Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2025

Hãy nhớ… tỉnh thức và sẵn sàng

 Chúa Nhật I – MV – A

Hãy nhớ… tỉnh thức và sẵn sàng

SnTM 291125a

 
Chúa Nhật vừa qua (23/11/2025) toàn thể Giáo Hội mừng kính trọng thể Đức Giêsu Kitô Vua. Và đó cũng là Chúa Nhật kết thúc năm phụng vụ. Chúa Nhật hôm nay (30/11/2025), bắt đầu năm Phụng Vụ mới. Theo truyền thống, khởi đầu năm phụng vụ luôn được bắt đầu bằng “Mùa Vọng”.

Khi nói tới Mùa Vọng, không ít người trong chúng ta nghĩ rằng: lễ Giáng Sinh gần kề. Nghĩ như vậy không sai. Không sai, vì sau bốn tuần của Mùa Vọng, Giáo Hội sẽ cử hành lễ Giáng Sinh.

Đúng hơn, chúng ta phải hiểu rằng: Vọng, nghĩa là trông đợi và hy vọng. Vọng, theo nguyên ngữ tiếng Latin: Adventus, có nghĩa là “đến – sắp đến”. Do vậy, Mùa Vọng là mùa trông chờ và mong đợi. Và điều Giáo Hội muốn nói đến và chúng ta cần “hiểu” về mùa Vọng, đó là trông chờ và mong đợi ngày “Chúa đến”. Chúa Giêsu - “Người sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết, Nước Người sẽ không bao giờ cùng”.

Trông chờ và mong đợi Chúa-sẽ-lại-đến-trong-vinh-quang, cũng là mối quan tâm của các vị môn đệ, xưa kia. Điều này được ghi trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. 
 
**
Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi, rằng: Hôm đó, “Khi Đức Giêsu từ trong Đền thờ đi ra… Sau đó, lúc Người ngồi trên núi Ôliu, các môn đệ tới gặp riêng Người và thưa: Xin Thầy nói cho chúng con biết… cứ điềm nào mà biết ngày Thầy quang lâm…” (Mt 24, 3).

Điềm nào (để) biết ngày Thầy quang lâm, là điều ai cũng muốn biết, trong suốt hai mươi thế kỷ qua. Và, đã có lẻ tẻ một vài người tiên báo.

Ồn ào nhất là cụ Harold Camping. Cụ Harold Camping… nổi tiếng với việc dự đoán ngày tận thế hai lần vào năm 2011. Ông dự đoán ngày tận thế sẽ xảy ra vào ngày 21 tháng 5 năm 2011, và sau đó thay đổi thành ngày 21 tháng 10 năm 2011. Sau khi các dự đoán không thành sự thật, ông đã bị đột quỵ và qua đời vào tháng 12 năm 2013.” (nguồn: Internet).

Không thể… không thể không buồn khi đọc bản tin này. Buồn vì Harold Camping qua đời, nên không thể nhìn thấy Jesus Christ tái lâm. Buồn vì Harold Camping “bóp kèn qua mặt” Đức Giêsu - người mà ông gọi là Chúa.

Vâng, Harold Camping quên, quên rằng, Đức Giêsu đã công bố: “Còn về ngày và giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay cả người Con cũng không; chỉ một mình Chúa Cha biết mà thôi.” (Mt 24, 36).
Trở lại câu hỏi của các môn đệ, hôm đó Đức Giêsu đưa ra một lời cảnh báo, cảnh báo rằng “Thời ông No-ê, như thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy”.

***
Thời ông No-ê như thế nào? Thưa, Kinh Thánh Cựu Ước ghi lại rằng: Trước “Sự gian ác của con người trên mặt đất, và lòng nó chỉ toan tính những ý định xấu suốt ngày. Đức Chúa hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất, và Người buồn rầu trong lòng. Đức Chúa phán: ‘Ta sẽ xóa bỏ khỏi mặt đất con người mà Ta đã sáng tạo, từ con người cho đến gia súc, giống vật và chim trời, vì Ta hối hận đã làm ra chúng’. Nhưng ông No-ê được đẹp lòng Chúa” (St 6, 5-9).

Ông No-ê, theo lời Kinh Thánh ghi lại: “là người công chính, hoàn hảo giữa những người đồng thời, và ông đi với Thiên Chúa”.

Chính vì thế, Đức Chúa không chỉ cho ông biết “giờ tận số của mọi xác phàm” mà còn nói với ông “Hãy làm cho mình một chiếc tàu (và) hãy vào tàu, ngươi cùng con trai ngươi… Phần Ta, Ta sắp hồng thủy, nghĩa là nước lụt, xuống tràn trên đất, để tiêu diệt mọi xác phàm có sinh khí dưới gầm trời, mọi loài trên mặt đất sẽ tắt thở. Nhưng Ta sẽ lập giao ước của Ta với ngươi; người hãy vào tàu, người cùng các con trai ngươi, vợ ngươi và vợ của các con trai ngươi.” 

Ông No-ê, nghe lời Đức Chúa, làm cho mình một chiếc tàu. Nhờ đó, ông và gia đình đã được an toàn, khi Đức Chúa “đổ mưa xuống đất trong vòng bốn mươi ngày, bốn mươi đêm”.

Sau bốn mươi ngày, bốn mươi đêm: “Mọi loài trên mặt đất, từ con người đến gia súc, giống vật bò dưới đất và chim trời chúng bị xóa khỏi mặt đất, chỉ còn lại ông No-ê và những gì ở trong tàu với ông.” (St 7, 23).

Tất cả đều bị xóa sổ… chỉ vì “trong những ngày trước nạn hồng thủy, thiên hạ mải mê ăn uống…” họ đã “không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy.”

Cho nên, không ngạc nhiên, khi Đức Giêsu có lời cảnh báo: “Anh em phải canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông ta đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu.” 

Cuối cùng, Người nhấn mạnh: “… anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24, 44).

Lời cảnh báo của Đức Giêsu, cũng đã được tông đồ Phaolô cảnh báo tín hữu ở Thê-xa-lô-ni-ca: “Thưa anh em, về ngày giờ và thời kỳ Chúa đến, anh em không cần ai viết cho anh em. Vì chính anh em biết rõ: ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm”.

Và cùng một tâm tình như Đức Giêsu, thánh nhân cũng đã khuyên nhủ rằng “hãy tỉnh thức và sống tiết độ” (1Tx 5, …6).

Với các tín hữu ở Roma, thánh nhân có lời cảnh báo mạnh mẽ hơn: “Anh em biết, chúng ta đang sống trong thời nào. Đã đến lúc anh em phải thức dậy, vì hiện nay ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo” (Rm 13, 11).

