Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2024

Dám chết như Chúa, Chúa sẽ quý trọng...

 “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.” (Ga 12, 24).

Chúa Nhật V – MC – B
Dám chết như Chúa, Chúa sẽ quý trọng...

tbd 160324a

Như chúng ta được biết, sau ba mươi năm sống ẩn dật tại Na-da-rét, Đức Giê-su bắt đầu ra đi loan báo Tin Mừng Cứu Độ. Và, kể từ đây, Ngài bắt đầu sống một cuộc sống mới, một cuộc sống dẫn đến “Giờ chết và Sự Phục Sinh” của mình, ngõ hầu đem đến ơn cứu độ cho mọi người.

Ba lần… đã ba lần Đức Giê-su công bố về “Giờ chết và Sự Phục Sinh” của mình cho các môn đệ.

Với lần công bố thứ nhất, ông Phê-rô “kéo riêng Người ra và trách Người: Xin Thiên Chúa thương đứng để Thầy gặp phải chuyện đó. Nhưng Đức Giê-su (đã) quay lại bảo ông Phê-rô: Satan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.”

Với lần công bố thứ hai, thì: “Các môn đệ buồn phiền lắm.” (x.Mt 17, …23) Tới lần thứ ba, thánh sử Luca cho biết: Các ông không hiểu gì cả, đối với các ông, lời ấy còn bí ẩn, nên các ông không rõ những điều Người nói.” (Lc 18, 34).

Các-ông-không-hiểu ư! Lời ấy còn bí ẩn, nên các-ông-không-rõ ư! Thưa đúng vậy. Nhớ! Hôm ba người môn đệ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an cùng Đức Giê-su “tới một ngọn núi cao”, chẳng phải khi xuống núi các ông đã “bàn hỏi nhau xem câu ‘từ cõi chết sống lại’ nghĩa là gì”, đó sao!

Thế nên, Đức Giê-su, khi biết “Giờ chết và sự Phục Sinh” của mình sắp đến, Ngài đã có lời giải thích rất rõ ràng cho các ông, rằng: tại sao Ngài phải chết và cái chết của Ngài sẽ đem lại cho mọi người điều gì. Vâng, lời giải thích của Ngài đã được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an với tiêu đề: “Đức Giê-su loan báo Người sẽ được tôn vinh nhờ cái chết của Người.” (Ga 12, 20-33).

**
Theo Tin Mừng thánh Gio-an, bấy giờ là “sắp đến lễ Vượt Qua của người Do Thái”. Nhiều người từ khắp làng quê lên Giê-ru-sa-lem “để cử hành các nghi thức thanh tẩy dọn mình mừng lễ.”

Hôm ấy, có một số người tìm Đức Giê-su. Một số người khác đứng trong Đền Thờ bàn tán với nhau, rằng: “Có thể ông ấy (Đức Giê-su) sẽ không lên dự lễ…” Còn các thượng tế và người Pha-ri-sêu thì ra lệnh: “Ai biết được ông ấy (Đức Giê-su) ở đâu thì phải báo cho họ đến bắt” (Ga 11, 55-57).

Trước đó vài tuần, một người trong Thượng Hội Đồng tên là Cai-pha đã bàn mưu giết Đức Giê-su. Biết được âm mưu này, có lẽ qua sự thông báo của ông Ni-cô-đi-mô, cũng là một thành viên Thượng Hội Đồng, Đức Giê-su rời Giê-ru-sa-lem băng qua Sông Gio-đan, đi về “một thành gọi là Ép-ra-im. Người ở lại đó với các môn đệ.” (Ga 12, …54).

Nhưng rồi, sáu ngày trước Lễ Vượt Qua, Đức Giê-su trở lại ngoại thành Giê-ru-sa-lem. Ngài đến Bê-tha-ni-a, nơi anh La-da-rô ở. “Anh này đã được Ngài cho sống lại từ cõi chết”. Hôm đó, “người ta dọn bữa ăn tối thết đãi Đức Giê-su, cô Mác-ta lo hầu bàn, còn anh La-da-rô là một trong những kẻ cùng dự tiệc với Ngài.”

Thế còn cô Ma-ri-a! Vâng, cô ta “lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Đức Giê-su, rồi lấy tóc mà lau.”

Thấy vậy, một người môn đệ phản đối. Đức Giê-su đáp: “Hãy để cô ấy yên. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy. Thật vậy, người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có, còn Thầy, anh em không có đâu.”

Vâng, ngày-mai-táng-Thầy chính là ngày Đức Giê-su “lên Giê-ru-sa-lem”.

***
Rồi, Đức Giê-su đã lên Giê-ru-sa-lem. Hôm ấy, “Trong số những người lên Giê-ru-sa-lem thờ phượng Thiên Chúa, có mấy người Hy Lạp.”

