Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

Giê-su… Chúa Chiên nhân từ...

 Chúa Nhật IV Phục Sinh – Năm A

Giê-su… Chúa Chiên nhân từ

SnTM 250426a

 
Con Chiên… Con Chiên là con gì? Bạn có từng được thấy? Vâng, dưới góc độ sinh vật học và thực tế trong chăn nuôi, chúng ta được biết, con chiên là con cừu non, thường là dưới một năm tuổi. Còn theo quan niệm tôn giáo (Công Giáo), con chiên là hình ảnh biểu tượng cho người tín hữu, người tin theo Chúa.

Gọi người tin theo Chúa là con chiên, vì con chiên trong Kinh Thánh được dùng làm biểu tượng cho những người hiền lành, đạo đức. Trong dụ ngôn về ngày phán xét, Chúa đã tách chiên ra khỏi dê. Chiên ở bên phải, dê ở bên trái. Ở bên phải sẽ đi đâu! Ở bên trái sẽ đi đâu! Chúng ta biết rồi…

Cho nên không lạ, khi người Công giáo rất tự hào vì mình là con chiên của Chúa. Và, như một hồng ân, Chúa Giê-su chính là người mục tử, người mục tử của những ai tin theo Ngài.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Vi, biểu lộ niềm vui trước hồng ân này, nên đã, ngón tay vuốt nhẹ phím đàn, miệng ông cất tiếng ca vang lời rằng: “Chúa là Mục Tử, Người dẫn lối chỉ đường cho con đi. Đi trong tay Chúa nào con thiếu chi con sợ chi? Cỏ tươi rợn đồng xanh con no thỏa không bao giờ thiếu nữa. Suối nước trường sinh con nghỉ uống no đầy.”

Vâng, Chúa Giê-su chính là mục tử. Trong những ngày còn tại thế, Chúa Giê-su, mỗi khi nhìn thấy đoàn dân đông đúc kéo đến, Ngài không khỏi chạnh lòng thương xót, lòng thương xót của một người mục tử, và đã gọi họ là “bầy chiên không người chăn dắt” (Mc 6,34).

Làm sao không chạnh lòng thương xót cho được, khi họ phải sống trong sự bất an trước ách thống trị của bạo quyền Roma. Đồng thời, họ còn phải oằn vai gánh nặng những luật lệ do “các kinh sư và Pharisieu” đặt ra hết sức phi lý.

Có phi lý không kia chứ! Quý ông kinh sư và Pharisieu chỉ biết “ngồi trên tòa Môse giảng dạy… rủ cho được một người theo đạo, nhưng khi họ theo rồi, lại làm cho họ đáng xuống hỏa ngục…”.

Có tệ không kia chứ! Quý ông kinh sư và Pharisieu đã chăn dắt con dân mình theo cung cách của những “kẻ cướp, kẻ trộm”. Thế nên, Đức Giê-su đã không ngại gọi họ là những kẻ “cướp bóc và ăn chơi vô độ.” Ngài xếp họ vào thành phần những “kẻ chăn thuê”. Còn dân chúng, Ngài nhìn họ “như những con chiên lạc của nhà Israel”.

Chính vì thế, một lần nọ, bất chấp những căng thẳng vốn đã xảy ra giữa Ngài và nhóm Pharisieu. Đức Giêsu thẳng thắn tuyên bố rằng: “Tôi là cửa cho chiên ra vào. Mọi kẻ đến trước tôi đều là tên trộm cướp; nhưng chiên đã không nghe họ. Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ. Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy.” (x.Ga 10, 7-10).

Cuối cùng, Ngài đưa ra một thông điệp, một thông điệp mạnh mẽ: “Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.”

**
“Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.”

Xưa kia, Đức Giê-su đã tuyên bố như thế, trước những người Pharisieu. Ngày nay, Ngài cũng vẫn khẳng định như thế, trước mỗi chúng ta.

Xưa kia, người Pharisieu không tin, không theo Đức Giê-su. Ngày nay, chúng ta tin và theo Đức Giê-su!

Vâng, câu trả lời là của riêng mỗi chúng ta. Thế nhưng, đừng quên, chỉ khi chúng ta đi-theo-sau-Ngài chúng ta mới có thể “ra vào và gặp được đồng cỏ”.

Ngoài việc gặp-được-đồng-cỏ, Đức Giê-su còn ban “ơn cứu độ” như lời Ngài đã tuyên phán: “Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu.”

Tất cả là hồng ân. Và hồng ân chỉ dành cho những ai “nghe tiếng của Chúa - nhận biết Chúa”.

Muốn nghe được tiếng của Chúa ư! Thánh Kinh… Thánh Kinh chính là nơi “tiếng của Chúa” nói. Muốn nhận biết Chúa ư! Thánh Lễ… Thánh Lễ là nơi chúng ta ”nhận biết Chúa”, một Chúa Giê-su ban cho chúng ta một thứ cỏ, không phải “cỏ dại” nhưng là một thứ cỏ đem đến “sự sống đời đời”. Nói rõ hơn, đó là Mình-Máu-Thánh-Chúa.

***
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ truyền thông hiện đại. Một trong những đặc tính của cuộc sống hôm nay là có quá nhiều tiếng gọi, có quá nhiều điều được rao giảng, được tuyên truyền trên trần gian này.

Thế nhưng, không phải tiếng gọi nào chúng ta cũng có thể đáp lời. Bởi có thể tiếng gọi đó của Satan, của cám dỗ, của sự dữ, của “kẻ chăn thuê”.

