi dấu lạ: “Ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông?”

Thật đáng tiếc, Đức Giê-su không làm dấu lạ nào hết. Đối với họ, chuyện sống còn “dưới đất” là điều thật khẩn thiết. Nhưng, với Đức Giêsu, Ngài lại muốn họ nhận ra rằng, còn có sự sống “trên trời”. Sự sống đó, phải là thứ-lương-thực-Con-Người-sẽ-ban.

“Không…” Đức Giê-su nói tiếp: “…không phải ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian”.

Nhìn, những con người bình thường, với những ước muốn bình thường, Ngài tuyên bố: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói, ai tin vào tôi chẳng khát bao giờ… ”.

Nuốt không trôi lời Đức Giê-su nói, họ “liền xầm xì phản đối”, phản đối vì Ngài nói rằng: “Tôi là bánh từ trời xuống”. Họ phản đối chẳng sai. Họ nói: “Ông này chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống?”

Hôm đó, bất chấp những lời xầm xì nhỏ to, Đức Giêsu vẫn nói lên thông điệp từ trời, một thông điệp của tình yêu, rằng: “Thật tôi bảo thật với các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết.”

Tiếp đến, Đức Giê-su khẳng định: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.” (x.Ga 6, 51).

Lời công bố của Đức Giê-su dẫn đến một cuộc tranh luận sôi nổi. Chuyện kể rằng: “Người Do Thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?”

Mặc cho những lời tranh luận giữa họ với nhau. Đức Giêsu vẫn không rút lời: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy.” (x.Ga 6, 52-56).

 Đây không phải là một trò ảo thuật. Đây là ân sủng, một thứ ân sủng đến từ “Chúa Cha là Đấng hằng sống”.

Tin mừng thánh Gio-an có lời chép rằng:“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,13-17).

Và tình yêu ấy, đã được Đức Giêsu xác quyết mạnh mẽ, rằng: “Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” (Ga 6, 58).

***
Những điều được trình bày trên đây: “đó là những điều Đức Giê-su đã nói khi giảng dạy trong hội đường, ở Ca-phac-na-um” (x.Ga 6, 59). Và, đó chính là lý do, hôm nay, Giáo Hội long trọng mừng lễ Mình Máu Chúa Ki-tô.

Hôm nay, Giáo Hội tiếp tục nói với mọi người tín hữu điều Đức Giêsu đã truyền dạy năm xưa, lời truyền dạy rằng: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”

Hôm nay, Đức Giê-su, qua vị linh mục chủ tế, cùng lời truyền thánh hiến Bánh, nói với chúng ta, rằng: “Tất cả các con hãy lãnh nhận mà ăn, vì này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con”. Đức Giê-su, qua vị linh mục chủ tế, cùng lời truyền thánh hiến Rượu, nói với chúng ta, rằng: “Tất cả các con hãy lãnh nhận mà uống, vì này là Chén Máu Thầy, Máu Tân Ước vĩnh cửu sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”.

Vâng, trong mỗi thánh lễ, vị linh mục chủ tế “làm việc này (để) tưởng nhớ tới Thầy”. Là một Ki-tô hữu, trong mỗi thánh lễ, chúng ta cũng “hãy làm việc này(rước lễ) mà nhớ đến Chúa”.

Như có lời nói rằng: “Biết điều đó thì khác xa với những ai đã nếm được điều đó”.

Thế nên, hãy đáp lời mời gọi của Thiên Chúa, lời mời gọi, rằng “Hãy đến mà ăn bánh của ta và uống rượu do ta pha chế! Đừng ngây thơ khờ dại nữa, và các con sẽ được sống, hãy bước đi trên con đường hiểu biết” (x.Cn 9, 5-6).

Con-đường-hiểu-biết, đó là đáp lời mời gọi của Thiên Chúa. Đó là hãy-đến-mà-ăn. Bởi “Khi ta cùng bẻ Bánh Thánh”, tông đồ Phao-lô nói, “đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao?”

Nhắc đến điều này để làm gì? Thưa, để chúng ta nhớ, nhớ rằng, Đức Giê-su đã phán hứa: “Kẻ ăn tôi… sẽ nhờ tôi mà được sống” (x.Ga 6, …57).

Vâng, nhạc sĩ Ignatiô Nguyễn Hùng Lân, khi còn tại thế, cũng đã cất tiếng nhắn nhủ chúng ta: “Hãy đến mà ăn, đây bánh Ta ban dưỡng nuôi linh hồn. Cùng dự Tiệc Thánh Chúa nhiệm tích muôn ngàn ơn thiêng...

Chúng ta không cần tranh luận hay xầm xì về những lời Đức Giêsu đã phán truyền. Bởi… bởi vì… “Đây là mầu nhiệm đức tin”.

Thế nên, đã là một Ki-tô hữu, chúng ta: Hãy đến mà ăn. Hãy cùng nhau dự Tiệc Thánh Chúa.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2026

Vinh Danh Chúa Ba Ngôi...

 Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi

Vinh Danh Chúa Ba Ngôi

SnTM 320526b


Chúa Nhật hôm nay (31/05/2026), là ngày cuối cùng của tháng năm. Nói tới tháng năm, theo truyền thống, được gọi là tháng hoa - Kính Đức Maria.