***
Lời cảnh báo, “phải thức dậy, tỉnh thức và sống tiết độ - anh em hãy sẵn sàng”, phải chăng cũng là lời cảnh báo cho chúng ta! Thưa, câu trả lời là của mỗi chúng ta.

Thế nhưng, khi đã là người môn đệ của Chúa, dù đang “ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian; sống ở giữa đời nhưng không sống như người đời”, chúng ta ”phải thức dậy, tỉnh thức và sống tiết độ - hãy sẵn sàng”.

Thế nên, đừng mê mải ăn chơi trác táng, như người đời. Đừng mê mải kiếm tìm tiền tài, danh vọng, quyền lực như người đời. Bởi vì tiền tài, danh vọng, quyền lực chính là nguyên nhân làm cho chúng ta sẽ phải đối diện với những cơn-hồng-thủy, cơn hồng thủy ghen tỵ, bè phái, hận thù, bất hòa, tranh chấp, v.v…

Hơn nữa… “Khi tôi không còn nữa. Sẽ lấy được những gì. Về bên kia thế giới… (hay chỉ là) ngoài trống vắng mà thôi!”

Đúng vậy! Nó sẽ là một sự trống vắng trong cô đơn, sự cô đơn của “một người bị bỏ lại” Hãy nhớ… “Hãy nhớ mình là bụi tro, một mai người sẽ trở về bụi tro!”

Vì thế… Hãy thức dậy ”mau quay về cùng Chúa Trời”. Hãy tỉnh thức và sống tiết độ, bởi vì “muôn sự đều hão huyền, giả trá và đảo điên.” Hãy sẵn sàng “Ăn năn vì ngàn lỗi lầm, nguyện Chúa hãy rủ thương” - “HỠI NGƯỜI HÃY NHỚ...” (Lm. Kim Long).

Vâng, chúng ta hãy nhớ! Hãy nhớ… tỉnh thức và sẵn sàng.

Petrus.tran

Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2025

Vua chúng ta là Đức Kitô

 Chúa Nhật XXXIV – TN – C

Vua chúng ta là Đức Kitô

SnTM 221125b


Chúa Nhật hôm nay (23/11/2025) theo lịch Phụng Vụ, kết thúc năm C. Và, theo truyền thống, Giáo Hội Công Giáo long trọng kính Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ.

Sở dĩ có ngày lễ Đức Giêsu Kitô Vua là bởi, trước trào lưu con người chủ trương tiêu diệt Thiên Chúa, hô hào trục xuất Thiên Chúa ra khỏi gia đình, ra khỏi học đường, ra khỏi xã hội, ra khỏi quốc gia, Đức Giáo Hoàng Piô XI, vào ngày 11/10/1925, đã thiết lập một ngày lễ để tôn vinh CHÚA GIÊSU KITÔ VUA.

Sự tôn vinh này như một cách minh định rằng: Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, và là Thiên Chúa thật, Ngài là Vua vũ trụ, Vua muôn loài, là Vua của tất cả mọi người, của mọi dân tộc, của mọi quốc gia.

Thật ra, không phải hôm nay, mà ngay từ khi “Đức Giê-su ra đời tại Be-lem”, Ngài đã được nhìn nhận như là Vua. Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại, hồi ấy có “mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem, và hỏi: Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”.

Các thượng tế và kinh sư cho biết “Belem, miền đất Giu-đa… là nơi vị lãnh tụ… sẽ ra đời”. Nhờ lời chỉ dẫn đó, mấy nhà chiêm tinh đã đến tận nơi, “sấp mình thờ lạy”. (x.Mt 2, 6…11).

Lời truyền tin của sứ thần Gabrien cho Đức Maria, cũng có thể xem như một lời minh định: “Thưa bà Maria… bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu, Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua David, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1, 31-33).

Tiếp đến là trong những ngày Đức Giê-su thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng, có không ít người nhìn Ngài như là một vị Vua, khi lớn tiếng nói: “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít”.

Cuối cùng, đỉnh điểm của lời tôn vinh, đó là hôm Ngài cùng các môn đệ lên Giê-ru-sa-lem, chuyện kể rằng: “nghe tin Đức Giê-su tới… họ cầm nhành lá thiên tuế ra đón Người và reo hò: Hoan hô! Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Chúc tụng Vua Ít-ra-en” (Ga 12, 12-13).

**
Đức Giê-su là Vua, thế nhưng lạ lùng thay, cách Vua Giêsu lên ngôi, không giống như cách lên ngôi của những ông vua, những lãnh tụ trần thế. Đa phần họ đều dùng bạo lực, dùng thủ đoạn, dùng sức mạnh của họng súng. Còn Vua Giêsu thì bằng chính tình yêu thương, một thứ tình yêu, dám “hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu”.

Vua Giê-su đã hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu, trên thập giá tại Đồi Sọ. Sự kiện này được thánh sử Gio-an kể rằng: “Khi đến nơi gọi là ‘Đồi Sọ’ họ đóng đinh Người vào thập giá”.

Hôm đó, nơi Đồi Sọ… “lễ đăng quang” của Vua Giêsu không một tiếng kèn, tiếng trống hay tiếng tung hô, nhưng là những “tiếng chày tiếng búa nện đinh”. Những chiếc đinh, được nện không thương tiếc vào hai bàn tay và đôi chân, một cách để dán chặt cơ thể Ngài vào thập giá, và cuối cùng là giương cao xác Ngài lên. Mọi người thấy “Phía trên đầu Người, có bản án viết: Đây là Vua người Do Thái”.

Vây quanh Đồi Sọ… “Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo: Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn”.

Thánh sử Gio-an còn cho biết: “Lính tráng cũng chế diễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống và nói: “Nếu ông là Vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi”.

Thiên Chúa, qua Vua Giêsu, hứa cứu rỗi linh hồn, nhưng không hứa cứu-lấy-mình. Và điều này đã được Vua Giêsu thực hiện ngay hôm ấy, tại Đồi Sọ. Hôm ấy, tại Đồi Sọ, có hai tên gian phi, một tên “cũng nhục mạ người”. Nhưng tên kia thì không. Người gian phi này, thưa với Đức Giêsu, rằng: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!”.

Và anh ta đã toại nguyện. Sau lời kêu xin của anh ta, Giêsu, Vua-Tình-Yêu, đã nói với anh ta, rằng: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng”.

***
Hơn bảy trăm năm, trước khi Đức Giêsu ra đời tại Be-lem, ngôn sứ Mikha đã tiên báo “Phần ngươi, hỡi Belem Epratha… từ nơi ngươi… sẽ xuất hiện một vị có sứ mạng thống lĩnh Israel” (Mk 5, 1).

