Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2025

Lễ Thánh Gia -Đừng quên thánh Giu-se.

 “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy!”. (Mt 2, 13).

 Lễ Thánh Gia -Đừng quên thánh Giu-se

snTM 271225a


Chúa Nhật tuần trước, toàn thể Giáo Hội long trọng mừng lễ Giáng Sinh, một ngày lễ kỷ niệm Chúa Giê-su sinh ra tại Belem miền Giu-đê.

Theo tin mừng thánh Lu-ca ghi lại, thì đây là: “một tin mừng trọng đại… tin mừng cho toàn dân… một Đấng Cứu Độ đã sinh ra… Người là Đấng Kitô Đức Chúa” (Lc 2, 10-11).

Có bao giờ chúng ta tự hỏi, rằng: là Đấng-Kitô-Đức-Chúa, sao Ngài không đến thế gian như một Tôn Ngộ Không, với bảy mươi hai phép thần thông biến hóa! Mà Ngài lại đến thế gian bằng hình hài một hài nhi được sinh ra bởi một Trinh Nữ tên là Maria với người cha là Giuse!

Thưa, một thắc mắc mà chắc hẳn ai trong chúng ta đều có thể trả lời rằng, chỉ vì “thiêng liêng hai tiếng gia đình” (thơ: Nguyễn Đình Huân).

Xưa, vào thuở tạo thiên lập địa… một-gia-đình đã được hình thành. Tại vườn Eden, Thiên Chúa đã tạo dựng một gia đình.

Sách Sáng thế ghi lại rằng: “Đức Chúa là Thiên Chúa phán: Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó… Đức Chúa là Thiên Chúa cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi.

Rồi Chúa rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt thế vào. Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương sườn, đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người. Con người nói: Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra.”

Kể từ đó, một gia đình đã hiện hữu với một Adam sẵn sàng “lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt.” (St 2, 23).

Tiếc thay! gia đình này đã phạm tội bất tuân mệnh lệnh Thiên Chúa đề ra. Sự bất tuân đó làm cho gia đình tan vỡ. Gia đình không còn sự bình an. Những bất đồng đã xảy ra. Những cảm xúc tiêu cực đổ về. Hệ quả dẫn đến vụ án Cain đã giết em ruột của mình là Abel. Nó như là đỉnh điểm của sự đổ vỡ.

Nay, tại Belem, một gia đình mới hình thành, một gia đình gồm có “bà Maria, ông Giuse cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ”. (Lc 2, 16). Những thành viên này là những người được Thiên Chúa tuyển chọn. Những thành viên này, với sự vâng lời của bà Maria “xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”, và sự vâng phục của ông Giuse “làm như sứ thần Chúa dạy”, đã biến gia trang Nazareth, nơi được mô tả là “làm sao có cái gì hay được” trở thành nơi có một “Gia Thất Thánh – Gia Thất An Bình”.

Câu chuyện Thánh Giu-se “đưa Hài Nhi Giêsu và mẹ người trốn sang Ai cập”, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Matthêu, như điển hình. (Mt 2, 13-15 19-23).

**
Vâng, hơn hai ngàn năm xa trước đó. Đang khi Palestin chìm trong thinh lặng của đêm khuya. Còn nơi hang Belem “bà Maria, ông Giuse cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ” yên giấc say nồng… Có một cuộc thần hiện xảy ra.

Cuộc thần hiện được kể lại như sau: “Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giuse: Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy!”. (Mt 2, 13).

Đây không phải là lần đầu tiên ông Giuse, nhận mệnh lệnh của sứ thần Chúa, qua phương cách “hiện ra báo mộng”. Khoảng tròn năm trước, sứ thần Chúa cũng đã “hiện đến báo mộng cho ông”.

Lần đó, ông đã phải chiến đấu, để chọn lựa, để thi hành mệnh lệnh của sứ thần Chúa. Với giấc mộng hôm nay, ông đã tuân thủ không chút ngờ vực, không chút đắn đo. Thánh sử Matthêu, cho biết: “Ông Giuse liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập”. (Mt 2, 14).

* Tưởng chúng ta cũng cần biết, vì sao vua Hêrôđê muốn giết Hài Nhi Giêsu.

Chuyện là thế này. Hồi ấy, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem và hỏi: “Đức Vua dân Do Thái mới sinh hiện ở đâu”. Vâng, mấy nhà chiêm tinh “đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông” và họ muốn được “đến bái lạy Người”.

Nguồn tin này như một cái tát vào mặt Hêrôđê. Ai… ai là vua dân Do Thái và ai đáng được bái lạy, nếu không phải là ông ta!

Một quỷ kế đã được Hêrôđê vạch ra. Nhà vua “bí mật vời các nhà chiêm tinh đến” căn dặn mấy nhà chiêm tinh rằng “Xin quý Ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người”…

Qua những lời chỉ dẫn của các thượng tế và kinh sư, mấy nhà chiêm tinh đã tìm thấy “vị lãnh tụ chăn dắt Israel” tại Belem. Chuyện kể rằng: “Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người”.

Thế nhưng, sau đó, mấy nhà chiêm tinh “được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình”.

Vua Hêrôđê, sau đó, “thấy mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa, thì đùng đùng nổi giận, nên sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Belem và toàn vùng phụ cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh.”

Trở lại cuộc hành trình “đào thoát” của ông Giuse. Chuyện kể rằng: Ông đã đưa gia đình đến bến bờ bình an. Tại Ai Cập, gia thất của ông đã “ở đó cho đến khi vua Hêrôđê băng hà”.

***
Chúa Nhật hôm nay (28/12/2025) Lễ Thánh Gia.

Lễ Thánh Gia, tất nhiên chúng ta nói về gia đình. Nói về gia đình, không gì tốt hơn là nói về người cha. Nói về người cha, bởi vì, một văn hào phương tây đã nói: “Nơi chốn bình an nhất của đứa trẻ trên thế giới này là căn phòng của cha nó”.

Nói về người cha, nên chăng nói về “ông Giuse”! Nên chứ! Vâng, “ông Giuse” ngày nay chúng ta gọi là “Thánh Cả Giuse”. Thế mà, không biết từ bao giờ, có ai đó tặng cho ngài nickname là “Thánh Giuse thánh ngủ”.

Nói về nickname “Thánh Giuse thánh ngủ”. Có lẽ không ít người trong chúng ta “vẫn còn khá mới mẻ” với cái tên này. Tuy nhiên, chúng ta sẽ kinh ngạc khi hiểu được ý nghĩa của (biệt danh) này. Vâng, ý nghĩa tâm linh của (biệt danh) này rất sâu sắc.

Đó là: Sự tin tưởng tuyệt đối: Thánh Giuse ngủ ngon vì Ngài hoàn toàn tin tưởng và phó thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa, ngay cả khi đối mặt với thử thách lớn lao.

Kết nối với Chúa: Giấc ngủ của Thánh Giuse là thời điểm Ngài kết nối sâu sắc với những chỉ dẫn từ Thiên Chúa, dù Ngài luôn sống ý thức về Chúa.

Thân phận lữ hành: Hình ảnh Ngài ngủ gối đầu trên tay nải, vẫn mặc sẵn quần áo, nhắc nhở về cuộc đời lữ hành (di cư sang Ai Cập, trở về...) luôn sẵn sàng lên đường theo ý Chúa, không gắn bó nơi chốn.” (nguồn: internet).

Một người cha như thế, một người cha “tin tưởng tuyệt đối vào Chúa, kết nối với Chúa, nhắc nhở về cuộc đời lữ hành của mình”, có lẽ nào không phải là nơi-chốn-bình-an-nhất-của-chúng-ta, phải không, thưa quý vị!

Vâng, chúng ta đang sống trong một xã hội ngày càng tục hóa. Thiên Chúa bị gạt ra khỏi cuộc đời. Hậu quả là gì? Thưa, một nền văn hóa sự chết nảy sinh, tự do phá thai, tự do hôn nhân đồng tính được cổ võ.

Văn-hóa-sự-chết… Tự-do-phá-thai, tự-do-hôn-nhân-đồng-tính, chính là “hiện thân” những tên bạo chúa Hêrôđê-thời-đại.

Chúng chính là nguyên nhân gây mâu thuẫn trong gia đình. Chúng chính là nguyên nhân gây bất hòa, chia rẽ. Chúng tiếp tục tước đi quyền làm người, quyền được sống của con trẻ, của hài nhi. Chúng không ngần ngại truy sát tập thể những con trẻ ngây thơ, bởi những game bạo lực, bởi những website-đen… đen như mõm chó, bởi những thần tượng ảo, v.v…

Hãy tự hỏi, chúng ta sẽ làm gì để những vấn nạn (nêu trên) không thể xâm nhập gia đình chúng ta? Thật… thật khôn ngoan khi chúng ta xem “thánh Giuse thánh ngủ” như là một tấm gương noi theo, hầu có thể trở thành tấm lá chắn, để bảo vệ gia đình chúng ta.

Vâng, “Đừng quên thánh Giu-se”.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2025

Belem hồn tôi – có Chúa ở cùng

 Chúa Nhật IV – MV – A

Belem hồn tôi – có Chúa ở cùng

SnTM 201225a


Như chúng ta được biết, mỗi khi bắt đầu bước vào Mùa Vọng, trên cung thánh của bất cứ nhà thờ nào, cũng đều được trưng bày bốn cây nến. Bốn cây nến này (ba cây mầu tím, một cây mầu hồng) thường được đặt trên một vòng lá cây xanh (vòng Nguyệt Quế), biểu tượng cho sự sống vĩnh cửu và sự trở lại của Chúa Giê-su.

“Cây nến thứ nhất: tượng trưng cho hy vọng vào sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế. Cây nến thứ hai: tượng trưng cho bình an mà Chúa mang đến. Cây nến thứ ba: tượng trưng cho niềm vui mừng sắp đến lễ Giáng Sinh. Cây nến thứ tư: tượng trưng cho tình yêu thương vô bờ bến của Chúa.” (nguồn: internet).