Tuy nhiên, nếu làm một bảng tổng kết, tổng kết những bài Tin Mừng đọc trong phần phụng vụ Lời Chúa, (suốt tháng này), chúng ta có thể nói thêm rằng, tháng năm còn là tháng của Lòng Chúa Thương Xót.

Gọi là tháng của Lòng Chúa Thương Xót, bởi đa số những bài đọc đều được trích từ Tin Mừng thánh Gio-an (24 bài). Mà, Tin Mừng thánh Gio-an chẳng phải là Tin Mừng nói về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, đó sao!

Thật vậy, qua 24 bài đọc, Lòng Thương Xót của Thiên Chúa tràn ngập, nhìn đâu cũng thấy. Và được mô tả như là “nguồn mạch của mọi ơn lành”… ơn bình an, ơn cứu độ, ơn được sống đời đời.

Đơn cử như trích đoạn trong thánh lễ Chúa Nhật 3/5: “Anh em đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về lại với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.”

Đó… đó là một lời phán hứa, một lời hứa hẹn, rằng: Thiên Chúa là nguồn mạch của sự bình an, Và, tiếp theo là gì! Thưa, là một lời khẳng định, khẳng định Thiên Chúa là tình yêu: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy.” (Ga 15, 9).

**
Vâng, Tình yêu của Thiên Chúa không từ trời rơi xuống một cách ngẫu nhiên, nhưng qua Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô.

Tin Mừng thánh Gio-an ghi rằng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời”. (Ga 3, 16).

Trong ba năm thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng. “Con của Người” là Đức Giêsu, qua những lời giảng dạy, Ngài đã nhấn mạnh với con người rằng “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Ga 3, 17).

Chúng ta hãy nhớ lại đi! Một ngày nọ, “Con của Người” là Đức Giêsu đã nói: “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.”

Đặc biệt với bài dụ ngôn “người con hoang đàng” (Lc 15, 11-32), qua nhân vật người cha, Đức Giêsu đã cho con người thấy rõ nét về một “Chúa Cha nhân hậu và bao dung.” Một Thiên Chúa luôn “chạnh lòng thương xót” trước những hối nhân trở về.

Cũng với bài dụ ngôn (nêu trên), với nhân vật người con thứ, Đức Giêsu đã gửi đến mọi người một thông điệp rằng, con người chỉ có thể đón nhận lòng nhân hậu và sự bao dung của Thiên Chúa với điều kiện, đó là “tin”, tin vào sự tha thứ, đó là, đứng lên và đi về với Thiên Chúa, như người con hoang đàng đã “tin” và đã “đứng lên, đi về cùng cha”.

Vâng, thông điệp này, cũng đã được ghi trong Tin Mừng thánh Gio-an, lời ghi rằng: “Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa” (Ga 3,18).

***
Tình yêu của Thiên Chúa là thế đấy. Tình yêu của Thiên Chúa không chỉ mang đến ơn cứu độ cho thế gian, nhưng nó còn mặc khải cho thế gian thấy mầu nhiệm “Ba Ngôi Thiên Chúa”. Hay có thể nói: mầu nhiệm “Một Chúa Ba Ngôi - Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.

Đây không phải là một niềm tin vu vơ, mơ hồ. Niềm tin này đã được chính “Con của Người” là Đức Giêsu mặc khải trong đêm Ngài trò chuyện với Nicôđêmô.

Trong đêm đó, Đức Giêsu đã nói rằng “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí” (Ga 3,5).

Thần Khí là ai? Thưa, hôm đó, Đức Giê-su đã giải thích với ông Ni-cô-đê-mô rằng: “Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy” (Ga 3, 8).

Thần Khí là ai? Thưa, trong bữa tiệc Vượt Qua, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em”. (Ga 14, 16-17).

Và quả thật, điều Đức Giê-su nói đã trở thành sự thật, sau khi Ngài về trời. Sự thật đó đã xảy ra vào ngày lễ Ngũ Tuần, khi các môn đệ đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp.

Chuyện được kể lại rằng, các môn đệ đã nhìn thấy “những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một”. Và từ đó, các ông “được tràn đầy ơn Thánh Thần” (Cv 2 ,2).

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một”. Con-của-Người là Đức Giêsu nói: “Tôi và Chúa Cha là một”. Các môn đệ tràn-đầy-ơn-Thánh-Thần. Ba sự kiện này, chẳng phải là như một thông điệp mở, mở đôi mắt đức tin rằng, đó chính là mạc khải, mạc khải mầu nhiệm “Một Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”, sao!

Phaolô sau khi trở thành tông đồ của Chúa, cũng nhận đã nhận ra mạc khải trọn vẹn về “Ba Ngôi Thiên Chúa”. Thánh nhân đã không quên chia sẻ mạc khải này trong thư gửi cho cộng đoàn Roma.

Thư được viết rằng: “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5, 5). Và hơn thế nữa, thánh nhân luôn “cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa và ơn hiệp thông của Thánh Thần” (2Cor13,13).

****
Chúa Nhật hôm nay, toàn thể Giáo Hội Công Giáo xác tín lại niềm tin này qua việc cử hành “Lễ Chúa Ba Ngôi”. Nếu… nếu hôm nay, chúng ta được mời đến một cộng đoàn, hoặc một nhóm nhỏ, để nói về Ba Ngôi Thiên Chúa… Vâng, chúng ta sẽ nói gì?

