Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2025

Chúng ta chỉ có một thời để yêu…

 Chúa Nhật XXVI – TN – C

Chúng ta chỉ có một thời để yêu…

snTM 260925a


Một người Ki-tô hữu tốt, phải là một người Ki-tô hữu biết biểu hiện tình yêu thương. Một người Ki-tô hữu tốt, phải là một người Ki-tô hữu biết thể hiện lòng bác ái.

Tại sao phải là vậy! Thưa, phải là vậy, bởi tình yêu thương và lòng bác ái chính là dấu hiệu để mọi người nhận biết là môn đệ của Đức Giê-su.

Ki-tô giáo nói chung và Công Giáo nói riêng, luôn dạy dỗ người tín hữu phải có lòng xót thương người. Chính Đức Giê-su cũng có lời dạy, rằng: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.” (Mt 5, 7).

Thế nào là xót-thương-người!? Thưa, điều này đã được Giáo Hội diễn đạt rất cụ thể, qua bài kinh: “Thương người có mười bốn mối”.

Mở đầu là phần thương xác bảy mối: “Thứ nhất cho kẻ đói ăn. Thứ hai cho kẻ khát uống. Thứ ba cho kẻ rách rưới ăn mặc. Thứ bốn, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc. Thứ năm, cho khách đỗ nhà. Thứ sáu, chuộc kẻ làm tôi. Thứ bảy, chôn xác kẻ chết.”

Kế tiếp là phần thương linh hồn bảy mối: “Thứ nhất, lấy lời lành mà khuyên người. Thứ hai, mở dậy kẻ mê muội. Thứ ba, yên ủi kẻ âu lo. Thứ bốn, răn bảo kẻ có tội. Thứ năm, tha kẻ dể ta. Thứ sáu, nhịn kẻ mất lòng ta. Thứ bảy, cầu cho kẻ sống và kẻ chết.”

Là một tín hữu Công Giáo, có lẽ không ai trong chúng ta, lại không hơn một lần đọc bài kinh này. Còn nếu chưa đọc, hãy đọc ngay hôm nay.

Nhớ… miệng đọc lòng suy… suy rằng: Tôi có thực hiện tình yêu thương, khi gặp những kẻ-đói-ăn! Tôi có thể hiện lòng bác ái, khi gặp những kẻ-rách-rưới? Gặp những kẻ nghèo khó, tôi sẽ làm gì cho họ!

Vâng, câu trả lời là của mỗi chúng ta. Nhưng… hãy nhớ! Nếu chúng ta phớt lờ lời dạy của Đức Giê-su (nêu trên), coi chừng… chúng ta sẽ rơi vào thảm cảnh như ông nhà giàu trong dụ ngôn “Ông nhà giàu và anh La-da-rô nghèo khó”.

Muốn biết thảm cảnh ra sao, hãy đọc Tin Mừng thánh Luca chương 16: từ đoạn 19 đến đoạn 31, chúng ta sẽ rõ.



** 

Tin Mừng thánh Luca kể rằng: “Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người nghèo khó tên là La-da-rô”.


Anh La-da-rô, ngoài việc đồng hành cùng cái nghèo, còn vác thêm căn bệnh “mụn nhọt đầy mình”.

Chưa hết, dụ ngôn còn cho chúng ta biết đến một chi tiết nghe phải mủi lòng, đó là, anh ta “nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no”. Ước là vậy, nhưng buồn thay, chỉ có “mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta”.

Bức chân dung về anh La-da-rô, được thánh sử Luca vẽ như thế đó! Nếu… nếu được phép viết đôi lời trên bức tranh, nên chăng, chúng ta viết rằng: Đây là chàng homeless tệ nhất thế giới!

Như người Trung Hoa xưa có nói: “Nhân sinh tự cổ thùy vô tử. - Xưa nay đời người ai không chết”, chàng La-da-rô rơi vào thảm cảnh đó, “anh ta chết”. Tường thuật về cái chết của anh La-da-rô, thánh sử Luca ghi vắn tắt: “Thế rồi người nghèo này chết”.

