Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2025

“Lời nguyện khiêm tốn vượt ngàn mây thẳm”

 Chúa Nhật XXX – TN – C

“Lời nguyện khiêm tốn vượt ngàn mây thẳm”

SnTM 251025a


Khiêm tốn (hay khiêm nhường) là gì? Thưa, “là có ý thức và thái độ đúng mức trong việc đánh giá bản thân, không tự đề cao, không kiêu căng, tự phụ.” Còn kiêu ngạo, tự cao tự đại thì sao? Thưa, “là một trạng thái tâm lý, tính cách mà một người đề cao bản thân một cách thái quá, luôn cho rằng mình giỏi hơn, quan trọng hơn người khác và xem nhẹ ý kiến của mọi người xung quanh.” (nguồn: internet).

Giữa hai tính cách nêu trên, dưới cái nhìn người đời, nói không sợ sai, chẳng ai thích người kiêu ngạo, người tự cao tự đại.

Đối với Thiên Chúa, thì sao? Thưa, Kinh Thánh cho biết: “Đức Chúa Trời chống kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường.” (Gc 4, 6).

Kinh Thánh còn cho biết: “kiêu ngạo là một trong những tội lỗi bị ghê tởm nhất và là nguồn gốc của nhiều tội lỗi khác.” Minh chứng cho điều nêu trên đó là sự sa ngã của Lucifer, một thiên thần được cho là đã bị “trục xuất” khỏi Thiên đàng vì tội kiêu ngạo.

Đó là lý do, giáo lý Công giáo dạy chúng ta, rằng “Thứ nhất: chớ kiêu ngạo”.

Khiêm nhường và kiêu ngạo, cũng là đề tài được Đức Giê-su luôn quan tâm đến.

Khi nói về sự khiêm nhường, Ngài mời gọi; “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.” Còn đối với tính kiêu ngạo, tự cao tự đại, Đức Giê-su đã kể một dụ ngôn, như một cách truyền đạt lời dạy dỗ của mình.

Dụ ngôn này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Luca với tiêu đề: “người Pharisêu và người thu thuế” (x.Lc 18, 9-14).

**
Theo Tin Mừng thánh Luca, dụ ngôn được kể như sau: “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pha-ri-sêu, còn người kia làm nghề thu thuế.”

Một người là Pha-ri-sêu, một người là “cán bộ” ngành thuế vụ nói lên sự tương phản, tương phản giữa một người đạo đức và một kẻ tội lỗi, theo quan điểm người thời đó.

Trở lại dụ ngôn, chuyện kể tiếp rằng: “Ông Pha-ri-sêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: trộm cắp, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia.”

Chưa hết… “ông thánh sống Pha-ri-sêu” còn kể lể rằng: “Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.”

Còn người làm nghề thu thuế thì sao? Thưa, ông ta “Đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.”

Chấm hết! Tất cả lời cầu nguyện của ông làm nghề thu thuế, chỉ có thế, mà thôi!

***
Mở đầu dụ ngôn, thánh sử Luca ghi như sau: “Đức Giê-su còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác.”

“Một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác” là ai!

Vâng, Đức Giê-su, hôm ấy đã cho chúng ta câu trả lời: “Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi, còn người kia thì không.”

“Người này”… Người này là ai? Thưa, “tên thu thuế”, ông ta đã biết “tự hạ mình xuống”, nhận ra con người thật của mình.

Còn “người kia”… Thưa, không nói ra, ai cũng có thể hiểu chính là “ông thánh sống Pharisêu”. Ông-thánh-sống đã “tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác”.
 
**** 
Đừng nghĩ rằng Đức Giê-su không công bằng, khi người thu thuế chỉ là kẻ-tội-lỗi, thế mà lại “được nên công chính”! Trong khi ông Pha-ri-sêu không trộm cắp, không bất chính, không ngoại tình, lại phải trở về với “số 0”!

Hãy nhớ, Đức Giê-su đã chẳng từng nói: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn”, đó sao!

Người thu thuế là kẻ tội lỗi như lời anh ta thú nhận. Chẳng những đã thú nhận tội lỗi mình, anh ta còn có lòng sám hối ăn năn khi thưa rằng: “xin thương xót con”.

Mà, “…một người tội lỗi ăn năn sám hối” thì sao, nhỉ! Thưa, “…cả triều thần Thiên Quốc đều vui mừng hớn hở” (x.Lc 15, 7). Thế thì, chẳng có gì nghịch lý khi người thu thuế “trở xuống mà về nhà” và được xem là “người công chính”.

Còn ông Pha-ri-sêu ư! Thật ra, ông ta cũng sẽ nhận được “vòng hoa dành cho người công chính”, bởi vì như lời tông đồ Phaolô nói: “Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó… cho tất cả những ai hết tình mong đợi.” (2Tm 4, 8).

Thế nhưng thật đáng tiếc! Tâm tình cầu nguyện của ông Pharisêu chẳng có một chút gì gọi là “mong đợi” cả. Trái lại, nó có hơi hướng của một người đi “hối lộ”.

Hãy nhìn xem, ông ta khoe khoang trước Thiên Chúa cả một “rổ” công đức (ăn chay) lẫn tiền bạc (tiền dâng một phần mười)” của mình. Ông ta nghĩ rằng, như thế, chắc hẳn Đức Chúa sẽ ban cho ông tấm bằng khen “người tốt việc tốt” như thói đời, thường làm.