Phải chăng chúng ta sẽ “bổn cũ soạn lại”, theo chân những nhà thần học xưa, cố gắng diễn tả cho mọi người nhận biết mầu nhiệm “Một Chúa Ba Ngôi” theo nhiều cách thế khác nhau!

Phải chăng chúng ta sẽ diễn tả Ba Ngôi Thiên Chúa giống như H2O, tuy ở ba dạng thể: thể lỏng (nước lỏng), thể rắn (nước đá),và thể khí (hơi nước) nhưng tất cả đều được gọi là “nước”?

Phải chăng chúng ta sẽ nói về một quả trứng. Nó có vỏ bọc, có lòng đỏ và có lòng trắng, nhưng cũng chỉ là quả trứng? Phải chăng chúng ta không quên hình ảnh về mặt trời nơi phát ra ánh sáng và sức nóng nhưng cũng chỉ được gọi là mặt trời?

Thiên Chúa là Đấng vô hạn, chính vì thế, chúng ta không thể dùng những vật thể hữu hạn để mà so sánh về Người. Và Thiên Chúa nào có cao xa… Người đã mặc lấy xác phàm và đang cư ngụ giữa chúng ta kia mà!

Vâng, nói về Ba Ngôi Thiên Chúa, với ngôi thứ nhất là Chúa Cha, không gì tốt hơn là chúng ta hãy có một tấm lòng bao dung, chậm giận và hay tha thứ. Vì Chúa Cha “có lòng thương xót, hay làm ơn, chậm nóng giận, và đầy sự nhân từ.” (Tv 103, 8).

Nói về Ba Ngôi Thiên Chúa, với ngôi thứ hai là Chúa Con, không gì tốt hơn là chúng ta hãy học nơi Đức Giêsu, sự hiền lành và khiêm nhường. Vì đó là điều Đức Giêsu mời gọi, gọi rằng: “Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11, 29).

Nói về Ba Ngôi Thiên Chúa, với ngôi thứ ba là Chúa Thánh Thần, không gì tốt hơn là chúng ta hãy “sống theo Thần Khí”. Thế nào là sống theo Thần Khí? Thưa, đó là sống bác ái, sống trung tín.

Thực hiện trọn vẹn những gợi ý nêu trên, đó là chúng ta đã: “tấu lên muôn muôn điệu nhạc, ngợi khen Ðấng quyền năng vô biên.” Và, chúng ta không hổ thẹn mỗi khi đặt tay lên trán và cất tiếng đọc, rằng: “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.

Thực hiện trọn vẹn những gợi ý nêu trên, nói cách khác, đó là chúng ta: Vinh Danh Chúa Ba Ngôi.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2026

Chúa ơi! hãy sai con đi...

 Chúa Nhật Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống

Chúa ơi! hãy sai con đi

SnTM 230526a


Như chúng ta được biết, vào đêm trước ngày hy sinh trên thập tự giá, Đức Giê-su đã cùng với các tông đồ tham dự bữa tiệc Vượt Qua.

Trong bữa tiệc này, Ngài có hứa với các tông đồ rằng: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em.”

Lời hứa này, ngay sau khi Đức Giê-su từ cõi chết trỗi dậy, đã thành hiện thực. Vâng, chính Ngài, với một thân xác Phục Sinh từ cõi chết, “hiện đến, đứng giữa các ông… thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.”

Sự kiện này, được ghi lại trong Tin Mừng Thánh Gio-an. (x.Ga 20, 19-23).

**
Theo Tin Mừng Gio-an ghi lại, thì: “Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái”.

Thật bất ngờ! “Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: Bình an cho anh em.” Chúc bình an cho các môn đệ xong, Ngài “cho các ông xem tay và cạnh sườn.”

Được xem những chứng tích cuộc khổ hình của Đức Giê-su, các môn đệ tin… tin Thầy mình thật sự đã Phục Sinh. Thánh sử Gio-an mô tả: “các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa.”

Niềm vui được thấy Chúa đã làm tan biến những lo sợ do truyền thông thế quyền Roma lẫn thần quyền Do Thái cáo gian rằng, các ông đã lợi dụng ban đêm lén đến “lấy trộm xác”. (Mt 28, 13).

Các ông không lấy-trộm-xác nhưng “xác” Thầy Giê-su đang đứng trước mặt các ông, rõ ràng là một Thầy Giê-su Phục Sinh. Rồi Thầy Giê-su lại chúc các ông một lần nữa: “Bình An cho anh em.”

“Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” Đó là một lệnh truyền. Sau lệnh truyền, Đức Giê-su - “Người thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20, 22).

Thổi hơi vào các ông và bảo các ông hãy nhận lấy Thánh Thần. Vâng, có thể nói, sự kiện này như một bằng chứng cho lời hứa mà Đức Giê-su đã hứa hôm Thầy và trò cùng mừng lễ Vượt Qua.

Hôm ấy, Đức Giê-su hứa rằng: “Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em…” (x.Ga 16, 7).

***
Đức Giê-su đã ra đi. Ngài đã “được đem lên trời”. Và, Đấng Bảo Trợ đã đến. Người đã đến vào “Ngày lễ Ngũ Tuần.”

Chuyện được ghi lại rằng: “Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp.

Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho.” (Cv 2, 4).

Hôm đó, “tại Giê-ru-sa-lem… có nhiều người kéo đến”. Họ kéo đến và đã phải “kinh ngạc vì ai nấy đều nghe các ông nói tiếng bản xứ của mình” (Cv 2, 6).

Chính họ… chính họ đã phải “sửng sốt thán phục và nói: Những người đang nói đó không phải là người Ga-li-lê sao? Thế sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của chúng ta?”

Hôm đó, các dân thiên hạ, dù là dân “Pác-thi-a, Mê-đi, Ê-lam, Mê-xô-pô-ta-mi-a, Giu-đê, Cáp-pa-đô-ki-a, Pon-tô, A-xi-a”, hoặc là dân “Phy-ghi-a, Pam-phy-li-a, Ai-cập, Roma hay Do Thái, người đảo Cơrêta hay người Ảrập”, v.v… tất cả mọi sắc dân đó đều nghe các môn đệ “dùng tiếng nói của (họ) mà loan báo những kỳ công của Thiên Chúa” (Cv 2, 11).

****
Xưa, các môn đệ đã được nhận lãnh Chúa Thánh Thần. Nay, chúng ta cũng được nhận lãnh Chúa Thánh Thần.

Các môn đệ nhận lãnh Chúa Thánh Thần qua hình thức “những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một.” Sau này, nhận lãnh Chúa Thánh Thần, qua hình thức “đặt tay”.

Sách Công Vụ có thuật lại rằng: “Các Tông Đồ ở Giê-ru-sa-lem nghe biết dân miền Sa-ma-ri đã đón nhận lời Thiên Chúa, thì cử ông Phê-rô và Gio-an đến với họ. Khi đến nơi, hai ông cầu nguyện cho họ, để họ nhận được Thánh Thần. Vì Thánh Thần chưa ngự xuống một ai trong nhóm họ: họ mới chỉ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giê-su. Bấy giờ hai ông đặt tay trên họ, và họ nhận được Thánh Thần.” (Cv 6, 14-17).

Thánh Phao-lô, một lần nọ đi qua miền thượng du đến Ê-phê-sô. Tại đây, ngài tông đồ gặp một số môn đệ và hỏi họ: “Khi tin theo, anh em đã nhận được Thánh Thần chưa? Họ trả lời: Ngay cả việc có Thánh Thần chúng tôi cũng chưa hề nghe nói.”

Sau một vài trao đổi, ngài Phao-lô biết được những người này chịu “phép rửa của ông Gio-an (Tẩy Giả)”. Thế là tông đồ Phao-lô giảng dạy cho họ rằng: “Ông Gio-an đã làm một phép rửa tỏ lòng sám hối, và ông bảo dân tin vào Đấng đến sau ông, tức là Đức Giê-su.”

Nghe nói thế, “Họ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giê-su. Và khi ông Phao-lô đặt tay lên họ, thì Thánh Thần ngự xuống trên họ, họ nói tiếng lạ và nói tiên tri. Cả nhóm có chừng mười hai người.” (x.Cv 19, 1-7).

Ngày nay, chúng ta nhận lãnh Chúa Thánh Thần (được gọi là Bí Tích Thêm Sức) qua nghi thức đặt tay của Giám Mục. Giám Mục là người kế thừa các thánh tông đồ xưa.

Có lẽ, mọi người trong chúng ta, ai ai cũng đã nhận lãnh Bí Tích Thêm Sức. Đã nhận lãnh Bí Tích Thêm Sức, có ai trong chúng ta được ơn “nói các thứ tiếng khác”! Có ai trong chúng ta được ơn “nói tiếng lạ và nói tiên tri”! Vâng, không cần thiết đâu!

Về việc nói tiếng lạ, nói tiên tri, thánh Phao-lô có lời truyền dạy: “Anh em thân mến, anh em hãy cầu mong những ơn cao trọng hơn. Và tôi chỉ bảo anh em một con đường hoàn hảo nhất. Nếu tôi nói được các tiếng của loài người và thiên thần, mà tôi không có bác ái, thì tôi chỉ là tiếng đồng la vang dội hoặc não bạt vang động. Và nếu tôi được ơn nói tiên tri, thông biết mọi mầu nhiệm và mọi khoa học; nếu tôi có đầy lòng tin, đến nỗi chuyển dời được núi non, mà không có bác ái, thì tôi vẫn là không.” (1Cor 13, 1-2).

Thế nên, chúng ta không cần nói tiếng lạ, không cần nói tiên tri. Điều chúng ta cần, đó là: “hãy để Thần Khí đổi mới tâm trí” chúng ta. Khi Thần Khí đổi mới tâm trí chúng ta, chúng ta mới có thể “sống theo Thần Khí”.

Sống theo Thần Khí - Thần Khí sẽ “sửa lại mọi sự trong ngoài chúng (ta)” Sống theo Thần Khí - Thần Khí sẽ “dạy dỗ chúng (ta) làm những việc lành”.