“Hy Vọng - Bình An - Niềm Vui - Tình Yêu”… đó là những món quà tặng của Thiên Chúa. Khi nói đến những món quà này, chúng ta không thể không liên tưởng đến một nhân vật, đó là Thánh Giu-se.

Liên tưởng đến Thánh Giu-se, vì ngài chính là người đã đốt lên một ngọn lửa, một ngọn lửa rực sáng niềm hy vọng, ấm áp sự bình an, chan hòa niềm vui thỏa, tràn đầy tình yêu thương, qua việc thực thi mệnh lệnh “sứ thần Chúa dạy… đón Đức Maria về nhà mình.” Vâng, sự việc này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Matthêu (1, 18-24).

**
Khởi đầu câu chuyện, thánh sử Mat-thêu thuật lại như sau: “Đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô, bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1, 18).

Đó là một tin tốt chăng? Thưa, với cái nhìn của người đời, chúng ta có thể nói hai chữ: “tin xấu!” Với người đời, đó là một tin không vui, và rất có thể có người sẽ khắc khoải sầu đau với những đêm dài thao thức!

Rất có thể có người trong đêm dài thao thức, sẽ nghêu ngao những lời ca, rằng: “Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần sầu!” Rất có thể có người sẽ “nghẹn ngào” nói với ý trung nhân mình, rằng: “Thôi em đi về đi. Ðau thương này anh xin dành mang”.

Thánh Giuse làm gì, khi biết được sự việc này? Ngài xin-dành-mang, chăng! Không… không thấy Tin Mừng nói đến. Chỉ thấy, Kinh Thánh thuật lại rằng: “Ông Giuse, chồng bà, là người công chính không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1, 19).

Thánh Giu-se nghĩ như vậy và “ông đang toan tính như vậy”. Thế nhưng, như người xưa có nói: “mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”. Thiên… ở đây là Thiên Chúa - Người không cho ông làm như vậy. Người đã can thiệp vào toan tính của thánh Giu-se.

Thiên Chúa can thiệp bằng cách nào! Thưa, Người sai “Sứ thần… hiện đến báo mộng cho ông”. Sứ thần Chúa báo mộng, rằng: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ. Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa Chúa phán qua miệng lưỡi ngôn sứ: Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.”

Là một người công chính, có phần chắc, Thánh Giu-se hiểu những gì sứ thần Chúa phán truyền “chính là lẽ thật”, lẽ thật tuyệt đối đến từ Thiên Chúa, không thể chối từ. Và rồi, “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà” (Mt 1, 24).

***
Hôm nay (21/12/2025), Chúa Nhật thứ IV – Mùa Vọng. Như vậy, bốn cây nến trên cung thánh đều được thắp sáng. Những món quà tặng của Thiên Chúa cũng đã được đóng gói, đóng thành một gói-quà-lớn.

Gói-quà-lớn này, gồm có: niềm hy vọng, sự bình an, niềm vui thỏa, tình yêu thương. “Shipper Giêsu” sẽ giao tận nhà, cho mỗi chúng ta. Ngài sẽ “đứng trước cửa và (phone). Ai nghe tiếng (Ngài) và mở cửa…” Ngài sẽ tặng gói-quà-lớn này cho mỗi chúng ta.

Không còn là sứ thần Chúa “báo mộng” như báo mộng cho Thánh Giu-se, nhưng chính là Thần Khí Chúa sẽ giúp chúng ta “nhận ra sự thật, phân định ý Chúa”, ngõ hầu có thể thấy được giá trị của món quà này.

Sống… chúng ta không thể không có hy vọng. Vì nó “giúp con người có niềm tin vào bản thân, tìm kiếm giải pháp và không bỏ cuộc trước nghịch cảnh.” Sống… nhất là phải sống trong một thế giới đầy bất an và bất ổn, như hôm nay, có ai lại không cần bình an!

Niềm vui thỏa, và nhất là tình yêu thương, rất cần. Vì nó “thể hiện sự viên mãn, hạnh phúc trọn vẹn khi con người cảm nhận được tình yêu thương, sự quan tâm từ người khác, mang lại cảm xúc tích cực, sự gắn kết, sức mạnh vượt qua khó khăn, đồng thời giúp chúng ta lan tỏa lòng tốt, sự sẻ chia, bao dung, và tạo nên ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống. Đây là những giá trị cốt lõi của hạnh phúc con người, được thể hiện trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội.” (nguồn: internet).

Do vậy, đừng từ chối quà tặng của Thiên Chúa. Chúng ta hãy mở cửa, nhận quà. Gói-quà-của-Chúa rất có giá trị. Giá trị vượt thời gian. Giá trị đời đời.

Xưa, Thánh Giu-se làm-như-sứ-thần-Chúa-dạy và đón Đức Maria về nhà, thế gian nhận được một “Em-ma-nu-en – Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.”

Nay, nếu chúng ta mở cửa… mang gói quà vào-ngôi-nhà-tâm-hồn-mình, chúng ta sẽ nhận được “niềm hy vọng, sự bình an, niềm vui thỏa, tình yêu thương”.

Hãy mở cửa… mang gói quà vào-ngôi-nhà-tâm-hồn-mình. Vì đó là gói hành trang tốt nhất cho cuộc hành trình về Belem Thiên Quốc của mỗi chúng ta.

Chúa Nhật hôm nay, cây nến thứ tư sẽ được thắp sáng. Lễ Giáng Sinh gần kề. Mọi việc thiết kế hang đá theo truyền thống, đã xong. Việc còn lại và không kém phần quan trọng đó là Hang Belem tâm-hồn-mình.

Hang Belem tâm-hồn-mình được trang trí ra sao? Nên chăng, mang-gói-quà-Chúa-tặng trang trí hang Belem tâm-hồn-mình!

Vâng, nên làm vậy. Làm vậy Hang Belem tâm-hồn-mình có-Chúa-ở-cùng.

Làm vậy… Belem hồn tôi – có Chúa ở cùng.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2025

Chúa Giêsu, thật là Đấng đã đến

 Chúa Nhật III – MV – A

Chúa Giêsu, thật là Đấng đã đến

SnTM 131225a


“Dương trần đã vang lên bài thánh ca. Mùa đông năm ấy Chúa sinh vì ta. Năm ấy không xa bây giờ. Vào một mùa Giáng Sinh xưa. Nửa đêm đi lễ anh đưa.”

Những dòng chữ trên đây, là một phần trích đoạn của bản nhạc có tên “Lời Con Xin Chúa” - tác giả: Lê Kim Khánh.
Đúng… đúng là những ngày hôm nay, “dương trần” nơi chúng ta đang sống, đã “vang lên (những) bài thánh ca”, những bài thánh ca nói đến việc Chúa Giêsu giáng trần. Và, chúng ta có thể nói, mà không sợ sai, đó là: sẽ có không ít bạn trẻ (nữ): “nửa đêm đi lễ anh đưa.”

Đi lễ… nửa đêm đi lễ “anh hay em” đưa… quan trọng lắm, có phải thế không, thưa quý bạn!

Tuy nhiên, quan trọng hơn, đó là chúng ta đừng xem sự kiện Chúa Giêsu giáng trần như là: “một biến cố đã đi vào lịch sử giống như mọi ngày sinh của người đời, mà dần dà chỉ còn là một ký ức.”

Cố Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, trong bài giảng cử hành thánh lễ Giáng Sinh nửa đêm (khi ngài còn tại thế) đã có lời khuyên, như thế.

Trong bài giảng, ngài Gio-an Phao-lô II, còn thêm lời chia sẻ, lời chia sẻ, rằng: “Một Người Con đã được ban cho chúng ta. Đây là một biến cố đã xảy ra (hơn) hai ngàn năm, nhưng không được coi là một sự kiện quá khứ. Ngày sinh này thuộc về chúng ta hôm nay, ngày mai và suốt mọi thời. Một lần nữa, chúng ta hãy lãnh nhận quà tặng này.”

Một biến cố đã-xảy-ra-hơn-hai-ngàn-năm, nhưng “năm ấy không xa bây giờ” thế nên chúng-ta-phải-lãnh-nhận-quà-tặng-này.

Chúng ta phải lãnh nhận quà-tặng-này, bởi vì Chúa Giêsu, theo Tin Mừng thánh Gio-an cho biết: “(Người) là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có… Người đã đến nhà mình… những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (x.Ga 1, 9-10).

Chính Chúa Giêsu bằng nhiều cách, lúc thì trực tiếp, lúc thì gián tiếp, khẳng định “Người đã đến”.

Vâng, Chúa Giêsu đã (gián tiếp) nói điều này trong một dịp ông Gio-an Tẩy Giả sai các người môn đệ tìm đến mình để hỏi cho ra lẽ, rằng: “Thầy có thật là Đấng phải đến?”

Sự việc này được ghi trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (x.Mt 11, 2-11).

**
Tìm về Tin Mừng thánh Mát-thêu, chúng ta được biết: “Ông Gio-an lúc đó đang ngồi tù”. Lý do bị tù là bởi ông đã ngăn cản bạo chúa Hêrôđê không được phép lấy một người phụ nữ, vì người phụ nữ ấy chính là “vợ ông Philipphê anh của nhà vua” (x. Mt 14, 3-4). Vua Hêrôđê không hài lòng sự can gián của ông nên đã “bắt ông tống ngục”.

Đang-bị-tống-ngục, nhưng ông Gio-an vẫn có thể “nghe biết những việc Đức Kitô làm.” Những-việc-Đức-Kitô-làm đã khiến cho: “Dân chúng lũ lượt đi theo Người.”

Điều đó khiến cho trái tim của ông khắc khoải. Ông khắc khoải tự hỏi: “Người này là ai kia chứ?” Rồi, khi sự khắc khoải trào dâng, ông Gioan “liền sai các môn đệ” đến hỏi Đức Giêsu: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?” (x.Mt 11, 3).

