Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2026

Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một.

 Chúa Nhật XXX – TN – A

Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một

SnTM 241026b


Đọc các sách Tin Mừng, chúng ta được biết, sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Đức Giê-su, không phải lúc nào cũng được mọi người đón nhận. Trong suốt ba năm rao giảng Tin Mừng, Ngài đã gặp phải rất nhiều trở ngại, sự từ chối, chống đối và hiểu lầm từ chính đồng bào, cũng như các nhà lãnh đạo tôn giáo, thời bấy giờ.

Với đồng bào, tại quê nhà Na-da-rét: Khi Đức Giê-su giảng dạy trong hội đường và tuyên bố Sấm ngôn của ngôn sứ Isaia đã ứng nghiệm, dân làng Na-da-rét không những không tin mà còn nổi giận. Họ đuổi Ngài ra khỏi thành và định xô Ngài xuống vực núi. Hôm ấy, Ngài đã thốt lên: “Không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình.”

Với các nhà lãnh đạo tôn giáo, đó là: các kinh sư, người Pha-ri-sêu, người phe Hê-rô-đê, người Sa-đốc, và các thủ lãnh Do Thái. Hết nhóm này đến nhóm khác, họ tìm đến chất vấn Đức Giê-su về luật lệ thường nhằm mục đích thử thách hoặc gài bẫy Ngài “để xem có bắt được Ngài nói điều gì sai chăng” đối với Luật Môsê hoặc các truyền thống dân gian.

Những điều họ chất vấn Đức Giê-su xoay quanh “Việc giữ ngày Sabát. Các nghi thức thanh tẩy truyền thống, chẳng hạn như rửa tay trước khi dùng bữa. Vấn đề ly dị, thuế má, hoặc điều răn nào là lớn nhất trong Lề luật.”

Đức Giê-su “thường dùng chính Lề luật và đặt ra các câu hỏi xoáy vào nội tâm để vạch trần thói giữ đạo hình thức, vụ luật và sự giả hình của các kinh sư, người Pharisêu và các nhà thông luật.”

Thường là họ thất bại trong những cuộc chất vấn Đức Giê-su. Một trong những thất bại đó đã được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (x.Mt 22, 34-40).

**
Vâng, chuyện được thánh Mát-thêu ghi lại như sau: “Khi nghe tin Đức Giê-su đã làm cho nhóm Sa-đốc phải câm miệng, thì những người Pha-ri-sêu họp nhau lại.”

Họ họp nhau lại để làm gì? Thưa, họ bàn với nhau cử một người thông luật trong nhóm đến gặp Đức Giê-su để chất vấn Ngài những vấn đề liên quan đến lề luật.

Khi vị thông luật đến gặp Đức Giê-su, ông ta hỏi để-thử-Người, rằng: “Thưa Thầy, trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn trọng nhất?”

Sách Luật Mô-sê là sách gì? Thưa, “sách gồm 5 quyển, dầy 250 trang, chứa 613 khoản luật chia ra 365 khoản cấm (tương đương số ngày trong một năm) và 248 khoản buộc (tương đương số lượng các khúc xương trong cơ thể con người)”.

“Truyền thống coi 613 điều răn là số lượng điều răn có trong Kinh thánh Torah của Do Thái giáo bắt đầu vào thế kỷ thứ 3 công nguyên, khi thầy đạo Simlai nhắc tới trong một bài giảng được chép lại trong sách Makkot Talmud 23b. Các nguyên lý của luật Kinh thánh này cũng được gọi chung là ‘Luật Moses’, ‘Luật Sinai’, hay đơn giản là Lề Luật”. (nguồn: Wikipedia).

Sáu trăm mười ba điều… điều răn nào là điều răn trọng nhất? Thật khó trả lời! Trong bối cảnh Israel thời đó, mỗi một phe nhóm như: Sa-đốc, kinh sư, luật sĩ, Phariseu, v.v… họ thích điều luật nào thì cho điều luật đó quan trọng hơn cả.

Thế nên,, nếu Đức Giêsu trả lời điều luật này trọng, điều luật kia không trọng, Ngài sẽ bị “chụp mũ” là nghiêng về phe nhóm này, chống phe nhóm kia. Đúng là một ”phép thử” hoàn hảo.

Hôm ấy, như một Đấng có thẩm quyền, Đức Giêsu đáp: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất” (Mt 22, 37-38). Rồi, ngay lập tức, Ngài tuyên bố tiếp: “Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.”

***
Ông thông luật chỉ hỏi một câu hỏi và chỉ cần một lời giải đáp, thế sao Đức Giêsu lại đưa ra hai câu trả lời? Đưa ra hai câu trả lời, vì thật ra hai điều răn này là một và không thể tách rời.

Về vấn đề này, Lm. Charles E.Miller có lời giải thích: “Đức Giê-su không đưa ra điều gì mới mẻ, mà chỉ kết hợp hai giới răn đã có sẵn và nằm riêng rẽ trong các sách Kinh Thánh khác nhau lại thành một. Người quả quyết ta không thể thật lòng yêu mến Thiên Chúa mà không yêu người thân cận, và ta không thể yêu người thân cận theo đúng nghĩa nếu không yêu mến Thiên Chúa.”

Đúng vậy. Câu trả lời thứ nhất được trích từ sách Đệ Nhị Luật: “Nghe đây, hỡi Israel! ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta, là ĐỨC CHÚA duy nhất. Hãy yêu mến ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em”. (Dnl 6,5). Còn câu thứ hai từ sách Lê-vi: “ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” (Lv 19,…18).

Tông đồ Gioan cũng có lời, rằng: “Nếu ai nói: tôi yêu mến Thiên Chúa, mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối, vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy.”

Người môn đệ Chúa yêu, nhấn mạnh: “Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng phải yêu thương anh em mình” (1Ga 4, 21).

****
Xưa, tóm lại 613 điều răn trong sách Luật Mô-sê, Đức Giê-su đã truyền dạy, rằng: “Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy”.

Nay, Đức Giê-su – qua Hội Thánh – chúng ta được truyền dạy rằng: “Mười điều răn ấy tóm về hai này mà chớ: trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen.”

Hôm nay không là 613 điều răn, mà chỉ còn có Mười-Điều-Răn và đã được tóm về hai điều, đó là “mến Chúa và yêu người”.

Vâng, chỉ là “tóm về hai này”, ấy thế mà không phải lúc nào chúng ta cũng thực thi điều truyền dạy này một cách đúng ý Chúa.

Mến Chúa - đúng ý Chúa, Kinh Thánh dạy: “Trước mặt Ta ngươi chớ có thần nào khác” và rằng: “Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật” (Ga 4, 24).

Cung cách “Mến Chúa” của người Ki-tô hữu, đó là: “Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.” Đó còn là: “Xin hãy dùng con. Như khí cụ bình an của Chúa”.

Yêu Người - đúng ý Chúa, Hội Thánh dạy: “Thứ nhất: Cho kẻ đói ăn. Thứ hai: Cho kẻ khát uống. Thứ ba: Cho kẻ rách rưới ăn mặc. Thứ bốn: Viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc. Thứ năm: Cho khách đỗ nhà. Thứ sáu: Chuộc kẻ làm tôi. Thứ bảy: Chôn xác kẻ chết”.

Cung cách “Yêu Người” của người Ki-tô hữu, đó là: “Tìm an ủi người hơn được người ủi an. Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết. Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.” Đó còn là: “Ðem thứ tha vào nơi lăng nhục. Ðem an hòa vào nơi tranh chấp. Ðem chân lý vào chốn lỗi lầm.”

Kitô giáo là một tôn giáo được xây dựng trên nền tảng tình yêu thương. Và tình yêu thương của người Ki-tô hữu chính là sự luôn sẵn sàng dấn thân, dẫu biết rằng để thể hiện sự dấn thân đó, đôi lúc sẽ phải “chết trong lòng một ít”, và đôi khi sẽ phải “cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu”.

Thế nhưng, đó mới là điều để chúng ta được gọi là “môn đệ của Đức Giê-su”. Xưa, Đức Giê-su đã chẳng từng nói rằng: “Anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.”, đó sao! (x.Ga 13, …34).

Khi chúng ta mến-Chúa-đúng-ý-Chúa, yêu-người-đúng-ý-Chúa, Đức Giê-su nói: chúng ta “không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” (Mc 12, 34). Nói cách khác, để được vào Nước Thiên Chúa, chúng ta không được tách rời “hai điều răn ấy”. Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2026

Hãy làm đẹp lòng Thiên Chúa.

 Chúa Nhật XXIX – TN – A

Hãy làm đẹp lòng Thiên Chúa

SnTM 171026a


Đọc Kinh Thánh Tân ước, chúng ta được biết, việc rao giảng Tin Mừng của Đức Giê-su, không phải lúc nào cũng “thuận buồm xuôi gió”.