Sống theo Thần Khí - Thần Khí sẽ ban cho chúng ta “Ơn khôn ngoan” để chúng ta phân biệt đâu là lẽ phải, đâu là điều gian ác. Sống theo Thần Khí - Thần Khí sẽ ban cho chúng ta “Ơn hiểu biết” để chúng ta nhận biết đâu là lẽ thật - lẽ thật đem lại sự sống đời đời.

Sống theo Thần Khí - Thần Khí sẽ ban cho chúng ta “Ơn sức mạnh – Ơn thông minh” để chúng ta có thể chống chọi những cám dỗ, những cạm bẫy ngày một tràn lan, trong một xã hội duy vật vô thần, như hôm nay.

Sống theo Thần Khí - Thần Khí sẽ ban cho chúng ta “Ơn đạo đức – Ơn kính sợ Thiên Chúa” để chúng ta biết tôn kính sự công bằng và quyền phép của Người.

Khi chúng ta đã sống-theo-Thần-Khí, thánh Phao-lô có lời truyền dạy, lời dạy rằng: “Hãy nhờ Thánh Thần mà tiến bước.”

Sống theo Thần Khí và nhờ Thánh Thần mà tiến bước, kết quả đó là ”ngọn lửa của Thần Khí”… ngọn lửa “bác ái, hoan lạc, bình an nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, tiết độ”… cháy bùng trong ta.

Những ngọn lửa nêu trên, cháy bùng trong ta, ta có thể lớn tiếng nói: “Thần khí Chúa (hãy) sai tôi đi, sai tôi đi loan báo Tin Mừng. Thần khí Chúa (hãy) thánh hiến tôi , sai tôi đi Ngài sai tôi đi.” (St: Nguyễn Đức Tuấn).

Vâng… Chúa ơi! hãy sai con đi.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2026

Hãy nhìn đời… bằng đôi mắt yêu thương...

 Chúa Nhật VII - A - Lễ Thăng Thiên

Hãy nhìn đời… bằng đôi mắt yêu thương

SnTM 160526a


Như chúng ta được biết, vào đêm trước ngày Đức Giê-su hy sinh trên thập tự giá, Ngài đã cùng với các tông đồ tham dự “một bữa ăn.” (Ga 13, 4). Bữa ăn này, được gọi là bữa tiệc Vượt Qua.

Danh họa Leonardo da Vinci, có vẽ một bức bích họa lấy bối cảnh bữa ăn này, và đặt tên là: “Il Cenacolo (hay) L'Ultima Cena - Bữa ăn tối cuối cùng”.

Đặt tên là bữa-ăn-tối-cuối-cùng rất hợp lý. Hợp lý vì, trong bữa ăn, Đức Giê-su cũng đã có những “lời nói cuối cùng” với các tông đồ. Những lời-nói-cuối-cùng này, thánh sử Gio-an gọi là ”những lời cáo biệt”.

Hôm ấy, có một lời cáo biệt đã làm cho các tông đồ bất an, lời cáo biệt rằng: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi”.

Nghe những lời cáo biệt của Ngài, lòng các tông đồ xao xuyến. Trong nỗi xao xuyến về một ngày ly biệt, ông Si-môn Phê-rô trải lòng mình hỏi Đức Giê-su: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu vậy? Sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được?”

Đức Giê-su đã trả lời rằng: “Nơi Thầy đi, bây giờ anh không thể theo đến được, nhưng sau này anh sẽ đi theo.”

Để xua tan nỗi xao xuyến của các ông, Đức Giê-su đã có những lời an ủi chân tình, rằng: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”. Ngài còn cho các ông biết “nơi sau này các ông sẽ đi theo”, đó là ”Nhà Cha Thầy”.

Hôm ấy, Đức Giê-su đã thổ lộ với các ông, rằng: “Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về lại với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.”

Sau bốn mươi ngày, kể từ khi trỗi dậy từ cõi chết, Đức Giê-su “đi dọn chỗ”, đúng như lời Ngài đã thổ lộ với các tông đồ, một chiều năm xưa. Nói chính xác hơn, Đức Giê-su “được đem lên trời” (x.Lc 24, 50-51).

Vâng, Đức Giê-su “được đem lên trời”. Biến cố linh thiêng này, đã được ghi lại trong sách Công Vụ Tông Đồ.

**
Theo tác giả sách Công Vụ ghi lại thì, sau khi trỗi-dậy-từ-cõi-chết, Đức Giê-su đã “dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy là Người vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình: trong bốn mươi ngày.” (Cv 1, 3).

Trong bốn mươi ngày, có lần Đức Giê-su “…đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa.” Lại có lần: “đang khi dùng bữa với các Tông Đồ, Đức Giê-su truyền cho các ông không được rời khỏi Giê-ru-sa-lem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa…”

Điều-Chúa-Cha-đã-hứa, có thể nói, như một “tin mừng trọng đại”, đem lại cho các môn đệ sự lạc quan và hy vọng. Điều này được chứng thực khi các ông hỏi Thầy mình rằng: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy sẽ khôi phục vương quốc Israel không!”

Khôi phục vương quốc Israel, vào thời Đức Giê-su, đó là một mơ ước chính đáng. Thế nhưng, thật đáng tiếc! Khôi phục một vương quốc ở trần thế không phải là sứ vụ của Đức Giê-su, như có lần Ngài đã nói trước quan tổng trấn Philato: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (x.Ga 18, 36).