Với Thiên Chúa – Kinh Thánh cho biết “Đừng hối lộ, Người chẳng nhận đâu… Người chẳng thiên vị”. (Hc 35, 11-12).

Rất đáng tiếc! Phải chi ông Pha-ri-sêu, nếu có tự hào về thành tích của mình, thì hãy “tự hào trong Chúa” (2Cor 10, 18).

Tự-hào-trong-Chúa, chúng ta sẽ không tự kiêu, tự mãn.

Hôm đó, kết thúc dụ ngôn, Đức Giê-su truyền dạy: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (x.Lc 18, …14).

****
Có hai nhân vật trong dụ ngôn, với hai phong cách cầu nguyện. Một trong hai phong cách đó, được Thiên Chúa nhận lời. Phong cách được Thiên Chúa nhận lời, Đức Giê-su gọi là phong cách “hạ mình xuống”.

Mà, hạ-mình-xuống, chẳng phải là một hình thức “khẩn cầu” mạnh mẽ, sao!

Một khi lời cầu nguyện trong trạng thái khẩn cầu, Cha Charles E. Miller diễn giải rằng, đó là lúc chúng ta biểu lộ “sự khiêm nhường được Chúa chấp nhận”.

Xưa, người thu thuế đã “lên đền thờ cầu nguyện”. Ông ta hạ-mình-xuống, vừa đấm ngực vừa thưa rằng: Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.”

Nay, mỗi Chúa Nhật, chúng ta cũng hãy đến nhà thờ cầu nguyện. Chúng ta cũng hãy vừa đấm ngực vừa thưa, rằng: “Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em. Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói việc làm, và những điều thiếu xót. Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng...”

Chỉ cần… Chỉ cần một lời cầu nguyện khiêm tốn, chúng ta “sẽ được (Chúa), chấp nhận.” (x.Hc 35, …16). Nói, theo cách nói của Cha Charles: “Lời nguyện khiêm tốn vượt ngàn mây thẳm”.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2025

Cầu nguyện luôn - Chúa sẽ đoái nhìn

 Chúa Nhật XXIX – TN – C

Cầu nguyện luôn - Chúa sẽ đoái nhìn

SnTM 181025a


Cầu nguyện là gì? Thưa: “Cầu nguyện là hành động dâng lời tâm tình lên một đấng thiêng liêng như Thiên Chúa, với mục đích để gặp gỡ, chúc tụng, tạ ơn, hoặc cầu xin những ơn lành. Cầu nguyện được coi là một phương cách để con người nâng tâm hồn lên, tìm kiếm sự hướng dẫn, an ủi và xây dựng mối liên hệ cá nhân, sống động với đấng mà mình tin tưởng.” (nguồn: internet).

Khi nói tới cầu nguyện, có thể nói rằng, tôn giáo nào cũng đều coi trọng sự cầu nguyện. Và, nếu có ai hỏi, cầu nguyện có từ khi nào, chúng ta có thể trả lời rằng, từ thời xa xưa con người đã biết cầu nguyện.

Kinh Thánh cho biết, đến thời ông Sết “người ta bắt đầu kêu cầu danh Đức Chúa.” (x.St 4, …26) Người Việt Nam ngay từ thời xa xưa cũng đã biết “Cầu Trời”. Vâng, thật chân thành khi họ cất tiếng kêu xin: “Lạy Trời mưa xuống. Lấy nước tôi uống. Lấy ruộng tôi cày. Lấy đầy bát cơm. Lấy rơm đun bếp”.

Đức Giêsu rất coi trọng đến sự cầu nguyện. Đã có lần Đức Giê-su dạy cho các môn đệ cầu nguyện. Và, khi cầu nguyện Ngài khuyên rằng, phải biết kiên trì “không được nản chí”.

Để cho các môn đệ thấy sự kiên trì quan trọng như thế nào, Đức Giê-su đã kể cho các ông nghe một dụ ngôn, dụ ngôn mang tên “quan tòa bất chính và bà góa quấy rầy”. Dụ ngôn này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Luca. (x.Lc 18, 1-8).

**
Dụ ngôn được kể rằng: “Trong thành kia có một ông quan tòa. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì”.

Nghe… nghe qua lời mô tả về ông quan này, chúng ta không thể không nghĩ rằng, quả là bất hạnh cho những ai được ông ta ra tay xử kiện.

Tại sao? Thưa, theo kinh nghiệm trong dân gian, có ông quan “vô thần” nào được coi là “dân chi công bộc”?! Loại quan này, Kinh Thánh mô tả là: “Tất cả bọn chúng đều thích ăn hối lộ, và chạy theo quà cáp. Chúng không phân xử công minh cho cô nhi, cũng chẳng quan tâm đến quyền lợi quả phụ”? (Is 1, 23).

Chưa hết, mấy ông kẹ này còn “đặt ra những luật lệ bất công… viết nên các chỉ thị áp bức… để biến bà góa thành mồi ngon cho chúng, và bóc lột kẻ mồ côi” (Is 10, 2).

Trở lại dụ ngôn, chuyện kể tiếp, rằng: Trong thành đó, cũng có một bà góa… đã-nhiều-lần-đến-xin… xin ông xử kiện. Vâng, bà ta đã đến gặp ông quan này và thưa với ông: “Đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho”.