Mấy người Hy Lạp này đến gặp Phi-líp-phê và xin rằng: “Chúng tôi muốn được gặp ông Giê-su.” Phi-líp-phê đi hỏi An-rê.

Thế rồi, hai ông đến nói điều này với Đức Giê-su. Thế nhưng, hai ông Phi-líp-phê và An-rê không nhận được câu trả lời của Đức Giê-su. Thế có nghĩa là, Đức Giê-su không gặp nhóm người Hy Lạp.

Không gặp, phải chăng vì Đức Giê-su không muốn phí phạm thời gian để làm thỏa mãn sự tò mò của mấy người Hy Lạp? Phải chăng, vì Ngài không muốn tìm kiếm những lời “Hoan hô! Chúc tụng!”, những lời mà trước đó “dân chúng lũ lượt… cầm nhành lá thiên tuế ra đón Ngài và reo hò: Hoan hô! Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Chúc tụng vua Israel!”

Thưa, đúng vậy. Đức Giê-su, của ngày hôm ấy, rất khác so với ngày Ngài đến dự Lễ Lều Tạm ở Giê-ru-sa-lem. Hôm dự Lễ Lều Tạm, Ngài lên Giê-ru-sa-lem “không công khai và hầu như bí mật” (x.Ga 7, 10). Và, Ngài luôn tìm cách “lánh mặt”, khi tính mạng bị lâm nguy.

Thế sao, hôm nay Đức Giê-su lại công khai đi vào Giê-ru-sa-lem nơi người ta đã từng hạ lệnh bắt Ngài? Thưa, là vì “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”.

Đó… đó là lời Đức Giê-su đã trả lời hai ông Phi-líp-phê và An-rê. Vâng, Ngài biết… “biết giờ của Ngài đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha…”

“Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người… sẽ đánh đòn và giết chết Người”… Các-anh-quên-lời-Thầy-đã-truyền-dạy, sao!

Hôm ấy, nói đến cái chết của mình, Đức Giê-su có một sự so sánh rất xác thực với cuộc sống đời thường. Ngài so sánh, rằng: “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.” (Ga 12, 24).

Một nhà truyền giáo, khi suy tư về lời so sánh này, đã có lời chia sẻ, rằng: “Một hạt lúa mì dường như không có mấy giá trị. Nhưng nếu được gieo xuống đất và ‘chết đi’ thì nó sẽ nảy mầm và dần mọc lên thành cây lúa có nhiều hạt. Tương tự, Chúa Giê-su là một người hoàn hảo. Qua việc trung thành với Đức Chúa Trời cho đến chết, Ngài sẽ trở thành phương tiện để ban sự sống vĩnh cửu cho những người có cùng tinh thần hy sinh như thế. Vì vậy, Chúa Giê-su nói: Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống vĩnh cửu.” (x.Ga 12, 25).

Cuối cùng, Đức Giê-su có lời nhắn nhủ với các môn đệ (và cũng là cho chúng ta hôm nay), lời nhắn nhủ rằng: “Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phc vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ quý trọng người ấy.”

Chúng ta có hiểu lời nhắn nhủ này không? Vâng, không có lý do gì để nói rằng: tôi không hiểu! Thế nên, đã theo Chúa, thì đừng theo thế gian.

Đừng quên, Đức Giê-su đã có lời dạy rằng: “Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ.”

****
Tất cả những lời Đức Giê-su đã tuyên phán “không phải là một (mớ) lý thuyết, mà là một thực tại sâu kín, ta gọi là Mầu Nhiệm Vượt Qua”. Lm. Charles E.Miller có lời chia sẻ như thế.

Ngài Lm. còn tiếp lời, rằng: “Trong cái chết và sự sống lại của Chúa Giê-su, chúng ta thấy có sự quan phòng của Thiên Chúa là Cha. Kế hoạch của Người là cái chết khơi nguồn sự sống. Cái chết của Con Thiên Chúa dẫn đến sự phục sinh của chính Ngài và cũng sẽ dẫn đến sự sống lại của chúng ta.”

Trở lại cái ngày hôm ấy, khi Đức Giê-su nghĩ đến thảm cảnh của sự bắt bớ, của nỗi đau đớn và cái chết “như chiên con bị dẫn đi làm thịt”, và đã “dâng lời khẩn nguyện nài xin” “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến”… thì ngay lập tức, “Có tiếng từ trời vọng xuống: Ta đã tôn vinh Danh Ta. Ta sẽ còn tôn vinh nữa!”

Vâng, tác giả thư gửi tín hữu Do Thái đã nhìn biến cố này với một sự xác tín rằng: Đức Giê-su – “Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính…” (x.Dt 5, …7).

Và, điều mà Thiên Chúa sẽ-còn-tôn-vinh-nữa, cũng là lời xác tín của tác giả thư Do Thái, đó là: Đức Giê-su “đã trở nên nguồn ơn cứu độ cho tất cả những ai tùng phục Ngài”.