Đúng vậy, vai trò của Đức Giêsu đến thế gian là để thi hành sứ-mạng-thống-lĩnh-Israel. Thống lĩnh Israel, nhưng Ngài không thống lĩnh quốc gia “thuộc về thế gian này” mà là thống lĩnh con dân Israel, đưa họ trở về với chân lý và sự thật.

Chân lý và sự thật đó đã được Vua Giê-su công bố, rằng: “Như ông Môse đã giương cao con rắn trong sa mạc. Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3,15).

Suy tư chân lý và sự thật này, Cha Charles E. Miller, có lời chia sẻ: “Cái chết của Đức Giêsu không phải là một thảm kịch như cái chết của tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy. Đây là chiến thắng trên kẻ thù ‘kép’ của chúng ta: tội lỗi và cái chết.”

Rồi, Cha Charles tiếp lời khuyên: “dòng chữ chế diễu: Đây là Vua người Do Thái, chúng ta (hãy) thay thế bằng: Đức Kitô là Vua chúng ta”.

Còn thánh Phao-lô, sau cú ngã ngựa tại Damas, ngài hãnh diện khi trở thành thần dân của Vua Giê-su, nên đã chia sẻ cảm nghiệm của mình, với cộng đoàn Colose, rằng: “Anh em hãy vui mừng cảm tạ Chúa Cha đã làm cho anh em trở nên xứng đáng chung hưởng phần gia nghiệp của dân thánh trong cõi đầy ánh sáng. Người đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái, trong Thánh Tử, ta được ơn cứu chuộc, được tha thứ tội lỗi… (x.Cl 1, 12-13).

Thế nên, đừng thất vọng về những gì đã xảy ra trong ngày lên ngôi của Vua Giêsu. Và cũng đừng bao giờ quên lời công bố của Vua Giê-su (nêu trên), vì đó là thông điệp đời đời cho những ai đặt niềm tin vào Ngài.

Vâng, đừng thất vọng.

****
Chúng ta luôn phải nhớ rằng, đã là người môn đệ của Chúa, dù đang “ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian; sống ở giữa đời nhưng không sống như người đời”.

Thế nên, chúng ta không cần tìm đến những ông vua, những lãnh tụ trần thế để mong được ban cho mình công danh, sự nghiệp, quyền bính.

Tất cả những thứ đó chỉ là phù vân. Tất cả những thứ đó, khi chết đi, có mang được gì “về bên kia thế giới” hay chỉ là “ngoài trống vắng mà thôi!”

Cho nên, thật phải đạo khi hôm nay chúng ta hãy tự hỏi mình, rằng: Tôi đang là thần dân của ai? Của vương quốc thế tục hay vương quốc Nước Trời?

Nếu là vương quốc thế tục, phải coi chừng, Cha Charles E. Miller, với thực tế trong cuộc sống, có lời cảnh báo: “…Nó bác bỏ mọi hình thức tôn giáo về đức tin và phụng tự… Theo đó, tiện nghi, khoái lạc và tiền bạc là những mục tiêu duy nhất và tối thượng của cuộc sống”.

Quyến rũ đấy! nhưng đừng quên lời Đức Giê-su truyền dạy: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào ích gì”.

Lời Chúa còn phán dạy rằng: “Hãy ra khỏi thành ấy đi, để khỏi thông đồng với tội lỗi của nó và hứng lấy những tai ương dành cho nó” (x. Kh 18, 4).

Chính Đức Giê-su, trong những ngày còn tại thế, Ngài cũng đã nhắc lại những tai ương dành cho nó, đó là “Thiên Chúa khiến mưa lửa và diêm sinh từ trời đổ xuống tiêu diệt tất cả” (x.Lc 17, 29).

Đừng chọn vương quốc thế tục. Hãy chọn vương quốc Nước Trời. Bởi vì, đó là một vương-quốc-vĩnh-cửu, đầy-tràn-tình-thương, đầy-tràn-ân-sủng “đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời”. (x.Cl 1, 20).

Vậy nên, chúng ta hãy lớn tiếng nói, rõ ràng rằng: Vua chúng ta là Đức Kitô.

Petrus.tran

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2025

GIỚI TRẺ NEW YORK ĐANG “TÌM LẠI ĐỨC TIN”

 GIỚI TRẺ NEW YORK ĐANG “TÌM LẠI ĐỨC TIN”: SỐ NGƯỜI TRỞ LẠI CÔNG GIÁO TĂNG GẤP 3, NHÀ THỜ CHẬT KÍN GIỮA THÀNH PHỐ SIÊU THẾ TỤC