Hôm ấy, Đức Giêsu trả lời rằng: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng”. Rồi, Ngài có lời truyền bảo: “Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.”

Vâng, đã có người vấp ngã, đó là cư dân Nadarét (đồng hương Đức Giêsu). Cư dân Nadarét vấp ngã cũng bởi câu trả lời này.

Câu trả lời này, là một phần trích đoạn trong sách Isaia. Hôm Đức Giêsu về Nadarét. Vì là nhằm ngày Sabat, Người vào hội đường. Người được chỉ định đọc Sách Thánh. Sau khi đọc xong, với một phần trích đoạn Isaia (nêu trên), Đức Giêsu liền tuyên bố: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”.

Lời tuyên bố như một cơn địa chấn. Cả hội đường xầm xì những lời lẽ chất chứa sự hoài nghi, một rừng người “đầy phẫn nộ” phẫn nộ đến độ, họ đòi “kéo Ngài lên tận đỉnh núi, để xô Ngài xuống vực” (Lc 4, 29).

Trở lại với các môn đệ của ông Gioan. Sau khi nghe những lời Đức Giêsu nói, các môn đệ của ông Gioan không-phẫn-nộ, “họ đi”.

Họ đi đâu! Thưa, không thấy Tin Mừng nói họ đi đâu, nhưng có phần chắc nơi đến là nhà tù. Chắc hẳn họ sẽ kể cho ông thầy mình nghe điều Đức Giêsu đã nói.

Được sinh ra trong một gia đình cha là tư tế; mẹ là bà Êlizabeth “cũng thuộc dòng tộc tư tế Aharon”, tất nhiên, ông Gio-an hiểu ngay những lời Kinh Thánh này.

Thế nên, qua sự việc “sai các môn đệ đến hỏi Đức Giêsu”, nó không chỉ củng cố niềm tin cho ông Gio-an, mà còn cho các môn đệ của ông, rằng: Đức Giêsu - thật là Đấng phải đến.

***
Đức Giêsu - thật là Đấng phải đến. Ngài đã đến thế gian này hơn hai ngàn năm.

Ngài đang đứng trước cửa ngôi-nhà-tâm-hồn mỗi chúng ta. Ngài lớn tiếng gọi chúng ta, tiếng gọi rất to và rõ ràng, rằng: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta.” (x.Kh 3, 20).

Hãy lắng nghe tiếng gọi của Ngài. Tiếng gọi của Ngài ở trong Kinh Thánh. Tiếng gọi của Ngài ở trong những giây phút chúng ta thinh lặng nguyện cầu. Tiếng gọi của Ngài ở trong những giây phút chúng ta suy niệm… suy niệm “mười bốn đàng thánh giá”, suy niệm “tám mối phúc thật” suy niệm “thương người có mười bốn mối.”

Và, khi chúng ta đã nghe được tiếng-gọi-của-Ngài, hãy mau mắn mở cửa, cánh-cửa-lòng-mình… “ăn năn đền tội - khao khát nhân đức trọn lành - làm cho người hòa thuận - cho kẻ đói ăn - cho kẻ khát uống – cho kẻ rách rưới ăn mặc – lấy lời lành mà khuyên người - yên ủi kẻ âu lo - tha kẻ dể ta - nhịn kẻ mất lòng ta - cầu cho kẻ sống và kẻ chết.”

Thực hiện những tiếng gọi của Chúa, Chúa Giê-su sẽ “cư ngụ giữa chúng ta”.

****
Chúa Giê-su cư-ngụ-giữa-chúng-ta, chẳng phải đó là một “bức tranh đẹp”, rất… rất đẹp, được treo trang trọng, trong ngôi-nhà-tâm-hồn mỗi chúng ta!

Khi Chúa Giê-su đã ở trong ngôi-nhà-tâm-hồn mỗi chúng ta, theo bầu không khí mừng Giáng Sinh, có thể nói, chúng ta có một Hang Đá Belem, đẹp nhất thế giới.

Khi cánh-cửa-lòng-mình mở ra… mở ra để thực thi, để biến đổi những tiếng gọi của Chúa, thành hiện thực, đó chính là những “sợi dây đèn led” tuyệt đẹp vô song, được trang trí cho Hang Đá Belem tâm hồn mình.

Hôm nay, Chúa Nhật III – MV. Lm. Giuse Nguyễn Quốc Quang, mở đầu bài giảng với lời nhắn nhủ: “Hôm nay chúng ta bước vào Chúa Nhật III Mùa Vọng, Chúa Nhật của niềm vui. Không phải là niềm vui trang trí hang đá, đèn điện hoành tráng lộng lẫy trong Nhà Thờ cũng như ngoài phố xá, nhưng là niềm vui vì Chúa đang đến gần, đang làm mới lại đời sống chúng ta.”

Một… một lời nhắn nhủ đúng lúc, kịp thời. Chúa-đang-đến-gần. Nói ngược lại, Chúa-đang-gần-đến… đến-lần-thứ-hai… đến-lần-thứ-hai.
 
Và, đó là lý do, hai Chúa Nhật trước, chúng ta được mời gọi “tỉnh thức và sẵn sàng - hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối.”

Chúa Nhật hôm nay, chắc chắn rồi, chúng ta được mời gọi “Vui lên nào!” (Is 35, 1) Vâng, hãy vui lên nào! Để cho niềm vui trọn vẹn, hãy nhớ mở cửa, mời Chúa Giê-su vào nhà, ngôi-nhà-tâm-hồn mỗi chúng ta.

Phải mời thôi! Bởi vì, Chúa Giê-su đã đến thế gian.

Chúa Giêsu, thật là Đấng đã đến.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2025

Chúng ta cũng phải sinh hoa quả

 Chúa Nhật II – MV – A

Chúng ta cũng phải sinh hoa quả

SnTM 061225b

 

Vào cuối tháng 11 vừa qua, Tổng giáo phận Sài Gòn tổ chức tuần tĩnh tâm từ sáng thứ Hai 24-11-2025 đến trưa thứ Sáu 28-11-2025, dành cho linh mục đoàn Tổng giáo phận, tại Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn.

Là muối đất và ánh sáng thế gian, không dính bén và hết lòng loan báo Tin Mừng”, đó chính là nội dung được Đức Giám mục Giuse Đỗ Quang Khang chia sẻ trong tuần tĩnh tâm, trước 374 linh mục của TGPSG.

“Trong tuần tĩnh tâm, các linh mục đã dâng Thánh lễ, chầu Thánh Thể, lắng nghe các bài giảng, cầu nguyện, lần chuỗi Mân Côi, sám hối, xưng tội, gặp gỡ nhau trong các bữa ăn, đặc biệt là cầu nguyện cho các Đức Giám mục, linh mục trong Tổng giáo phận đã qua đời.” Website của tgpsaigon.net đã ghi một bản tin, như thế.

Dâng Thánh lễ, chầu Thánh Thể, lắng nghe các bài giảng, cầu nguyện, lần chuỗi Mân Côi… đó là việc các linh mục phải làm. Còn sám hối và xưng tội, ư! Thưa, cũng là việc phải làm.

Phải làm, vì đó là điều Đức Giêsu muốn mọi người làm. Xưa, ngay khi bắt đầu ra đi loan báo Tin Mừng, Ngài đã lớn tiếng kêu gọi mọi người, rằng: “Anh em hãy sám hối…” (Mt 4, 17).

Cùng thời Đức Giê-su, có một người tên là Gioan, Người đương thời gọi ông là Gioan Tẩy Giả, cũng đã lớn tiếng kêu gọi mọi người hãy-sám-hối. Sự kiện này, được ghi lại trong tin mừng thánh Mát-thêu. (Mt 3, 1-12).

**
Tin mừng thánh Mát-thêu kể rằng: “Hồi ấy, ông Gioan Tẩy Giả đến rao giảng trong hoang địa miền Giuđê”. Ông rao giảng rằng: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.”

Theo lời Kinh Thánh ghi lại, ông Gioan Tẩy Giả là “người được Thiên Chúa sai đến”. Và ông chính là người được ngôn sứ Isaia nói tới: “Có tiếng người hô trong hoang địa. Hãy dọn sẵn đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (Mt 3, 3).

Vào hoang địa, không trịnh trọng mũ áo cân đai như nhóm Phariseu và Sa-đốc, “ông Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn.”
Hôm đó, thánh sử Mát-thêu cho biết: “người ta từ Giêrusalem và khắp miền Giuđê, cùng khắp vùng ven sông Giođan kéo đến với ông.” Đến-với-ông: “Họ thú tội và ông làm phép rửa cho họ trong sông Giođan”.

Một sự việc xảy ra khiến ông Gioan kinh ngạc! Ông Gioan kinh ngạc khi “thấy nhiều người thuộc phái Phariseu và phái Sa-đốc đến chịu phép rửa.”

Mấy ông kẹ này, ngay lập tức bị ông Gioan xối cho một gáo nước lạnh. Thật ra, phải nói là một “gáo” lời khuyến cáo và chất vấn.

Hôm đó, ông Gioan có lời chất vấn, rằng: “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy?” Tiếp đến ông khuyến cáo: “Các anh hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối.”

Nếu không sinh-hoa-quả-để-chứng-tỏ-lòng-sám-hối, ông đưa ra lời cảnh cáo quyết liệt rằng, “Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt, đều bị chặt đi và quăng vào lửa” (x.Mt 3, 8-10).

Hôm đó, sau những lời khuyến cáo, chất vấn, cảnh cáo với những người thuộc phái Pharisêu và phái Sađốc, ông Gioan khiêm nhường tuyên bố: “Tôi, tôi làm phép rửa cho các anh trong nước để giục lòng các anh sám hối. Còn Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người.”