Không phải lời rao giảng nào chúng ta cũng nghe theo. Bởi có thể đó là lời rao giảng của “tà giáo – tà quyền”.

Không phải lời tuyên truyền nào cũng dẫn đưa đến một cuộc sống hạnh phúc. Bởi có thể đó là lời tuyên truyền láo khoét.

Đừng quên, tấm gương của nguyên tổ Adam và Eva. Chỉ vì đáp lại tiếng nói của Satan quyến rũ, rằng thì-là-mà “chẳng chết chóc gì đâu”, kết quả thật thê thảm, sau khi bước vào “cánh cửa mê hồn trận” của Satan, “hái trái cây mà ăn… họ thấy mình trần truồng”.

Kết quả… chúng ta cũng biết rồi… cái chết!

****
Chúa Nhật hôm nay (26/04/2026), theo truyền thống, chúng ta gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành. Vào Google, một trang mạng với chức năng tìm kiếm, đánh lên đó dòng chữ “Chúa Chiên Lành”, vâng, chúng ta sẽ thấy rất nhiều hình ảnh Đức Giêsu là một người thanh niên ẵm hoặc vác con chiên trên vai, muôn kiểu, muôn màu, muôn sắc.

Có một số người dị ứng với Ki-tô giáo, nên - qua hình ảnh đó - họ cho rằng, Đức Giê-su đã biến “con người” thành “con vật” khi gọi những người theo Ngài là “con chiên”.

Có thể nói rằng, những kẻ suy nghĩ như thế là những kẻ thiếu hiểu biết. Còn nếu họ biết nhưng lại vờ như không biết, thì họ chẳng khác nào có mắt như mù. Nói tắt một lời, họ chỉ là những kẻ thiếu lương thiện, mà thôi.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên nói: “Các tín hữu Công Giáo theo Chúa không phải để trở thành con chiên. Một người ngớ ngẩn và một người vô học cũng không nghĩ là một người theo đạo để trở thành con chiên. Con chiên là một hình ảnh để sánh ví nói lên sự hợp nhất của Giáo hội, có một chủ chăn và có rất nhiều tín hữu là con chiên.

Hình ảnh con chiên nói lên sức mạnh, sự hiệp nhất và gắn bó với chủ chiên. Chúng ta theo Chúa Giêsu là để được nên giống Chúa Giêsu, nên giống Chúa Giêsu hoàn toàn, không phải giống con chiên. Đó là lý tưởng và ơn gọi của chúng ta...” (source: internet).

Hình ảnh người mục tử và con chiên trên vai… đó chính là hình ảnh trong Cựu Ước thường dùng như là biểu tượng nói về lòng thương xót, sự chăm lo, bảo vệ và nâng đỡ của Thiên Chúa đối với con người.

Thiên Chúa (người mục tử) “đi trước và chiên đi theo sau” gợi cho chúng ta nhớ đến Thánh Vịnh thứ hai mươi ba: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ”.

Chỉ trong sáu câu ngắn ngủi (Tv 23, 1-6) thế mà, cũng đủ để mô tả toàn cảnh hình ảnh người mục tử nhân lành đầy quyền uy: “Dầu qua thung lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm”.

Nếu xưa kia, Israel thời Cựu Ước vui mừng đặt niềm tin vào Thiên Chúa qua hình ảnh như thế, thì hôm nay, niềm vui đó phải được nhân đôi, nhân đôi là vì chính Chúa Giêsu đã cất tiếng hòa theo nhịp điệu mừng vui đó, rằng: “Thật, tôi bảo thật: Tôi là cửa cho chiên ra vào”. (Ga 10, 7).

****
Chúa Giêsu là cửa… cửa cho chúng ta vào Thiên Đàng. Để vào Thiên Đàng, chúng ta sẽ phải đối diện với những thế lực ác tà, những thế lực ác tà dưới sự chỉ huy bởi ”quái thú Khải Huyền” (x.Kh 13, 18).

Nó là kẻ vô luật pháp và là kẻ chống Chúa. Sự nguy hiểm mà chúng ta sẽ phải đối mặt với nó, đó là, nó chính là ma quỷ đội lốt người.

Đội lốt người thì sao? Thưa, nó có thể là một ông thầy tu, một ông giáo sỹ… Và có thể hơn hơn thế nữa. Nó có thể “bô lô ba la” nói rằng: “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa”, nhưng lại “ngoảnh mặt làm ngơ bơ đi mà sống”, trước những thế lực ác tà, những thế lực gây ra biết bao tội ác, dưới gầm trời này.

Để chúng ta không mất đi niềm tin vào Mục Tử Giê-su. Để chúng ta không lạc lối vì những lời mê hoặc của quái-thú-Khải-Huyền, hãy nhìn Mục Tử Giê-su “như là cội rễ và cuối cùng của đức tin”.

Chúng ta phải tin, tin rằng: “Tôi biết Đấng tôi tin cậy, và tôi chắc chắn rằng Ngài có thể gìn giữ điều tôi đã tín thác Ngài, cho đến ngày Ngài trở lại” (2Tm 1, 12).

Mục Tử Giê-su sẽ trở lại. phần chúng ta, chúng ta hãy cùng nhạc sĩ Nguyễn Duy Vi cất tiếng ca vang, lời ca rằng: “Chúa Chiên nhân từ, Người dẫn con tới đồng nội. Này suối nước mát bóng, con tới uống thảnh thơi. Chúa ơi sướng vui trong tay Chúa, Người dẫn con đi. Đi giữa suối mát, cỏ xanh con thiếu gì.”