Nếu cái chết… “cái chết được coi là giải thoát, là sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau” thì trường hợp của anh La-da-rô, đúng là vậy. Nhưng, nói theo cách nói của Cha Kim Long, thì “cái chết” của anh ta, lại được xem là điều “Chúa thương…”

Cha Kim Long nói: “Khi Chúa thương gọi con về, hồn con hân hoan như trong một giấc mơ. Miệng con nức vui tiếng cười, lưỡi con vang lời ca hát. Ngàn dân tung hô: con thật vinh phúc.”

Tuy… tuy thánh sử Luca không nói, nhưng chúng ta có thể tin, anh La-da-rô rất hân hoan… hân-hoan-như-trong-một-giấc-mơ. Thì đây, anh ta “được thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham”, sao không hân hoan cho được! (x.Lc 17, 22).

Trở lại với ông nhà giàu. Vâng, “ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn.” Tuy nhiên, sau khi chết, ông nhà giàu không được hưởng những gì mà anh La-da-rô đã được hưởng.

Ông nhà giàu, rất thảm hại. Chuyện kể rằng: “Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Áp-ra-ham ở tận đàng xa, và thấy anh La-da-rô trong lòng tổ phụ”.

Thế là, như một người chết đuối nhìn thấy toán cứu hộ, ông nhà giàu lớn tiếng kêu lên: “Lạy tổ phụ Áp-ra-ham, xin thương xót con, và sai anh La-da-rô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát, vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm!”

Rất công bằng, tổ phụ Ap-ra-ham đáp: “Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi, còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ” (x.Lc 16, 25).

“Hơn nữa…”, tổ phụ Áp-ra-ham tiếp lời: “…giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta cũng không được.”

Vâng, khoảng cách giữa ông ta và anh La-da-rô, không còn là một cái “cổng nhà” nhưng đó là “một vực thẳm lớn”.
Thế nhưng, như chúng ta thường nói “còn nước còn tát”. Ông nhà giàu, sau khi nghe thế, cố gắng “tát” thêm một lời thỉnh cầu, một lời thỉnh cầu may chi có thể “vớt vát” tương lai cho những người anh em của ông, là những người còn sống ở trần gian.

Ông khẩn khoản nài xin rằng: “Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh La-da-rô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này.”

La-da-rô là ai! Chẳng phải chỉ là một tên khố rách áo ôm, mụn nhọt đầy mình! Biết đâu chừng, khi tổ phụ sai anh ta đến nhà cha ông, năm người anh em của ông, lại chẳng xua đàn chó ra đuổi anh ta đi!

Chúng ta có thể nói với ông nhà giàu, như thế! Thế nhưng, tổ phụ Áp-ra-ham có lời đáp sâu sắc hơn, lời đáp rằng: “Chúng đã có Mô-sê và các Ngôn Sứ thì chúng cứ nghe lời các vị đó.”

Ông nhà giàu, không muốn năm người anh em lại rơi vào hoàn cảnh bị-thiêu-đốt-khổ-sở như mình, nên cố biện luận với tổ phụ Áp-ra-ham một lần nữa. Ông ta nói: “Thưa tổ phụ Áp-ra-ham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối.”

Lời biện luận của ông ta chẳng hợp lý chút nào. Xưa nay, có người nào đã chết lại được Chúa cho từ-cõi-chết-trở-về! Thế nên, tổ phụ Áp-ra-ham đã không đáp ứng ước mong của ông nhà giàu.

Vâng, như một gáo nước lạnh tạt vào mặt ông ta, tổ phụ Áp-ra-ham có lời phán quyết rằng: “Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng tin”.

Đúng. Đức Giê-su từ trong cõi chết Ngài đã Phục Sinh. Thế mà, được bao nhiều người trong số hơn bảy tỷ người trên thế gian này… “đã tin”!!!