Thật đúng là vậy. Hôm ấy, Đức Giê-su đã có lời tuyên phán rằng: “Phần tôi, một khi được giương cao lên, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.” (x.Ga 12, 32).

*****
Qua trình thuật Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay (17/03/2024), chúng ta được nghe rất nhiều điều Đức Giê-su truyền dạy. Chúng ta được biết cách Đức Giê-su đã “dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng quyền năng” ra sao. Chúng ta được biết Ngài sẽ ban cho “những ai phục tùng Ngài” điều gì.

Vâng, chúng ta “đã biết và đã nghe”. Việc làm tiếp theo là chúng ta hãy thực hành. Tuy nhiên, sẽ không có sự thực hành nào dễ dàng, khi chúng ta chưa xác tín rằng: tôi đang phục vụ Chúa và tôi đã theo Chúa.

Có thể nói, hai điều này như hai mặt của một đồng tiền. Mất đi một điều, nó không còn là đồng tiền nữa. Quan trọng lắm, đúng không, thưa quý vị!

Thế nên, khi đã phục-vụ-Chúa, thì hãy-theo-Chúa. Khi đã dám “như hạt lúa gieo xuống đất và chết đi” thì-hãy-chết “vì tình yêu”, như Chúa Giê-su “chỉ vì tình yêu Chúa chịu nhục thân chết cho trần gian”.

Khi đã dám “như hạt lúa gieo xuống đất và chết đi” thì-hãy-chết “cho sự nhẫn nhục, cho lòng nhân hậu, cho sự từ tâm, cho lòng trung tín, cho tính hiền hòa, cho sự tiết độ.”

Chớ vì “những việc do tính xác thịt gây ra”, đại loại như: ‘dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phiếm, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén”, mà “chịu nhục thân chết trong tội lụy”.

Đừng quên, những ai dám chết cho những-việc-làm-do-tính-xác-thịt-gây-ra, thánh Phao-lô cảnh báo, kẻ đó: “sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa”.

Chúng ta vẫn còn trong mùa chay. Và như chúng ta được biết, mùa chay là mùa “sám hối và trở về”. Thế nên, nếu chúng ta vì một phút yếu đuối, và đã “dám chết” cho một trong những-việc-làm-do-tính-xác-thịt-gây-ra (nêu trên), thì hãy, như “người con thứ”, trong “dụ ngôn người cha nhân hậu”, “đứng lên đi về cùng cha”.

Hãy đứng lên “đi về cùng Chúa”. Hãy đứng lên đi về. Vừa đi vừa cất tiếng nguyện rằng: “Con nay trở về, trở về cùng Chúa, Chúa ơi. Con nay trở về, lòng sầu thống hối khôn nguôi. Muốn khóc cho một niềm tin đã trót bao phen ngả nghiêng. Bước chân hoang đàng, nay bến yêu thương tình đáp tình.” (Con nay trở về - tác giả: Hùng Lân).

Hãy trở về và phục vụ Chúa. Hãy phục vụ Chúa và hãy theo Chúa. Hãy ghi khắc trong con tim mình, lời Đức Giê-su tuyên phán: “Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ quý trọng người ấy.”

Nói cách khác: Dám chết như Chúa, Chúa sẽ quý trọng.

Petrus.tran

Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2024

Hãy viết “Gio-an 3, 16”… trong tim tôi.

 “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (x.Ga 3, 16).

Chúa Nhật IV – MC – B
Hãy viết “Gio-an 3, 16”… trong tim tôi

 

tbd 090324a


Cuộc tử nạn và Phục Sinh của Đức Giê-su Ki-tô là một biến cố lịch sử. Và, khi nói tới biến cố lịch sử này, thánh Phao-lô có lời dạy rằng: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (x.Pl 2, 6-7).

Vâng, Đức Giê-su đã chết-trên-cây-thập-tự. Cái chết của Ngài là một cái chết “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta”. Chính, chính Ngài đã (ba lần) loan báo cái chết của mình cho các môn đệ.

Một vị thủ lãnh của người Do Thái, tên là Ni-cô-đê-mô, trong một “cuộc đối thoại” với Đức Giê-su, cũng đã được Ngài nói đến cái chết của mình và gọi đó là cách thế Thiên Chúa yêu thương thế gian.

Cuộc đối thoại này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an. (x.Ga 3, 14-21).

**
Tin Mừng thánh Gio-an ghi lại rằng: Vào dịp lễ Vượt Qua, nhân cơ hội có Đức Giê-su ở Giê-ru-sa-lem, “trong nhóm Pha-ri-sêu, có một người tên là Ni-cô-đê-mô, một thủ lãnh của người Do Thái. Ông ta đến gặp Đức Giê-su ban đêm.”
Khi đã gặp Đức Giê-su, ông nói với Ngài, rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi biết: Thầy là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến”.