Hãy tín thác Mục Tử Giê-su. Người là Chúa Chiên nhân từ.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2026

Mời Chúa ở lại với chúng con

 Chúa Nhật III Phục Sinh – Năm A

Mời Chúa ở lại với chúng con

SnTM 180426a


“Đức Giê-su Ki-tô từ trong cõi chết, Ngài đã Phục Sinh. Sự kiện này là nền tảng cốt lõi của đức tin Kitô giáo, khẳng định Người là Con Thiên Chúa, Đấng đã chịu chết, được mai táng và sống lại ngày thứ ba theo Kinh Thánh.” (nguồn: internet).

Vâng, đó là trung tâm điểm đức tin Ki-tô giáo. Là một người Ki-tô hữu, mỗi thánh lễ vào ngày Chúa Nhật, chúng ta tuyên xưng, Đức Giê-su: “Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng ta, thời quan Phongxiô Philatô, Người chịu khổ hình và mai táng, ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh”.

Thế nhưng, với các môn đệ xưa thì không như thế. Chúa-Nhật-đầu-tiên, theo cách gọi của Kinh Thánh là “ngày thứ nhất trong tuần”, các ông mang tâm trạng lo lắng, sợ hãi, bồn chồn và hồi hộp.

Mang tâm trạng như thế, thế nên “Chúa Nhật” hôm đó, “nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái”.

Tuy Kinh Thánh không nói đến, nhưng chúng ta có thể nghĩ rằng, tâm hồn các môn đệ “…như lá úa trong cơn mê chiều, nhiều cơn gió cuốn xoáy xoay trong hồn và cơn đau này vẫn còn đây.” Riêng Tôma, ông đã bỏ các bạn đồng môn “đi lang thang… mang (nỗi) buồn đi bốn phương trời.”

Ngoài ông Tôma, còn có hai người, có lẽ thuộc nhóm bảy mươi hai môn đệ, cũng đi-lang-thang… cũng mang-nỗi-buồn-đi… nhưng không đi-bốn-phương-trời, mà là đi về quê “cắm câu”.

Đây là một câu chuyện, một câu chuyện “đầy cảm xúc về hai môn đệ gặp Đức Giê-su Phục Sinh, trên con đường về quê nhà”. Câu chuyện này được ghi trong Tin Mừng thánh Luca. (x.Lc 24, 13-35).

**
Tin Mừng thánh Luca ghi lại rằng: “Cùng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau.”

Hai người môn đệ này là ai? Thưa, thánh Luca cho biết: “một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát.” Như vậy, hai ông rất có thể thuộc nhóm bảy mươi hai, một nhóm đã được Đức Giê-su “chọn thêm”, chọn thêm để “sai các ông cứ từng hai người đi trước Người, đến các thành và các nơi mà chính Người sẽ tới.”

Nhóm bảy mươi hai đã được sai đi với lời dặn dò rằng, hãy nói cho mọi người biết: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần” (Lc 10, 9).

Triều-Đại-Thiên-Chúa-đã-đến-gần là một ước mơ lớn đối với các ông. Các ông từng ước mơ rằng, Thầy Giê-su sẽ xây dựng một Triều Đại Mới, một Triều Đại sẽ đem lại cho Israel, cho gia đình, cho mọi người thoát khỏi ách thống trị của đế quốc Roma.

Vì thế, ba năm theo Thầy Giê-su cũng là ba năm các ông mong đợi cho “Triều Đại” ấy mau đến. Hy vọng một khi Triều-Đại-Thầy đến, tệ lắm các ông cũng được một chức vụ gì đó trong Triều Đại của Thầy mình.

Thật đáng tiếc! Sự việc lại không như mong muốn. Thê thảm quá! Thật không thể hiểu nổi, một người đầy quyền năng như “sư phụ”, cho người chết sống lại, thế mà lại bị giết chết bởi các thượng tế và kinh sư, chỉ là lũ phàm nhân.

Bước qua ngày thứ ba rồi. Ngày Thầy Giê-su sẽ sống lại, như lời Thầy tuyên bố, sao chưa thấy ứng nghiệm! Thế là “mộng vàng tan mây”!

Mang tâm trạng “chẳng còn chi… chẳng còn chi… ngoài con tim héo”, hai người môn đệ, với “vẻ mặt buồn rầu”, với trái tim khắc khoải sầu thương “về những sự việc vừa mới xảy ra” cho Thầy Giêsu, hai ông “nhọc nhằn lê gót chân buồn” đi về Emmau. Con đường chỉ “chừng mười một cây số”, nhưng hai ông vẫn cảm thấy “như (sao) đường về quá xa.”

Đang chìm trong tâm trạng “nhớ nhớ buồn buồn với chán chường”, thì bất ngờ Đức Giê-su xuất hiện. Ngài “tiến đến gần và cùng đi với các ông” (Lc 24, 15).

“Chính Đức Giêsu”, thế mà các ông “không nhận ra Người”. Thôi kệ! Cũng chẳng sao! Thêm người thêm vui. Thế là, đường về Em-mau, bây giờ người ta thấy có ba người.

Ba người, thì “một người đi với một người”, còn người kia, người kia “đi với nụ cười hắt hiu.” Ai cười hắt hiu? Thưa, ông Cơ-lê-ô-pát. Hôm ấy, sau khi Đức Giê-su hỏi hai ông: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau chuyện gì vậy?” Chuyện kể rằng: “Họ dừng lại vẻ mặt buồn rầu.”

Với vẻ mặt buồn rầu, ông Cơ-lê-ô-pát trả lời: “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” – Đức Giê-su hỏi: “Chuyện gì vậy?”