New York từ lâu được xem là trung tâm của chủ nghĩa vật chất, sự tự do tuyệt đối và lối sống không tôn giáo. Nhưng điều bất ngờ đang xảy ra: các nhà thờ Công giáo trên khắp thành phố ghi nhận số người trẻ xin gia nhập đạo tăng mạnh đến mức “chưa từng thấy trong nhiều thập niên.”
Tại St. Joseph’s Church ở Greenwich Village, Cha Jonah Teller thông báo trong một Thánh lễ đông nghẹt người rằng số người lớn xin gia nhập Công giáo qua chương trình OCIA đã tăng từ vài chục lên khoảng 130 người — gấp ba so với năm trước. Ở St. Vincent Ferrer trên Upper East Side, con số cũng tăng gấp đôi, gần 90 người. Tại Basilica of St. Patrick’s Old Cathedral, OCIA đã lên đến khoảng 100 người và Thánh lễ Chủ nhật lúc 7 giờ tối thường xuyên chật kín tới mức nhà thờ đang cân nhắc phải thêm giờ lễ. Giáo phận Brooklyn cũng chứng kiến sự trỗi dậy lớn: năm 2024 có 538 người trưởng thành vào đạo, gần gấp đôi năm 2023.
Cha Daniel Ray nói: “Chúng tôi đang hết chỗ. Đây không phải là kết quả của chiến dịch quảng bá. Đây là một sự bùng nổ thật sự.” Giữa một thế giới bất ổn và hỗn loạn, nhiều người trẻ nói họ tìm đến Giáo hội vì muốn có điểm tựa, sự bình an và nền tảng đạo đức mà xã hội hiện tại không thể cung cấp.
Nhiều người chưa từng theo tôn giáo. Một số từng là người vô thần. Nhiều người khác từng trầm cảm, khủng hoảng, hoặc chịu cú sốc mất mát. Một số nói sự phân cực chính trị khiến họ thấy tôn giáo có vẻ “ít nguy hiểm hơn so với những gì thế hệ họ từng nghĩ.”
Một trong những câu chuyện xúc động là của Cindy Zhao, một nhân viên y tế không có nền tảng tôn giáo, quyết định trở thành Công giáo sau khi chị họ 42 tuổi đột ngột qua đời vì ung thư. Cô nói rằng đức tin giúp cô tìm thấy sự rõ ràng mà trước đây cô chưa bao giờ có.
Liz Flynn, một thợ mộc 35 tuổi, từng vật lộn với lo âu và trầm cảm, cho biết cô tìm thấy Chúa trong... một cửa hàng Cracker Barrel ở North Carolina. Cô cầm cuốn “15 Minutes Alone with God”, đọc trang đầu tiên và bật khóc. Điều đó dẫn cô đến cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi, đến với Đức Mẹ và đến với Giáo hội. Cô nói mình “bình an hơn bao giờ hết.”
Ian Burns, 22 tuổi, cựu cầu thủ bóng rổ của Đại học Michigan, nói rằng anh cần một nơi nương tựa giữa một xã hội biến động. Anh chọn Công giáo vì muốn tìm về “gốc rễ của Kitô giáo.”
Ben Cook, doanh nhân 32 tuổi từ San Francisco, thành công từ nhỏ, nhưng nói rằng anh “có tất cả mọi thứ trừ sự bình an.” Anh bắt đầu tìm kiếm sự thật sau khi chứng kiến vợ gặp biến chứng lúc sinh con và nhận ra cuộc sống của anh không nằm trong tay mình. Khi người bạn thân Mark Carlson — người bỏ đạo 20 năm — cũng đồng thời quay trở lại với đức tin, họ cùng ghi danh OCIA tại St. Joseph’s như một “sự trùng hợp đầy Thiên ý.”
Carlson nói rằng anh từng sống trong môi trường cực kỳ tự do, nhưng rồi thất vọng trước văn hóa “woke”, cancel culture, ám ảnh khí hậu và sự xuống cấp của chuẩn mực xã hội. Anh nói Công giáo mang đến “các giá trị và đường ranh đạo đức” mà xã hội hiện đại đang thiếu.
Tất cả họ đều có điểm chung: sự khao khát một nền tảng vững chắc để sống ý nghĩa hơn. Cha Teller nói: “Vật chất có thể đủ đầy, nhưng không chạm đến trái tim.”
Trong một thành phố siêu thế tục như New York, sự trở lại mạnh mẽ của đức tin Công giáo — tự phát, không quảng bá, không chiến dịch — cho thấy điều sâu sắc hơn về thế hệ trẻ: giữa hỗn loạn, họ đang quay lại tìm thứ mà tiền bạc, chính trị và thành công không thể mua được.
Nguồn: New York Post
Tác giả: Tin tức Hoa Kỳ by VLKT News
💬 Quý vị nghĩ điều gì khiến giới trẻ New York đang quay lại mạnh mẽ với tôn giáo — phải chăng sự bất ổn của xã hội hiện đại đang khiến họ tìm kiếm nền tảng tinh thần bền vững hơn?

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2025

Tử Đạo là kiên trì sống đạo

 Chúa Nhật XXXIII – TN – C

Tử Đạo là kiên trì sống đạo

SnTM 151125a


Như chúng ta được biết, vào ngày lễ Ngũ Tuần, sau khi “ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần”, Nhóm Mười Một ngay lập tức thực hiện lời Chúa Giêsu truyền dạy: “Phải nhân danh Người rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem…”

Và ông Phê-rô, đại diện cho Nhóm Mười Một, đã có một bài giảng đầu tiên cho sứ vụ của mình. Bài giảng của ông Phê-rô, khiến cho mọi người “đau đớn trong lòng”. Hôm ấy, “đã có thêm khoảng ba ngàn người theo đạo.”

Ba-ngàn-người-theo-đạo, sách Công Vụ Tông Đồ cho biết: “Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến.” (Cv 3, 46-47).

Vui… chắc chắn là Nhóm Mười Một vui. Nhưng, bên cạnh đó, là buồn. Buồn vì chuyện này làm “ngứa mắt” giới tư tế. Họ bực tức vì các ông “giảng dạy cho dân và dựa vào trường hợp Đức Giê-su mà loan báo kẻ chết sẽ sống lại.”
Thế là, ông Phê-rô và Gio-an đã bị “giới tư tế, lãnh binh Đền Thờ và các người thuộc nhóm Sa-đốc… bắt và tống ngục.”

Tuy, hai ông Phê-rô và Gio-an được thả, nhưng kể từ đó, đời sống cộng đoàn tiên khởi không còn có những ngày-vui-bên-nhau, mà chỉ còn là những giọt lệ… “là nghìn giọt lệ...”

Giọt… giọt lệ đầu tiên, khóc cho ông Tê-pha-nô. Ông Tê-pha-nô, chỉ vì rao giảng một “Giêsu người Nadaret”, nên đã bị người ta chống đối. Họ “xông vào ông rồi lôi ra ngoài thành mà ném đá”. Chuyện kể rằng: “Họ ném đá ông, đang lúc ông cầu xin rằng: ‘Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này’. Nói thế rồi, ông an nghỉ” (Cv 7, 60).

Giọt lệ tiếp theo, khóc cho thánh Giacôbê. Sách Công Vụ Tông Đồ ghi: “Thời kỳ ấy, vua Hê-rô-đê ra tay ngược đãi một số người trong Hội Thánh. Nhà vua đã cho chém đầu ông Gia-cô-bê là anh ông Gio-an. Thấy việc đó làm vừa lòng người Do-thái, nhà vua lại cho bắt cả ông Phê-rô nữa.”

Sau ông Phê-rô, nghìn-giọt-lệ… nghìn giọt lệ khác, khóc cho ông Phao-lô, rồi cho cả Nhóm Mười Một. Chưa hết, nghìn giọt lệ còn rơi “trong 300 năm Đế chế La Mã đàn áp tín đồ Ki-tô giáo”. Nó rơi… tiếp tục rơi… rơi… “trong suốt 300 năm đạo Chúa bị bách hại dưới thời vua Lê, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và phong trào Văn Thân” (nguồn: internet).

**
Nếu nghìn-giọt-lệ của Trịnh Công Sơn “rớt xuống thành hồ nước long lanh.” Thì, nghìn-giọt-lệ của Giáo Hội Công Giáo “rớt xuống thành máu các thánh tử đạo.”

Với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, sử sách ghi nhận: có khoảng vài trăm ngàn vị tử đạo, trong đó có 118 vị được chính thức tôn phong.