Sứ điệp rao giảng Tin Mừng của Đức Giê-su, “là những lời mời gọi hoán cải sâu sắc, thách thức trật tự xã hội và tôn giáo”, nên hành trình của Ngài luôn đầy dẫy những sóng gió, với rất nhiều trở ngại, chống đối và thử thách từ nhiều phía.

Có những làn gió “xầm xì phản đối” từ chính quê hương và gia đình của Ngài. Có những làn gió “hoài nghi” rằng Ngài “mất trí” nên thân nhân của Ngài đã đi bắt Ngài về.

Ngoài những làn gió nêu trên, Đức Giê-su còn phải hứng chịu một làn-gió-độc… làn gió cạm bẫy, được phát tán bởi quý ông Pha-ri-sêu.

Sự việc bắt nguồn từ lúc Đức Giêsu, qua một dụ ngôn, đã ví họ như là “những tá điền sát nhân”. Thế là, nhóm kinh sư và Phariseu nổi khùng lên, quyết tâm bắt cho được Ngài. Nhưng than ôi! Khi biết được dân chúng đang xem Đức Giê-su như là “một ngôn sứ”, họ không dám manh động.

Không manh động, thay vào đó, những người Phariseu “bàn bạc với nhau tìm cách làm cho Đức Giêsu phải lỡ lời mà mắc bẫy.” Một chiến-dịch-gài-bẫy được soạn thảo. Một liên minh hỗn hợp được thành hình.

**
Rồi… rồi khi giờ “G” đến. Liên minh hỗn hợp gồm “các môn đệ của họ cùng đi với những người phe Hê-rô-đê đến nói với Đức Giê-su rằng: Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta.”

Đúng. Nói rất đúng. Những lời giảng dạy của Đức Giê-su là chân lý tuyệt đối: “Hễ có thì phải nói có, không thì phải nói không. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ”. Một ngày nọ, Ngài cũng chẳng “vị nể ai” khi đã dám “đuổi hết những người đang mua bán trong Đền Thờ”.

Sau khi giả lả nói vài câu tâng bốc, liên minh “Phariseu-Hêrôđê”, hỏi Đức Giê-su: “Xin Thầy cho biết ý kiến: có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không?”

Đây là một câu hỏi mới nghe qua thật bình thường, nhưng sự thực lại không hề đơn giản, một câu hỏi đầy mưu mô và xảo quyệt.


Trả lời không ư! Nhóm “những người phe Hêrôđê” sẽ tố cáo Đức Giêsu không trung thành với Hoàng đế. Còn nếu trả lời có! Vâng, mấy ông “thần quyền” Phariseu dễ gì ngồi yên. Họ sẽ huy động “các môn đệ của họ” đi khắp Palestina ra rả vu khống Đức Giêsu là một tên “phản dân tộc”. Thật ‘tiến thoái lưỡng nan’, trả lời thế nào cũng khó.

Nhưng! Đức Giêsu “biết… biết họ có ác ý…”. Thế nên, Ngài nói: “Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình! Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế”.

Họ “đưa cho Ngài một quan tiền”. Nhìn thẳng mặt những-kẻ-giả-hình, Ngài hỏi họ: “Hình và danh hiệu này là của ai đây?” Họ đồng thanh đáp “Của Xê-da”. Đức Giê-su bảo họ rằng “Thế thì, của Xêda trả về Xêda; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”.

Bất ngờ trước câu trả lời của Đức Giê-su, một câu trả lời “vừa tôn trọng quyền thế dân sự vừa khẳng định tuyệt đối quyền bính của Thiên Chúa”, liên minh Phariseu-Hêrôđê như mất hẳn khí thế. Lúc thành hình liên minh, họ vô-cùng-quyết-tâm “tìm cách làm cho Đức Giêsu phải lỡ lời”, giờ đây “họ không tài nào bắt quả tang Người lỡ lời” (Lc 20,26).

Chuyện kể rằng: “Nghe vậy. Họ ngạc nhiên và để Người lại đó mà đi.”

***
“Của Xêda trả về Xêda, của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”. Xưa, nhóm Phariseu và phe nhóm Hêrôđê đã “nghe và ngạc nhiên… mà đi”. Còn chúng ta hôm nay, thì sao? Chúng ta nghe và cũng ngạc nhiên… mà đi!

Đừng đi! Hãy ở lại và nghe Lm. Nguyễn Hữu An có lời chia sẻ: “Những gì của Xêda hãy trả cho Xêda. Xêda là hiện thân cho một đế quốc hùng mạnh và giàu có của một thời lịch sử đã qua. Xêda cũng còn là biểu tượng cho thế lực tiền bạc, tham vọng quyền bính và danh lợi dưới mọi hình thức trong xã hội ngày nay đối với mọi người.”

Một ngày nọ, Đức Giê-su có lời truyền dạy, rằng: “Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được.” (Mt 6, 24-34).

Thế nên, khi chúng ta đã là một Ki-tô hữu, hãy đáp lời mời gọi của Đức Giê-su. Hãy trả cho Xêda… những gì của Xêda. Hãy từ bỏ “biểu tượng cho thế lực tiền bạc, tham vọng quyền bính và danh lợi dưới mọi hình thức trong xã hội ngày nay.”

Về điều này, thánh Phao-lô có một cái nhìn sâu sắc khi nói với tín hữu Galat, rằng: “Vậy, giờ đây tôi lấy lòng người đời, hay lấy lòng Thiên Chúa? Phải chăng tôi tìm cách làm đẹp lòng người đời? Nếu tôi còn muốn làm đẹp lòng người đời, thì tôi không còn là tôi tớ Đức Ki-tô.” (x.Gl 1, 10).

Thách thức đối với chúng ta là gì, qua lời chia sẻ của thánh Phao-lô? Phải chăng là chúng ta hãy trả lại Thiên Chúa, những gì thuộc về Người? Thưa, đúng vậy.

Hãy “Ý thức rằng cả cuộc đời, tự do, tài năng và linh hồn của chúng ta đều thuộc về Thiên Chúa chứ không phải thuộc về bất kỳ quyền lực trần thế nào”. (nguồn: internet).

 Đức Giê-su mời gọi. Ngài không ép buộc ta làm bất cứ gì, mà chỉ trông đợi ta tự nguyện, tự nguyện “vì lòng tin - vì lòng mến”.

Vì lòng tin - vì lòng mến, chúng ta hãy “Dâng lại cho Ngài tất cả vinh quang, lòng kính thờ và biết ơn.” Vì lòng tin - vì lòng mến, chúng ta hãy “Sống theo Lời Chúa, giữ gìn phẩm giá con người và chu toàn bổn phận làm người, làm con của Chúa trong đời sống hằng ngày.” Vì lòng tin - vì lòng mến, chúng ta hãy “Lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa.” (Tv 40, 8).

Vì lòng tin - vì lòng mến, theo gương thánh Phao-lô, chúng ta “hãy làm đẹp lòng Thiên Chúa”.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2026

 Chúa Nhật XXVIII – TN – A

Hạnh Phúc thay… kẻ được chọn

SnTM 101026a


Tiệc nghĩa là gì? Thưa, nghĩa là một bữa ăn, có nhiều món ngon, được tổ chức với sự tham gia của đông người nhằm kỷ niệm một dịp vui, nào đó.

Có nhiều hình thức tiệc, như: Tiệc gia đình - kỷ niệm thôi nôi, sinh nhật hoặc đám giỗ. Tiệc tất niên - tổng kết cuối năm của công ty, xí nghiệp. Tiệc ngoại giao (Quốc yến) - chiêu đãi mang tính chính thức, nghi thức cao cấp giữa các cơ quan, tổ chức hoặc quốc gia.

Có một bữa tiệc mà bất cứ ai trong chúng ta cũng đều hơn một lần tham dự, đó là: Tiệc cưới. Vâng, tiệc cưới là một sự kiện đặc biệt, và quan trọng trong xã hội loài người. Khi được mời, ít ai từ chối, vì đó là một vinh dự, một vinh dự mình được nhớ đến. Hơn nữa, đây cũng là dịp mọi người cùng nhau vui vẻ trước một sự kiện tốt đẹp của đời người.

Là một tín hữu Công Giáo, nói tới tiệc, chúng ta có một bữa tiệc đặc-biệt-hơn-cả-đặc-biệt, đó là “Tiệc Cưới Nước Trời”.

Đức Giê-su, trong những ngày ra đi loan báo Tin Mừng, qua một dụ ngôn, Ngài đã mô tả bữa tiệc đặc-biệt-hơn-cả-đặc-biệt này, “được chuẩn bị cho mọi con dân của Thiên Chúa”. Một bữa tiệc “toàn thể nhân loại, được mời đến tham dự.”