Bốn mươi ngày qua, kể từ khi trỗi-dậy-từ-cõi-chết, Đức Giêsu không ngừng hiện ra với các tông đồ. Mỗi khi hiện ra với các ông, ngoài những việc như ăn và uống để chứng minh rằng, Ngài “không phải là ma”, nhưng đã thật sự sống lại, Đức Giêsu còn chú trọng đến việc dạy dỗ.

Một trong những việc dạy dỗ quan trọng, đó là Đức Giêsu đã “mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh”. Ngài chưa một lần hứa sẽ thực hiện nguyện vọng nhuốm mùi “trần thế” của các ông.

Điều Đức Giê-su muốn các ông cần có, đó là sự bình an. Ngài đã chúc “Bình An” cho các ông. Quan trọng hơn, đó là Ngài đã “thổi hơi vào các ông và bảo: anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”.

Trở lại với câu hỏi của các tông đồ, Đức Giê-su có lời đáp: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (x.Cv 1, 8).

Hôm ấy, mười một vị tông đồ, với mười một đôi tai, nghe rõ mồn một lời Thầy Giê-su, đã tuyên phán như thế. ”Mây đem mưa trở lại. Mưa hay nhiều lời. Khiến trăng mỉm cười.” Nhưng, khôi phục vương quốc Israel… thì…. “không, trăm không ngàn lần.”

Vương quốc Đức Giê-su thiết lập không phải ở tại thế gian này, nhưng là ở Nhà-Cha-Thầy. Vương quốc Đức Giê-su thiết lập “là Giê-ru-sa-lem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống…” (Kh 21, 2).

Hôm ấy, mười một vị tông đồ đã nhìn thấy “Đức Giê-su về Nhà Cha”. Tác giả sách Công Vụ ghi rằng: “Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa” (Cv 1, 9).

***
Ngoài sách Công Vụ Tông Đồ, thánh sử Mác-cô, là người chúng ta được biết đã theo thánh Phê-rô sang truyền giáo ở La-mã, cũng đã ghi chép mạch lạc về cuộc đời của Đức Giê-su, dựa vào những lời giảng dạy của thánh Phê-rô. Và trong phần Đức Giê-su lên trời, ngài Mác-cô ghi vắn tắt: “Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa.” (x.Mc 16, 19).

Còn thánh sử Luca thì ghi như sau: Hôm ấy… Đức Giê-su “Người dẫn các ông tới gần Bê-ta-ni-a, rồi giơ tay chúc lành các ông. Và khi đang chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời” (x.Lc 24, 50-51).

Đức Giê-su đã được “cất lên”, đã được “đem lên trời”. Chuyện đã xảy ra hơn hai ngàn năm, và hôm nay chúng ta vẫn tiếp tục tuyên xưng niềm tin này, trong thánh lễ mỗi Chúa Nhật, qua kinh Tin Kính.

Tuy nhiên, để niềm tin của mình không chút nửa tin nửa ngờ, mỗi khi nghe một ai đó phản bác cho rằng, đó là chuyện nhảm nhí, chúng ta cần hiểu rằng, sự lên trời của Đức Giê-su không nên hiểu theo “mặt chữ” rằng, Ngài bay bổng lên không trung và các tầng mây quyện quanh thân Ngài.

Suy nghĩ như thế là cách suy nghĩ rất ấu trĩ. Vậy mà, trong quá khứ đã có người hiểu theo “mặt chữ”, vì thế người này cho rằng, chuyện Chúa Giê-su lên trời là chuyện “phịa”…

Người này… chính là Yuri Alekseyevich Gagarin. Ông ta là “một phi công và nhà du hành vũ trụ người Liên Xô, người đã thực hiện chuyến bay có người lái đầu tiên thành công vào không gian vũ trụ. Du hành trên Vostok 1, Gagarin đã hoàn thành một quỹ đạo quanh Trái Đất vào ngày 12 tháng 4 năm 1961, với chuyến bay kéo dài 108 phút.” (nguồn: internet).

Nhiều nguồn tin cho rằng, sau khi trở về trái đất, Gagarin có lời tuyên bố: “Tôi đã đi vào không gian, nhưng tôi đã không gặp thấy Thiên Chúa.”

“Neil Armstrong là người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng trong sứ mệnh Apollo 11 của NASA (Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Quốc gia) vào ngày 20 tháng 7 năm 1969. Ông đã hoàn thành sứ mệnh cùng với hai phi công phụ Edwin E. “Buzz” Aldrin và Michael Collins”.

Khi Neil đặt chân lên Mặt Trăng, ông ta cũng chẳng thấy Chúa đâu, nhưng ông cảm nghiệm Chúa đang hiện diện bên ông. Qua hệ thống viễn liên, một trong nhiều thông điệp mà ông đã gửi về mặt đất, đó là: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất”.

Vâng, lên trời bằng phi thuyền hay phi cơ thì làm sao thấy Chúa. Đức Giê-su “lên trời” không như một viên phi công lái một chiếc phản lực cơ, bay lên trời. Ngài không lên trời như một phi hành gia lên trời bằng một chiếc phi thuyền.