Tôn phong các ngài, trước là để vinh danh đời sống đức tin của các ngài, một đức tin mãnh liệt và kiên trì vào Chúa Giê-su, và sau là, để xem đó như những tấm gương mẫu mực cho đời sống đức tin của mỗi chúng ta.

Một tấm gương đáng để chúng ta noi theo, đó tấm gương linh mục Gioan Đạt. Chuyện kể rằng: Khi ngài vừa dâng lễ xong thì quân lính vây bắt. Cha đã chạy thoát, nhưng vì để quên áo lễ, cha thấy quân lính tra tấn gia chủ nên ra nộp mạng và nói: “Vẫn biết tôi có thể thoát, nhưng như thế anh chị em sẽ bị khổ nhiều”.

Anh-chị-em-sẽ-bị-khổ-nhiều, thế nên, Linh mục Gio-an Đạt đã sẵn sàng thực thi lời truyền dạy của Chúa Giê-su, lời truyền dạy, rằng: “không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu, người liều mạng sống vì người mình yêu”.

Chưa hết, còn thêm một tấm gương thừa sai Gagelin Kính, nữa. Với thừa sai Gagelin Kính, ngài đã viết thư xin phép giám mục cho mình ra trình diện để tín hữu Bình Định được bình an.

Còn linh mục Đặng Đình Viên ư! Thưa, cha đã trốn an toàn trong vườn mía dày đặc, nhưng khi thấy quân lính đánh đập tra khảo con của chủ nhà, cha cũng tự động ra thế mạng. (trích: Chân dung các thánh tử đạo Việt Nam - Lm PX. Đào Trung Hiệu, OP).

Có rất nhiều hình phạt mà quý ngài phải hứng chịu. Nào là bị gông cùm, xiềng xích, bị nhốt trong cũi, bị đánh đòn, bị bỏ đói. Nặng hơn thì bị voi dầy, bị đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng. Tàn bạo hơn thì bị xử trảm, xử giảo (thắt cổ) hoặc bị thiêu sống. Ác liệt nhất là bị xử lăng trì (một hình thức phân thây ra từng mảnh) hay bá đao (bị xẻo từng mảnh thịt)… cho tới chết. Án nhẹ nhất, đó là khắc lên trên trán hai chữ “tà đạo”.

***
Thật ra, chuyện các vị tử đạo phải chịu gông cùm, đánh đập, bỏ đói và cả cái chết là điều không có gì ngạc nhiên.

Không có gì ngạc nhiên vì chính Đức Giêsu, trong những ngày còn tại thế, Ngài đã khuyến cáo, rằng: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian yêu thích cái gì thuộc về nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em.”

Vào một dịp khác, Đức Giê-su cũng đã có lời khuyến cáo tương tự như thế. Lời khuyến cáo, rằng: “…Người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và bỏ tù, điệu anh em đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy.” (Lc 21, 12).

Hôm ấy, Đức Giê-su nói tiếp: “Đó sẽ là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy… Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu. Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình”. (Lc 21, 13… 18).

Các thánh tử đạo Việt Nam, đã kiên trì, kiên trì làm chứng cho đức tin, bằng mạng sống mình. Máu các ngài trở thành hạt giống đức tin.

Như một truyền thống đẹp, hôm nay (16/11/2025) toàn thể Giáo Hội Công Giáo Việt Nam mừng kính trọng thể các thánh tử đạo Việt Nam.

***
Những lời khuyến cáo của Đức Giê-su, tuy cách nay hơn hai ngàn năm, nhưng vẫn có tính thời sự, với chúng ta, hôm nay.

Sự bách hại mà Đức Giêsu đã khuyến cáo, nay vẫn tiếp tục xảy ra, nơi này nơi khác, cách này cách khác. Nigeria như điển hình.

Cách nay 6 năm, theo vaticannews: “Giáng sinh năm 2019 vừa qua là Giáng sinh đẫm máu đối với các Kitô hữu Nigeria. 11 Kitô hữu đã bị bắn và chặt đầu vào ngày Giáng sinh tại một địa điểm không xác định, trong khi các Kitô hữu khác bị giết tại một địa điểm không xác định khác ở phía đông bắc của nước này. Phiến quân Nhà nước Hồi giáo ở tỉnh Tây Phi (Iswap), một phe của Boko Haram đặc biệt trung thành với cái gọi là Nhà nước Hồi giáo, tuyên bố lãnh trách nhiệm về các cuộc tấn công.”

Và mới đây, báo điện tử Open Doors, ngày 22/06/2025, loan tin: “Ít nhất 218 người đã thiệt mạng và hơn 6.000 người phải di dời sau hàng loạt vụ tấn công tàn khốc vào các ngôi làng chủ yếu là người theo đạo Thiên Chúa ở bang Benue, một vùng lãnh thổ thuộc vành đai Trung tâm, miền bắc Nigeria. Các chiến binh Hồi giáo Fulani bị nghi ngờ đứng sau cả sáu vụ tấn công, nhắm vào đàn ông, phụ nữ và trẻ em.”

“Hãy cùng chúng tôi cầu nguyện để chính Chúa sẽ là người bảo vệ và nâng đỡ, gìn giữ chúng ta.” MỤC SƯ BARNABAS, nói với Open Doors, như thế.

Chúng ta hãy cầu nguyện cho các Kitô hữu Nigeria. Chúng ta cũng hãy cầu nguyện cho chính chúng ta.

Bởi vì, có thể chúng ta không phải chịu cảnh “máu đổ đầu rơi”. Nhưng có thể chúng ta bị “sàng sảy” bởi những lời cám dỗ mật ngọt của Satan và thế gian. Đừng quên lời Đức Giêsu đã nói khi xưa, rằng: “Kìa Sa-tan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo.” (Lc 22, 31).

Có thể chúng ta không bị “phân thây”, nhưng có thể chúng ta sẽ bị “phân thân”, vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi thế gian.

Vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi thế gian, có khác gì một người “hâm hẩm chẳng nóng, chẳng lạnh!” Hâm hẩm chẳng nóng, chẳng lạnh… “(Chúa) mửa ra!” (Kh 3, 16).

Thế nên, hãy cầu nguyện cho chính mình, để biết: Tử Đạo hôm nay, đó là “Sống Đạo”.

Tử đạo hôm nay, đó là sống một đời sống trung tín, trung tín với lời thề hứa: “hứa yêu nhau trao câu thề chung sống muôn đời” chẳng hạn.