Và, như để khẳng định cho lời nhận định của mình là đúng, ông ta nói tiếp: “Quả vậy, chẳng ai làm được những dấu lạ Thầy làm, nếu Thiên Chúa không ở cùng người ấy”.

Đúng, ông Ni-cô-đê-mô nhận định đúng. Đức Giê-su, ngay khi bắt đầu ra đi loan báo Tin Mừng, Ngài đã làm rất nhiều dấu lạ, dấu lạ hóa nước thành rượu trong một bữa tiệc cưới tại Cana, như một điển hình.

Còn chuyện Ngài “là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến” ư! Thưa, còn hơn thế nữa. Đức Giê-su được sai đến không chỉ trong vai trò là một “vị tôn sư” nhưng còn trong vai “Con Một” của Thiên Chúa.

Hôm đó, sau những lời đối thoại với ông Ni-cô-đê-mô về sự tái sinh, Đức Giê-su đã khẳng định vai trò của mình đến thế gian là vì: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (x.Ga 3, 16).

“Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian…”, Đức Giê-su nói tiếp: “… Không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ.”

Rồi, vị tôn sư Giê-su đưa ra một sự lựa chọn, và có thể nói, đó cũng là lời cảnh báo, rằng: “Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.”

Hôm ấy, Đức Giê-su đã nói với ông Ni-cô-đê-mô, về sứ mạng Ngài phải thực hiện, khi đến thế gian này: “như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời”. (Ga 3, 14-15).

***
Vâng, đúng như lời Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô, Ngài đã được-giương-cao bằng một cây thập giá. Theo Kinh Thánh ghi lại: Đức Giê-su “Chịu nạn đời quan Phong-xi-ô Phi-la-tô, chịu đóng đanh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết sống lại”.

Nói về cái chết của của Đức Giê-su, thánh sử Gio-an có lời rằng: đó là một cái chết để làm-của-lễ-đền-tội-cho-chúng-ta. Và, đó là cách Thiên Chúa biểu lộ Tình yêu của Người. Thánh Gio-an thêm lời dạy như thế. Và ngài tông đồ đã không quên nói với tín hữu của mình, rằng: “Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế” (1Ga 4, 11).

Suốt chiều dài lịch sử cứu độ, rất… rất nhiều người đã cảm nghiệm được điều này. Tim Tebow, một cầu thủ bóng bầu dục người Mỹ, như một điển hình.

Theo nguồn tin trên truyền thông internet: “Nhiều người công nhận thành công trong sự nghiệp thể thao của cầu thủ Tim Tebow không thể giải thích bằng sự hiểu biết của con người! Tebow đã thành công từ khi chơi bóng bầu dục ở trường đại học với lòng yêu mến và kính sợ Chúa ngay trong việc mình làm: ‘chơi bóng’.

Anh làm chứng rằng: Chúa đã dẫn dắt, dạy dỗ anh qua các câu Kinh Thánh mà anh yêu thích và thường dán ‘địa chỉ’ của nó ngay lên mặt mỗi khi thi đấu. Đó là các câu: Phi-líp 4, 13; Do Thái 12, 1-2; Ê-phê-sô 2, 8-10; Isaia 40, 31; Rô-ma 1, 16. Đặc biệt hơn cả, đó là: Gio-an 3, 16.

Theo lời Tim chia sẻ, là: ‘Để khán giả có thể thấy, thắc mắc và tìm hiểu các thông điệp này. Gio-an 3, 16 được nhiều người tò mò, thích thú tìm kiếm bởi nó chứa đựng thông điệp cứu độ ‘VÌ THIÊN CHÚA YÊU THƯƠNG THẾ GIAN ĐẾN NỖI…’ Tôi cảm nhận được sự thúc giục từ Chúa nên chia sẻ nó cho mọi người – Tim thêm lời như thế.”

****
Gio-an 3, 16… có thể gọi đó là một con số mật mã. Mật-mã-tình-yêu-Thiên-Chúa. Mật mã này, không thể “giải mã”, nếu chúng ta “chuộng bóng tối hơn ánh sáng”. Chúng ta không thể giải mã, nếu “việc (chúng ta) làm đều xấu xa”.

Mà, thật vậy. Làm sao chúng ta có thể giải mã được “mật mã tình yêu Thiên Chúa” khi chúng ta chuộng-bóng-tối, nơi thường xảy ra “những việc do tính xác thịt gây ra”, đại loại như: bóng tối của những quán bar, của vũ trường, của thờ quấy, của phù phép, của hận thù, của tranh chấp, của bè phái, của ganh tỵ, của say sưa chè chén!?

Những ai cứ lẩn quẩn trong những nơi chốn tối tăm này, thánh Phao-lô cảnh báo: “sẽ không được thừa hưởng Nước Trời”.