Như có lời nói: “Nỗi buồn càng dấu kín càng thêm buồn khổ”. Nay có ông bạn đồng hành muốn nghe nỗi buồn của mình, cớ sao không nói ra!

Thế là các ông nói: “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình và đã đóng đinh Người vào thập giá.” Ông-không-biết-sao?!

“Phần chúng tôi…” Cơ-lê-ô-pát với ánh mắt buồn-hiu-hắt-buồn, nói tiếp: “…trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi.”

Nhìn “ông bạn đường” không hẹn mà gặp, Cơ-lê-ô-pát tiếp tục kể lể: “Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra và bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói, còn chính Người thì họ không thấy.”

Thấu hiểu nỗi buồn, thất vọng, nghi nan của hai môn đệ, Đức Giê-su cất tiếng nói: “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ! Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?”.

Để cho hai môn đệ không còn chìm trong tâm trạng “nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt”, Đức Giê-su “bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.”

Hôm ấy, khi gần tới làng hai môn đệ muốn đến, chuyện kể rằng: “Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa.” Thấy thế, hai môn đệ “nài ép Người” ở lại với họ. Họ nói: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn.”

Đức Giê-su đã ở lại với họ. Và rồi, khi đồng bàn với hai môn đệ, “Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người”. Tiếc thay! Đức Giê-su, sau đó “Người lại biến mất”.

Sau vài giây phút “ra ngẩn vào ngơ”, hai môn đệ thì thầm với nhau: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?”

Thế là, ngay lập tức, hai ông “quay trở lại Giê-ru-sa-lem gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó.”
Nhóm Mười Một cho biết: “Chúa trỗi dậy thật rồi và đã hiện ra cho ông Si-môn.” Còn hai người môn đệ, họ “thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh” (x.Lc 24, 35).

***
Chúng ta vừa nghe lại câu chuyện “Đức Giê-su hiện ra với hai môn đệ trên đường Em-mau”. Vâng, đọc lại câu chuyện này, nói không sợ sai, đó là một câu chuyện vẫn còn tính thời sự đối với mỗi chúng ta, hôm nay.

Vẫn-còn-tính-thời-sự là bởi, cuộc đời mỗi chúng ta đang sống, đường đời mỗi chúng ta đang đi, “không phải lúc nào cũng chỉ có niềm vui, còn có cả sương mù và giá lạnh.” (Louis Evely).

Sẽ có lúc “sương mù” phủ kín đời ta. Sương mù đó, có thể là sự mất mát một người cha, một người mẹ, hay có thể là “một người em gái tôi thương”.

Sẽ có lúc “giá lạnh” hủy diệt hồn ta. Giá lạnh đó, có thể là, mới “Chiều hôm nao tiếng hát bay cao. Quỳ bên nhau trước Đấng Tối Cao. Hứa yêu nhau trao câu thề chung sống trọn đời”, nhưng chỉ vì một thoáng “đời buồn vui”, thế là “người ta lại bỏ con rồi, Chúa ơi!”

Sương mù và giá lạnh đó, còn có thể là một cơn hoạn nạn bởi thiên tai, một căn bệnh hiểm nghèo, một rủi ro trong kinh doanh, một thất bại trên tình trường.

Rất… rất nhiều sương mù và giá lạnh vây quanh cuộc đời ta, đeo bám suốt con đường đời ta đi.

Chúng ta sẽ làm gì? Chúng ta sẽ mang những nỗi buồn đó, những thất vọng đó, trên đôi vai mình “nhọc nhằn lê gót chân buồn đường dài!” Hay chúng ta sẽ trải lòng ra với Đức Giê-su!

Hai môn đệ trên đường Emmau, họ không dấu kín nỗi buồn, không chôn những thất vọng, trong tâm hồn mình. Họ trải lòng ra với Đức Giêsu. Và hơn hết, họ cùng đồng bàn với Ngài.

Với chúng ta hôm nay, cũng phải như thế! Sát thực nhất, đó là hãy đi đến nhà thờ, một con đường Em-mau mới, để “trò chuyện và bàn tán” với Đức Giê-su, để trải lòng ra với Ngài.

Đến nhà thờ, vị Linh Mục như là hiện thân của Đức Giêsu Phục Sinh, ngài sẽ “giải thích Kinh Thánh” cho chúng ta nghe, qua bài giảng trong Thánh lễ. Đừng quên, lòng-hai-môn-đệ-đã-bừng-cháy-lên sau khi hai ông đã được nghe Đức Giêsu Phục Sinh “nói chuyện và giải thích Kinh Thánh”.

Đến nhà thờ, nơi đó, chúng ta có thể nhận ra Đức Giê-su qua Bàn Tiệc Thánh Thể, một “Bàn Tiệc” kiện toàn cho đức tin, đức cậy và đức mến. Hãy nhớ rằng, nhờ bàn tiệc đó, hai môn đệ trên đường Emmau “đã nhận ra Chúa thể nào khi Người bẻ bánh” (Lc 24,…35).

Thưa quý vị, giữa cuộc đời này, có ai mà không từng rơi lệ! Có ai mà không một lần nức nở thở than: “Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau”! Có ai mà không hơn một lần: “Khóc lẻ loi một mình”!

Đừng thất vọng! Chúa Giê-su của làng Emmau vẫn đang đồng hành với chúng ta. Có Ngài “tiến bước theo ngay bên”, cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên tốt lành.