“Đơn kiện” được quan nhận. Nhận… nhưng quan không “minh xét”. Có nản lòng không, khi “một thời gian khá lâu, ông không chịu (xử)”!?

Dù vậy, bà góa không nản lòng. Bà ta “kiên nhẫn… cứ đến hoài”. Kiên-nhẫn-cứ-đến-hoài, thì sao? Thưa, Jean-Jacques Rousseau nói: “Sự kiên nhẫn thì cay đắng, nhưng thành quả của nó thì ngọt ngào.”

Đúng! lời Jean-Jacques Rousseau nói rất đúng với trường hợp của bà góa. Trước sự kiên nhẫn của bà góa, ông quan tòa như ngồi trên ổ kiến lửa. Và rồi, ông ta nghĩ: “Dầu ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng mụ góa này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc”.

Dụ ngôn tới đây chấm hết. Qua dụ ngôn này, không cần giải thích nhiều, chúng ta cũng có thể hiểu, sự việc “không được nản chí”, quan trọng như thế nào!

Hôm ấy, Đức Giê-su còn có lời bảo rằng: “Anh em nghe quan tòa bất chính nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không mình xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi?”

Cuối cùng Đức Giê-su khẳng định: “Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ”.

***
Lịch sử Do Thái, dân Thiên Chúa tuyển chọn, cho chúng ta câu trả lời, quả thực rằng, Thiên Chúa “đã minh xét” cho những kẻ có lòng nhẫn nại trong sự khẩn nài “ngày đêm hằng kêu cứu với người”…

Chuyện kể rằng: Israel đang trên đường đi đến miền đất hứa. Bất ngờ đạo quân “Amalech đến đánh Israel tại Rophidim” (Xh 17,8).

So sánh tương quan lực lượng, Amalech là một đạo quân tinh nhuệ, có thừa kinh nghiệm cho những trận địa chiến. Họ đủ sức “nghiền nát” quân đội Israel - một đạo quân ô hợp.

Thế mà… ấy thế mà… “Nực cười châu chấu đá xe. Tưởng rằng chấu ngã nào ngờ xe nghiêng”. Con-châu-chấu Israel đã xô ngã cả một đạo quân tinh nhuệ Amalech.

Quân sử Israel đã ghi lại chiến tích vang dội này, như sau: “Giô-suê đã đánh bại Amalech… xóa hẳn tên tuổi Amalech, khiến cho thiên hạ không còn nhớ đến nó nữa”(Xh 17, 3…14).

Nhờ đâu quân sử Israel có được trang sử vẻ vang này? Thưa, do bởi chính lời cầu nguyện của Môsê. Mô-sê nói: “Tôi, tôi sẽ đứng trên đỉnh đồi, tay cầm gậy của Thiên Chúa”. Kinh Thánh ghi rằng: trên đỉnh đồi, “khi nào ông Mô-sê giơ lên, thì dân Israel thắng thế, còn khi ông hạ tay xuống, thì Amalech thắng thế”.

Mô-sê không có sức để “giơ tay lên” mãi. May thay, Aharon và Khua đã “đỡ tay ông, mỗi người một bên.” Nhờ đó Mô-sê đã đủ sức giơ-tay-lên “cho đến khi mặt trời lặn”.

Nói cách khác, Mô-sê đã liên lỉ “kêu cứu với Người…” Thiên Chúa đã không “bắt họ phải chờ đợi mãi”. Và Người đã “mau chóng” cho Israel cất tiếng hát khúc khải hoàn ca.

Qua sự kiện này, Cha Charles E.Miller nhắc đến việc cầu nguyện chung. Ngài nói: “Là người Công Giáo, là thành viên của gia đình Giáo Hội, chúng ta có trách nhiệm với nhau. Aharon và Khua đã không bỏ rơi Mô-sê lúc ông này có dấu hiệu mỏi tay. Hai ông đã không nghĩ là Mô-sê phải cầu nguyện một mình và các ông chỉ nên chú tâm vào kinh nguyện riêng của các ông.”

Cuối cùng, ngài kết luận: “Thiên Chúa đẹp lòng với loại mô hình cầu nguyện đầy sức mạnh, bởi lẽ chúng ta đều cầu nguyện không phải như những cá nhân riêng lẻ, mà cùng chung với nhau như người Công Giáo, như những thành viên của Giáo Hội, hiệp nhất bởi Thần Khí trong thân thể duy nhất của Đức Ki-tô”.

Thưa quý vị, mỗi buổi tối quý vị có đọc kinh chung trong gia đình không? Nếu không, nên thực hiện ngay hôm nay, bây giờ. Chỉ cần bắt đầu với hai người (vợ - chồng). Với hai người, Chúa nói: “Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.” Đọc kinh chung trong gia đình, chẳng phải là họp-lại-nhân-danh-Chúa, sao?

****
Để thành công trong công việc, Edison cho rằng, do 10% thiên tài, phần còn lại là do 90% sự nhẫn nại và lòng kiên trì.

Thế nên, chúng ta hãy nhẫn nại và kiên trì thực thi lời truyền dạy của Đức Giê-su: “Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí” (Lc 18,1).

Đừng bao giờ nản chí, vì nản chí sẽ làm cho chúng ta mất đi sự nhẫn nại và lòng kiên trì. Đừng nản chí, dẫu cho khi lời cầu nguyện của chúng ta không có sự hồi âm. Không có sự hồi âm, biết đâu “…là vì (ta) xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc!” (Gc 4, 3).