Tin Mừng thánh Mát-thêu, đã ghi lại dụ ngôn này với tiêu đề: “Dụ ngôn tiệc cưới.” (Mt 22, 1-14).

**
Dụ ngôn được kể như sau: “Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình…” (Mt 22, 2).

Rồi, như một lẽ thường tình, chuyện kể rằng: “nhà vua sai đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc…”

Vâng, tiệc cưới do vua làm chủ tiệc, được gọi là “yến tiệc cung đình”, đó là một vinh dự cho những ai được mời. Ấy thế mà… lạ thật! Quan khách đã được mời… “họ không chịu đến.”

Người ta thường nói “miếng ăn không trọng bằng lời mời”. Hôm đó, không nặng lòng về những vị khách đã được mời, nhưng không-chịu-đến, nhà vua trân trọng gửi lời mời lần nữa.

Chuyện kể rằng: nhà vua “lại sai các đầy tớ khác đi và dặn họ: Hãy thưa với quan khách đã được mời rằng: Này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn. Mời quý vị đến dự tiệc cưới.”

“Mời quý vị đến dự… Sự hiện diện của quý vị là niềm vinh hạnh lớn cho chúng tôi.” Lời mời quá lịch sự. Một lời mời thường được dành cho “những người lớn tuổi, có địa vị cao, hoặc có phẩm hạnh và kinh nghiệm đáng được kính trọng trong gia đình, dòng họ, xã hội hoặc trong đạo giáo.”

Tiếc thay! Nhóm quan khách này “không thèm đếm xỉa tới” - “Họ bỏ đi: kẻ thì đi thăm trại, người thì đi buôn…” Tệ hơn nữa, có “những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của vua mà sỉ nhục và giết chết.”

Trong bối cảnh tưởng như tiệc cưới bị “vỡ vụn” bởi hai lần “thiệp mời” bị ném vào thùng rác, đầy tớ bị hành hung đến chết, nhà vua vẫn bảo đầy tớ: “Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời không xứng đáng. Vậy các ngươi đi ra các ngả đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới”. Những người đầy tớ đã đi. Họ “đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại…” Cuối cùng, “Phòng tiệc cưới đầy thực khách”.

***
Tưởng chúng ta nên biết, cái cách ông chủ sai đầy tớ đi mời quan khách diễn tả trong dụ ngôn chính là phong tục của người Do Thái, thời đó. Đối với những bữa tiệc quan trọng như tiệc cưới, thiệp mời luôn được gởi-đi-trước, và thời gian đãi tiệc không được xác định rõ, cho đến khi mọi việc đã xong, chủ bữa tiệc mới sai đầy tớ đi mời lần cuối cùng. Đó là lý do, qua dụ ngôn, chúng ta đọc được đoạn văn ghi rằng: “đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã-được-mời-trước”.

Bây giờ, chúng ta cùng trở lại câu chuyện dụ ngôn. Vâng, qua câu chuyện dụ ngôn, Đức Giê-su muốn nói đến một sự thật phũ phàng, rằng: “quan khách đã được mời trước” nhưng lại từ chối không đến, chính là những người Do Thái, tiêu biểu là nhóm Pha-ri-sêu, các thầy thông luật, v.v…

Xưa, Thiên Chúa đã tuyển chọn họ làm dân riêng của Người. Nay, khi Con Thiên Chúa đến thế gian, họ được mời gọi “hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Tiếc thay! họ đã khinh dể, đã từ chối lời mời.

Khi Con Thiên Chúa là Đức Giê-su tuyên bố: “tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.” Họ… “Người Do Thái liền xầm xì phản đối.”

Mô tả sự kiện bi thương này, tông đồ Gio-an viết: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.” (x.Ga 1, 11).

Người-nhà-chẳng-chịu-đón-nhận. Người nhà “không thèm đếm xỉa tới”, kết quả là Thiên Chúa (ông chủ tiệc cưới) chuyển lời mời gọi đến với tất cả mọi người, “bất luận tốt xấu”, trong số người đó, có chúng ta.

Có-chúng-ta…bất luận chúng ta tốt xấu. Hãy ghi khắc trong con tim mình, lời Đức Giê-su đã tuyên phán: “Những người khoẻ mạnh không cần gì đến thầy thuốc, nhưng là những người đau yếu. Ta không đến để kêu gọi những người công chính, mà kêu gọi những người tội lỗi”.

Vâng, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta, đó là lời mời ân sủng. ĐTC Phan-xi-cô, khi còn sinh thời, có lời chia sẻ đáng ghi nhớ, rằng: “Chúa cũng gọi những người xấu. Tôi có thể nói: ‘Không, tôi xấu lắm, tôi đã làm nhiều điều...’. Không. Ngài gọi bạn: ‘Đến, hãy đến, cứ đến!’. Chúa Giêsu đã dùng bữa với những người thu thuế, họ là những người tội lỗi công khai, ở đó, họ là những người xấu… Thiên Chúa không sợ những thương tích trong tâm hồn của chúng ta bởi nhiều điều xấu, vì Ngài yêu chúng ta, Ngài mời gọi chúng ta.” (nguồn: internet).

Đừng vì những lý do khách quan trong dụ ngôn đưa ra, để khước từ lời mời gọi. Chúng ta phải đi làm. Chúng ta bận buôn bán. Chúng ta còn đó một gia đình cần cơm ăn áo mặc, v.v… Thế nhưng, thật ý nghĩa cho việc chúng ta cùng nghe lời chia sẻ của một vị truyền giáo, lời chia sẻ, rằng: “Thảm kịch của đời sống chính là những cái tốt thường làm hỏng điều tốt nhất. Người ta có thể quá bận rộn mưu sinh mà quên lo cho cuộc đời mình, quá bận rộn với việc tổ chức và quản trị đời sống mà quên đi chính đời sống.” Tất nhiên, chúng ta nên hiểu, đời sống ở đây chính là “đời sống đức tin”.

Trong dụ ngôn, khi nói đến hình phạt dành cho những ai khước từ lời mời, đừng xem đó như là một sự dọa dẫm, nhưng hãy xem như một lời “cảnh báo”, cảnh báo rằng, nếu khước từ, chúng ta sẽ có một sự mất mát lớn.

Sự mất mát lớn, đó là chúng ta mất niềm vui được tham dự một bữa tiệc trọng đại mà Chúa dành cho chúng ta, bởi ân sủng kỳ diệu của Ngài - “Tiệc Cưới Nước Trời - Tiệc Cưới Chiên Con.”

Tiệc Cưới Nước Trời - Tiệc Cưới Chiên Con, là một “đại tiệc” ngập tiếng ca mừng: ”Ha-lê-lui-a! Thiên Chúa ta thờ là Đấng Cứu Độ - Đấng vinh hiển uy quyền! Ha-lê-lui-a! Đức Chúa là Thiên Chúa Toàn Năng, đã lên ngôi hiển trị. Nào ta hãy vui mừng hoan hỷ, dâng Chúa lời tôn vinh - Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới Con Chiên!” (Kh 19, 1…9).

****
Để có thể tham dự Tiệc Cưới Nước Trời- Tiệc Cưới Chiên Con, hôm nay - ngay bây giờ, chúng ta hãy sắm sửa cho mình một bộ “y phục lễ cưới”.

Tại sao? Thưa, trong câu chuyện dụ ngôn, khi “quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới”, nhà vua mới hỏi người ấy: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới? Người ấy câm miệng không nói được gì.”

Kết quả… kết quả thật khủng khiếp. “Nhà vua liền bảo những người phục dịch: “trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài…” Vâng, thê thảm lắm: “ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng.”

Tại sao lại bị đuổi? Thưa, vì: “Người ấy câm miệng không nói được gì”. - “Chúng ta biết rằng, các đầy tớ, quân lính của nhà vua đã đi ra các ngả đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới, bất luận tốt xấu cũng đều được tập hợp lại. Điều này cho thấy cũng có rất nhiều người không kịp “mang y phục cưới”, nhưng tại sao họ lại không bị đuổi? Phải chăng họ đã xin nhà vua cho họ bộ “y phục cưới” chăng?

Việc nhà vua cho đầy tớ ra khắp các ngả đường mời tất cả mọi người vào dự tiệc cưới, cho thấy nhà vua – chủ tiệc cưới rất hào phóng, rất quảng đại. Cho nên, việc tặng “y phục cưới” cho khách đối với nhà vua không có gì là khó. Điều cốt lõi là các khách dự tiệc có muốn mặc lấy “y phục cưới” đó không, bởi vì các khách dự tiệc cưới rất đông, vậy mà chỉ có một người không chịu mang “y phục cưới”. (nguồn: Nhóm Suy Niệm Bùi Chu).