“Người…” ông Gioan, nói tiếp: “Người sẽ làm phép rửa các anh trong Thánh Thần và lửa. Tay Người cầm nia, Người sẽ rê sạch lúa trong sân; thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi”. (Mt 3, 11-12).

***
Trở lại tuần tĩnh tâm thường niên 2025 của linh mục đoàn Sài Gòn.

Hôm ấy, “Đức cha giảng phòng đã giúp linh mục đoàn TGPSG đi vào những giây phút thân tình bên Chúa Giêsu Thánh Thể, để làm mới lại bản thân và nhận ra ‘linh mục năm nay là ai’, qua sáu điểm gợi ý: Linh mục, lữ khách đang lữ hành. Linh mục, người nghèo trong tinh thần. Linh mục, người nghèo của Đức Chúa. Linh mục, muối đất. Linh mục, ánh sáng trần gian. Linh mục, người môn đệ thừa sai.”

Nhắc đến những điểm-gợi-ý này để làm gì? Thưa, cũng là để-làm-mới-lại-bản-thân của chính chúng ta, qua sáu điểm gợi ý, nêu trên.

Vâng, phải-làm-mới-lại. Nói cách khác, chúng ta cần xác quyết rằng: khi đã là người môn đệ của Chúa, chúng ta là “lữ khách đang lữ hành.”

Mà, đã là lữ khách đang lữ hành, thì dù chúng ta đang “ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian; sống ở giữa đời nhưng không sống như người đời”.

Không sống như người đời. Thế nên, đừng để bị ru ngủ, đừng để bị lừa bịp bởi những chủ thuyết, những luận điệu lếu láo, đại loại như: Thiên Chúa đã chết rồi. Hoặc “Thằng Giời đứng sang một bên. Để cho nông hội đứng lên làm Giời.” v.v… của người đời.

Không sống như người đời. Thế nên, những ham muốn về tiền bạc, về danh vọng, về quyền lực, về nhục dục v.v… hãy xem đó là phù vân.

Cohelet nói: “Tôi có cả một đàn súc vật… nhiều hơn hết mọi người. Tôi cũng đã tích trữ bạc, vàng và vật quý… Tôi đem đào kép về ca hát, mời mỹ nữ cung phi đến, hưởng mọi thú vui của con cái loài người. Tôi đã trội vượt và giàu có hơn hết mọi người đã sống trước tôi ở Giêrusalem… Bấy giờ nhìn vào hết mọi việc do chính tôi làm, và bao gian lao vất vả tôi phải chịu, tôi nhận thấy: tất cả chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát” (x.Gv 2, 6-11).

Tất cả chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát”. Vì thế, phải-làm-mới-lại, qua sáu điểm gợi ý, nêu trên.

Sáu điểm gợi ý nêu trên, chính là sáu lời mời gọi chúng ta sống tinh thần tám mối phúc thật. (x.Mt 5, 1-12). Sống… tám mối phúc thật, có thể nói, đó là phương cách làm cho “cây đức tin” sinh-hoa-quả.

Đừng quên, ông Gioan đã nói: “Các anh hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối.” “Các anh” phải chăng, cũng chính là chúng ta? Thưa, đúng vậy. Thế nên, chúng ta cũng phải sinh hoa quả.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2025

Hãy nhớ… tỉnh thức và sẵn sàng

 Chúa Nhật I – MV – A

Hãy nhớ… tỉnh thức và sẵn sàng

SnTM 291125a

 
Chúa Nhật vừa qua (23/11/2025) toàn thể Giáo Hội mừng kính trọng thể Đức Giêsu Kitô Vua. Và đó cũng là Chúa Nhật kết thúc năm phụng vụ. Chúa Nhật hôm nay (30/11/2025), bắt đầu năm Phụng Vụ mới. Theo truyền thống, khởi đầu năm phụng vụ luôn được bắt đầu bằng “Mùa Vọng”.

Khi nói tới Mùa Vọng, không ít người trong chúng ta nghĩ rằng: lễ Giáng Sinh gần kề. Nghĩ như vậy không sai. Không sai, vì sau bốn tuần của Mùa Vọng, Giáo Hội sẽ cử hành lễ Giáng Sinh.

Đúng hơn, chúng ta phải hiểu rằng: Vọng, nghĩa là trông đợi và hy vọng. Vọng, theo nguyên ngữ tiếng Latin: Adventus, có nghĩa là “đến – sắp đến”. Do vậy, Mùa Vọng là mùa trông chờ và mong đợi. Và điều Giáo Hội muốn nói đến và chúng ta cần “hiểu” về mùa Vọng, đó là trông chờ và mong đợi ngày “Chúa đến”. Chúa Giêsu - “Người sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết, Nước Người sẽ không bao giờ cùng”.

Trông chờ và mong đợi Chúa-sẽ-lại-đến-trong-vinh-quang, cũng là mối quan tâm của các vị môn đệ, xưa kia. Điều này được ghi trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. 
 
**
Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi, rằng: Hôm đó, “Khi Đức Giêsu từ trong Đền thờ đi ra… Sau đó, lúc Người ngồi trên núi Ôliu, các môn đệ tới gặp riêng Người và thưa: Xin Thầy nói cho chúng con biết… cứ điềm nào mà biết ngày Thầy quang lâm…” (Mt 24, 3).

Điềm nào (để) biết ngày Thầy quang lâm, là điều ai cũng muốn biết, trong suốt hai mươi thế kỷ qua. Và, đã có lẻ tẻ một vài người tiên báo.

Ồn ào nhất là cụ Harold Camping. Cụ Harold Camping… nổi tiếng với việc dự đoán ngày tận thế hai lần vào năm 2011. Ông dự đoán ngày tận thế sẽ xảy ra vào ngày 21 tháng 5 năm 2011, và sau đó thay đổi thành ngày 21 tháng 10 năm 2011. Sau khi các dự đoán không thành sự thật, ông đã bị đột quỵ và qua đời vào tháng 12 năm 2013.” (nguồn: Internet).

Không thể… không thể không buồn khi đọc bản tin này. Buồn vì Harold Camping qua đời, nên không thể nhìn thấy Jesus Christ tái lâm. Buồn vì Harold Camping “bóp kèn qua mặt” Đức Giêsu - người mà ông gọi là Chúa.

Vâng, Harold Camping quên, quên rằng, Đức Giêsu đã công bố: “Còn về ngày và giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay cả người Con cũng không; chỉ một mình Chúa Cha biết mà thôi.” (Mt 24, 36).
Trở lại câu hỏi của các môn đệ, hôm đó Đức Giêsu đưa ra một lời cảnh báo, cảnh báo rằng “Thời ông No-ê, như thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy”.

***
Thời ông No-ê như thế nào? Thưa, Kinh Thánh Cựu Ước ghi lại rằng: Trước “Sự gian ác của con người trên mặt đất, và lòng nó chỉ toan tính những ý định xấu suốt ngày. Đức Chúa hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất, và Người buồn rầu trong lòng. Đức Chúa phán: ‘Ta sẽ xóa bỏ khỏi mặt đất con người mà Ta đã sáng tạo, từ con người cho đến gia súc, giống vật và chim trời, vì Ta hối hận đã làm ra chúng’. Nhưng ông No-ê được đẹp lòng Chúa” (St 6, 5-9).

Ông No-ê, theo lời Kinh Thánh ghi lại: “là người công chính, hoàn hảo giữa những người đồng thời, và ông đi với Thiên Chúa”.

Chính vì thế, Đức Chúa không chỉ cho ông biết “giờ tận số của mọi xác phàm” mà còn nói với ông “Hãy làm cho mình một chiếc tàu (và) hãy vào tàu, ngươi cùng con trai ngươi… Phần Ta, Ta sắp hồng thủy, nghĩa là nước lụt, xuống tràn trên đất, để tiêu diệt mọi xác phàm có sinh khí dưới gầm trời, mọi loài trên mặt đất sẽ tắt thở. Nhưng Ta sẽ lập giao ước của Ta với ngươi; người hãy vào tàu, người cùng các con trai ngươi, vợ ngươi và vợ của các con trai ngươi.” 

Ông No-ê, nghe lời Đức Chúa, làm cho mình một chiếc tàu. Nhờ đó, ông và gia đình đã được an toàn, khi Đức Chúa “đổ mưa xuống đất trong vòng bốn mươi ngày, bốn mươi đêm”.

Sau bốn mươi ngày, bốn mươi đêm: “Mọi loài trên mặt đất, từ con người đến gia súc, giống vật bò dưới đất và chim trời chúng bị xóa khỏi mặt đất, chỉ còn lại ông No-ê và những gì ở trong tàu với ông.” (St 7, 23).

Tất cả đều bị xóa sổ… chỉ vì “trong những ngày trước nạn hồng thủy, thiên hạ mải mê ăn uống…” họ đã “không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy.”

Cho nên, không ngạc nhiên, khi Đức Giêsu có lời cảnh báo: “Anh em phải canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông ta đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu.” 

Cuối cùng, Người nhấn mạnh: “… anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24, 44).

Lời cảnh báo của Đức Giêsu, cũng đã được tông đồ Phaolô cảnh báo tín hữu ở Thê-xa-lô-ni-ca: “Thưa anh em, về ngày giờ và thời kỳ Chúa đến, anh em không cần ai viết cho anh em. Vì chính anh em biết rõ: ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm”.

Và cùng một tâm tình như Đức Giêsu, thánh nhân cũng đã khuyên nhủ rằng “hãy tỉnh thức và sống tiết độ” (1Tx 5, …6).

Với các tín hữu ở Roma, thánh nhân có lời cảnh báo mạnh mẽ hơn: “Anh em biết, chúng ta đang sống trong thời nào. Đã đến lúc anh em phải thức dậy, vì hiện nay ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo” (Rm 13, 11).

***
Lời cảnh báo, “phải thức dậy, tỉnh thức và sống tiết độ - anh em hãy sẵn sàng”, phải chăng cũng là lời cảnh báo cho chúng ta! Thưa, câu trả lời là của mỗi chúng ta.