Muốn được vậy, chúng ta hãy lớn tiếng nguyện cầu, lời nguyện rằng: “Mời ông ở lại với chúng tôi”. (Lc 24, 29).
Vâng, chúng ta hãy cầu nguyện rằng: Mời Chúa ở lại với chúng con.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2026

Thánh lễ… nơi Chúa Phục Sinh gặp ta

 Chúa Nhật II Phục Sinh – Năm A

Thánh lễ… nơi Chúa Phục Sinh gặp ta

SnTM 110426a


“Chúa hóa nên người vì thương chúng ta, sống kiếp con người lam lũ hy sinh. Chiến thắng khải hoàn quyền uy cõi chết Thiên Chúa chúng ta Phục sinh.

ÐK: Cùng nhau ta hát khúc hát Chúa đã sống lại vui thay! Người ơi reo lên tiếng ca Phục sinh Allêluia. Ðồng thanh ta hát khúc hát Chúa đã Phục sinh quang vinh, Chúa ta thương ta Người đã hiển vinh.”

Những dòng chữ trên đây, là một phần trích đoạn trong bài thánh ca mang tên CHÚA SỐNG LẠI RỒI. Tác giả là Lm Thành Tâm.

“Chúa đã sống lại vui thay! Chúa đã Phục sinh quang vinh”. Vâng, đó là trung tâm điểm đức tin Ki-tô giáo. Là một người Ki-tô hữu, chúng ta tuyên xưng, Đức Giê-su: “Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng ta, thời quan Phongxiô Philatô, Người chịu khổ hình và mai táng, ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh”.

Niềm tin Chúa-đã-Phục-Sinh không phải do Giáo Hội tự bịa đặt ra. Nhưng là do các thánh tông đồ truyền dạy. Các ngài đã truyền dạy rằng: “Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước, Đức Giê-su đã bị nộp… kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết.” (x.Cv 2, 23-24).

Hôm nay, dù không được chứng kiến tận mắt, được chạm tận tay, được nghe chính con người thật của Đức Giê-su, sau khi Ngài sống lại, nhưng chúng ta vẫn tin một cách đơn sơ, chân thành.

Chúng ta vẫn tin, bởi vì Đức Giê-su Phục Sinh đã có lời truyền dạy: “Phúc thay những người không thấy mà tin” (Ga 20, …29).

Lời truyền dạy này, đã được Ngài truyền dạy cho tông đồ Tôma, vì ông không tin sự kiện “Người đã sống lại thật”, khi tất cả các môn đệ đều xác quyết rằng, “chúng tôi đã được thấy Chúa”, năm xưa.

Vâng, câu chuyện này đã được ghi lại trong Tin Mừng Thánh Gio-an. (x.Ga 20, 19-31).

**
Tin Mừng thánh Gio-an thuật lại, rằng: “Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái.” (Ga 20, 19).

Sợ-người-Do-Thái là sợ cái gì? Thưa, thánh sử Gio-an không nói lý do. Nhưng, chúng ta có thể suy đoán rằng, các môn đệ sợ là bởi, “người Do Thái”, đại diện là nhóm thượng tế và các kỳ mục, đã nham hiểm cho đám lính canh mộ Đức Giê-su một số tiền lớn và bảo họ tung tin đồn rằng, vào ban đêm “các môn đệ của ông Giê-su đã đến lấy trộm xác” (Mt 28, 13).

Trong 613 điều luật của Do Thái giáo, có hai điều liên quan đến xác chết. Điều 224. Không đến gần xác chết. Và điều 225. Không tiếp xúc với người chết. (nguồn: internet). Thế nên, tội trộm xác, chết chắc!

Lo sợ là thế. Thế mà, chiều hôm ấy, nơi các ông ở, lại xảy ra chuyện “người chết trở về”. Vâng, Đức Giê-su trở về với các ông. Thế nhưng, Ngài không trở về trong chiếc “poncho buồn liệm kín hồn anh”, nhưng bằng một thân xác Phục Sinh từ cõi chết.

Chuyện kể rằng: “Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông…” Thầy Giêsu đó ư! Đúng. Chính Đức Giêsu chứ không là ai khác. Trong giây phút lịch sử đầy linh thiêng đó, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Bình an cho anh em. Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn.”

“Và con tim đã vui trở lại”. Vâng, hôm đó, “mười con tim” của các ông “đã vui trở lại”. Các ông đã không còn “lạc loài niềm tin, sống không ngày mai.”

Các ông đã… đã được Đức Giê-su, “biến đổi tâm hồn thành một người mới”, qua việc “thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”
 
Thật đáng tiếc! Tông đồ Tôma, hôm đó không có mặt. Do vậy, ông đã không tin sự kiện “Người đã sống lại thật”, mặc cho tất cả các môn đệ đều xác quyết rằng, “chúng tôi đã được thấy Chúa”.

Không tin, bởi ông Tô-ma cho rằng: “Bách văn bất như nhất kiến - Trăm nghe không bằng một thấy”. Và ông đã lớn tiếng nói với các bạn đồng môn của mình, rằng “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20, 25).

Thế rồi, tám ngày sau. “Khi các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả Tô-ma ở đó với các ông.” Cũng giống như lần trước, mặc cho “Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: ‘Bình an cho anh em’. Rồi Người bảo ông Tô-ma rằng, Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” (Ga 20, 27).

Nhìn Thầy Giê-su, một Giê-su bằng xương bằng thịt, với tất cả dấu tích của cuộc khổ hình, sự hồ nghi đã biến khỏi tâm hồn của Tôma, thay vào đó là một tâm hồn tan vỡ, một tâm hồn mở ra, xác tín niềm tin của mình rằng, Đức Giê-su đã Phục Sinh, với lời tuyên xưng thống thiết: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (Ga 20, 28).