Tử đạo hôm nay, còn là sống một đời sống: “bác ái, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, hiền hòa, tiết độ.” Tử đạo hôm nay, còn là sống một đời sống không “tìm hư danh”, không “khiêu khích nhau”, không “ghen tỵ nhau”.

Tử đạo hôm nay, không phải là “bị đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng”, nhưng là “đóng đinh tính xác thịt (của mình) vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê” (x.Gl 6, 24).

Một điều Đức Giê-su đã truyền dạy, và chúng ta cần ghi nhớ, đó là: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục.” (Mt, 10, 28).

Đừng coi thường lời truyền dạy này, bởi lời truyền dạy này, chính là “nguồn cảm hứng” giúp chúng ta kiên-trì-sống… “sống đạo”.

Đức Giê-su nói: “Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình.” Nên chăng, chúng ta sẽ nói “Kiên-trì-sống… sống đạo, chúng ta mới giữ được mạng sống mình!”

Nên nhỉ! Vâng, nên nói vậy. Như vậy, đừng ngại nói: Tử Đạo là kiên trì sống đạo.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2025

Hãy biến mình là Đền Thờ Chúa

 Chúa Nhật XXXII – TN – C

Hãy biến mình là Đền Thờ Chúa

SnTM 081125a


Nhà thờ, như chúng ta được biết, “là nơi người tín hữu đến để thờ kính Chúa, dâng lễ, đọc kinh và tìm kiếm sự an ủi, bình an.”

Nhà thờ có từ khi nào? Thưa: “Nguồn gốc của nhà thờ Kitô giáo đầu tiên là một ngôi nhà bình thường ở Dura-Europos, được chuyển đổi để phục vụ việc thờ phụng trước năm 256 SCN. Khi Kitô giáo phát triển, các công trình nhà thờ độc lập bắt đầu được xây dựng. Những nhà thờ có trang trí công phu và kiến trúc lớn hơn xuất hiện sau thời Constantinus. Các nhà thờ ở Việt Nam thường tuân theo các phong cách châu Âu như Gothic, Roman, với tháp chuông và thánh giá trên đỉnh.” (nguồn: internet).

Trở về thời xa xưa, theo Kinh Thánh, sự thờ phượng Thiên Chúa của người xưa, rất giản dị. Người ta chỉ cần “dựng một bàn thờ để kính ĐỨC CHÚA”. Người ta chỉ cần “lấy một số trong các gia súc thanh sạch… các loại chim thanh sạch mà dâng làm lễ toàn thiêu trên bàn thờ” (x.St 8, 20).

Chính tổ phụ Ap-ra-ham cũng đã “dựng bàn thờ” để thực hiện việc “dâng I-xa-ác làm lễ tế toàn thiêu” (x.St 22, 1-9).
“Do Thái là dân du mục, họ ở trong các lều bằng vải, đi đến đâu họ luôn luôn mang theo Hòm Bia Giao Ước, đặt trong căn lều, gọi là ‘Trướng Tao Phùng’. Sự hiện diện của Khám Giao Ước là sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân. Khám Giao Ước là một cái hòm dùng để đặt bia đá khắc Mười Giới Răn mà Thiên Chúa đã ban cho dân tại núi Sinai.

Vào năm 1.000 TCN, khi vua Đavít lên làm vua cả hai miền Nam - Bắc. Vua cùng toàn dân đi rước Hòm Bia Thiên Chúa vào thành Giêrusalem. Dân chúng đi rước Hòm Bia với các loại nhạc cụ: đàn cầm, đàn sắt, não bạt, phèng la… Còn vua Đavít đi trước Hòm Bia mà nhảy múa, tung hô, ngợi khen Thiên Chúa”. (nguồn: internet).

Đó là những nghi thức phụng vụ thờ phượng Thiên Chúa thời vua David. Rồi, đến thời vua Salomon, một Đền Thờ để thờ phượng Thiên Chúa đã được xây dựng, được xây dựng “tại Giê-ru-sa-lem trên núi Mô-ri-gia, nơi ĐỨC CHÚA đã hiện ra với vua David”.

Khi Đền Thờ hoàn tất, ĐỨC CHÚA đã hiện ra và phán: “Ta đã chọn nơi này làm nhà dâng hy lễ cho Ta… Từ nay, Ta sẽ ghé mắt nhìn và lắng tai nghe lời cầu nguyện dâng lên ở đây, vì Ta đã chọn và thánh hóa nhà này, để muôn đời Danh Ta ngự tại đây, Ta sẽ để mắt nhìn và để lòng ưa thích nơi này mãi mãi”. (2Sb 7,12-16).

Xưa, lời ĐỨC CHÚA phán rõ ràng, như thế. Đáng tiếc thay, vào thời Đức Giê-su còn tại thế, Đền Thờ Giê-ru-sa-lem bị trần tục hóa. Điều đó khiến Đức Giê-su giận dữ và Ngài đã làm một cuộc “tẩy uế Đền Thờ”, trong một dịp hành hương tại đây nhân ngày lễ Vượt Qua.

Sự kiện này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an. (Ga 2, 13-22).

**
Tin Mừng thánh Gio-an ghi lại, như sau: Hôm ấy, “Gần đến lễ Vượt Qua của người Do Thái, Đức Giêsu lên thành Giêrusalem”.

Đây không phải lần đầu tiên Đức Giêsu lên Đền Thờ dự lễ Vượt Qua. Hồi năm mười hai tuổi, Đức Giêsu cũng đã cùng với cha mẹ của Ngài “trẩy hội đền Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua… như người ta thường làm trong ngày lễ” (Lc 2, 41-42).

Lần trẩy hội hồi đó, Đức Giê-su đã làm cho mọi người kinh ngạc “về trí thông minh và những lời đối đáp” của mình.
Còn lần này thì sao! Thưa, khi “… thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền”, Đức Giê-su “liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả chiên cũng như bò, ra khỏi Đền Thờ… còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ.” (Ga 2, 15).

Vâng, hôm đó, nhìn Đền Thờ, nơi được cho là Đức Chúa Trời ngự và đã được Người thánh hóa, lại đang bị tục hóa, Đức Giê-su giận-quá-đỗi, nên đã nói với những kẻ bán bồ câu, rằng: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.”

Chứng kiến việc làm của Đức Giê-su, chuyện kể tiếp rằng: “Các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Kinh Thánh: Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân”.

Đúng là vậy. Hôm đó, người Do Thái đã đụng chạm đến “thân phận” của Đức Giê-su bằng một câu chất vấn, rằng “Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?”

Dấu lạ ư! Con người sẽ không bao giờ thỏa mãn với phép lạ. Thấy phép lạ này, họ sẽ đòi thêm phép lạ khác.