Hôm nay - ngay bây giờ, chúng ta hãy sắm sửa cho mình một bộ “y phục lễ cưới”.

Bộ “y phục lễ cưới” của chúng ta hôm nay, đó chính là “một tấm lòng trong trắng- một tâm hồn thủy chung”. Bộ “y phục lễ cưới” của chúng ta hôm nay, đó chính là… là phẩm cách người Ki-tô hữu: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” (Gl 2, 20).

Mang bộ y phục Đức Kitô, chúng ta phải làm cho bộ y phục ấy luôn tinh sạch, tinh sạch bằng việc nghe-và-sống-lời-Chúa. “Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít.” (Mt 22,14).

Hạnh Phúc thay… kẻ được chọn.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

Hãy năng lần hạt Mân Côi

 Chúa Nhật XXVII – TN – A 

Hãy năng lần hạt Mân Côi

SnTM 031026a


Theo lịch phụng vụ, chúng ta đang sống trong “mùa thường niên”. Mùa Thường Niên nghĩa là gì? Thưa, “Mùa Thường Niên là khoảng thời gian trong năm phụng vụ của Giáo Hội Công giáo, không cử hành một mầu nhiệm riêng lẻ hay đặc biệt nào (như Mùa Vọng, Giáng Sinh, Mùa Chay hay Phục Sinh), mà tập trung tôn kính toàn bộ cuộc đời, sứ vụ và mầu nhiệm cứu độ của Đức Giêsu Kitô trong nhịp sống hằng ngày.”

Định nghĩa là vậy! Nhưng, thực tế thì trong mùa thường niên, Giáo Hội còn ấn định một số ngày để kính mười hai vị thánh tông đồ. Các Thánh Tử Đạo hoặc các Thánh nam nữ, sau thời các tông đồ, cũng có những ngày nhất định được kính nhớ.

Riêng với Đức Maria, thì đặc biệt hơn, Giáo Hội đã dành riêng một số ngày, thậm chí cả tháng, (tháng năm và tháng mười), để kính nhớ một cách kính trọng về Mẹ.

Với tháng Năm, chúng ta gọi là “Tháng Hoa”. Với tháng Mười chúng ta gọi là “Tháng Mân Côi”. Và hôm nay, 04/10/2026 là Chúa Nhật đầu tháng, như một truyền thống đẹp, Giáo hội dành riêng Chúa Nhật này để kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi.

**
Đức Mẹ là ai? Vâng, Đức Mẹ là cách chúng ta gọi tôn kính dành cho Đức Maria. Mẹ là người đã được Thiên Chúa tuyển chọn để thực hiện chương trình cứu độ của Người.

Cuộc tuyển chọn Đức Maria đã được Tin Mừng thánh Luca ghi lại như sau: “Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một cô trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Maria.”

Không ầm ỹ bởi những tiếng sấm chớp như đã xảy ra thời Cựu Ước, sứ thần Chúa vào nhà Đức Maria trong sự tĩnh lặng với những lời đối thoại đầy trân trọng.

Hôm ấy, mở đầu cuộc đối thoại, sứ thần Gáp-ri-en cất lời chào: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”.

Nghe lời ấy, Đức Maria “rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.” Để xua tan sự bối rối của Mẹ, sứ thần Chúa có lời giải thích: “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa.”

Tiếp sau đó, một sứ mệnh trọng đại được sứ thần Chúa công bố: “Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.” (Lc 1, 32-33).

Nghe xong, Đức Maria bày tỏ nỗi lòng mình với sứ thần Chúa rằng: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng”.

Một lời bày tỏ rất hợp lý. Nhưng đó là lời-bày-tỏ của-phàm-nhân. Đối với Thiên Chúa, khi đã tuyển chọn ai, dù người đó có nại ra lý do chính đáng để khước từ, Người vẫn tuyển chọn.

Môsê, như một điển hình. Khi Đức Chúa hiện ra trong bụi gai cháy và trao sứ mệnh dẫn dắt dân tộc Ít-ra-en thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập, ông đã nói với Đức Chúa: “Lạy Chúa, xin xá lỗi cho con, từ hồi nào đến giờ, ngay cả từ lúc Chúa ban lời cho tôi tớ Ngài, con không phải là kẻ có tài ăn nói, vì con cứng miệng cứng lưỡi.” (Xh 4,10).

Lời trình bày hợp lý, nhưng Thiên Chúa không chấp nhận lý lẽ của Mô-sê. Thiên Chúa vẫn tuyển chọn. Người phán: “Ai cho con người có mồm có miệng? Ai làm cho nó phải câm phải điếc, cho mắt nó sáng hay phải mù loà? Há chẳng phải là Ta, Ðức Chúa, đó sao? Vậy bây giờ ngươi hãy đi, chính Ta sẽ ngự nơi miệng ngươi, và Ta sẽ chỉ cho ngươi phải nói những gì.” (Xh 4,11).

Chính-Ta-sẽ-ngự-nơi-miệng-ngươi. Đó… đó là trường hợp Mô-sê. Với trường hợp Đức Maria, Thiên Chúa, qua môi miệng sứ thần, phán: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.”

Một bằng chứng sống động về quyền-năng-Đấng-Tối-Cao đã được sứ thần Chúa long trọng công bố: “Kìa bà Ê-li-sa-bét người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”

“Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” Vâng, Ohio - một tiểu bang thuộc Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - lấy câu Kinh Thánh này làm “tiêu ngữ”, xuất hiện bên dưới huy hiệu Ohio. (nguồn: internet).

Đức Maria, khi nghe sứ thần Chúa nói thế, kèm theo bằng chứng sống về bà Ê-li-sa-bét, Mẹ đã phó thác, tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, và cất tiếng nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”.

***
Thế còn… hai chữ “Mân Côi” nghĩa là gì? Thưa, theo sự diễn giải chúng ta thường được nghe, Mân Côi còn được gọi: Mai Khôi, Môi Khôi, Văn Côi nghĩa là một thứ ngọc đỏ hoặc hoa hồng. Giáo Hội Công Giáo hiểu chữ Mân Côi theo nghĩa là Hoa Hồng.

Hiểu theo nghĩa “hoa hồng” là bởi do tích truyện một đan sĩ khi đọc kinh Kính Mừng, Đức Mẹ đã lấy những nụ hoa hồng trên môi vị đan sĩ ấy kết thành vòng hoa đội lên đầu mình. Qua tích truyện này, vòng hoa hồng Đức Mẹ đội trên đầu được gọi là Tràng Mân Côi - Chuỗi Mân Côi. (nguồn: internet).

Vâng, “Tràng Mân Côi - Chuỗi Mân Côi”… theo truyền thống là một trăm năm mươi Kinh Kính Mừng. Một trăm năm mươi Kinh Kính Mừng, được ví như là một trăm năm mươi Thánh Vịnh.

Gọi là Thánh Vịnh “vì đây là hình thức thay thế và tương đương với 150 Thánh Vịnh trong Kinh thánh dành cho các tín hữu thời Trung Cổ không biết chữ Latinh.”

Carlo Acutis (1991-2006) một vị thánh của thế hệ millennial, nói rằng: “Chuỗi Mân Côi là bậc thang ngắn nhất dẫn ta tới Thiên Đàng” (nguồn: internet).
 
Lm. Kim Long gọi Chuỗi-Mân-Côi là “từng lời kinh sốt mến”. Từng-lời-kinh-sốt-mến ngập tràn “hương thơm ngào ngạt thắm ân tình”, trải dài xuyên suốt mười lăm mầu nhiệm: mầu nhiệm năm sự vui, mầu nhiệm năm sự thương, mầu nhiệm năm sự mừng.

Hơn một trăm năm trước đó, năm 1917, Đức Maria đã hiện ra với ba em bé chăn cừu tại làng Fatima, nước Bồ Đào Nha. Ba em bé tên là Lucia dos Santos, Francisco Marto và Jacinta Marto.

Đức Maria đã hiện ra sáu lần, bắt đầu từ ngày 13/5/1917 và lần cuối cùng là ngày 13/10/1917. Và lời “nhắn nhủ” mà Đức Maria đã gửi đến ba em nhỏ, đó là: “hãy mau ăn năn đền bồi, hãy tôn sùng Mẫu Tâm, hãy năng lần hạt Mân Côi”.