Không có sự hồi âm, biết đâu là vì chúng ta do dự! “Do dự”, thánh Gia-cô-bê nói: “thì giống như sóng biển bị gió đẩy lên vật xuống. Người ấy đừng tưởng mình sẽ nhận được cái gì của Chúa, họ là kẻ hai lòng, hay thay đổi trong việc họ làm” (x.Gc 1, …6-7). “Hai lòng” đó là điều chẳng ai thích, phải không, thưa quý vị?

Với việc chậm trễ hồi âm, hãy xem đó như là một phước hạnh, phước hạnh để ta có cơ hội “cầu nguyện khẩn thiết” hơn, để ta đến gần hơn với cuộc tương giao giữa Chúa với ta.

Một người có đức tin mạnh mẽ, vấn đề hồi âm trở thành thứ yếu. Điều quan trọng, lúc đó, chính là mối tương giao mật thiết giữa ta và Chúa. Chính mối tương giao này khơi dậy trong ta sự tín thác trọn vẹn, và điều tất yếu đó là, ta sẽ cầu nguyện liên lỉ không thôi.

Về điều này, thánh Augustin có lời khuyên, rằng: “Niềm tin làm phát sinh cầu nguyện, và cầu nguyện một khi đã phát sinh sẽ đem lại chắc chắn trong niềm tin”. Còn thánh Phao-lô ư! Vâng, ngài có lời chia sẻ: “Hãy cầu nguyện không ngừng”.

Có rất nhiều tấm gương về những con người chuyên tâm cầu nguyện, liên lỉ cầu nguyện không thôi, trong suốt chiều dài lịch sử Giáo Hội.

Thánh nữ Monica, như điển hình. Người thánh nữ này đã kiên trì, suốt hơn hai mươi năm, ngày đêm liên lỉ cầu nguyện cho gia đình mình, một gia đình hoàn toàn vô đạo.

Và, Thiên Chúa đã “minh xét” cho bà, đó là “…Mẹ chồng và Patricius (chồng bà) đã xin Rửa Tội và tin theo Chúa. Còn Augustinô (con bà) đã chia tay bè rối Manichê (Nhị Nguyên) là một tà thuyết chống lại Giáo Hội và đức tin của Công Giáo mà ông đã dồn toàn tâm toàn trí trong suốt chín năm trường. Sau đó ngài được Rửa Tội. Hai người con còn lại là Navigio và Perpetua cũng xin chịu phép Thanh Tẩy và gia nhập Giáo Hội Chúa. Sau này cả hai đã đi tu dòng” (nguồn: internet).

Ông Mô-sê đã cầu nguyện “cho đến khi mặt trời lặn”. Bà Monica, nói như thánh Phaolô nói: đã cầu xin Thiên Chúa “với tất cả lòng nhẫn nại” (2Tm 4, …2).

Còn chúng ta? Chúng ta cũng cầu nguyện theo “phong cách” Mô-sê và Monica? Vâng, hãy thực hiện như thế. Cầu nguyện như thế. Chúa sẽ đoái nhìn.

Nhớ! Cầu nguyện luôn - Chúa sẽ đoái nhìn.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2025

Hãy luôn cảm tạ Thiên Chúa…

 Chúa Nhật XXVIII – TN – C

Hãy luôn cảm tạ Thiên Chúa…

SnTM 111025a


Bệnh phong hủi (còn gọi là bệnh phong, bệnh cùi), như chúng ta được biết, là một bệnh truyền nhiễm mãn tính do vi khuẩn Mycobacterium leprae gây ra. Bệnh chủ yếu ảnh hưởng đến da, dây thần kinh ngoại biên và các cơ quan khác, dẫn đến tổn thương, tê liệt và biến dạng cơ thể. (nguồn: internet).

Đối với người xưa, căn bịnh này gây chết chóc, không thể chữa trị và vô vọng. Do vậy, mọi người rất sợ căn bịnh này. Sợ đến nỗi bất kỳ ai bị nghi nhiễm đều bị trục xuất ra khỏi cộng đồng.

Đã có thời người bệnh phong phải chịu nhiều luật lệ khắt khe như: thả trôi sông, chôn sống, bỏ vào rừng cho thú dữ ăn thịt. Vì thế khi một ai đó mắc bệnh, người đó thường là bỏ làng ra đi, ở lại cũng không ai chứa chấp, không ai liên hệ.

Israel thời Cựu Ước xem bịnh phong là một căn bệnh nguy hiểm cho cộng đồng. Có luật lệ riêng cho những người bệnh phong hủi. Những luật lệ đó không kém phần khắc nghiệt. Khắc nghiệt ngay từ “khâu chẩn bệnh”. Nếu một người bị nhọt, lác, đốm, ung, phỏng, lang ben, sói đầu, v.v… mà các vết thương đó “cứ loang ra” trên cơ thể, “Tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế: đó là bệnh phong” (Lêvi 13, 7).

“Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xõa tóc, che râu và kêu lên: Ô uế! Ô uế!. Bao lâu còn mắc bệnh, thì nó ô uế; nó ô uế: nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại.” (Lêvi 13, 45-46).

Tại Do-thái, trong các tác phẩm của các thầy Rabbi có ghi chép những phương cách cứu chữa cho nhiều căn bịnh khác nhau. Thế nhưng, về căn bịnh phong hủi, thì không ghi chép gì cả. Các Rabbi nói rằng, chữa trị bịnh phong giống như làm cho kẻ chết sống lại. Nói tắt một lời, bịnh phong thuộc loại “tứ chứng nan y… thầy thuốc bỏ đi, trống kèn kéo tới”.