Hôm ấy, sau khi nghe Tô-ma tuyên xưng, Đức Giê-su nói: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin”.

***
“Vì đã thấy Thầy, nên anh tin”. Phải chăng đây là lời Đức Giêsu trách cứ Tôma? Thực ra, nếu phải trách cứ, Đức Giê-su có rất nhiều điều để mà trách cứ, không chỉ Tô-ma, mà luôn cả nhóm mười người còn lại.

Niên trưởng Phê-rô, với ba lần chối Thầy không đáng trách sao!

Còn Giacôbê, “con của sấm sét”… khi Thầy nói “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống?”, rõ ràng anh đã trả lời “Thưa được”. Sao lúc Thầy bị bắt, anh lại “chém vè”!

Chín anh còn lại, sao không chạy đến, mỗi người tay đỡ tay nâng, phụ vác thập giá cho Thầy! Sao lại để cho một anh “ngoại đạo” tên là Simon xứ Kyrene làm công việc đó!

Không! Đức Giêsu Phục Sinh và hiện đến không phải để “tính sổ” các ông. Càng không phải để trách móc những yếu đuối của các môn đệ.

Đức Giêsu Phục Sinh và hiện đến là để chứng tỏ cho các ông biết rằng, Ngài đã chiến thắng sự chết, như lời Ngài đã phán rằng “Ngày thứ ba Người sẽ chỗi dậy”.

 Đức Giê-su Phục Sinh và hiện đến còn là để biểu lộ lòng xót thương qua việc “Ban Bình An” cho các ông. Một thứ bình an không theo kiểu thế gian ban cho. Một thứ bình an chỉ thật sự bình an “nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20,…31).

Còn sự hoài nghi của Tô-ma ư! Thưa, Tôma muốn được dùng chính “thị giác” hơn là “thính giác” để biểu lộ lòng tin của mình thì có gì là đáng trách!

Vâng, có gì phải đáng trách chứ! Chính việc tông đồ Tôma có nhu cầu “nhìn sự thật” hơn là “nghe sự thật”, nên nhờ đó Đức Giêsu ưu ái tặng cho các môn đệ và cũng là cho chúng ta hôm nay, thêm một lời chúc phúc: “Phúc thay những người không thấy mà tin” (Ga 20, …29).

****
Chúa Giê-su đã sống lại. Chúa Giê-su đã Phục sinh. Ngài không quá thiên vị, Ngài vẫn hiện đến với chúng ta, mỗi ngày, mỗi tuần, trong thánh lễ.

Chúng ta sẽ được nghe tiếng Ngài nói, qua phần Phụng Vụ Lời Chúa. Chúng ta sẽ được nghe Đức Giê-su truyền đạt những lời nhắn nhủ, như Ngài đã nhắn nhủ các môn đệ năm xưa, rằng: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Và rằng: “Hỡi những ai mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng Ta. Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.”

Chúng ta sẽ được thấy, được chạm, được “đặt bàn tay vào cạnh sườn Người”, nơi Bàn Tiệc Thánh Thể. Nơi bàn Tiệc-Thánh-Thể, qua các vị linh mục, chúng ta sẽ được Đức Giê-su chúc phúc, lời chúc rằng: “Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa”. Nơi Bàn Tiệc Thánh Thể. “Mình và Máu Chúa Phục Sinh - Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết” sẽ đem lại cho chúng ta “sự sống đời đời”.

Thế nên, chúng ta hãy siêng năng tham dự thánh lễ. Vì đó là một “ngày đại hội”, Lm Charles E. Miller có lời dạy, như thế. Và, ngài có lời khuyên nhủ: “Anh chị em không được vắng mặt tại ngày đại hội này, như tông đồ Tô-ma tại buổi họp đầu tiên của các môn đệ”.

Nói, theo cách nói hôm nay, đó là: chúng ta đừng vắng mặt nơi Bàn Tiệc Thánh vào những ngày Chúa Nhật, mỗi tuần.

Một hình ảnh mẫu mực, mà chúng ta cần noi theo, để được gặp Đức Giê-su Phục Sinh và nhận được sự “Bình An trong Chúa” đó chính là hình ảnh cộng đoàn tiên khởi “luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2, 42).

Nói tắt một lời… Thánh lễ là nơi Chúa Phục Sinh gặp ta.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2026

Hãy nhờ Thần Khí lăn tảng đá

 Chúa Nhật Phục Sinh – Năm A

Hãy nhờ Thần Khí lăn tảng đá

SnTM 040426b


Đức Giê-su Ki-tô từ trong cõi chết, Ngài đã Phục Sinh. Đó là điều mà hôm nay, khoảng hai tỷ người Ki-tô hữu tin và đón nhận như là cứu cánh cho cuộc đời mình.

Với người Kitô hữu hôm nay, để tuyên xưng niềm tin Đức Giê-su Phục Sinh thật giản dị. Mỗi Chúa Nhật, người Kitô hữu đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ và sau phần Phụng Vụ Lời Chúa, tất cả cộng đoàn cùng tuyên xưng – tôi tin Đức Giêsu “Người chịu khổ hình và mai táng. Ngày thứ ba Người sống lại thật như lời Thánh Kinh”.

Niềm tin này không tự Giáo Hội đặt ra, nhưng là do các thánh tông đồ truyền dạy. Lời truyền dạy của các ngài, chúng ta gọi là “đức tin tông truyền”.