Linh mục Huyền Linh cũng đã nhắc lại lời “nhắn nhủ” của Đức Maria, qua nhạc phẩm “Lời Mẹ nhắn nhủ”, một nhạc phẩm rất quen thuộc với mọi người Công Giáo, “đến nỗi một đứa trẻ chưa biết chữ cũng đã thuộc lòng bởi giai điệu bình dị cùng lời cầu nguyện chân thành” – “Năm xưa trên cây sồi làng Fatima xa xôi. Có Đức Mẹ Chúa Trời hiện ra uy linh sáng chói. Mẹ nhắn nhủ người đời hãy mau ăn năn đền bồi. Hãy tôn sùng Mẫu Tâm, hãy năng lần hạt Mân Côi.”

****
Hôm nay, chúng ta sẽ thi hành lời-Mẹ-nhắn-nhủ! Hôm nay, chúng ta sẽ năng-lần-hạt-Mân-Côi!

Chúng ta, hãy thi hành… hãy năng lần hạt Mân Côi. Bởi, việc lần hạt Mân Côi đem lại cho chúng ta những giây phút bước-đi-bên-Mẹ, trên con đường “từ Bê-lem đến Can-vê”.

Vâng, tại Bê-lem “Đức Mẹ sinh Đức Chúa Giêsu nơi hang đá.” Bước-đi-bên-Mẹ… “Ta hãy xin cho được lòng khó khăn.” Tại Can-vê “Đức Chúa Giêsu chịu chết trên cây Thánh Giá.” Bước-đi-bên-Mẹ… “Ta hãy xin cho được đóng đinh tính xác thịt vào Thánh Giá Chúa.”

Lần hạt Mân Côi, đức tin của chúng ta được củng cố, qua việc suy-đi-nghĩ-lại những Mầu Nhiệm, những Mầu Nhiệm phản chiếu hình ảnh một Đức Giê-su, Ngài chính là nguồn ơn Cứu Độ.

Lần hạt Mân Côi, điều đó nói lên rằng, chúng ta tiếp tục công việc sứ thần Gapriel đã làm năm xưa. Đó là cất tiếng chào Đức Maria: “Kính Mừng Maria đầy ơn phước, Đức Chúa ở cùng Bà”.

Lần hạt Mân Côi, với lời cầu khẩn: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời. Cầu cho chúng con là kẻ có tội khi này và trong giờ lâm tử.” Hãy tin “Đức Mẹ (sẽ) phù hộ cho ta được thưởng cùng Mẹ trên nước thiên đàng.”

Cuối cùng, khi lần hạt Mân Côi, đó là chúng ta “Ngước trông về Mẫu Tâm, sống trong tình Mẹ yên vui”.

Vâng, sống-trong-tình-Mẹ, chúng ta sẽ tìm thấy bình an và hy vọng. Thế nên, đừng quên lời Mẹ nhắn nhủ: hãy năng lần hạt Mân Côi.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

Điều gì đã hứa - thì hãy thi hành…

 Chúa Nhật XXVI– TN – A

Điều gì đã hứa - thì hãy thi hành…

SnTM 260926b


Trong nhạc phẩm “Bài Không Tên Cuối Cùng” của nhạc sĩ Vũ Thành An, có một phần tiểu khúc được ông viết, như sau: “Biết bao lần em đã hứa. Hứa cho nhiều rồi lại quên.”

Hứa! Hứa là… gì! Thưa, theo tự điển tiếng Việt phổ thông định nghĩa, thì: “Hứa là nói với ai đó, với ý thức tự ràng buộc mình, sẽ làm điều gì đó theo yêu cầu mà người đó đang cần.”

Hứa… biết-bao-lần là sao! Thưa, là hứa hẹn quá nhiều lần. Quá-nhiều-lần “rồi lại quên” là sao! Thưa, là hứa suông, hứa hão, hứa hươu, hứa vượn, v.v…

Hứa suông, hứa hão, hứa hươu, hứa vượn là sao! Thưa, hứa suông “là hứa bằng lời nói cho xong chuyện, hoàn toàn không đi kèm hành động hay trách nhiệm thực hiện.” Hứa hão: “là hứa những điều hão huyền, xa vời, phi thực tế, biết rõ không làm được nhưng vẫn nói.” Hứa hươu hứa vượn: “là thành ngữ mượn hình ảnh loài hươu và vượn ở trong rừng (loài vật nhanh nhẹn, thoắt ẩn thoắt hiện, khó nắm bắt) để ví von những kẻ hay hứa hẹn đủ điều rồi trơ trẽn ‘xù’ nợ, bội hứa hoặc ‘chạy làng’ không để lại dấu vết.” (nguồn: Wikipedia).

Hứa theo cung cách nêu trên, bảo sao nhạc sĩ Vũ Thành An không thể không than thở: “Anh biết tin ai bây giờ!”

Vâng, không ai có thể tin những người hứa-cho-nhiều-rồi-lại-quên!

“Nói lời phải giữ lấy lời, đừng như con bướm đậu rồi lại bay.” Kinh thánh dạy: “Thà đừng khấn hứa, hơn là khấn hứa mà lại không trả.” (Gv 5, 4).

Trong những ngày ra đi loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su không có những lời giáo huấn cụ thể nào trực tiếp nhắm đến những người “hứa cho nhiều rồi lại quên”.

Thay vào đó, Ngài đã kể một dụ ngôn, một dụ ngôn “nhấn mạnh rất rõ về sự trung thực trong lời nói và việc giữ lời hứa”. Dụ ngôn này được ghi lại trong Tin Mừng Thánh Mát-thêu với tiêu đề: “Dụ ngôn hai người con” (x.Mt 21, 28-32).

**
Dụ ngôn được kể như sau: “Một người kia có hai con trai”. Một hôm, “ông ta đến nói với người thứ nhất: Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho” (x.Mt 21, 28).

Với người con này… Nó đáp: “Con không muốn đâu!”.

Con-không-muốn-đâu! Câu trả lời rất rõ ràng. Thế nhưng, sự thật thì ngược lại. Người con thứ nhất, không “hứa” nhưng sau đó, lại đi.

Tại sao anh ta lại đi? Thưa, khi anh ta “nghĩ lại” lời nói của mình với người cha, anh ta “hối hận, nên lại đi.”

Chuyện kể tiếp rằng: “Ông đến gặp đứa thứ hai và cũng bảo như vậy. Nó đáp: Thưa ngài. Con đây!”

Con đây! Vâng, đứa-thứ-hai diện đối diện với người cha của mình. Nghe rất rõ lời cha mình nói. Nhưng… “nhưng rồi lại không đi”.

Kể đến đây, Đức Giê-su đặt một câu hỏi, hỏi rằng: “Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” Câu hỏi này, Ngài trực tiếp hỏi các thượng tế và kỳ mục, là những kẻ “bực bội” trước việc Đức Giê-su giảng dạy nơi Đền Thờ, và họ đã đặt vấn đề rằng, Ngài “lấy quyền nào mà làm các điều ấy”.

Hôm ấy, quý ông thượng tế và kỳ mục trả lời rằng: “Người thứ nhất”.

***
“Người con thứ nhất”. Với câu trả lời như thế, cứ tưởng rằng Đức Giê-su sẽ nói một vài câu khen ngợi, khen ngợi về sự nhận định đúng của quý ông thượng tế và kỳ mục.

Trái lại, ngay lập tức, Đức Giê-su đã cất lên những lời cảnh báo, cảnh báo rằng: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông”.

Sao vậy! Sao lại thế được, nhỉ!

Thưa, là thế... đúng là thế... bởi vì, những người thu thuế và những cô gái điếm là những người “nói chín làm mười”. Họ là những người “lời nói đi đôi với việc làm.”

Tiêu biểu trong số họ, chính là “cán gộc” ngành thuế tên là Dakêu, một con người đã dám đem “phân nửa tài sản… cho người nghèo, và sẽ đền gấp bốn” cho những ai đã bị ông ta chiếm đoạt tài sản.

Da-kêu đã “phản tỉnh”. Ông ta “hối hận” như người con thứ nhất trong dụ ngôn đã hối hận. Nói cách khác, ông ta đã vâng nghe lời mời gọi “hãy đi làm vườn nho”, ông ta “hứa là làm”.

Với tông đồ Mát-thêu, như chúng ta được biết, đang là “cán bộ thu thuế”, một công việc béo bở đến thế, nhưng khi nghe Đức Giêsu gọi “hãy theo tôi”, ông nhận ra ngay đây chính là một lời mời gọi, lời mời gọi đi vào “đường công chính”, thế là, ông bỏ hết mọi sự và đi theo Ngài.

Người con thứ hai! Vâng, chính là những ngài biệt phái và kinh sư, những “quan lớn” thượng tế và kỳ mục.

Họ tự hào là những nhà lãnh đạo tôn giáo, họ chính là “dân riêng”, là đội quân ưu tú của Đức Chúa Trời, thừa sự nhiệt thành và sự tận hiến.

Họ “không như bao kẻ khác: trộm cắp, bất chính, ngoại tình hoặc như (những) tên thu thuế…” (Lc 18,11).