Thế nhưng, khi đã là người môn đệ của Chúa, dù đang “ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian; sống ở giữa đời nhưng không sống như người đời”, chúng ta ”phải thức dậy, tỉnh thức và sống tiết độ - hãy sẵn sàng”.

Thế nên, đừng mê mải ăn chơi trác táng, như người đời. Đừng mê mải kiếm tìm tiền tài, danh vọng, quyền lực như người đời. Bởi vì tiền tài, danh vọng, quyền lực chính là nguyên nhân làm cho chúng ta sẽ phải đối diện với những cơn-hồng-thủy, cơn hồng thủy ghen tỵ, bè phái, hận thù, bất hòa, tranh chấp, v.v…

Hơn nữa… “Khi tôi không còn nữa. Sẽ lấy được những gì. Về bên kia thế giới… (hay chỉ là) ngoài trống vắng mà thôi!”

Đúng vậy! Nó sẽ là một sự trống vắng trong cô đơn, sự cô đơn của “một người bị bỏ lại” Hãy nhớ… “Hãy nhớ mình là bụi tro, một mai người sẽ trở về bụi tro!”

Vì thế… Hãy thức dậy ”mau quay về cùng Chúa Trời”. Hãy tỉnh thức và sống tiết độ, bởi vì “muôn sự đều hão huyền, giả trá và đảo điên.” Hãy sẵn sàng “Ăn năn vì ngàn lỗi lầm, nguyện Chúa hãy rủ thương” - “HỠI NGƯỜI HÃY NHỚ...” (Lm. Kim Long).

Vâng, chúng ta hãy nhớ! Hãy nhớ… tỉnh thức và sẵn sàng.

Petrus.tran

Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2025

Vua chúng ta là Đức Kitô

 Chúa Nhật XXXIV – TN – C

Vua chúng ta là Đức Kitô

SnTM 221125b


Chúa Nhật hôm nay (23/11/2025) theo lịch Phụng Vụ, kết thúc năm C. Và, theo truyền thống, Giáo Hội Công Giáo long trọng kính Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ.

Sở dĩ có ngày lễ Đức Giêsu Kitô Vua là bởi, trước trào lưu con người chủ trương tiêu diệt Thiên Chúa, hô hào trục xuất Thiên Chúa ra khỏi gia đình, ra khỏi học đường, ra khỏi xã hội, ra khỏi quốc gia, Đức Giáo Hoàng Piô XI, vào ngày 11/10/1925, đã thiết lập một ngày lễ để tôn vinh CHÚA GIÊSU KITÔ VUA.

Sự tôn vinh này như một cách minh định rằng: Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, và là Thiên Chúa thật, Ngài là Vua vũ trụ, Vua muôn loài, là Vua của tất cả mọi người, của mọi dân tộc, của mọi quốc gia.

Thật ra, không phải hôm nay, mà ngay từ khi “Đức Giê-su ra đời tại Be-lem”, Ngài đã được nhìn nhận như là Vua. Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại, hồi ấy có “mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem, và hỏi: Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”.

Các thượng tế và kinh sư cho biết “Belem, miền đất Giu-đa… là nơi vị lãnh tụ… sẽ ra đời”. Nhờ lời chỉ dẫn đó, mấy nhà chiêm tinh đã đến tận nơi, “sấp mình thờ lạy”. (x.Mt 2, 6…11).

Lời truyền tin của sứ thần Gabrien cho Đức Maria, cũng có thể xem như một lời minh định: “Thưa bà Maria… bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu, Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua David, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1, 31-33).

Tiếp đến là trong những ngày Đức Giê-su thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng, có không ít người nhìn Ngài như là một vị Vua, khi lớn tiếng nói: “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít”.

Cuối cùng, đỉnh điểm của lời tôn vinh, đó là hôm Ngài cùng các môn đệ lên Giê-ru-sa-lem, chuyện kể rằng: “nghe tin Đức Giê-su tới… họ cầm nhành lá thiên tuế ra đón Người và reo hò: Hoan hô! Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Chúc tụng Vua Ít-ra-en” (Ga 12, 12-13).

**
Đức Giê-su là Vua, thế nhưng lạ lùng thay, cách Vua Giêsu lên ngôi, không giống như cách lên ngôi của những ông vua, những lãnh tụ trần thế. Đa phần họ đều dùng bạo lực, dùng thủ đoạn, dùng sức mạnh của họng súng. Còn Vua Giêsu thì bằng chính tình yêu thương, một thứ tình yêu, dám “hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu”.

Vua Giê-su đã hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu, trên thập giá tại Đồi Sọ. Sự kiện này được thánh sử Gio-an kể rằng: “Khi đến nơi gọi là ‘Đồi Sọ’ họ đóng đinh Người vào thập giá”.

Hôm đó, nơi Đồi Sọ… “lễ đăng quang” của Vua Giêsu không một tiếng kèn, tiếng trống hay tiếng tung hô, nhưng là những “tiếng chày tiếng búa nện đinh”. Những chiếc đinh, được nện không thương tiếc vào hai bàn tay và đôi chân, một cách để dán chặt cơ thể Ngài vào thập giá, và cuối cùng là giương cao xác Ngài lên. Mọi người thấy “Phía trên đầu Người, có bản án viết: Đây là Vua người Do Thái”.

Vây quanh Đồi Sọ… “Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo: Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn”.

Thánh sử Gio-an còn cho biết: “Lính tráng cũng chế diễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống và nói: “Nếu ông là Vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi”.

Thiên Chúa, qua Vua Giêsu, hứa cứu rỗi linh hồn, nhưng không hứa cứu-lấy-mình. Và điều này đã được Vua Giêsu thực hiện ngay hôm ấy, tại Đồi Sọ. Hôm ấy, tại Đồi Sọ, có hai tên gian phi, một tên “cũng nhục mạ người”. Nhưng tên kia thì không. Người gian phi này, thưa với Đức Giêsu, rằng: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!”.

Và anh ta đã toại nguyện. Sau lời kêu xin của anh ta, Giêsu, Vua-Tình-Yêu, đã nói với anh ta, rằng: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng”.

***
Hơn bảy trăm năm, trước khi Đức Giêsu ra đời tại Be-lem, ngôn sứ Mikha đã tiên báo “Phần ngươi, hỡi Belem Epratha… từ nơi ngươi… sẽ xuất hiện một vị có sứ mạng thống lĩnh Israel” (Mk 5, 1).

Đúng vậy, vai trò của Đức Giêsu đến thế gian là để thi hành sứ-mạng-thống-lĩnh-Israel. Thống lĩnh Israel, nhưng Ngài không thống lĩnh quốc gia “thuộc về thế gian này” mà là thống lĩnh con dân Israel, đưa họ trở về với chân lý và sự thật.

Chân lý và sự thật đó đã được Vua Giê-su công bố, rằng: “Như ông Môse đã giương cao con rắn trong sa mạc. Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3,15).

Suy tư chân lý và sự thật này, Cha Charles E. Miller, có lời chia sẻ: “Cái chết của Đức Giêsu không phải là một thảm kịch như cái chết của tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy. Đây là chiến thắng trên kẻ thù ‘kép’ của chúng ta: tội lỗi và cái chết.”

Rồi, Cha Charles tiếp lời khuyên: “dòng chữ chế diễu: Đây là Vua người Do Thái, chúng ta (hãy) thay thế bằng: Đức Kitô là Vua chúng ta”.

Còn thánh Phao-lô, sau cú ngã ngựa tại Damas, ngài hãnh diện khi trở thành thần dân của Vua Giê-su, nên đã chia sẻ cảm nghiệm của mình, với cộng đoàn Colose, rằng: “Anh em hãy vui mừng cảm tạ Chúa Cha đã làm cho anh em trở nên xứng đáng chung hưởng phần gia nghiệp của dân thánh trong cõi đầy ánh sáng. Người đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái, trong Thánh Tử, ta được ơn cứu chuộc, được tha thứ tội lỗi… (x.Cl 1, 12-13).

Thế nên, đừng thất vọng về những gì đã xảy ra trong ngày lên ngôi của Vua Giêsu. Và cũng đừng bao giờ quên lời công bố của Vua Giê-su (nêu trên), vì đó là thông điệp đời đời cho những ai đặt niềm tin vào Ngài.

Vâng, đừng thất vọng.

****
Chúng ta luôn phải nhớ rằng, đã là người môn đệ của Chúa, dù đang “ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian; sống ở giữa đời nhưng không sống như người đời”.

Thế nên, chúng ta không cần tìm đến những ông vua, những lãnh tụ trần thế để mong được ban cho mình công danh, sự nghiệp, quyền bính.

Tất cả những thứ đó chỉ là phù vân. Tất cả những thứ đó, khi chết đi, có mang được gì “về bên kia thế giới” hay chỉ là “ngoài trống vắng mà thôi!”

Cho nên, thật phải đạo khi hôm nay chúng ta hãy tự hỏi mình, rằng: Tôi đang là thần dân của ai? Của vương quốc thế tục hay vương quốc Nước Trời?

Nếu là vương quốc thế tục, phải coi chừng, Cha Charles E. Miller, với thực tế trong cuộc sống, có lời cảnh báo: “…Nó bác bỏ mọi hình thức tôn giáo về đức tin và phụng tự… Theo đó, tiện nghi, khoái lạc và tiền bạc là những mục tiêu duy nhất và tối thượng của cuộc sống”.

Quyến rũ đấy! nhưng đừng quên lời Đức Giê-su truyền dạy: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào ích gì”.

Lời Chúa còn phán dạy rằng: “Hãy ra khỏi thành ấy đi, để khỏi thông đồng với tội lỗi của nó và hứng lấy những tai ương dành cho nó” (x. Kh 18, 4).