Các vị là những người đã từng chứng kiến tận mắt, được chạm tận tay, được nghe chính con người thật của Đức Giê-su, sau khi Ngài sống lại. Nói tắt một lời, họ “gặp Đức Giê-su Phục Sinh”.

Hai vị tông đồ Phê-rô và Gioan, có thể nói, là những người đầu tiên cảm nghiệm được sự kiện linh thiêng này. Chính thánh Gio-an đã kể lại cảm nghiệm đầy cảm xúc của mình khi đến ngôi mộ chôn Chúa Giê-su vào ngày thứ nhất trong tuần.

Ông đã thấy, thấy nơi đây chỉ còn là “ngôi mộ trống” và ông đã coi đó như là dấu chỉ Đức Giê-su Phục Sinh. Ông đã tin và đã ghi lại đầy đủ chi tiết về sự kiện này.

**
Sự kiện này được thánh Gio-an kể lại như sau: Chuyện xảy ra vào “sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối.”

Thánh Gio-an không kể, nhưng chúng ta có thể tưởng tượng rằng, đó là một buổi sáng đầy âu lo, thấp thỏm, hy vọng… đối với các vị môn đệ.

Âu lo vì có tin đồn các vị thượng tế và kỳ mục đã mua chuộc nhóm lính tung tin rằng “các môn đệ của ông Giêsu đã đến lấy trộm xác”.

Trộm hay ăn trộm là một trong Mười Điều Răn của Torah Do Thái – “Ngươi chớ trộm cắp”. Vi phạm… tòa án sẽ thi hành các biện pháp trừng phạt đối với kẻ trộm. Thế nên, cớ gì không âu lo!

Còn thấp thỏm và hy vọng ư! Vâng, tính từ hôm thứ-sáu-buồn, ngày Đức Giêsu thọ nạn, cho đến hôm nay - sang ngày thứ ba, chẳng biết lời Thầy đã phán hứa: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại”, đến lúc nào sẽ ứng nghiệm!

Khi Phê-rô và Gio-an đang mang trong lòng nỗi ưu tư ấy, thì bỗng nhiên hai ông nghe rõ tiếng chân chạy cùng tiếng lao xao mỗi lúc một gần.

Một người phụ nữ xuất hiện. Với khuôn mặt đầy sự căng thẳng, bà ta lắp ba lắp bắp nói với Simon Phêrô: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.” (x.Ga 20,1-2).

Người phụ nữ này chính là bà Maria Mác-đa-la. Hôm thứ sáu, ngày Đức Giê-su bị bắt, bà ta đã theo chân Ngài suốt con đường từ dinh Philato đến tận đỉnh đồi Golgotha. Chính mắt bà chứng kiến cảnh hành hình và cái chết của Ngài.

Khi ông Giosep, người Arimathe, được tổng trấn Phi-la-tô cho phép nhận thi hài Đức Giê-su để chôn “bà và một bà khác cũng tên là Maria…” có mặt ở đó. (x. Mt 27, 61).

Làm sao quên được hình ảnh ông Giô-sep “lấy tấm vải gai sạch mà liệm và đặt (thi hài Đức Giê-su) vào ngôi mộ đã đục sẵn trong núi đá”. Làm sao quên được việc ông ta đã “lăn tảng đá to lấp cửa mồ”! (x. Mt 27, 57-61).

Vậy mà sáng nay, khi đến mộ, bà Maria Mác-đa-la thấy “tảng đá đã lăn khỏi mộ”.

Nghe qua lời kể của Maria Mác-đa-la, không một phút chần chờ, chuyện kể rằng: “ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy”.

Hai ông chạy rất nhanh, nhanh như những vận động viên chạy cự ly 100 mét. Kết quả, “(người) môn đệ kia chạy nhanh hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước.” Tới nơi, người môn đệ này “cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó...”

Ông Si-mon Phê-rô theo sau “cũng đến nơi.” Không như người môn đệ kia “tới mộ trước… nhưng không vào”, ông Phê-rô “vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi.”

Thầy Giê-su đâu! Xác Thầy đâu! Ông Phê-rô không thấy. Và, để biết sự thật chắc chắn như thế nào, “người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào”. Chuyện kể rằng: “ông đã thấy và đã tin.”

Thánh Gio-an, người ghi lại sự kiện này, thú nhận: “Trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.” Hôm ấy, sau khi nhìn rõ những gì đã xảy ra nơi mai táng Đức Giê-su, chuyện kể rằng: “các môn đệ lại trở về nhà.”

Vâng, các ông đã trở về nhà. Hình ảnh “tảng đá đã lăn khỏi mộ” và “ngôi mộ trống” cũng về chung với hai ông. Bởi hai ông tin, tin rằng sự kiện này, chính là “dấu chỉ” Đức Giê-su Phục Sinh, điều Kinh Thánh đã nói: “Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.”
 
***
Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết. Bởi vì: “Nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng.”

Thánh Phao-lô, trong thư gửi tín hữu Cô-rin-tô, xác quyết như thế. (1Cor 15, 14).

Đừng ngạc nhiên, khi Satan và con cái chúng không bao giờ muốn chúng ta xác-quyết-như-thế. Đừng ngạc nhiên, khi Satan và con cái chúng luôn xuyên tạc sự kiện Đức Giê-su Phục Sinh.

Sự kiện Đức Giê-su Phục Sinh, ngay từ thời các tông đồ, đã bị xuyên tạc, một sự xuyên tạc do nhóm thượng tế dàn dựng.