Hôm ấy Đức Giê-su không làm một dấu lạ nào. Bởi vì, Ngài đến thế gian không phải là để thoả nãm tính hiếu kỳ cho ai đó, nhưng là để thực hiện “ơn cứu độ chứa chan của Thiên Chúa” qua “cái chết và sự Phục Sinh” của Ngài.

Như một sự xác tín, hôm ấy, Đức Giê-su dõng dạc tuyên bố: “Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại.” (x.Ga 2, 19).

Xây… xây lại Đền Thờ nội-ba-ngày! Đó là “dấu lạ”, nhưng ai mà tin nổi! Không một người nào tin. Và, những người Do Thái đã nhao nhao lên nói: “Đền Thờ này phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, thế mà nội trong ba ngày ông xây lại được sao?”.

Chúng ta hôm nay, chắc hẳn cũng không thể tin lời công bố của Đức Giê-su, nếu thánh sử Gio-an không có lời giải thích, rằng: “Đền Thờ Đức Giê-su muốn nói ở đây là chính thân thể Người”. (x.Ga 2, 21). Thánh sử Gio-an không chỉ giải thích, mà ngài tông đồ còn cho chúng ta biết rằng: “Khi (Đức Giê-su) từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó, họ tin vào Kinh Thánh và lời Đức Giê-su đã nói.”

***
Đừng nghĩ rằng, việc làm của Đức Giê-su, mâu thuẫn với lời Đức Giê-su mời gọi: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu…”

Có-lòng-hiền-hậu, sao hôm ấy Ngài lại “hung hăng” xua đuổi tất cả chiên cũng như bò ra khỏi Đền Thờ, cũng như lật nhào bàn ghế, của những người đổi bạc, vậy!

Đừng nóng! Chuyện là thế này. Luật Do-thái, những người trưởng thành (20 tuổi) đều phải đến Đền Thờ, đặc biệt trong lễ Vượt Qua.

Đến Đền Thờ thì phải “dâng một phần tài sản của mình lên Chúa.” Nhưng, có một vấn đề là: nhiều người từ phương xa đem theo tiền xứ mình (tiền Roma, chẳng hạn). Trên đồng tiền này có hình ảnh của những vị hoàng đế. Loại tiền đó không được chấp nhận trong việc dâng cúng cho Đền Thờ. Vì thế, người ta có một dịch vụ đổi tiền ngoại quốc ra tiền Do-thái, tại đó.

Một vấn đề khác, theo luật Mô-sê, những người lên Đền Thờ phải đem chiên, bồ câu, hay bò để dâng hiến. Có những người ở xa không tiện đem thú vật từ làng mình đến Đền Thờ, nên họ phải mua thú vật ngay tại Đền Thờ. Ðó là lý do tại sao lại có dịch vụ mua bán chiên bò.

Những việc buôn bán gia súc hay đổi tiền là những việc làm tốt. Thế nhưng, theo thời gian, việc làm tốt này bị lạm dụng.

Lạm dụng thứ nhất, đó là tệ nạn buôn bán cắt cổ trắng trợn. Một con chiên chỉ đáng giá một đồng, thế mà có đôi lúc bị nâng giá lên hàng chục đồng.

Lạm dụng thứ hai, theo luật, các thầy tế lễ phải chứng nhận những con thú vật dâng lên Chúa là không tì vết. Thế nhưng, vì chẳng có lợi lộc gì, nên “quý thầy” không hứng thú để chứng nhận những thú vật “đem từ nhà đến” là những con vật không tì vết.

Chỉ những con vật được mua trong Đền Thờ mới được bảo đảm là không bị rắc rối về vấn đề tì vết. Mà, những con vật được mua trong Đền Thờ, ai bán… nếu không là những người do các thầy tế lễ, cấp giấy phép kinh doanh!?

Cuối cùng, thoạt đầu, người ta buôn bán ở xa Đền Thờ. Rồi từ từ, các phiên chợ xích dần đến Đền Thờ. Ðến thời của Đức Giê-su, việc buôn bán này xảy ra ngay “trong Đền Thờ”.

Thì đây, thánh sử Gio-an chẳng phải là đã cho chúng ta biết: “Người thấy ‘trong Đền Thờ’ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang đổi tiền”, đó sao!

Thế nên, hôm ấy, Đức Giê-su đã có hành động “xua đuổi” cũng là điều dễ hiểu, phải không, thưa quý vị!

****
Ngôi Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, thời Đức Giê-su tại thế, không còn nữa. Ngôi đền này “không còn tảng đá nào trên tảng đá nào.” Do vậy, Đức Giê-su không còn lên Đền Thờ Giêrusalem, nữa. Thay vào đó, Ngài đến từng ngôi nhà thờ, nơi chúng ta thờ kính Thiên Chúa.

Trong ngôi nhà thờ, Ngài quan sát… quan sát Cha chủ tế có dâng lễ với một tâm tình “thay cho cộng đoàn và kết hợp với Chúa Kitô trong vai trò Thượng Tế”, hay không!?

Trong ngôi nhà thờ, Ngài quan sát… quan sát chúng ta có đến nhà thờ với một tâm tình thờ kính Chúa, tìm kiếm sự an ủi, bình an, hay không!?

Nếu chúng ta có được một tâm tình như thế, Chúa Giê-su sẽ không bao giờ nói với chúng ta, như đã nói với những kẻ bán bồ câu, năm xưa: “Đừng biến nhà Cha tôi thành… gì… gì, đó!”

Làm thế nào để chúng ta có được tâm tình nêu trên? Thưa, chỉ cần chúng ta luôn nhớ đến lời thánh Phao-Lô, truyền dạy: “Anh em há chẳng biết mình là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?” (x.1Cor 3, 16).

Vâng, đã là một Kitô hữu có nghĩa là chúng ta trở nên “Đền Thờ của Thiên Chúa”. Chúng ta phải thận trọng gìn giữ ngôi Đền Thờ này.

Nếu không gìn giữ, thánh Phao-lô khuyến cáo: “…thì Thiên Chúa sẽ hủy diệt kẻ ấy. Vì Đền Thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và Đền Thờ ấy chính là anh em.”

Để “gìn giữ” ngôi Đền Thờ này, chúng ta hãy-đem-tất-cả “những việc do tính xác thịt gây ra, (đại loại) là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén và những điều khác giống như vậy”, ra khỏi tâm hồn của chúng ta.

Đây là một việc làm khẩn thiết. Chúng ta phải thực hiện, vì “Làm sao đền thờ Thiên Chúa lại đi đôi với tà thần được”. Chúng ta sẽ thực hiện được, khi chúng ta “nhờ Thần Khí mà tiến bước” (1Cor 5, 25).