Làm sao chúng ta có thể giải mã được “mật mã tình yêu Thiên Chúa”, nếu việc-chúng-ta-làm-đều-xấu-xa, đại loại như: đồng lõa với tội ác, che đậy những sai phạm, lấp liếm những lỗi lầm v.v…

Trong cuộc đối thoại với ông Ni-cô-đê-mô, Đức Giê-su có lời phán truyền, lời phán truyền, rằng: “Ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách. Nhưng kẻ sống trong sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa.” (Ga 3, 20-21).

Đây không phải là một lời mời gọi, nhưng là một lệnh truyền. Và, “ánh sáng” mà Đức Giê-su truyền dạy chúng ta “đến cùng”, không phải là ánh sáng bình minh, không phải là ánh sáng rằm trung thu, càng không phải là ánh sáng của một chiếc đèn pha cực đại nào đó, nhưng là “Ánh Sáng Chúa Ki-tô”. Đó mới chính là thứ “ánh sáng thật, đã đến thế gian, và chiếu soi mọi người” (x.Ga 1, 9).

Xưa, Đức Giê-su, chẳng phải là đã có lần nói với người Do Thái, rằng: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.”, đó sao!

Do vậy, để có thể giải mã được “mật mã tình yêu Thiên Chúa”, chúng ta phải xa rời bóng tối. Và, tất nhiên là không thể không “đến cùng ánh sáng Chúa Ki-tô”.

Tim Tebow đã đến-cùng-ánh-sáng-Chúa-Ki-tô. Và, anh ấy đã làm cho “thiên hạ thấy rõ; các việc của (anh) ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa.”

Vâng, đó là viết những câu Kinh Thánh mà anh ấy cảm nghiệm ngay lên khuôn mặt mình, mỗi khi thi đấu. Đó còn là “thực hiện loạt video nghiên cứu Kinh Thánh, cùng quyển sách mới phát hành của anh: ‘Mission Possible: Go Create a Life That Counts’ (tạm dịch: ‘Nhiệm vụ khả thi: Hãy tạo ra một cuộc sống đáng giá’), tập trung vào đức tin của mình.”

Theo nguồn tin trên internet: “Trong các trận đấu của Tim, trên 90 triệu người đã tra Google từ khóa ‘Gio-an 3,16’, khiến câu Kinh Thánh này trở nên xu hướng tìm kiếm cao nhất trên tất cả các phương tiện truyền thông xã hội hiện nay!”

Còn chúng ta! Chúng ta sẽ làm gì để cho “thiên hạ thấy rõ; các việc của chúng ta đã được thực hiện trong Thiên Chúa.”! Nên chăng, chúng ta sẽ viết những câu Kinh Thánh mà chúng ta cảm nghiệm, “trong trái tim tôi”!

Đúng vậy. Hãy viết Lời Chúa “trên lá trên hoa”. Hãy viết Lời Chúa “trong trái tim tôi”. Hãy viết Lời Chúa “trên đá trên vôi”. Hãy viết Lời Chúa “ngập nẻo đường đi ngàn lối”. Hãy viết Lời Chúa “trên gấm, trên nhung”. Hãy viết Lời Chúa “trên trán, trên tay”.

Và, tuyệt vời hơn cả, khi chúng ta viết “Gio-an 3, 16” trong trái tim tôi. Vì đó là một con số mật mã đáng yêu, mật-mã-tình-yêu của Thiên Chúa.

Petrus.tran

Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2024

Chúng ta là Đền Thờ của Chúa

 “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.”

Chúa Nhật III – MC – B
Chúng ta là Đền Thờ của Chúa

tbd 020324a

Tết! Vâng, tết âm lịch của Việt Nam đã trôi qua. Thế nhưng, có vẻ như dư âm của tết vẫn còn đó. Còn đó bởi những buổi lễ hội, những cuộc hành hương trên khắp vùng miền Nam - Trung - Bắc. Điều đó, không lạ, vì đó là một truyền thống đẹp. Thế nhưng, trong nét đẹp đó lại xuất hiện không ít những nét xấu.

Nói tới những “nét xấu” của những buổi lễ hội, Lm. Hoài Bắc.OP, qua một bài chia sẻ Tin Mừng, đã ngao ngán thốt lên rằng: “Càng ngày, chúng ta thấy những lễ hội truyền thống văn hóa của người Việt Nam, càng nhiều. Và, thật sự cũng có phần tích cực giúp con người hướng thiện. Tuy nhiên, không ít lễ hội nhuốm màu thương mại, mê tín dị đoan, mang theo những hệ lụy không đẹp, do cách hành xử thiếu văn hóa. Lễ hội đang bị lạm dụng nghiêm trọng. Và làm mất đi ý nghĩa linh thiêng.”