Ấy vậy mà! Vậy mà… hơn hai ngàn năm xa trước đó, có một người thầy thuốc, không-bỏ-đi. Vị thầy thuốc này, được biết tên là Giêsu, khi đối diện với những người mắc bệnh phong, và khi nghe họ cầu xin sự cứu chữa, Ngài đã chữa họ khỏi bệnh. Sự kiện vô tiền khoáng hậu này, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Luca.

**
Sự kiện này được thánh sử Luca ghi lại như sau: Hôm ấy, Đức Giê-su (cùng với các môn đệ) “trên đường lên Giê-ru-sa-lem” với lộ trình “đi qua biên giới giữa hai miền Samari và Galilê.”

Rồi… “Lúc Người vào một làng kia…” Làng kia tên gì và ở đâu? Thưa, một số nhà nghiên cứu Kinh Thánh cho biết, có thể làng này ở phía nam thành Nadarét và thành Nain. Đây là một khu vực vắng vẻ, nơi rất phù hợp để “cách ly” người mắc bệnh phong hủi. Vâng, nghe có vẻ hợp lý.

Trở lại câu chuyện, lúc Đức Giê-su vào làng… “thì có mười người phong hủi đón gặp Người”. Ơ hay! Chẳng phải mười người phong hủi đã phạm luật!

Đúng và cũng không đúng. Đúng, vì mười người phong hủi đã không lớn tiếng kêu “Ô uế! Ô uế!” để mọi người tránh xa. Cũng không đúng, vì “họ dừng lại từ đằng xa.”

Từ đằng xa, họ lớn tiếng kêu khẩn thiết, một sự khẩn thiết hầu gây cho người nghe chú ý đến mình.

Vâng, giữa hai miền Samari và Galilê, nơi mà tinh thần thù nghịch của người Do-thái và người Samari luôn sôi sục, họ còn biết kêu cầu ai.

Hôm nay, Thầy Giê-su đi ngang! Không có gì để nghi ngờ nữa. Mười người phong đã nghe, nghe tiếng đồn đại “ngày càng lan rộng” rằng, Ngài đã chữa một người cũng mắc bịnh phong như họ, bằng cách: “Giơ tay đụng vào anh ta… Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi” (x.Lc 5, 13). Chắc chắn mười người phong này đã bàn bạc sự kiện ấy. Và, hôm nay… hôm nay… Thầy Giê-su kia kìa!

Thầy Giê-su kìa! Dừng lại… dừng lại… đừng đến gần. Họ đã “dừng lại đằng xa.” Mười người phong, nên chăng, chúng ta gọi đây là một ca đoàn với mười “ca viên”.

Mười ca viên rách rưới nhất thế giới đồng loạt cất tiếng ca: “Xin thương xót Chúa ơi! Xin thương xót chúng con. Chúa ơi! Xin nhìn đến đoàn con… (quá đớn đau, quá khổ đau) Chúng con van nài.”

Hôm ấy, từ đàng xa, từ những môi miệng nhúm nhó đớn đau. Họ đã cất tiếng van xin: “Lạy Thầy Giê-su, xin rủ lòng thương chúng tôi”.

Vâng, mười người phong với những đôi mắt và đôi tai đã nhìn thấy “quá ít lòng thương xót”, nhưng lại phải nghe “quá nhiều lời xét đoán”, sao lại không thương họ, nhỉ!

Thầy Giê-su sẽ làm gì chứ! Thầy sẽ chữa họ ngay lập tức chăng! Chắc chắn, vì đó là quyền phép của Ngài và đó cũng là ước mong của mười người phong.

Thế nhưng, thật khó hiểu khi Thầy Giê-su nói: “Hãy đi trình diện với các tư tế”.

Vâng, thật khó hiểu khi mà lệnh truyền của Đức Giê-su có vẻ như một lệnh truyền mâu thuẫn! Một lệnh truyền chỉ thích hợp cho những người đã “khỏi bệnh phong”, là những người cần các thầy tư tế “tái khám”, hầu để được tuyên bố là đã thanh sạch.

Thực tế, mười người phong hủi đã thấy khỏi bệnh đâu! Tuy vậy, dù chưa khỏi, nhưng họ vẫn lên đường. Ngạc nhiên thay! Chuyện kể tiếp rằng: “Đang khi đi thì họ được sạch.”

***
Đang-khi-đi-thì-họ-được-sạch. Mười người phong đã được sạch khi họ ra đi. Không phải trước khi đi. Không phải sau khi trình diện với các tư tế. Nhưng là “đang khi đi”.

Họ đã được sạch khi họ chịu bước đi. Trong hành động bước đi, họ đã được chữa lành. Tại sao chứ? Thưa, vì hành động bước đi chính là hành động của đức tin.

Khi Đức Giê-su truyền: “Hãy đi trình diện với các tư tế”, khi mà mười người phong hủi chưa thấy mình khỏi bệnh, thì có thể hiểu, đó là một sự thử thách đức tin.

Thánh Gia-cô-bê, qua việc chứng kiến biến cố này, đã có lời dạy: “đức tin không có hành động là vô dụng” (Gc 2, …21).