Chính Đức Giê-su, trong những ngày còn tại thế, Ngài cũng đã nhắc lại những tai ương dành cho nó, đó là “Thiên Chúa khiến mưa lửa và diêm sinh từ trời đổ xuống tiêu diệt tất cả” (x.Lc 17, 29).

Đừng chọn vương quốc thế tục. Hãy chọn vương quốc Nước Trời. Bởi vì, đó là một vương-quốc-vĩnh-cửu, đầy-tràn-tình-thương, đầy-tràn-ân-sủng “đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời”. (x.Cl 1, 20).

Vậy nên, chúng ta hãy lớn tiếng nói, rõ ràng rằng: Vua chúng ta là Đức Kitô.

Petrus.tran

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2025

GIỚI TRẺ NEW YORK ĐANG “TÌM LẠI ĐỨC TIN”

 GIỚI TRẺ NEW YORK ĐANG “TÌM LẠI ĐỨC TIN”: SỐ NGƯỜI TRỞ LẠI CÔNG GIÁO TĂNG GẤP 3, NHÀ THỜ CHẬT KÍN GIỮA THÀNH PHỐ SIÊU THẾ TỤC

New York từ lâu được xem là trung tâm của chủ nghĩa vật chất, sự tự do tuyệt đối và lối sống không tôn giáo. Nhưng điều bất ngờ đang xảy ra: các nhà thờ Công giáo trên khắp thành phố ghi nhận số người trẻ xin gia nhập đạo tăng mạnh đến mức “chưa từng thấy trong nhiều thập niên.”
Tại St. Joseph’s Church ở Greenwich Village, Cha Jonah Teller thông báo trong một Thánh lễ đông nghẹt người rằng số người lớn xin gia nhập Công giáo qua chương trình OCIA đã tăng từ vài chục lên khoảng 130 người — gấp ba so với năm trước. Ở St. Vincent Ferrer trên Upper East Side, con số cũng tăng gấp đôi, gần 90 người. Tại Basilica of St. Patrick’s Old Cathedral, OCIA đã lên đến khoảng 100 người và Thánh lễ Chủ nhật lúc 7 giờ tối thường xuyên chật kín tới mức nhà thờ đang cân nhắc phải thêm giờ lễ. Giáo phận Brooklyn cũng chứng kiến sự trỗi dậy lớn: năm 2024 có 538 người trưởng thành vào đạo, gần gấp đôi năm 2023.
Cha Daniel Ray nói: “Chúng tôi đang hết chỗ. Đây không phải là kết quả của chiến dịch quảng bá. Đây là một sự bùng nổ thật sự.” Giữa một thế giới bất ổn và hỗn loạn, nhiều người trẻ nói họ tìm đến Giáo hội vì muốn có điểm tựa, sự bình an và nền tảng đạo đức mà xã hội hiện tại không thể cung cấp.
Nhiều người chưa từng theo tôn giáo. Một số từng là người vô thần. Nhiều người khác từng trầm cảm, khủng hoảng, hoặc chịu cú sốc mất mát. Một số nói sự phân cực chính trị khiến họ thấy tôn giáo có vẻ “ít nguy hiểm hơn so với những gì thế hệ họ từng nghĩ.”
Một trong những câu chuyện xúc động là của Cindy Zhao, một nhân viên y tế không có nền tảng tôn giáo, quyết định trở thành Công giáo sau khi chị họ 42 tuổi đột ngột qua đời vì ung thư. Cô nói rằng đức tin giúp cô tìm thấy sự rõ ràng mà trước đây cô chưa bao giờ có.
Liz Flynn, một thợ mộc 35 tuổi, từng vật lộn với lo âu và trầm cảm, cho biết cô tìm thấy Chúa trong... một cửa hàng Cracker Barrel ở North Carolina. Cô cầm cuốn “15 Minutes Alone with God”, đọc trang đầu tiên và bật khóc. Điều đó dẫn cô đến cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi, đến với Đức Mẹ và đến với Giáo hội. Cô nói mình “bình an hơn bao giờ hết.”
Ian Burns, 22 tuổi, cựu cầu thủ bóng rổ của Đại học Michigan, nói rằng anh cần một nơi nương tựa giữa một xã hội biến động. Anh chọn Công giáo vì muốn tìm về “gốc rễ của Kitô giáo.”
Ben Cook, doanh nhân 32 tuổi từ San Francisco, thành công từ nhỏ, nhưng nói rằng anh “có tất cả mọi thứ trừ sự bình an.” Anh bắt đầu tìm kiếm sự thật sau khi chứng kiến vợ gặp biến chứng lúc sinh con và nhận ra cuộc sống của anh không nằm trong tay mình. Khi người bạn thân Mark Carlson — người bỏ đạo 20 năm — cũng đồng thời quay trở lại với đức tin, họ cùng ghi danh OCIA tại St. Joseph’s như một “sự trùng hợp đầy Thiên ý.”
Carlson nói rằng anh từng sống trong môi trường cực kỳ tự do, nhưng rồi thất vọng trước văn hóa “woke”, cancel culture, ám ảnh khí hậu và sự xuống cấp của chuẩn mực xã hội. Anh nói Công giáo mang đến “các giá trị và đường ranh đạo đức” mà xã hội hiện đại đang thiếu.
Tất cả họ đều có điểm chung: sự khao khát một nền tảng vững chắc để sống ý nghĩa hơn. Cha Teller nói: “Vật chất có thể đủ đầy, nhưng không chạm đến trái tim.”
Trong một thành phố siêu thế tục như New York, sự trở lại mạnh mẽ của đức tin Công giáo — tự phát, không quảng bá, không chiến dịch — cho thấy điều sâu sắc hơn về thế hệ trẻ: giữa hỗn loạn, họ đang quay lại tìm thứ mà tiền bạc, chính trị và thành công không thể mua được.
Nguồn: New York Post
Tác giả: Tin tức Hoa Kỳ by VLKT News
💬 Quý vị nghĩ điều gì khiến giới trẻ New York đang quay lại mạnh mẽ với tôn giáo — phải chăng sự bất ổn của xã hội hiện đại đang khiến họ tìm kiếm nền tảng tinh thần bền vững hơn?

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2025

Tử Đạo là kiên trì sống đạo

 Chúa Nhật XXXIII – TN – C

Tử Đạo là kiên trì sống đạo

SnTM 151125a


Như chúng ta được biết, vào ngày lễ Ngũ Tuần, sau khi “ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần”, Nhóm Mười Một ngay lập tức thực hiện lời Chúa Giêsu truyền dạy: “Phải nhân danh Người rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem…”

Và ông Phê-rô, đại diện cho Nhóm Mười Một, đã có một bài giảng đầu tiên cho sứ vụ của mình. Bài giảng của ông Phê-rô, khiến cho mọi người “đau đớn trong lòng”. Hôm ấy, “đã có thêm khoảng ba ngàn người theo đạo.”

Ba-ngàn-người-theo-đạo, sách Công Vụ Tông Đồ cho biết: “Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến.” (Cv 3, 46-47).

Vui… chắc chắn là Nhóm Mười Một vui. Nhưng, bên cạnh đó, là buồn. Buồn vì chuyện này làm “ngứa mắt” giới tư tế. Họ bực tức vì các ông “giảng dạy cho dân và dựa vào trường hợp Đức Giê-su mà loan báo kẻ chết sẽ sống lại.”
Thế là, ông Phê-rô và Gio-an đã bị “giới tư tế, lãnh binh Đền Thờ và các người thuộc nhóm Sa-đốc… bắt và tống ngục.”

Tuy, hai ông Phê-rô và Gio-an được thả, nhưng kể từ đó, đời sống cộng đoàn tiên khởi không còn có những ngày-vui-bên-nhau, mà chỉ còn là những giọt lệ… “là nghìn giọt lệ...”

Giọt… giọt lệ đầu tiên, khóc cho ông Tê-pha-nô. Ông Tê-pha-nô, chỉ vì rao giảng một “Giêsu người Nadaret”, nên đã bị người ta chống đối. Họ “xông vào ông rồi lôi ra ngoài thành mà ném đá”. Chuyện kể rằng: “Họ ném đá ông, đang lúc ông cầu xin rằng: ‘Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này’. Nói thế rồi, ông an nghỉ” (Cv 7, 60).

Giọt lệ tiếp theo, khóc cho thánh Giacôbê. Sách Công Vụ Tông Đồ ghi: “Thời kỳ ấy, vua Hê-rô-đê ra tay ngược đãi một số người trong Hội Thánh. Nhà vua đã cho chém đầu ông Gia-cô-bê là anh ông Gio-an. Thấy việc đó làm vừa lòng người Do-thái, nhà vua lại cho bắt cả ông Phê-rô nữa.”

Sau ông Phê-rô, nghìn-giọt-lệ… nghìn giọt lệ khác, khóc cho ông Phao-lô, rồi cho cả Nhóm Mười Một. Chưa hết, nghìn giọt lệ còn rơi “trong 300 năm Đế chế La Mã đàn áp tín đồ Ki-tô giáo”. Nó rơi… tiếp tục rơi… rơi… “trong suốt 300 năm đạo Chúa bị bách hại dưới thời vua Lê, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và phong trào Văn Thân” (nguồn: internet).

**
Nếu nghìn-giọt-lệ của Trịnh Công Sơn “rớt xuống thành hồ nước long lanh.” Thì, nghìn-giọt-lệ của Giáo Hội Công Giáo “rớt xuống thành máu các thánh tử đạo.”

Với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, sử sách ghi nhận: có khoảng vài trăm ngàn vị tử đạo, trong đó có 118 vị được chính thức tôn phong.

Tôn phong các ngài, trước là để vinh danh đời sống đức tin của các ngài, một đức tin mãnh liệt và kiên trì vào Chúa Giê-su, và sau là, để xem đó như những tấm gương mẫu mực cho đời sống đức tin của mỗi chúng ta.