Dùng thủ đoạn hối lộ, các thượng tế và kỳ mục: “cho lính một số tiền lớn” (Mt 28, 12) để họ vu khống lên rằng: “các môn đệ của (Giêsu) đã đến lấy trộm xác” hòng làm mất tính xác thực việc Đức Giêsu Phục Sinh.

Vô lý! Lấy trộm xác trong đêm tối, mà còn cẩn trọng tháo hết vải liệm, “xếp riêng ra một nơi”… vô lý quá!

Ngày nay, Satan và con cái chúng luôn miệng vu khống, gọi sự kiện linh thiêng này là “fake news - tin giả”. Đại loại như: “Ông Giê-su thực sự chưa chết. Ông ta chỉ ngất xỉu. Khi đưa vào mộ đá lạnh, (nhờ hơi lạnh) Ông ta dần hồi tỉnh lại.”

Thật nực cười… nếu là “fake news - tin giả”, thì nguồn tin này không thể tồn lại suốt hơn hai ngàn năm.

Đã có một số người khi càng cố tìm chứng cứ để phủ nhận sự kiện Đức Giê-su Phục Sinh, thì họ lại càng bị thuyết phục rằng “Ngài đã sống lại thật như lời đã phán hứa.”

Frank Morrison, một luật sư người Anh, như điển hình. Ông nghi ngờ về sự Phục Sinh của Chúa Giê-su. Vì thế, ông đã bỏ ra nhiều năm để đi tìm bằng chứng, “rằng sự Phục Sinh của Chúa Giê-su chỉ là trò bịp”.

Thế nhưng, càng tìm kiếm bằng chứng để phủ nhận, thì ông lại càng tìm ra nhiều bằng chứng đáng tin cậy để nói rằng: Chúa Giê-su thực sự đã Phục Sinh.

Chính vì thế, vào năm 1970, ông đã cho ra đời một tác phẩm có tên: “Who moved the stones – Ai đã lăn hòn đá”. Ra đời tác phẩm Ai-đã-lăn-hòn-đá như là cách ông xác tín niềm tin của mình, rằng: “Đức Giê-su Ki-tô từ trong kẻ chết Ngài đã phục sinh”.

Qua tác phẩm này, Frank Morrison đã bổ sung tên của ông vào danh sách tên của những nhà khoa học, bác học: Pascal, Isaac Newton, Louis Pasteur, Edison, Herry Jame v.v… là những người “đã thấy và đã tin”.

Người ta đã dựa vào Kinh Thánh và lịch sử để chứng minh cho sự kiện Đức Giê-su - “ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh”.

Về Kinh Thánh chúng ta có bốn sách Tin Mừng: Mát-thêu, Mác-cô, Luca và Gio-an. Tất cả bốn cuốn sách này đều đã ghi lại biến cố Đức Giê-su Phục Sinh rất, rất chi tiết.

Về lịch sử, khoa khảo cổ học đã tìm ra Bave (Stone Pavement - nền lát đá), nơi Đức Giê-su bị đem ra xử trước đám đông người Do Thái, đúng như trong sách Tin Mừng, ghi lại.

Thì đây, Tin Mừng Gio-an có ghi: “Ông Phi-la-tô truyền dẫn Đức Giê-su ra ngoài. Ông đặt Người ngồi trên tòa, ở nơi gọi là Nền Đá, tiếng Hip-ri gọi là Gap-ba-tha…” (x.Ga 19, 13).

Một học giả Do thái đã từng tuyên bố: “(Hơn) 2000 năm qua, đức tin của hàng triệu triệu người theo Chúa Giê-su không thể dựa vào một điều dối trá – the nineteen hundred years’ faith of millions is not founded on deception” (Joseph Klausner, “Jesus of Nazareth,” p. 35).

****
Xưa…”dấu chỉ” về sự Phục Sinh của Đức Giê-su chỉ là “tảng đá đã lăn khỏi mộ”. và “ngôi-mộ-trống.”

Ngày nay… “dấu chỉ” để nói lên rằng, chúng ta tin Đức Giê-su đã Phục Sinh, cũng phải là thế. Là… những “tảng đá”… tảng-đá-hận-thù, tảng-đá-bất-hòa, tảng-đá-ghen-tuông, tảng-đá-nóng-giận, tảng-đá-tranh-chấp, tảng-đá-chia-rẽ, tảng-đá-bè-phái, tảng-đá-say-sưa-chè-chén v.v… phải được “lăn ra khỏi ngôi mộ tâm hồn” mình.

Nếu xưa kia, “thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra…”, thì ngày nay, Thần Khí Chúa – Ngài chính là người trợ giúp chúng ta.

Thần Khí Chúa sẽ trợ giúp, “nếu (chúng ta) để cho Thần Khí hướng dẫn”. Trước cộng đoàn Galat, thánh Phao-lô có lời truyền dạy, như thế. (Gl 5, 16).

Thế nên, chúng ta hãy để-cho-Thần-Khí-hướng-dẫn, hướng dẫn chúng ta lăn những tảng đá ô nhục (nêu trên), ra khỏi cuộc đời mình. Vì, những tảng đá đó, chính là vật cản, cản chúng ta đến Gặp Đức Giê-su Phục Sinh.

Gặp Đức Giê-su Phục Sinh,
Nếu muốn thật hết lòng...
Hãy nhờ Thần Khí lăn tảng đá.

Petrus.tran

Chúa ơi! hãy sai con đi...

  Chúa Nhật Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống Chúa ơi! hãy sai con đi Như chúng ta được biết, vào đêm trước ngày hy sinh trên thập tự giá, Đức G...