Một nhà truyền giáo, cảm nghiệm được điều này, có lời chia sẻ: “Nếu tên của bạn là Nô-e và Đức Chúa Trời bảo bạn trời sắp mưa, thì cầu xin cho có một chiếc tàu là đúng khi bạn cầu nguyện, song hãy đi ra, rồi đốn một số gỗ gôphe đi.

Nếu tên của bạn là David, và bạn thấy mình đang ở trong trũng đối diện với Gôliát, thì cầu nguyện xin chiến thắng là đúng, nhưng khi bạn cầu nguyện, hãy nhặt lên mấy hòn đá, tra chúng vào cái trành rồi nhắm ngay vào cái trán của Gôliát.”

Cuối c ùng, nhà truyền giáo, kết luận: “Tin tưởng vào Thiên Chúa không tương xứng với chỗ không làm gì hết. Hãy nhớ, mười người phong đã được chữa lành khi họ bước đi. Đức tin của chúng ta dời núi khi đức tin cảm động chúng ta bước đi.” (nguồn: internet).

****
Đức tin không chỉ thúc đẩy chúng ta bước đi. Đức tin còn mời gọi chúng ta trở về với tâm tình tạ ơn. Đó là điều chúng ta cũng cần ghi nhớ.

Mười người phong… mười người được sạch. Thế mà, chỉ có một… “Một người trong bọn, thấy mình được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn. Anh ta lại là người Sa-ma-ri”. (Lc 17, 15-16).

Là người Sa-ma-ri... bẽ bàng quá! Người Do-thái xem người Samari là những kẻ phản bội, dân tạp v.v… ấy thế mà, hôm nay, họ chứng minh mình là một dân tộc văn minh, một dân tộc có lòng biết ơn.

Ông ta biết Đức Giê-su chữa lành cho ông ta. Ông ta biết dâng lời cảm tạ Thiên Chúa.

Thật “mắc cỡ” khi Đức Giê-su hỏi người phong Samari: “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế chín người kia đâu?”

 ”Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?”

Giờ này quý ông đang ở đâu? Quý ông không khỏi bệnh chăng? Nếu khỏi, sao quý ông không quay lại “Tạ ơn Ngài?” Thật kinh ngạc, đắng cay!

Chúng ta có thể biện minh cho hành động của chín quý ông không trở lại gặp Đức Giê-su, rằng: họ cần trình diện với các tư tế, người có thẩm quyền “chứng nhận sạch bịnh phong’’.

Tuy nhiên, những lý lẽ đó không có sức thuyết phục. Không thuyết phục là bởi, đối với quan niệm Do-thái, chữa lành khỏi bệnh phong được coi như là Phục-Sinh-từ-cõi-chết. Mà ai đã chữa lành các ông? Ai là người có thể Phục-Sinh-từ-cõi-chết nếu không là Thiên Chúa? Giữa Đức Giêsu, người trực tiếp “chữa bịnh phong’’ cho quý ông, và các thầy tư tế – người chỉ có thẩm quyền “chứng nhận sạch bịnh phong’’, ai quan trọng hơn ai?

Nếu… nếu “chín người kia” hiểu được điều đó và quay lại gặp Đức Giêsu, trước khi gặp tư tế để “tái thẩm định” căn bệnh phong của mình… Vâng, họ đã không “mắc nợ” Ngài “một lời tạ ơn” và đã không “mắc cỡ” trước anh chàng được cho là “người ngoại bang” nhưng lại nhận ra Thiên Chúa, qua hình ảnh Đức Giêsu, chính là người cần phải trình diện để “sấp mình tạ ơn” và hơn nữa để “Tôn vinh Người”.

Đây… đây chính là lý do Đức Giê-su nói với người “quay trở lại”, rằng: “Đứng dậy về đi. Lòng tin của anh đã cứu chữa anh”.

*****
Kinh Thánh có lời chép: “Chớ khá quên mọi ân huệ của Người” (Tv 103, 2). Còn Abbert Schweitzer có lời nói: “Đôi lúc ánh sáng trong cuộc đời ta lịm tắt, và được nhen nhóm lại bởi tia lửa của một ai đó. Mỗi chúng ta phải nghĩ tới những người đã đốt lên ngọn lửa trong ta với lòng biết ơn sâu sắc”.

Tham dự Thánh Lễ chính là phương cách “tạ ơn” tốt nhất. Sau một ngày, hay một tuần làm việc chúng ta đến nhà thờ, một hành động “bước đi”, đi “trở lại tôn vinh Thiên Chúa”.

Cha Charles E. Miller nói: “Hết thảy chúng ta đều có những lý do riêng để tạ ơn Thiên Chúa trong thánh lễ. Ngày hôm nay, ta có thể cảm tạ Thiên Chúa vì món quà sự sống qua hình ảnh một đứa trẻ sơ sinh, hoặc ơn phục hồi sức khỏe cho một người cao tuổi. Ta có thể muốn cảm tạ Thiên Chúa vì vừa tìm được việc làm sau một thời gian dài thất nghiệp… Mỗi Chúa Nhật ta cần ngẫm lại các lý do riêng tư để tạ ơn, và phải nhớ rằng thật là chính đáng để tạ ơn Thiên Chúa”.

Hãy nhớ: “Chúa không cần chúng ta ca tụng, nhưng được tạ ơn Chúa lại là một hồng ân cao cả, vì những lời ca tụng của chúng ta chẳng thêm gì cho Chúa, nhưng đem lại cho chúng ta ơn cứu độ muôn đời”. (Kinh Tiền Tụng số IV trong Sách Lễ Rôma).