Chúng ta cùng nghe lại lời cảnh cáo của Đức Giê-su: “Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán”. Vâng, tích cực hơn, chúng ta “Hãy biến mình là Đền Thờ Chúa.”

Petrus.tran

Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2025

Tám mối phúc - phúc hưởng Nước Trời

 Chúa Nhật XXXI – TN – C

Tám mối phúc - phúc hưởng Nước Trời

SnTM 011125a


Tháng Mười đã kết thúc vào ngày 31, vừa qua. Hôm nay, chúng ta bắt đầu bước vào tháng Mười Một. Như là một truyền thống đẹp, tháng Mười Một là tháng Giáo Hội dành riêng, trước là kính trọng thể Các Thánh Nam Nữ, sau là tưởng nhớ và cầu nguyện cho những người anh chị em tín hữu đã qua đời.

Các Thánh nam nữ là ai? Thưa, các ngài chính là những người khi ly trần, đã để lại những tấm gương mẫu mực trong đời sống đức tin, đức cậy và đức mến.

Giáo Hội, dựa trên quyền năng tối thượng, tôn phong các ngài sau nhiều cuộc điều tra cẩn thận và tỷ mỉ về các nhân đức mà các ngài đã thể hiện khi còn tại thế.

Kính trọng thể các thánh nam nữ, có thể nói, đó như là một sự xác tín, xác tín về một thị kiến mà thánh Gio-an đã ghi lại trong sách Khải Huyền.

Vâng, thị kiến của thánh Gioan được ghi, như sau: “Tôi thấy; kìa một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ lớn tiếng tung hô: Chính Thiên Chúa chúng ta, Đấng ngự trên ngai, và chính Con Chiên đã cứu độ chúng ta.” (Kh 7, 9-10).

Còn với những người anh chị em tín hữu đã “về bên kia thế giới”, Giáo Hội, nhớ và cầu nguyện cho họ, là để thể hiện niềm tin “tôi tin có Hội Thánh ở khắp thế này, các thánh thông công”, và hơn thế nữa, đó là tin vào: “xác loài người sẽ sống lại và sự sống đời sau”.

Niềm tin: “xác loài người sẽ sống lại và sự sống đời sau”, không do Giáo Hội tự đặt ra, nhưng là do chính Đức Giê-su truyền dạy. Lời truyền dạy này đã được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an.

Theo Tin Mừng thánh Gio-an, hôm ấy tại Ca-phác-na-um, sau khi tuyên bố: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ”, Đức Giê-su lớn tiếng nói, rất rõ ràng, rằng: “…Tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi. Mà ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.”

Trước một rừng cử tọa vây quanh, Đức Giê-su kết thúc thông điệp, rằng “...Ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.” (Ga 6, 40).

**
Nhớ lại… thuở khởi nguyên: “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật… Đức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Eden, để cày cấy và canh giữ đất đai. Đức Chúa là Thiên Chúa truyền lệnh cho con người rằng: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn NGƯƠI SẼ PHẢI CHẾT”. (St 2,7…16-17).

Con người đã ăn và con người đã phải chết. Sự trừng phạt cho tội bất tuân chính là cái chết. Đức Chúa đã phán với con người rằng: “Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3,…19).

Và… hôm nay… với thị kiến của thánh Gioan và thông điệp của Đức Giê-su, chuyện kẻ chết sống lại và cuộc sống đời sau ra sao, quá rõ ràng.

Đó là có Thiên Đàng. Phần thưởng trên Thiên Đàng sẽ dành cho “những người… sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao… đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên.” (Kh 7, 14).

Phần thưởng trên Thiên Đàng dành cho họ, đó là: “Họ không còn phải đói, phải khát, không còn bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt và khí nóng hành hạ nữa. Vì Con chiên đang ngự ở giữa ngai sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh”. (Kh 7, 16).

Như vậy, Thánh lễ hôm nay (2/11), Thánh lễ “cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời”, nên chăng… chúng ta sẽ cầu nguyện, rằng: “Chúng con cậy vì Danh Chúa nhân từ, xin cho các LINH HỒN được lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời, sáng láng vui vẻ vô cùng. AMEN!”

Hãy cầu nguyện như thế! Cầu nguyện như thế, cho những người anh chị em tín hữu đã qua đời. Và cũng hãy cầu nguyện như thế, cho chính chúng ta, bởi vì… cùng đích của đời người Kitô hữu là gì, nếu không là sự sống đời đời… là Nước Trời!

Với Thánh lễ hôm qua (1/11), kính trọng thể các thánh nam nữ, chúng ta sẽ cầu xin gì? Chúng ta sẽ cầu xin… “xin được nên thánh” chăng?

Cha Clêmentê Lê Minh Trung, chánh xứ Nhà thờ Chí Hòa, mở đầu bài giảng trong Thánh lễ kính trọng thể Các Thánh nam nữ, bằng một câu hỏi, câu hỏi rằng: “anh chị em có muốn nên thánh, như các thánh nam nữ, không?”

Không ai trả lời. Cha hỏi tiếp: “anh chị em có muốn lên Thiên Đàng không?” – “Muốn.” Câu trả lời rất lớn và dài. Cha cười và nói: “muốn lên Thiên Đàng phải nên thánh.”

Đúng! Tác giả thư Do Thái nói: “Hãy cầu sự bình an với mọi người cùng tìm theo sự nên thánh, vì nếu không nên thánh thì chẳng ai được thấy Đức Chúa Trời.” (Dt 12, 14).

Không-nên-thánh-thì-chẳng-ai-được-thấy-Đức-Chúa-Trời. Chúng ta cần nên thánh vì Giê-su Cứu Chúa của chúng ta là Đấng Thánh.

Muốn nên thánh, Cha Clêmentê nói: “Hãy sống đúng những điều Đức Giê-su đã truyền dạy. Đó là sống ‘tám mối phúc thật’.” (xem thêm Mt 5, 1-12).

Lại đúng nữa! Nếu chúng ta sống đúng tám-mối-phúc-thật, Đức Giê-su nói: “Nước Trời là của họ” (Mt 5, 3). Thế nên, không ngại nói: Tám mối phúc - phúc hưởng Nước Trời.

Petrus.tran

Hãy khát mong gặp gỡ Đức Ki-Tô

Chúa Nhật III – MC – A Hãy khát mong gặp gỡ Đức Ki-Tô Như chúng ta được biết, năm ngoái (2025), nhân ngày Thế Giới Truyền Giáo trong Năm Th...