Một tấm gương đáng để chúng ta noi theo, đó tấm gương linh mục Gioan Đạt. Chuyện kể rằng: Khi ngài vừa dâng lễ xong thì quân lính vây bắt. Cha đã chạy thoát, nhưng vì để quên áo lễ, cha thấy quân lính tra tấn gia chủ nên ra nộp mạng và nói: “Vẫn biết tôi có thể thoát, nhưng như thế anh chị em sẽ bị khổ nhiều”.

Anh-chị-em-sẽ-bị-khổ-nhiều, thế nên, Linh mục Gio-an Đạt đã sẵn sàng thực thi lời truyền dạy của Chúa Giê-su, lời truyền dạy, rằng: “không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu, người liều mạng sống vì người mình yêu”.

Chưa hết, còn thêm một tấm gương thừa sai Gagelin Kính, nữa. Với thừa sai Gagelin Kính, ngài đã viết thư xin phép giám mục cho mình ra trình diện để tín hữu Bình Định được bình an.

Còn linh mục Đặng Đình Viên ư! Thưa, cha đã trốn an toàn trong vườn mía dày đặc, nhưng khi thấy quân lính đánh đập tra khảo con của chủ nhà, cha cũng tự động ra thế mạng. (trích: Chân dung các thánh tử đạo Việt Nam - Lm PX. Đào Trung Hiệu, OP).

Có rất nhiều hình phạt mà quý ngài phải hứng chịu. Nào là bị gông cùm, xiềng xích, bị nhốt trong cũi, bị đánh đòn, bị bỏ đói. Nặng hơn thì bị voi dầy, bị đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng. Tàn bạo hơn thì bị xử trảm, xử giảo (thắt cổ) hoặc bị thiêu sống. Ác liệt nhất là bị xử lăng trì (một hình thức phân thây ra từng mảnh) hay bá đao (bị xẻo từng mảnh thịt)… cho tới chết. Án nhẹ nhất, đó là khắc lên trên trán hai chữ “tà đạo”.

***
Thật ra, chuyện các vị tử đạo phải chịu gông cùm, đánh đập, bỏ đói và cả cái chết là điều không có gì ngạc nhiên.

Không có gì ngạc nhiên vì chính Đức Giêsu, trong những ngày còn tại thế, Ngài đã khuyến cáo, rằng: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian yêu thích cái gì thuộc về nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em.”

Vào một dịp khác, Đức Giê-su cũng đã có lời khuyến cáo tương tự như thế. Lời khuyến cáo, rằng: “…Người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và bỏ tù, điệu anh em đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy.” (Lc 21, 12).

Hôm ấy, Đức Giê-su nói tiếp: “Đó sẽ là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy… Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu. Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình”. (Lc 21, 13… 18).

Các thánh tử đạo Việt Nam, đã kiên trì, kiên trì làm chứng cho đức tin, bằng mạng sống mình. Máu các ngài trở thành hạt giống đức tin.

Như một truyền thống đẹp, hôm nay (16/11/2025) toàn thể Giáo Hội Công Giáo Việt Nam mừng kính trọng thể các thánh tử đạo Việt Nam.

***
Những lời khuyến cáo của Đức Giê-su, tuy cách nay hơn hai ngàn năm, nhưng vẫn có tính thời sự, với chúng ta, hôm nay.

Sự bách hại mà Đức Giêsu đã khuyến cáo, nay vẫn tiếp tục xảy ra, nơi này nơi khác, cách này cách khác. Nigeria như điển hình.

Cách nay 6 năm, theo vaticannews: “Giáng sinh năm 2019 vừa qua là Giáng sinh đẫm máu đối với các Kitô hữu Nigeria. 11 Kitô hữu đã bị bắn và chặt đầu vào ngày Giáng sinh tại một địa điểm không xác định, trong khi các Kitô hữu khác bị giết tại một địa điểm không xác định khác ở phía đông bắc của nước này. Phiến quân Nhà nước Hồi giáo ở tỉnh Tây Phi (Iswap), một phe của Boko Haram đặc biệt trung thành với cái gọi là Nhà nước Hồi giáo, tuyên bố lãnh trách nhiệm về các cuộc tấn công.”

Và mới đây, báo điện tử Open Doors, ngày 22/06/2025, loan tin: “Ít nhất 218 người đã thiệt mạng và hơn 6.000 người phải di dời sau hàng loạt vụ tấn công tàn khốc vào các ngôi làng chủ yếu là người theo đạo Thiên Chúa ở bang Benue, một vùng lãnh thổ thuộc vành đai Trung tâm, miền bắc Nigeria. Các chiến binh Hồi giáo Fulani bị nghi ngờ đứng sau cả sáu vụ tấn công, nhắm vào đàn ông, phụ nữ và trẻ em.”

“Hãy cùng chúng tôi cầu nguyện để chính Chúa sẽ là người bảo vệ và nâng đỡ, gìn giữ chúng ta.” MỤC SƯ BARNABAS, nói với Open Doors, như thế.

Chúng ta hãy cầu nguyện cho các Kitô hữu Nigeria. Chúng ta cũng hãy cầu nguyện cho chính chúng ta.

Bởi vì, có thể chúng ta không phải chịu cảnh “máu đổ đầu rơi”. Nhưng có thể chúng ta bị “sàng sảy” bởi những lời cám dỗ mật ngọt của Satan và thế gian. Đừng quên lời Đức Giêsu đã nói khi xưa, rằng: “Kìa Sa-tan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo.” (Lc 22, 31).

Có thể chúng ta không bị “phân thây”, nhưng có thể chúng ta sẽ bị “phân thân”, vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi thế gian.

Vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi thế gian, có khác gì một người “hâm hẩm chẳng nóng, chẳng lạnh!” Hâm hẩm chẳng nóng, chẳng lạnh… “(Chúa) mửa ra!” (Kh 3, 16).

Thế nên, hãy cầu nguyện cho chính mình, để biết: Tử Đạo hôm nay, đó là “Sống Đạo”.

Tử đạo hôm nay, đó là sống một đời sống trung tín, trung tín với lời thề hứa: “hứa yêu nhau trao câu thề chung sống muôn đời” chẳng hạn.

Tử đạo hôm nay, còn là sống một đời sống: “bác ái, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, hiền hòa, tiết độ.” Tử đạo hôm nay, còn là sống một đời sống không “tìm hư danh”, không “khiêu khích nhau”, không “ghen tỵ nhau”.

Tử đạo hôm nay, không phải là “bị đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng”, nhưng là “đóng đinh tính xác thịt (của mình) vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê” (x.Gl 6, 24).

Một điều Đức Giê-su đã truyền dạy, và chúng ta cần ghi nhớ, đó là: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục.” (Mt, 10, 28).

Đừng coi thường lời truyền dạy này, bởi lời truyền dạy này, chính là “nguồn cảm hứng” giúp chúng ta kiên-trì-sống… “sống đạo”.

Đức Giê-su nói: “Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình.” Nên chăng, chúng ta sẽ nói “Kiên-trì-sống… sống đạo, chúng ta mới giữ được mạng sống mình!”

Nên nhỉ! Vâng, nên nói vậy. Như vậy, đừng ngại nói: Tử Đạo là kiên trì sống đạo.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2025

Hãy biến mình là Đền Thờ Chúa

 Chúa Nhật XXXII – TN – C

Hãy biến mình là Đền Thờ Chúa

SnTM 081125a


Nhà thờ, như chúng ta được biết, “là nơi người tín hữu đến để thờ kính Chúa, dâng lễ, đọc kinh và tìm kiếm sự an ủi, bình an.”

Nhà thờ có từ khi nào? Thưa: “Nguồn gốc của nhà thờ Kitô giáo đầu tiên là một ngôi nhà bình thường ở Dura-Europos, được chuyển đổi để phục vụ việc thờ phụng trước năm 256 SCN. Khi Kitô giáo phát triển, các công trình nhà thờ độc lập bắt đầu được xây dựng. Những nhà thờ có trang trí công phu và kiến trúc lớn hơn xuất hiện sau thời Constantinus. Các nhà thờ ở Việt Nam thường tuân theo các phong cách châu Âu như Gothic, Roman, với tháp chuông và thánh giá trên đỉnh.” (nguồn: internet).

Trở về thời xa xưa, theo Kinh Thánh, sự thờ phượng Thiên Chúa của người xưa, rất giản dị. Người ta chỉ cần “dựng một bàn thờ để kính ĐỨC CHÚA”. Người ta chỉ cần “lấy một số trong các gia súc thanh sạch… các loại chim thanh sạch mà dâng làm lễ toàn thiêu trên bàn thờ” (x.St 8, 20).

Chính tổ phụ Ap-ra-ham cũng đã “dựng bàn thờ” để thực hiện việc “dâng I-xa-ác làm lễ tế toàn thiêu” (x.St 22, 1-9).
“Do Thái là dân du mục, họ ở trong các lều bằng vải, đi đến đâu họ luôn luôn mang theo Hòm Bia Giao Ước, đặt trong căn lều, gọi là ‘Trướng Tao Phùng’. Sự hiện diện của Khám Giao Ước là sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân. Khám Giao Ước là một cái hòm dùng để đặt bia đá khắc Mười Giới Răn mà Thiên Chúa đã ban cho dân tại núi Sinai.

Vào năm 1.000 TCN, khi vua Đavít lên làm vua cả hai miền Nam - Bắc. Vua cùng toàn dân đi rước Hòm Bia Thiên Chúa vào thành Giêrusalem. Dân chúng đi rước Hòm Bia với các loại nhạc cụ: đàn cầm, đàn sắt, não bạt, phèng la… Còn vua Đavít đi trước Hòm Bia mà nhảy múa, tung hô, ngợi khen Thiên Chúa”. (nguồn: internet).

Đó là những nghi thức phụng vụ thờ phượng Thiên Chúa thời vua David. Rồi, đến thời vua Salomon, một Đền Thờ để thờ phượng Thiên Chúa đã được xây dựng, được xây dựng “tại Giê-ru-sa-lem trên núi Mô-ri-gia, nơi ĐỨC CHÚA đã hiện ra với vua David”.