Thế nhưng! Thật đáng tiếc, khi Thiên Chúa phán, qua miệng lưỡi Gioan Tẩy giả, rằng: “Có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết… Ngài chính là Chiên Thiên Chúa… Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1, 26, 29).

Những ngài biệt phái và kinh sư, nghe và hiểu nhưng “vẫn không chịu hối hận mà tin” (Mt 21, …32).
 
Da-kêu và tông đồ Mát-thêu chính là sự phân định rõ ràng giữa quý ông thượng tế, kinh sư và những ông thu thuế cùng các cô gái điếm, rằng ai sẽ là “người vào Nước Thiên Chúa trước”.

Tưởng chúng ta cần biết, khi Đức Giêsu nói, “người vào Nước Thiên Chúa trước”, thì đừng nghĩ rằng sẽ có “người vào Nước Thiên Chúa sau”.

Đừng có mơ! Theo ngôn ngữ sêmit chữ “trước” không được hiểu theo nghĩa “trước – sau”. Nó được hiểu theo nghĩa “được – mất”.

Hiểu như thế, mới thấy sự nguy hiểm của việc “nói mà không làm”. Thế nên, một khi chúng ta “hứa” thì lời hứa đó phải đi đôi với việc làm.

Bởi đó là điều Thiên Chúa đã truyền dạy: “lời con phải trước sau như một” (Hc 5, …10).

****
Lời-con-phải-trước-sau-như-một. “Đã hứa với Chúa… thì hãy thi hành” (Gv 5, 3).

Vâng, là một Kitô hữu, có rất nhiều điều chúng ta đã hứa với Chúa.

Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chúng ta hứa “Từ bỏ ma quỷ. Từ bỏ những quyến rũ và tội lỗi của chúng. Từ bỏ các việc làm gian ác trong thế gian.” Chúng ta hứa nguyện “Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự”, đúng không?

Đây là một lời hứa… một lời hứa chúng ta phải xem trọng và phải thi hành mãi mãi, dù bất cứ điều gì xảy ra, suốt đời mình. Lời hứa với Chúa… chúng ta phải “giữ trọn”. (x.Tv 116, 14).

Khi lãnh nhận Bí tích hôn phối, chúng ta “Quỳ bên nhau trước Đấng Tối Cao. Hứa yêu nhau trao câu thề chung sống trọn đời”, đúng không?

Thế nhưng, liệu có những lúc “đời buồn vui”, có những khi gặp “sương mù và giá lạnh”… tôi hoặc em, có vì thế mà cất tiếng ca, ca rằng: “thôi là hết anh đi đường anh, tình duyên mình chỉ bấy nhiêu thôi”?

Tất nhiên, không có cuộc hôn nhân nào là hoàn hảo. Hôn nhân là sự kết hợp giữa hai người bất toàn.

Thánh Phao-lô chẳng nói rằng, người kết hôn đôi khi “sẽ tự chuốc lấy những nỗi gian truân khốn khổ”, đó sao! (1Cr 7, 28).

Thế gian không coi trọng hôn nhân. “Nhiều người trẻ ngày nay không còn đặt nặng sự thiêng liêng của hôn nhân mà xem đó chỉ là một tờ giấy thỏa thuận.”

Họ thường chia tay với người hôn phối, khi cuộc sống hôn nhân gặp căng thẳng. Đó không phải là cách của người Công Giáo. Một người bội ước lời thề hôn nhân chẳng khác gì người ấy nói-dối-Thiên-Chúa.

“Ta ghét kẻ rẫy vợ” - Thiên Chúa phán, như thế. (Ml 3, 16).

Khi lãnh nhận Bí tích Truyền Chức Thánh, như Samuel con bà Anna xưa, mọi-ngày-đời- ta “sẽ được nhượng cho Đức Chúa.” (1Sm 1, 28).

Thế nhưng, liệu có những lúc “đời buồn vui”, có những khi gặp “sương mù và giá lạnh”… ta có muốn rút lại lời thề hứa, hứa “tự ý không kết hôn vì Nước Trời”?

Đã hứa “tự ý không kết hôn vì Nước Trời”, hãy như Anna mẹ Samuel, không hề nghĩ đến việc thất hứa. Hãy làm đúng như lời hứa nguyện với Đức Chúa Trời.

Hãy nhớ! Đức Chúa Trời đã có lời thề quyết định về chức tư tế vĩnh cửu: “Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê.” (Tv 110, 4).

*****
Hôm nay, Đức Giê-su vẫn tiếp tục mời gọi chúng ta: “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho”.

Ngài vẫn tiếp tục mời gọi chúng ta: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.

Qua Giáo Hội, Ngài mời gọi chúng ta: “Thảo kính cha mẹ. Chớ giết người. Chớ làm sự dâm dục. Chớ lấy của người. Chớ làm chứng dối. Chớ muốn vợ chồng người. Chớ tham của người.”

Chúng ta sẵn lòng đáp lại lời mời gọi! Chúng ta sẵn lòng “hứa”…!

Câu trả lời là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, hãy nhớ! Đã là một Kitô hữu… đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chúng ta không thể không hứa thực thi lời Chúa.

Chúng ta không thể không hứa, rằng: “Này con xin đến để thực thi ý Ngài”!

Đừng quên, Đức Giê-su đã nói: “Chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào Nước Trời.”

Muốn được vào Nước Trời ư! Vâng… “Điều gì đã hứa… thì hãy thi hành” (Gv 5, …3).

Petrus.tran

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

Đừng gieo cay đắng cho nhau…

 ới bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi là một quan tiền hay sao?”

Chúa Nhật XXIV– TN – A  
Đừng gieo cay đắng cho nhau…

SnTM 190926a

 

Ghen tị là gì? Thưa, ghen tị “là một cảm xúc xảy ra khi bạn cảm thấy hụt hẫng, ấm ức hoặc khao khát vì người khác sở hữu những đặc điểm tốt đẹp, thành tích hay vật chất mà bạn không có.” (nguồn: Wikipedia). 
William Shakespeare, một nhà viết kịch và cũng là nhà thơ, qua vở bi kịch Othello, có bảo rằng: ghen tị giống như “con quái vật mắt xanh.”

Con-quái-vật-mắt-xanh... Vâng, nó đã xuất hiện ngay từ tạo thiên lập địa. Câu chuyện Ca-in giết A-ben là ví dụ điển hình.

Chuyện kể rằng: Ca-in tức giận khi Đức Chúa Trời chấp nhận lễ vật của A-ben, nhưng lại không chấp nhận lễ vật của ông. Ca-in có thể khắc phục hoàn cảnh này, thế nhưng, chỉ vì sự ghen tị trong lòng ông quá lớn; lớn đến nỗi ông không thể kiềm chế, để rồi ông lừa A-ben ra đồng vắng và đã giết em mình (St 4, 4-8). 

Giáo lý Công Giáo xem thói ghen tị là một trong bảy mối tội đầu. Thứ sáu: Yêu người, chớ ghen ghét.

Đức Giê-su, trong những ngày ra đi loan báo Tin Mừng, Ngài cũng đã có những lời giáo huấn nói về thói ghen tị.

Qua “dụ ngôn thợ làm vườn nho”, Đức Giê-su đã đưa ra những lời giáo huấn mạnh mẽ lên án thói ghen tị. Dụ ngôn này được ghi trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (Mt 29, 1-16a). 
 
**  
Dụ ngôn được kể như sau: “Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình”. Và “sau khi đã thỏa thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc.” 

Khoảng-giờ-thứ-ba… “giờ thứ ba, ông lại trở ra, thấy có những người khác ở không, đang đứng ngoài chợ. Ông cũng bảo họ: Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng.”

Nghe vậy, như cá gặp nước: “Họ liền đi.” 

“Khoảng giờ thứ sáu, rồi giờ thứ chín…” chuyện kể tiếp rằng: “ông lại trở ra và cũng làm như vậy.” Cũng-làm-như-vậy nghĩa là sao! Thưa, dễ hiểu thôi, nghĩa là lại thuê thêm một toán thợ nữa.

Rồi, vào “khoảng giờ mười một” - một lần nữa - “ông trở ra và thấy còn có những người khác đứng đó, ông nói với họ: Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?” 

Trả lời ông, họ nói: “Vì không ai mướn chúng tôi”. Không-ai-mướn ư! Tôi mướn! Vâng, ông chủ vườn nho không chần chừ, bảo họ: “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho!” 

Chiều đến… ông chủ vườn nho bảo người quản lý: “Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất”.

Cứ sự thường, đây là lúc những người được thuê nở những nụ cười, sau một ngày lao động cực nhọc, phải  không, thưa quý vị! 