Còn nói về những cuộc hành hương ư! Thưa, đó cũng là một truyền thống đẹp gắn liền với đời sống của mọi tôn giáo. Là một truyền thống đẹp, thế nhưng, thật đáng buồn vì ngày nay, một số ít người đã trần tục hóa việc hành hương, xem đó như là một cuộc du lịch, một cuộc du lịch được gắn bởi cái “mác” rất mỹ miều “du lịch tâm linh”. Chính vì bị trần tục hóa, nên không ít điểm hành hương đã xảy ra biết bao là tệ nạn, như: buôn thần bán thánh, chặt chém du khách, tranh cướp lộc dẫn đến đổ máu, một vài nơi đã xảy ra chết chóc, chỉ vì một bông hoa.

Những chuyện như thế, tưởng rằng chỉ xảy ra nơi các tôn giáo bạn. Thực tế thì, buồn thay! Những chuyện như thế vẫn xảy ra đó đây ngay trong những nơi hành hương của đạo Công Giáo chúng ta, mà không tiện nêu tên ở đây.

Vào thời Đức Giê-su còn tại thế, Đền Thánh Giê-ru-sa-lem, nơi mọi tín hữu Do Thái phải hành hương ba lần mỗi năm, cũng bị lạm dụng, cũng bị trần tục hóa. Điều đó đã khiến Đức Giê-su giận dữ và Ngài đã cho những kẻ lạm dụng một bài học nhớ đời, trong một dịp hành hương tại đây nhân ngày lễ Vượt Qua.

Sự kiện này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an. (Ga 2, 13-25).

**
Chuyện kể rằng: Hôm ấy, “gần đến lễ Vượt Qua của người Do Thái”. Và, theo đúng luật dạy: “Đức Giêsu lên thành Giêrusalem”.

Rồi, khi Đức Giê-su vào Đền Thờ, chuyện kể tiếp rằng: “Người thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang đổi tiền.”

Rồi sao nữa! Thưa, không chấp nhận khung cảnh Đền Thờ, nói theo cách nói hôm nay, chẳng khác nào một ngôi chợ “chồm hổm”, Đức Giê-su “liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả chiên cũng như bò, ra khỏi Đền Thờ… còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ.” (Ga 2, 15).

Rất quyết liệt, Đức Giê-su đã nói với những kẻ bán bồ câu, rằng: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.” Trước sự quyết liệt của Đức Giê-su, các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Kinh Thánh: “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân”.

Vâng, đúng là vậy. Hôm đó, người Do Thái đã đụng chạm đến “thân phận” của Đức Giê-su bằng một câu chất vấn, rằng “Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?”

Dấu lạ ư! Nhiều lắm… Các ông muốn nhìn thấy “dấu lạ”! Thì đây, bữa tiệc cưới tại Cana với “dấu lạ” nước hóa thành rượu còn sờ sờ ra đó, nay còn thắc mắc mà chi!

Thật ra, hôm ấy Đức Giê-su đã không kể ra một dấu lạ nào mà Ngài đã thực hiện. Bởi vì, Ngài đến thế gian không phải là để “hóa đá thành bánh”, nhưng là để thực hiện “ơn cứu độ chứa chan của Thiên Chúa” qua “cái chết và sự Phục Sinh” của Ngài.

Hôm ấy, Đức Giê-su đã dõng dạc tuyên bố rằng: “Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại.” (x.Ga 2, 19).

Xây… xây lại Đền Thờ nội-ba-ngày! Đúng là “dấu lạ”, nhưng ai mà tin nổi! Vâng, hôm ấy, không một người nào tin. Và, những người Do Thái đã nhao nhao lên nói: “Đền Thờ này phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, thế mà nội trong ba ngày ông xây lại được sao?”.

Chúng ta hôm nay, chắc hẳn cũng không thể tin lời công bố của Đức Giê-su, nếu thánh sử Gio-an không có lời giải thích, rằng: “Đền Thờ Đức Giê-su muốn nói ở đây là chính thân thể Người”. (x.Ga 2, 21).

Vâng, thánh sử Gio-an không chỉ giải thích, mà ngài tông đồ còn cho chúng ta biết rằng: “Khi (Đức Giê-su) từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó, họ tin vào Kinh Thánh và lời Đức Giê-su đã nói.”

***
Có không ít người (chắc chắn là vậy) sau khi biết được những gì Đức Giê-su làm tại Đền Thờ, đã thắc mắc và tự hỏi rằng, Đức Giê-su từng nói: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu…” có-lòng-hiền-hậu, sao hôm ấy Ngài lại “hung hăng” xua đuổi tất cả chiên cũng như bò ra khỏi Đền Thờ, cũng như lật nhào bàn ghế, của những người đổi bạc, vậy!

Thưa, chuyện là thế này. Luật Do-thái vào thời đó, những người trưởng thành (20 tuổi) đều phải đến Đền Thờ, đặc biệt trong lễ Vượt Qua.