Trong Kinh Thánh, từ ngữ “trên trời” có nghĩa là chỉ nơi Thiên Chúa hiện diện. “Lên trời” là đi vào sự hiệp thông tuyệt hảo và vĩnh cửu với Chúa Cha và được chia sẻ với Chúa Cha quyền năng và vinh quang. Như có lời được ghi trong Thánh Vịnh: “Sấm ngôn của ĐỨC CHÚA ngỏ cùng Chúa Thượng tôi: Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân con”.

Những ai lên trời bằng phi thuyền hay phản lực cơ mà đòi được thấy Chúa… họ đúng là “những kẻ khờ khạo nhất hành tinh” này. Chúng ta chỉ có thể thấy Chúa bằng con mắt đức tin. Thế nên, cảm ơn ông Gagarin. Cảm ơn là bởi, lời “chứng” của ông rất đáng tin cậy!

****
Vâng, chỉ với con mắt đức tin, chúng ta mới có thể cất tiếng tuyên xưng, tuyên xưng rằng: Đức Giê-su “Người chịu khổ hình và mai táng, ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh. Người lên trời, ngự bên hữu Ðức Chúa Cha, và Người sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết, Nước Người sẽ không bao giờ cùng.”

Tuyên xưng đức tin bằng lời nói chưa đủ. Chúng ta còn phải tuyên xưng bằng việc làm. Bằng những “việc” Đức Giê-su đã truyền phải làm, đó là: mến Chúa - yêu người.

Một cách cụ thể, đó là: “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm.” Đó còn là: “đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậу vào nơi thất vọng, rọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu.” (Kinh Hòa Bình).

Thực thi những việc làm nêu trên, đó là chúng ta đã làm cho “Mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu”.

Khi “mọi người biết thương nhau” thì sao, nhỉ! Vâng, chắc chắn rằng, láng giềng chúng ta sẽ thân thiết, anh em chúng ta sẽ hòa thuận và vợ chồng chúng ta sẽ ý hợp tâm đầu. Láng giềng thân thiết, anh em hòa thuận, vợ chồng ý hợp tâm đầu - Kinh Thánh nói – “cả ba điều này đều đẹp lòng Đức Chúa và người ta” (Hc 25, 1).

Một khi làm “đẹp lòng Đức Chúa và người ta”, đó… đó chính là lúc chúng ta thực thi trọn vẹn lệnh truyền của Đức Giê-su năm xưa, lệnh truyền rằng: “anh em sẽ là chứng nhân của Thầy”.

Để thực thi lệnh truyền của Đức Giê-su, chúng ta đừng có đứng “đăm đăm nhìn lên trời” nữa, mà “Hãy ngước mặt nhìn đời. Nhìn tha nhân (đừng) buông tiếng cười…”
 
Thói đời “chỉ yêu gian dối…” Đời thì “cay đắng như vôi...” Do vậy, tha nhân rất cần chúng ta nhìn họ bằng đôi mắt yêu thương.

Thế nên, chúng ta “hãy nhìn đời… bằng đôi mắt yêu thương”.

Petrus.t

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

Trong Chúa - chúng ta không mồ côi

 Chúa Nhật VI Phục Sinh – A

Trong Chúa - chúng ta không mồ côi

SnTM 090526a


“1. Một chiều năm xưa giữa bữa tiệc vui, thì thầm bên tai Chúa nói biệt ly, này đoàn con ơi chớ hãi sợ chi, Ta sẽ ra đi nhưng Ta lại tới. Về cùng Cha Ta Ðấng đã gọi Ta, một thời gian thôi chẳng có là bao, vì này Ta đi lo cho các ngươi, dọn chỗ các ngươi bên Ta sau này.

2. Này đoàn chiên ơi giữ vững niềm tin, vì này Ta đi sẽ có lợi hơn. Ðừng buồn lo chi sẽ có ngày vui, khi Ðấng Ủi An nơi Cha ngự đến, Ngài là Ngôi Ba xuất phát từ Cha, và Ngài thay Ta hướng dẫn đường đi, là nguồn ơn thiêng yêu thương chứa chan, ban sức, thêm ơn, ủi an, vỗ về.”

Những dòng chữ nêu trên, là hai tiểu khúc trong bài thánh ca nổi tiếng “Hãy Yêu Thương Nhau”, tác giả là Linh mục Thành Tâm.

Lấy cảm hứng từ Tin Mừng thánh Gio-an, bài thánh ca Hãy-Yêu-Thương-Nhau, có thể được ví như một bức tranh sống động, tái hiện lại hình ảnh bữa tiệc Vượt Qua, một bữa tiệc Đức Giê-su và các môn đệ cùng đồng bàn “trong một bữa ăn”, một bữa ăn… buồn vui lẫn lộn.

**
Vâng, theo Tin Mừng thánh Gio-an, câu chuyện được bắt đầu vào một buổi chiều. Buổi chiều hôm ấy, Đức Giê-su và các môn đệ cùng đồng bàn “trong một bữa ăn.” (Ga 13, 4). Bữa ăn này, được gọi là bữa tiệc Vượt Qua. Linh mục Thành Tâm gọi bữa tiệc này là bữa-tiệc-vui.

Đúng, vui vì bữa tiệc này “tưởng nhớ sự kiện Thiên Chúa giải cứu dân Do Thái khỏi ách nô lệ ở Ai Cập (năm 1513 TCN), một sự kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc Do Thái.”