Vâng, có cười, nhưng không phải ai cũng cười. Chuyện gì vậy! Thưa, vì cách thức chi trả tiền công của gia chủ. 

Ông chủ chi trả thế nào mà có một số thợ không cười? Thưa, với “những người mới vào làm lúc giờ mười một… họ lãnh được mỗi người một quan tiền.” 

Rồi sao nữa! Thưa, “Khi đến lượt những người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ được nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền.”

Cũng-chỉ-một-quan-tiền. Thế nên, những người vào làm trước nhất, họ vừa lãnh vừa cằn-nhằn-gia-chủ: “mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt” (x.Mt 20, 12).

Lời ta thán của họ có làm cho ông chủ mủi lòng “tặng” thêm tiền công, chăng! Thưa, có tặng, nhưng là tặng thêm những lời khiển trách nặng nề: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi là một quan tiền hay sao?” 

Nhìn thẳng vào mặt họ, ông chủ nói-như-quát (có thể là vậy): “Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?” 

Kết thúc dụ ngôn “người thợ làm vườn nho”, Đức Giê-su phán rằng, “Những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót”.

*** 
“Những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót”. 

Đây là sự-đảo-ngược “bậc thang giá trị”. Nhưng… đừng ngạc nhiên, vì đó là điều Đức Giê-su muốn dạy dỗ “cho những ai cậy vào công trạng bản thân để coi thường người khác”.

Trong dụ ngôn, những-người-vào-làm-trước-nhất, “coi thường công sức” mấy-người-sau-chót. Họ kiêu căng, tự mãn “cậy vào công trạng bản thân (vì) đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày”, tủi nhục thay, một-quan-tiền vẫn là một-quan-tiền. 

Nói… như lời Gabriel Meurier nói: “Kiêu căng đi trước, tủi nhục và tai họa sẽ bén gót theo sau.”

****
Kiêu ngạo - Ghen tị: chính là cội rễ sinh ra các tội lỗi khác. Các tội lỗi khác, đó là: “nói xấu, vu khống, xảo quyệt v.v…” Các tội lỗi đó, không được hoan nghênh ở “Vườn Nho Nước Trời.” 

Thế nên, hãy tự hỏi mình rằng: “Tôi có thường ghen tị… tôi có thường ghen tức?”.

Câu trả lời là của mỗi chúng ta. Nhưng… hãy cẩn trọng lời dạy của thánh Phao-lô: “Bao lâu giữa anh em có sự ghen tương và cãi cọ, thì anh em chẳng phải là những con người sống theo tính xác thịt và theo thói người phàm sao?” (x.Cor 3, 3). 

Sống theo tính xác thịt và theo thói người phàm, rất… rất nguy hiểm. Nó làm cho chúng ta: “chia rẽ và đố kỵ - hướng về trần thế - xa rời Thiên Chúa”, chúng ta sẽ không được thừa hưởng Vườn-Nho-Nước-Trời. 

Thế nên, đừng bao giờ “ghen ăn tức ở”, khi thấy người khác hơn mình.

Muốn vậy, hãy nghe lời thánh Phao-lô dạy “vui với người đang vui” (x.Rm 12,15). Tại sao? Thưa, là bởi, vui với người thành công hơn ta, vui với người may mắn hơn ta, trong tâm hồn ta còn chỗ nào cho sự ghen tị ngự trị, đúng không!

*****
Là một tín hữu Công Giáo, chúng ta chính là những người được “vào làm việc trong vườn nho Giáo Hội”.

Dù ta là kẻ vào làm “khoảng giờ thứ ba” hay “khoảng giờ thứ sáu” hoặc “giờ thứ chín… thứ mười một”, hãy nhớ, chúng ta đều “thuộc về ông chủ Vườn Nho là Đức Ki-tô Giê-su”.

Đừng bao giờ trở thành nhóm thợ “cằn nhằn gia chủ”. Hãy mặc lấy tâm tình của thánh Phao-lô: “Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô…”

Sống là Đức Ki-tô… là nhân từ và bao dung, làm sao trong tôi bùng lên sự ghen tị, cho được! Sống là Đức Ki-tô… làm sao trong tôi lại có thể “cằn nhằn” Ngài, cho được! Sống là Đức Ki-tô… làm sao trong tôi lại không yêu Đức Ki-tô, cho được! 

Yêu Đức Ki-tô… làm sao trong tôi lại không “yêu (mến) người thân cận như chính mình”, cho được! 

Chắc chắn chúng ta phải yêu-mến-nhau. Vì, đó là lệnh truyền của Chúa Ki-tô: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12).

Khi chúng ta theo lệnh truyền của Chúa Ki-tô, yêu-thương-nhau, cớ gì chúng ta ghen tị… cớ gì chúng ta ghen tức nhau!

Vâng… “đã yêu mến nhau… đừng gieo cay đắng cho nhau.” (Anh Bằng).

Petrus.tran

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2026

Điều Chúa truyền: là bảy mươi lần bảy

 Chúa Nhật XXIV– TN – A

Điều Chúa truyền: là bảy mươi lần bảy

SnTM 120926a


Tha thứ là gì? Thưa, tha thứ là một đức tính giúp con người “giữ gìn sự hòa hợp, sự yên ổn và gắn kết tốt đẹp với mọi người xung quanh.” Tha thứ còn được xem “như là một nghĩa cử của tình yêu thương và lòng thương xót.” (nguồn: internet).

Victor Hugo, nhà văn và cựu thành viên Hạ viện Pháp, cho rằng: “Tha thứ là tôn giáo tuyệt vời nhất”. Mahatma Gandhi nói “Sẽ không thể sống được nếu thiếu sự tha thứ. Tha thứ cần thiết cho con người như khí trời”. Còn Martin Luther, ông ta nói: “Tha thứ là mệnh lệnh của Chúa”.

Giáo Hội Công Giáo, khi nói tới sự tha thứ, thì coi đó như là một nhân đức, một nhân đức không thể thiếu trong đời sống đức tin. Kinh Mười Bốn Mối – phần thương linh hồn bảy mối - có dạy: “Thứ năm, tha kẻ dể ta.”

Đức Giê-su, trong những ngày ra đi loan báo Tin Mừng, Ngài cũng đã có những lời giáo huấn nói về sự tha thứ. Những lời giáo huấn về sự tha thứ mà Đức Giêsu truyền dạy, luôn mang chiều hướng tích cực, đầy yêu thương và bao dung.

Luật người xưa dạy rằng: “mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng” (Xh 21,24). Với Đức Giê-su – rất yêu thương và bao dung, Ngài có lời dạy: “Đừng chống cự kẻ ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ má bên trái ra nữa”.

Đức Giê-su không hoan nghênh bất cứ hình thức báo thù nào. Ngài dạy dỗ các môn đệ mình: “Nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em ở trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. (Mt 6, 14).
 
Lỗi lầm là một thực tế trong cuộc sống. Giữa cuộc sống đầy những thử thách, những chướng ngại, con người không thể không mắc phải lỗi lầm.

“Phải tha-lỗi-cho-người-ta. Phải biết tha thứ cho nhau.” Phải biết ngàn-lần-tha-thứ-cho-nhau. Đó là điều Đức Giê-su đã truyền dạy cho các môn đệ. Những lời truyền dạy này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (Mt 18, 21-35).

**
Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại: Một ngày nọ, nhân cơ hội Đức Giê-su và các môn đệ trao đổi với nhau về những chuyện liên quan đến cách giao tiếp và hành xử với những người xung quanh sao cho chuẩn mực, hợp tình và hợp lý, “ông Phê-rô đến gần Ngài và hỏi rằng: Thưa Thầy, nếu anh em con xúc phạm đến con, thì con phải tha thứ mấy lần? Có phải bảy lần không?”

Bảy lần! Theo Bạn “bảy lần”, nhiều hay ít? Nhiều chứ, phải không thưa quý bạn! Này nhé, nếu lời đề nghị của ông Phê-rô, đem so sánh với nhân sinh quan của người Việt Nam, thì bảy lần của ông Phê-rô, có thể nói là tuyệt vời. Người Việt Nam ta, giỏi lắm cũng chỉ “quá tam ba bận”, mà thôi!

Còn luật Do Thái ư! Bốn lần là quá sức chịu đựng rồi. Một Ráp-bi Do Thái dạy: “Nếu có ai đó xúc phạm đến anh lần thứ nhất, hãy tha cho người ấy. Nếu người ấy xúc phạm đến anh lần thứ hai, cũng hãy tha cho người ấy. Nếu người ấy ngoan cố xúc phạm đến anh lần thứ ba, thì vẫn phải tha cho người ấy. Trường hợp người ấy xúc phạm lần thứ tư, thì đừng tha nữa!” (nguồn: internet).