Đến Đền Thờ thì phải “dâng một phần tài sản của mình lên Chúa.” Thế nhưng, có một vấn đề là: nhiều người từ phương xa đem theo tiền xứ mình (tiền Roma, chẳng hạn). Trên đồng tiền này có hình ảnh của những vị hoàng đế. Thế nên, loại tiền đó không được chấp nhận trong việc dâng cúng cho Đền Thờ. Vì thế, người ta có một dịch vụ đổi tiền ngoại quốc ra tiền Do-thái, tại đó.

Một vấn đề khác, theo luật Mô-sê, những người lên Đền Thờ phải đem chiên, bồ câu, hay bò để dâng hiến. Có những người ở xa không tiện đem thú vật từ làng mình đến Đền Thờ, nên họ phải mua thú vật ngay tại Đền Thờ. Ðó là lý do tại sao lại có dịch vụ mua bán chiên bò.

(Câu chuyện “Tiến dâng Đức Giê-su cho Thiên Chúa” trong Tin Mừng thánh Luca (x. 2, 22-24), cũng có nói đến việc “bà Maria và ông Giu-se… dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non”).

Những việc buôn bán gia súc hay đổi tiền là những việc làm tốt. Thế nhưng, theo thời gian, việc làm tốt này biến thành việc làm xấu.

Việc làm xấu thứ nhất, đó là tệ nạn buôn bán cắt cổ trắng trợn. Một con chiên chỉ đáng giá một đồng, thế mà có đôi lúc bị nâng giá lên hàng chục đồng.

Tại sao lại có chuyện này? Thưa, là do nạn tham nhũng. Đó là việc làm xấu thứ hai.

Theo luật, các thầy tế lễ phải chứng nhận những con thú vật dâng lên Chúa là không tì vết. Thế nhưng, vì chẳng có lợi lộc gì, nên “quý thầy” không hứng thú để chứng nhận những thú vật “đem từ nhà đến” là những con vật không tì vết. Chỉ những con vật được mua trong Đền Thờ mới được bảo đảm là không bị rắc rối về vấn đề tì vết.

Cuối cùng, thoạt đầu, người ta buôn bán ở xa Đền Thờ. Rồi từ từ, các phiên chợ xích dần đến Đền Thờ. Ðến thời của Đức Giê-su, việc buôn bán này xảy ra ngay “trong Đền Thờ”.

Thì đây, thánh sử Gio-an chẳng phải là đã cho chúng ta biết: “Người thấy ‘trong Đền Thờ’ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang đổi tiền”, đó sao!

Thế nên, hôm ấy, Đức Giê-su đã có hành động như thế cũng là điều dễ hiểu, phải không, thưa quý vị!
****
Câu chuyện về ngôi Đền Thờ Giê-ru-sa-lem thời Đức Giê-su còn tại thế, là thế đó! Và, sẽ thật đáng buồn, nếu ngôi thánh đường của chúng ta, hôm nay, cũng “là thế đó”.

Nói lên điều “cảnh báo” này để làm gì? Thưa, để chúng ta nghiêm túc nghiệm lại bài học Đức Giê-su đã dạy năm xưa. Bài học rằng: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.”

Phải nghiêm túc nghiệm lại, bởi vì bài học này, vẫn còn tính thời sự đối với chúng ta.

Thế nên, hãy tự hỏi, chúng ta sẽ “đem” cái gì ra khỏi “nhà thờ”, để nơi đây không biến thánh nơi đáng chê, đáng trách!?

Nên chăng, mỗi khi tham dự thánh lễ, hãy “đem cái iphone” cất vào nơi mà nó không thể làm bận tâm bận trí chúng ta, cũng như những người chung quanh, bởi vì nếu chúng ta cứ khư khư cầm trên tay, e rằng nó sẽ “Biến nhà thờ thành câu lạc bộ chơi game” hoặc “biến thành trung tâm viễn thông của mobifone”!

Nên chăng, hãy “đem những show ca nhạc” (nhạc đời) ra khỏi “sân nhà thờ”, nếu không, e rằng sân nhà thờ sẽ biến thành sân khấu ca vũ nhạc kịch!? “Vụ việc” này đã có xảy ra.

Tôi (người viết) không biết nên buồn hay nên vui, khi có một nhà thờ, tọa lạc bên ven kênh Nhiêu Lộc ở Saigon - quận ba, đã cho phép một cô ca sĩ rất nổi danh trước năm 1975, “đứng trên cung thánh” nghêu ngao hát một bài tình ca, bài tình ca mang tên “Gọi Tên Bốn Mùa”, tác giả là chàng nhạc sĩ họ Trịnh.