Xưa, người ngoại bang đã trở lại tôn vinh Thiên Chúa, và vị này đã được Đức Giê-su nói: “Lòng tin của anh đã cứu anh”. Thì, hôm nay, nếu chúng ta đến nhà thờ tôn vinh Thiên Chúa, há lẽ Thiên Chúa lại không “đem lại ơn cứu độ cho chúng ta” sao!

Tất cả chúng ta đều là “bệnh nhân” của Chúa. Tất cả chúng ta đều biết Đức Giê-su. Tất cả chúng ta đều tin Ngài có thể cứu chữa mình. Tất cả chúng ta đều lãnh nhận ơn huệ Chúa ban. Thế nên, đừng vì một lý do nào đó mà chúng ta không đến nhà thờ: “Xin dâng lời cảm tạ hồng ân Thiên Chúa bao la.”

Vâng, chúng ta hãy luôn cảm tạ Thiên Chúa.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2025

Kinh Mân Côi - lời kinh MẸ ban

 Chúa Nhật XXVII – TN – C

Kinh Mân Côi - lời kinh MẸ ban

SnTM 041025a


Như một truyền thống đẹp, hằng năm, mỗi khi tháng mười đến, Giáo hội dành riêng Chúa Nhật đầu tháng để kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi. Đức Mẹ là ai? Và Mân Côi nghĩa là gì?

Vâng, trước hết chúng ta nói về Đức Mẹ. Đức Mẹ chính là Đức Maria, và là người đã được Thiên Chúa tuyển chọn để thực hiện chương trình cứu độ của Người.

Theo Tin Mừng thánh Luca, chúng ta được biết: “Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một cô trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Maria.”

Khi vào nhà trinh nữ, sứ thần nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”. Nghe lời ấy, cô Maria không bày tỏ mừng vui, trái lại… cô Maria “rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.”

Để phá tan sự bối rối của cô Maria, sứ thần Chúa có lời giải thích: “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa.”

Tiếp đến, sứ thần Chúa tuyên bố rằng: “Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao.”

Chưa hết, sứ thần Chúa còn tiếp lời rằng: “Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.” (Lc 1, 32-33).

Nghe xong, cô Maria càng thêm bối rối. Cô Maria đã nói với sứ thần Chúa rằng: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng”.

Một lý do rất hợp lý. Nhưng đó là lý do của phàm nhân. Đối với Thiên Chúa, khi Người đã tuyển chọn ai, một Môsê chẳng hạn, thì dù ông ta “không phải là kẻ có tài ăn nói”, hoặc như ngôn sứ Giêrêmia, khi ông ta “còn quá trẻ (và cũng) không biết ăn nói”, Thiên Chúa vẫn tuyển chọn.

Thế nên, hôm nay, khi nghe cô Maria nói “vì tôi không biết đến việc vợ chồng”, sứ thần Chúa, ngay lập tức, trả lời rằng: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa”.

Và, để cô Maria thêm tin tưởng, sứ thần Chúa đã đưa ra một bằng chứng về quyền-năng-Đấng-Tối-Cao, sứ thần Chúa nói: “Kìa bà Ê-li-sa-bét người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.

Thiên Chúa đã làm được điều kỳ diệu trên bà Ê-li-sa-bét ư! Vậy, chuyện của mình, có-gì-là-không-thể-làm-được! Có lẽ, cô Maria có một thoáng suy nghĩ như thế.

Thế là, cô Maria, đã không ngần ngại đáp lời rằng: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”.

***
Chúng ta đã nói về Đức Mẹ. Thế còn hai chữ Mân Côi? Thưa, theo sự diễn giải chúng ta thường được nghe, Mân Côi còn được gọi: Mai Khôi, Môi Khôi, Văn Côi nghĩa là một thứ ngọc đỏ hoặc hoa hồng. Giáo Hội Công Giáo hiểu chữ Mân Côi theo nghĩa là Hoa Hồng.

Hiểu theo nghĩa “hoa hồng” là bởi do tích truyện một đan sĩ khi đọc kinh Kính Mừng, Đức Mẹ đã lấy những nụ hoa hồng trên môi vị đan sĩ ấy kết thành vòng hoa đội lên đầu mình. Qua tích truyện này, tràng hạt tượng trưng cho tràng hoa hồng hay vòng hoa hồng Đức Mẹ đội trên đầu và được gọi là Tràng Mân Côi, Chuỗi Mân Côi. (nguồn: internet).

Không biết tích truyện nụ-hoa-hồng-trên-môi được lưu truyền vào thời kỳ nào, và được bao nhiêu người biết đến…
Ngược lại, khi nói đến Chuỗi Mân Côi, ai trong chúng ta đều liên tưởng đến “Lời Mẹ nhắn nhủ”, năm xưa: “Năm xưa trên cây sồi làng Fatima xa xôi, có Ðức Mẹ Chúa Trời hiện ra uy linh sáng chói. Mẹ nhắn nhủ người đời: hãy mau ăn năn đền bồi, hãy tôn sùng Mẫu Tâm, hãy năng lần hạt Mân Côi”.

Vâng, hơn một trăm năm trước đó, năm 1917, Đức Maria đã hiện ra với ba em bé chăn cừu tại làng Fatima, nước Bồ Đào Nha. Ba em bé tên là Lúcia dos Santos, Francisco Marto và Jacinta Marto.