Thế nên, thật khó để mà phủ nhận lời “gợi ý” của ông Phê-rô là một lời gợi ý hoàn hảo.

Nhưng, với Đức Giê-su - Ngài cho là chưa hoàn hảo. Hôm ấy, trả lời Phê-rô, Đức Giê-su nói: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.” (Mt 18, 22).

***
Bảy-mươi-lần-bảy nghĩa là sao? Thưa, đây không phải là con số toán học.

“Đức Giê-su không đưa ra một giới hạn cụ thể hay một con số đếm (490 lần) để khi vượt qua thì được phép ngừng tha thứ.

Trong Kinh Thánh, số 7 tượng trưng cho sự trọn vẹn. Việc nhân lên thành ‘bảy mươi lần bảy’ diễn tả mức độ trọn vẹn tối đa, nghĩa là lòng bao dung không bao giờ cạn.

Câu trả lời của Chúa Giê-su với Phê-rô nhấn mạnh rằng, người tha thứ thật lòng không lập sổ hay tính điểm lỗi lầm của người khác, mà hoàn toàn buông bỏ để hòa giải.” (nguồn: internet).

Bảy-mươi-lần-bảy là tha thứ mãi mãi. “Dù nó xúc phạm đến anh một ngày đến bảy lần, và bảy lần trở lại nói với anh: ‘Tôi hối hận’ thì anh cũng phải tha thứ cho nó.” (x.Lc 17, 3-4).

****
Phải tha thứ cho nó mãi mãi… cho tới chết.

Vâng, nói rất dễ, nhưng làm lại là một nan đề.

Vậy, làm sao để có thể thực thi mệnh lệnh này? Thưa, Đức Giê-su chính là tấm gương để chúng ta học hỏi và noi theo.

Trên Thập Tự Giá, Đức Giê-su đã biểu lộ một tấm lòng đầy bao dung trước những kẻ đóng đinh Ngài, với lời cầu nguyện, nguyện rằng: “Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”.

Đó… đó chính là lời tóm gọn cho tất cả mọi lời giáo huấn của Đức Giêsu về sự tha thứ.

Vương Quốc của Thiên Chúa không thể dung nạp những kẻ được Đức Giê-su “chạnh lòng thương và tha thứ” nhưng lại hành xử “độc ác” không thương xót và tha thứ, đồng bạn.

Không chạnh-lòng-thương-và-tha-thứ, như chính Đức Giê-su “chạnh lòng thương và tha thứ”, chúng ta sẽ bị dán nhãn là “tên mắc nợ không biết thương xót”.

Tên-mắc-nợ-không-biết-thương-xót là tựa đề một dụ ngôn, một dụ ngôn, như một lời cảnh cáo cho những ai không thực thi lệnh truyền của Đức Giê-su: phải tha thứ cho nhau “đến bảy mươi lần bảy.”

Dụ ngôn được kể rằng: “Một ông vua kia muốn đòi các đầy tớ của mình thanh toán sổ sách.” Có một người “mắc nợ vua mười ngàn yến vàng”. Và, thảm hại thay “y không có gì để trả.” Để xóa nợ “tôn chủ ra lệnh bán y cùng tất cả vợ con, tài sản.”

Nghe thế, tên đầy tớ hoảng hốt “sấp mình xuống… xin (tôn chủ) rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết”.

Tôn chủ đáp lại lời cầu xin của tên đầy tớ thế nào? Thưa, ông ta: “chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ.”

Tên đầy tớ được “tha luôn món nợ.” Nhưng tệ thật! Chuyện kể tiếp rằng: “vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một người đồng bạn, mắc nợ y một trăm quan tiền.”

Vâng, chỉ có một-trăm-quan-tiền, ấy thế mà tên đầy tớ “liền túm lấy, bóp cổ mà bảo: trả nợ cho tao!”

Thật đáng thương cho “người đồng bạn” này. Vì không có tiền trả nợ, nên anh ta bị tên đầy tớ “tống vào ngục cho đến khi trả xong nợ.”

Chuyện đến tai tôn chủ. Tôn chủ cho đòi y tới. Một cơn mưa luận tội trút lên tên đầy tớ. Mười-ngàn-yến-vàng so với một-trăm-quan-tiền, là một khoảng cách lớn: một-trăm-triệu-quan-tiền. So với tiền lương thời đó, làm cả đời cũng không trả nổi.

Không trả nổi! Vậy mà “ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi… thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?”

Thật không oan uổng, khi tôn chủ dán cho tên đầy tớ một cái nhãn là “đầy tớ độc ác”.

Sự độc ác của tên đầy tớ đã làm cho tôn chủ “nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông.”

Kết thúc dụ ngôn, Đức Giê-su có lời khuyến cáo: “Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.” (x.Mt 18, 35).

Qua “dụ ngôn tên mắc nợ không biết thương xót”, có thể kết luận rằng, Đức Giêsu muốn gửi một thông điệp đến cho mọi người, rằng: “phải tha thứ như Chúa đã tha thứ”.

*****
Phải-tha-thứ.

Có tình yêu thương sẽ có sự tha thứ.

Ca dao Việt Nam có câu “yêu nhau trăm sự chẳng nề, một trăm chỗ lệch cũng kê cho vừa”.

Thánh Phaolô cũng đã nói: “Đức ái thì nhẫn nhục... không nóng giận, không nuôi hận thù... Đức ái tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả (1Cor 13, 4-7).

Corrie Ten Boom đã thực hiện được điều này.

Chuyện được kể rằng: Vào thời đệ nhị thế chiến. Corrie Ten Boom và em gái của bà là Betsie đã bị lính Đức bắt vì tội che dấu những người Do Thái. Hai người đã bị đưa đến trại tập trung của Đức quốc xã. Với sự hành hạ dã man, Betsie em bà đã chết thật đau đớn và tàn nhẫn…

Hết chiến tranh, Corrie sống sót trở về. Năm 1947, bà chia sẻ đức tin của mình trong một nhà thờ ở Munich. Bà nói về ơn tha tội mà Thiên Chúa đã ban cho bà. Bà nói về việc mình tha thứ cho người khác.

Ngay sau đó, một trong số những người đã nghe bà chia sẻ, tìm đến gặp bà. Bà Corrie thảng thốt nhận ra người đó chính là một trong những tên lính Đức đã hành hạ bà và người em gái Betsie.

Anh ta chạy lại thưa với bà: Tôi đã trở thành Kitô hữu, đã nhận biết tội lỗi của mình. Anh ta liền quì xuống dang rộng hai tay xin bà tha thứ.

Lúc đó, tâm hồn bà Corrie đã phải chiến đấu mãnh liệt với những cảm xúc giữa lòng hận thù và sự tha thứ, giữa những căm phẫn trong lòng và những lời dạy của Đức Giêsu: “Còn Thầy, Thầy bảo anh em: Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.” (Mt 5, 44).

Có lẽ suốt cuộc đời, chưa bao giờ bà phải đối diện với một tình huống khó xử đến thế! Nhưng Corrie nhớ lại lời Đức Giêsu: “Nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình…” (Mt 18,…35).

Bà biết mình phải tha thứ. Bà lặng lẽ cầu nguyện: Lạy Chúa! Xin giúp con. Không có tình yêu Chúa, con không thể thực hiện sự tha thứ này.

Chuyện được kể tiếp rằng: Rồi bà dơ tay đỡ kẻ thù đứng dậy.” (nguồn: internet).

Sự tha thứ chính là động lực làm cho quên đi hận thù.

Một khi quên đi hận thù… Chắc… có phần chắc, chẳng ai còn cần thiết đến gặp kẻ thù để đòi cho được “mắt đền mắt, răng đền răng”. Một khi đã quên đi hận thù… Vâng, sẽ được ích gì khi đòi kẻ thù “mạng đền mạng”. Hơn nữa, “giết người đi thì ta ở với ai”!?

Thánh Phanxicô thành Assisi nói: “Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ”. Không-tha-thứ, cố Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn-Văn-Thuận nói: “Tôi không đáng được gọi là Kitô hữu.”

Đã là Kitô hữu, phải hết lòng tha thứ cho nhau. Thánh Phao-lô nhắc nhở: “Mỗi người trong chúng ta sẽ phải trả lời về chính mình trước mặt Thiên Chúa.” (Rm 14, 12).

Vâng, chúng ta sẽ phải trả lời trước mặt Thiên Chúa rằng, tôi có thực hiện điều Đức Giêsu truyền dạy!

Hãy nhớ, điều Chúa truyền: là bảy mươi lần bảy.

Petrus.tran

Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một.

  Chúa Nhật XXX – TN – A Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một Đọc các sách Tin Mừng, chúng ta được biết, sứ vụ rao giảng Tin Mừng của...