Không biết hôm đó, Đức Giê-su, nơi ngôi nhà tạm, qua hình hài Mình Thánh Chúa, có được vị Lm. quản xứ “di tản chiến thuật” không! Nếu không, thì thật ngại quá! Ngại vì khi không tự nhiên Ngài phải trở thành một vị khán giả bất đắc dĩ, bất đắc dĩ phải nghe những lời rên rỉ của nàng ca sĩ được mệnh danh là “nữ hoàng chân đất” đầy u uất, nghẹn ngào: “Em đứng lên gọi mưa vào hạ. Từng cơn mưa, từng cơn mưa. Từng cơn mưa, mưa… mưa… mưa”.

Nói chung, tất cả những gì có nguy cơ thế-tục-hóa, trần-tục-hóa, đại loại như múa lân nơi nhà thờ, thì nên “đem” ra khỏi nhà thờ.

Phải đem tất cả những gì có nguy cơ trần tục hóa, thế tục hóa, ra khỏi nhà thờ. Nếu không, chúng ta sẽ là những kẻ “làm tôi hai chủ”. Đức Giê-su chẳng phải là đã khuyến cáo rằng: “Chẳng ai được làm tôi hai chủ, vì sẽ ghét người này và yêu người kia, hoặc trọng người này mà khinh người kia. Các ngươi không thể làm tôi Thiên Chúa lại làm tôi Tiền Của được”, đó sao! (Mt 6, 24).

*****
Ngôi Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, thời Đức Giê-su tại thế, không còn nữa. Ngôi đền này “không còn tảng đá nào trên tảng đá nào.” Những ngôi Đền Thờ hay những ngôi nhà thờ bằng gỗ đá của chúng ta, ngày nay, rồi cũng sẽ không còn.

Thế nhưng, có một ngôi đền thờ vẫn tồn tại, đó chính là chúng ta. Thánh Phao-Lô, trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô, có nói “Anh em há chẳng biết mình là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?” (x.1Cor 3, 16).

Vì thế, chúng ta phải thận trọng gìn giữ ngôi Đền Thờ này. Bởi nếu không gìn giữ, thánh Phao-lô khuyến cáo: “…thì Thiên Chúa sẽ hủy diệt kẻ ấy. Vì Đền Thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và Đền Thờ ấy chính là anh em.”

Làm thế nào để “gìn giữ” ngôi Đền Thờ này! Thưa, đó là chúng ta hãy-đem-tất-cả “những việc do tính xác thịt gây ra, (đại loại) là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén và những điều khác giống như vậy”, ra khỏi “Tâm Hồn” của chúng ta.

Vâng, đây là một việc làm khẩn thiết. Chúng ta, cứ từng bước, từng bước mà thực hiện. Chúng ta sẽ thực hiện được, khi chúng ta “nhờ Thần Khí mà tiến bước” (1Cor 5, 25).

Chúng ta đang ở trong Mùa Chay. Mà, Mùa chay là mùa của sám hối và trở về. Vì thế, thật phải đạo khi chúng ta “dọn dẹp” lại ngôi đền tâm hồn của chúng ta.

Phải dọn dẹp những thói hư tật xấu, những điều không làm đẹp lòng Chúa. Nếu không, theo thời gian, những thói hư tật xấu, những điều không làm đẹp lòng Chúa, sẽ chiếm hữu ngôi đền tâm hồn của chúng ta. Kết quả là, ngồi đền tâm hồn của chúng ta không còn có Chúa. Không còn có Chúa sẽ dẫn đến việc quên lãng Ngài.

Thánh Phao-lô, trong thư gửi tín hữu Roma, có lời dạy, rằng: “Làm sao đền thờ Thiên Chúa lại đi đôi với tà thần được”. Thánh nhân nói tiếp: khi đã thuộc về Đức Giê-su, chúng ta phải “Hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để… thờ phượng Người” (x.Rm 12, 1).

Do vậy, mỗi khi ngôi đền tâm hồn của chúng ta, lấm lem bởi những thói hư tật xấu, bởi những điều không làm đẹp lòng Chúa, hãy đến với Ngài, để Ngài “lấy roi” đuổi những tội lỗi đó đi.

“Roi” chính là Bí Tích Hòa Giải, một ân sủng mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Chính Bí Tích Hòa Giải sẽ “dọn dẹp” lại ngôi đền tâm hồn chúng ta, ngõ hầu đem lại cho ngôi đền tâm hồn chúng ta ánh sáng Chúa Thánh Thần.

Điều cuối cùng, và cũng là điều rất quan trọng, đó là: để cho sự dọn dẹp ngôi đền tâm hồn của chúng ta “thành công tốt đẹp”, hãy ý thức, chúng ta là Đền Thờ của Chúa.

Petrus.tran

Thánh lễ… nơi Chúa Phục Sinh gặp ta

  Chúa Nhật II Phục Sinh – Năm A Thánh lễ… nơi Chúa Phục Sinh gặp ta “Chúa hóa nên người vì thương chúng ta, sống kiếp con người lam lũ hy s...