Thế nhưng, vui chưa được bao lâu, thì nỗi buồn ập tới. Vâng, buồn vì… “thì thầm bên tai Chúa nói biệt ly.”

Nguyên văn lời-thì-thầm được thánh sử Gio-an ghi như sau: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi”.

Nghe thế, ông Si-môn Phê-rô hỏi rằng: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu vậy?” Và, Đức Giê-su đã trả lời rằng: “Nơi Thầy đi, bây giờ anh không thể theo đến được.”

Để cho các ông không còn phải lo lắng về sự ra đi của mình, Đức Giê-su đã có lời khuyên bảo với các ông rằng: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em”. (Ga 14, 16-17) .

Nhìn các ông, với ánh mắt của một Đấng giàu lòng thương xót, Đức Giê-su nói: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi” (Ga 14, 18).

***
“Thầy sẽ không để anh em mồ côi.” Đúng vậy, sau khi Đức Giê-su “được đem lên trời”, Thần-Khí-sự-thật đã ngự xuống trên các môn đệ, từng-người-một, trong ngày lễ Ngũ Tuần.

Các ông không còn là nhóm mười một cô đơn trong căn phòng đóng cửa kín tại Giê-ru-sa-lem. “Ông Phi-lip-phê xuống một thành miền Samari và rao giảng Đức Ki-tô cho dân cư tại đó. Đám đông một lòng chú ý đến những điều ông Phi-lip-phê giảng, bởi được nghe đồn và được chứng kiến những dấu lạ ông làm” (Cv 8, 5-6).

“Các Tông Đồ ở Giê-ru-sa-lem nghe biết dân Samari đã đón nhận lời Thiên Chúa, thì cử ông Phê-rô và ông Gio-an đến với họ. Khi đến nơi, hai ông cầu nguyện cho họ, để họ nhận được Thánh Thần… hai ông (Phê-rô và Gio-an) đặt tay trên họ, và họ nhận được Thánh Thần.” (Cv 8, 14).

Với “Uy lực Chúa Thánh Thần”, một Hội Thánh đã được hình thành, khởi đầu thêm khoảng ba ngàn người theo và sau này đã trở thành một Hội Thánh toàn cầu, trải rộng từ “Giê-ru-salem ra khắp các miền Giu-đê, Samari, và cho đến tận cùng trái đất”.

Nhắc tới điều này để làm gì? Thưa, là để thấy “Uy lực Chúa Thánh Thần” là điều không thể thiếu cho đời sống đức tin của mỗi chúng ta.

Không có Chúa Thánh Thần ngự trị trong đời sống đức tin, thật quá khó để chúng ta có thể đương đầu với một thế giới ngày một cổ vũ cho một nền văn-hóa-sự-chết, một nền văn hóa phá thai, hôn nhân đồng tính, như hôm nay!

Không có Chúa Thánh Thần - Đấng “ban cho trí hồn (ta). Ơn biết khôn ngoan tìm theo chân lý”, làm sao chúng ta có thể “xa điều gian dối”… những gian dối nhan nhản trên truyền thông đại chúng, một thứ truyền thông được điều hành bởi những kẻ vô thần, vô đạo đức!

Đừng bao giờ biến mình thành một tên “thuỷ thủ say khướt”, điều đó làm cho chúng ta không thể gặt hái hoa trái Chúa Thánh Thần.

Mà, nếu không có hoa trái Chúa Thánh Thần, hoa trái “bác ái, vui vẻ, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm”… làm sao chúng ta có thể “Đem yêu thương vào nơi oán thù. Đem thứ tha vào nơi lăng nhục. Đem an hòa vào nơi tranh chấp. Đem chân lý vào chốn lỗi lầm”!

Nếu không có hoa trái Chúa Thánh Thần, hoa trái “tiết độ và trong sạch”… làm sao chúng ta có thể chế ngự những dục vọng, một trong nhiều nguyên nhân gây đổ vỡ hôn nhân gia đình!?

****
“Thầy sẽ không để anh em mồ côi.” Đúng, Đức Giê-su “đi”, nhưng chúng ta không mồ côi, bởi vì Ngài “sẽ trở lại”.

Thật vậy, hôm ấy, Đức Giê-su còn có lời tuyên bố, rằng: “Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống.”

Thế nên, hãy nhớ lời Đức Giê-su truyền dạy: “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.” (x.Ga 14, 21).

“Giữ các điều răn của Chúa”, nào có gì khó đâu! Chỉ là mến Chúa – yêu người, mà thôi.

Nhớ và giữ điều răn của Chúa truyền dạy, nó chính là “bảo chứng” chứng thực, chúng ta ở trong Chúa - Chúa ở trong chúng ta.

Chúa ở trong chúng ta - chúng ta không phải là một Ki-tô hữu, mồ côi.

Nói ngắn gọn, “trong Chúa - chúng ta không mồ côi.”

Petrus.tran

Hãy nhìn… Đấng diệt cả hồn lẫn xác…

  Chúa Nhật XII – TN – A Hãy nhìn… Đấng diệt cả hồn lẫn xác… Sợ… hay sợ hãi là gì? Thưa, “là một cảm xúc nguyên thủy tự nhiên của con người,...