Đức Maria đã hiện ra sáu lần, bắt đầu từ ngày 13/5/1917 và lần cuối cùng là ngày 13/10/1917. Trong những lần hiện ra, ngoài những điều được gọi là “bí mật Fatima”, những bí mật mà nay đã được “bật mí”, chúng ta còn được biết Đức Maria đã gửi đến ba em nhỏ những lời nhắn nhủ, nhắn nhủ rằng: “hãy mau ăn năn đền bồi, hãy tôn sùng Mẫu Tâm, hãy năng lần hạt Mân Côi”.

Với lời nhắn nhủ đầu tiên “hãy mau ăn năn đền bồi”, Đức Maria tái nhắc nhở lời Ðức Giêsu, con của Mẹ, khi Ngài bắt đầu ra đi loan báo Tin Mừng, cũng đã lớn tiếng nói: “Anh em hãy sám hối.”

Đừng dửng dưng trước lời nhắn nhủ này. Ai trong chúng ta dám nói mình không phạm tội? Thánh Phao-lô nói: “Mọi người đều phạm tội”.

Ăn năn tội xong còn phải “đền bồi” nữa. “Đền những thiệt hại vật chất mình đã gây ra cho người khác. Bồi thường danh dự, bồi thường những xúc phạm về mặt tinh thần. Cuối cùng là bồi đắp, vun trồng những gì tốt lành lẽ ra mình phải làm, mà do nhiều lý do, chủ quan hay khách quan, mình chưa làm được, như sự tha thứ, như việc truyền giáo, chẳng hạn”.

Cô Maria Th H, một người xem việc tôn-sùng-Mẫu-Tâm, như là hành trang cho đời mình, có lời chia sẻ, như thế.

Vâng, việc tôn-sùng-Mẫu-Tâm, (lời nhắn nhủ thứ hai của Đức Maria), không thể thiếu trong đời sống đức tin của chúng ta. Bởi, khi thực hiện điều này, chúng ta tiếp tục ca ngợi “lượng từ bi hải hà của Chúa đến muôn đời, khi đoái nhìn phận hèn nữ tỳ của Chúa, nhờ Người, Chúa đã ban cho nhân loại Đấng Cứu Độ là Con Chúa, Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng con” (kinh tiền tụng Đức Mẹ II).

Với lời nhắn nhủ thứ ba: “hãy năng lần hạt Mân Côi”, có thể nói, không ai trong chúng ta lại không hơn một lần nghe đến. Và, cũng có thể nói, không ai trong chúng ta lại không hơn một lần đọc lời kinh này.

Chúng ta đã đọc và biết rằng: Kinh Kính Mừng bắt đầu bằng lời của sứ thần Gáp-ri-en: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”.

Đó không chỉ là một lời chào nhưng còn là “Một bài giảng hoàn chỉnh, mặc dù ngắn gọn: Thiên Chúa ở cùng bà”. Cha Timothy Radcliffe OP, trong bài viết “KINH MÂN CÔI” có lời chia sẻ như thế. Vị linh mục này nói tiếp: “Các sứ thần là những nhà giảng thuyết chuyên nghiệp. Chính bản tính của các ngài là loan báo tin vui.”

Nói lên điều này để làm gì? Thưa, để mỗi khi chúng ta lần hạt Mân Côi, hãy vui lên, vui lên vì chúng ta chính là những người tiếp tục công việc của sứ thần Chúa. Nói rõ hơn, tiếp tục là những nhà giảng thuyết của Chúa.

Vâng, chúng ta hãy lần hạt Mân Côi, trong tư thế là những nhà giảng thuyết của Chúa, và đừng quên hiện thực hóa những lời kinh mình đọc, những mầu nhiệm mà mình suy tư.

Hiện thực hóa như thế nào? Thưa, đó là theo gương Đức Mẹ, đáp lời xin vâng, rằng: Tôi đây là con cái Chúa, tôi xin thực hiện những gì Chúa truyền dạy.

“Có một truyền thống lâu đời về những bức tranh vẽ Đức Mẹ đang trao kinh Mân Côi cho thánh Đa Minh. Nhưng có thời (thế kỷ XVII) các dòng khác ghen tỵ, cho vẽ những bức họa Đức Mẹ đang trao kinh Mân Côi cho các vị thánh khác, như thánh Phan-xi-cô, thậm chí cả thánh I-nha-xi-ô. Thế là dòng Đa Minh phản đối và đã thuyết phục Đức Giáo Hoàng (đương nhiệm) để người ngăn cấm sự tranh giành đó. Chỉ được vẽ Đức Mẹ trao kinh Mân Côi cho thánh Đa Minh mà thôi!” (nguồn: internet).

Đó là một ngoại lệ! Ngày nay, Đức Mẹ trao cho tất cả mọi người, với lời nhắn nhủ: “Hãy năng lần hạt Mân Côi”. Chúng ta nhận? Hãy nhận và hãy ghi khắc trong con tim mình, rằng: KINH MÂN CÔI - lời kinh MẸ ban.

Petrus.tran

Tám mối phúc - là phúc Chúa ban

  Chúa Nhật IV – TN – A Tám mối phúc - là phúc Chúa ban Bạn có phải là một Ki-tô hữu? Nếu đã là một Ki-tô hữu, đã tin và theo Chúa, bạn ...