Khi Đền Thờ hoàn tất, ĐỨC CHÚA đã hiện ra và phán: “Ta đã chọn nơi này làm nhà dâng hy lễ cho Ta… Từ nay, Ta sẽ ghé mắt nhìn và lắng tai nghe lời cầu nguyện dâng lên ở đây, vì Ta đã chọn và thánh hóa nhà này, để muôn đời Danh Ta ngự tại đây, Ta sẽ để mắt nhìn và để lòng ưa thích nơi này mãi mãi”. (2Sb 7,12-16).

Xưa, lời ĐỨC CHÚA phán rõ ràng, như thế. Đáng tiếc thay, vào thời Đức Giê-su còn tại thế, Đền Thờ Giê-ru-sa-lem bị trần tục hóa. Điều đó khiến Đức Giê-su giận dữ và Ngài đã làm một cuộc “tẩy uế Đền Thờ”, trong một dịp hành hương tại đây nhân ngày lễ Vượt Qua.

Sự kiện này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an. (Ga 2, 13-22).

**
Tin Mừng thánh Gio-an ghi lại, như sau: Hôm ấy, “Gần đến lễ Vượt Qua của người Do Thái, Đức Giêsu lên thành Giêrusalem”.

Đây không phải lần đầu tiên Đức Giêsu lên Đền Thờ dự lễ Vượt Qua. Hồi năm mười hai tuổi, Đức Giêsu cũng đã cùng với cha mẹ của Ngài “trẩy hội đền Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua… như người ta thường làm trong ngày lễ” (Lc 2, 41-42).

Lần trẩy hội hồi đó, Đức Giê-su đã làm cho mọi người kinh ngạc “về trí thông minh và những lời đối đáp” của mình.
Còn lần này thì sao! Thưa, khi “… thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền”, Đức Giê-su “liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả chiên cũng như bò, ra khỏi Đền Thờ… còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ.” (Ga 2, 15).

Vâng, hôm đó, nhìn Đền Thờ, nơi được cho là Đức Chúa Trời ngự và đã được Người thánh hóa, lại đang bị tục hóa, Đức Giê-su giận-quá-đỗi, nên đã nói với những kẻ bán bồ câu, rằng: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.”

Chứng kiến việc làm của Đức Giê-su, chuyện kể tiếp rằng: “Các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Kinh Thánh: Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân”.

Đúng là vậy. Hôm đó, người Do Thái đã đụng chạm đến “thân phận” của Đức Giê-su bằng một câu chất vấn, rằng “Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?”

Dấu lạ ư! Con người sẽ không bao giờ thỏa mãn với phép lạ. Thấy phép lạ này, họ sẽ đòi thêm phép lạ khác.

Hôm ấy Đức Giê-su không làm một dấu lạ nào. Bởi vì, Ngài đến thế gian không phải là để thoả nãm tính hiếu kỳ cho ai đó, nhưng là để thực hiện “ơn cứu độ chứa chan của Thiên Chúa” qua “cái chết và sự Phục Sinh” của Ngài.

Như một sự xác tín, hôm ấy, Đức Giê-su dõng dạc tuyên bố: “Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại.” (x.Ga 2, 19).

Xây… xây lại Đền Thờ nội-ba-ngày! Đó là “dấu lạ”, nhưng ai mà tin nổi! Không một người nào tin. Và, những người Do Thái đã nhao nhao lên nói: “Đền Thờ này phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, thế mà nội trong ba ngày ông xây lại được sao?”.

Chúng ta hôm nay, chắc hẳn cũng không thể tin lời công bố của Đức Giê-su, nếu thánh sử Gio-an không có lời giải thích, rằng: “Đền Thờ Đức Giê-su muốn nói ở đây là chính thân thể Người”. (x.Ga 2, 21). Thánh sử Gio-an không chỉ giải thích, mà ngài tông đồ còn cho chúng ta biết rằng: “Khi (Đức Giê-su) từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó, họ tin vào Kinh Thánh và lời Đức Giê-su đã nói.”

***
Đừng nghĩ rằng, việc làm của Đức Giê-su, mâu thuẫn với lời Đức Giê-su mời gọi: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu…”

Có-lòng-hiền-hậu, sao hôm ấy Ngài lại “hung hăng” xua đuổi tất cả chiên cũng như bò ra khỏi Đền Thờ, cũng như lật nhào bàn ghế, của những người đổi bạc, vậy!

Đừng nóng! Chuyện là thế này. Luật Do-thái, những người trưởng thành (20 tuổi) đều phải đến Đền Thờ, đặc biệt trong lễ Vượt Qua.

Đến Đền Thờ thì phải “dâng một phần tài sản của mình lên Chúa.” Nhưng, có một vấn đề là: nhiều người từ phương xa đem theo tiền xứ mình (tiền Roma, chẳng hạn). Trên đồng tiền này có hình ảnh của những vị hoàng đế. Loại tiền đó không được chấp nhận trong việc dâng cúng cho Đền Thờ. Vì thế, người ta có một dịch vụ đổi tiền ngoại quốc ra tiền Do-thái, tại đó.

Một vấn đề khác, theo luật Mô-sê, những người lên Đền Thờ phải đem chiên, bồ câu, hay bò để dâng hiến. Có những người ở xa không tiện đem thú vật từ làng mình đến Đền Thờ, nên họ phải mua thú vật ngay tại Đền Thờ. Ðó là lý do tại sao lại có dịch vụ mua bán chiên bò.

Những việc buôn bán gia súc hay đổi tiền là những việc làm tốt. Thế nhưng, theo thời gian, việc làm tốt này bị lạm dụng.

Lạm dụng thứ nhất, đó là tệ nạn buôn bán cắt cổ trắng trợn. Một con chiên chỉ đáng giá một đồng, thế mà có đôi lúc bị nâng giá lên hàng chục đồng.

Lạm dụng thứ hai, theo luật, các thầy tế lễ phải chứng nhận những con thú vật dâng lên Chúa là không tì vết. Thế nhưng, vì chẳng có lợi lộc gì, nên “quý thầy” không hứng thú để chứng nhận những thú vật “đem từ nhà đến” là những con vật không tì vết.

Chỉ những con vật được mua trong Đền Thờ mới được bảo đảm là không bị rắc rối về vấn đề tì vết. Mà, những con vật được mua trong Đền Thờ, ai bán… nếu không là những người do các thầy tế lễ, cấp giấy phép kinh doanh!?

Cuối cùng, thoạt đầu, người ta buôn bán ở xa Đền Thờ. Rồi từ từ, các phiên chợ xích dần đến Đền Thờ. Ðến thời của Đức Giê-su, việc buôn bán này xảy ra ngay “trong Đền Thờ”.

Thì đây, thánh sử Gio-an chẳng phải là đã cho chúng ta biết: “Người thấy ‘trong Đền Thờ’ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang đổi tiền”, đó sao!

Thế nên, hôm ấy, Đức Giê-su đã có hành động “xua đuổi” cũng là điều dễ hiểu, phải không, thưa quý vị!

****
Ngôi Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, thời Đức Giê-su tại thế, không còn nữa. Ngôi đền này “không còn tảng đá nào trên tảng đá nào.” Do vậy, Đức Giê-su không còn lên Đền Thờ Giêrusalem, nữa. Thay vào đó, Ngài đến từng ngôi nhà thờ, nơi chúng ta thờ kính Thiên Chúa.

Trong ngôi nhà thờ, Ngài quan sát… quan sát Cha chủ tế có dâng lễ với một tâm tình “thay cho cộng đoàn và kết hợp với Chúa Kitô trong vai trò Thượng Tế”, hay không!?

Trong ngôi nhà thờ, Ngài quan sát… quan sát chúng ta có đến nhà thờ với một tâm tình thờ kính Chúa, tìm kiếm sự an ủi, bình an, hay không!?

Nếu chúng ta có được một tâm tình như thế, Chúa Giê-su sẽ không bao giờ nói với chúng ta, như đã nói với những kẻ bán bồ câu, năm xưa: “Đừng biến nhà Cha tôi thành… gì… gì, đó!”

Làm thế nào để chúng ta có được tâm tình nêu trên? Thưa, chỉ cần chúng ta luôn nhớ đến lời thánh Phao-Lô, truyền dạy: “Anh em há chẳng biết mình là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?” (x.1Cor 3, 16).

Vâng, đã là một Kitô hữu có nghĩa là chúng ta trở nên “Đền Thờ của Thiên Chúa”. Chúng ta phải thận trọng gìn giữ ngôi Đền Thờ này.

Nếu không gìn giữ, thánh Phao-lô khuyến cáo: “…thì Thiên Chúa sẽ hủy diệt kẻ ấy. Vì Đền Thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và Đền Thờ ấy chính là anh em.”

Để “gìn giữ” ngôi Đền Thờ này, chúng ta hãy-đem-tất-cả “những việc do tính xác thịt gây ra, (đại loại) là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén và những điều khác giống như vậy”, ra khỏi tâm hồn của chúng ta.

Đây là một việc làm khẩn thiết. Chúng ta phải thực hiện, vì “Làm sao đền thờ Thiên Chúa lại đi đôi với tà thần được”. Chúng ta sẽ thực hiện được, khi chúng ta “nhờ Thần Khí mà tiến bước” (1Cor 5, 25).

Chúng ta cùng nghe lại lời cảnh cáo của Đức Giê-su: “Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán”. Vâng, tích cực hơn, chúng ta “Hãy biến mình là Đền Thờ Chúa.”

Petrus.tran

Tám mối phúc - là phúc Chúa ban

  Chúa Nhật IV – TN – A Tám mối phúc - là phúc Chúa ban Bạn có phải là một Ki-tô hữu? Nếu đã là một Ki-tô hữu, đã tin và theo Chúa, bạn ...