***
Như vậy, số phận của ông nhà giàu ra sao, chúng ta đã rõ. Chính vì “đã rõ”, chúng ta cần phải sống sao để “đời sau” mình không chung số phận như ông ta.

Nếu tôi “giàu có…” không sao cả! Không sao cả, vì đó là ơn phúc Chúa ban. Giàu không phải là một cái tội. Trong câu chuyện dụ ngôn, không thấy một câu hay một chữ nào lên án sự “giàu sang” của ông nhà giàu. Ông ta bị lên án chỉ vì “sự vô tâm, vô cảm” của ông ta.

Kinh Thánh cho chúng ta biết, có rất nhiều người giàu, điển hình là ông Gióp. Ông ta có “một đàn súc vật bảy ngàn chiên dê, ba ngàn lạc đà, năm trăm đôi bò, năm trăm lừa cái”. Chính Satan cũng phải công nhận Đức Chúa đã “ban phúc lành cho công việc do tay (Gióp) làm, và các đàn gia súc của (Gióp) lan tràn khắp xứ” (x.G 1, 10).

Lúc Đức Giê-su còn tại thế, cũng có nhiều người giàu đi theo trợ giúp Ngài. Một vài tên tuổi được ghi trong Kinh Thánh, đó là: ông Ni-cô-đê-mô, ông Giô-sếp người thành A-ri-ma-thê, bà Sa-lô-mê, v.v...

Thế nên, nếu chúng ta giàu có: “Hãy rộng lượng với kẻ nghèo hèn, đừng chần chừ khi phải bố thí. Hãy đón tiếp kẻ khó nghèo, vì họ túng quẫn, đừng để họ ra về tay trắng” (x.Hc 28, 8-9).

Và đây, hãy ghi nhớ trong con tim mình lời sách Châm ngôn dạy: “Thương xót kẻ khó nghèo là cho ĐỨC CHÚA vay mượn, Người sẽ đáp trả xứng việc đã làm” (Cn 19, 17).

Cuối cùng, khi đã trở nên giàu có: “Đừng tự cao tự đại, cũng đừng đặt hy vọng vào của phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng” (1Tm 6, 17).

Vâng, chuyện ông nhà giàu, coi như xong. Chúng ta cùng bàn chuyện anh chàng La-da-rô. Nếu chúng ta là anh chàng La-da-rô? Thực tế hơn, nếu chẳng may: “Khi tôi sinh ra mang được ngay tiếng con nhà nghèo”?

Thưa, cũng hãy vui lên, vì Đức Maria đã có lời an ủi : “Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư” (Lc 1, 53) Và, Đức Giê-su thì có lời tuyên phán: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì nước Thiên Chúa là của anh em.”(x.Lc 6, 20).

Khi đề cập đến “những kẻ nghèo khó”, Raniero Cantalamessa, qua cuốn sách tựa đề: “Tám chặng đường đi tới hạnh phúc”, có lời viết rằng: “Người nghèo khó đích thực của Phúc Âm là người ‘được Thiên Chúa che chở’… Nơi người Do Thái thời ấy, hạn từ ‘nghèo khó’ thực tế đồng nghĩa với thánh thiện (hasid) và đạo đức. Các Giáo Phụ coi người ‘có tâm hồn nghèo khó’ hầu như đồng nghĩa với khiêm nhường”.

Vậy, chớ nặng lòng nếu cuộc đời chúng ta: “Qua bao nhiêu năm không đổi thay lớn lên còn nghèo!”

Dù suốt đời, chúng ta vẫn-mãi-nghèo, thì cũng đừng “túng quá hóa liều”. Niềm tin Ki-tô giáo không cho phép chúng ta viện cớ rằng: túng quá nên đành liều đi trộm cướp.

****
Giàu-nghèo… đó là chuyện không thể không có trong bất cứ thời đại nào, xã hội nào.

Do vậy, nếu chúng ta giàu, đừng là kẻ giàu-mà-gian-trá. Nếu chúng ta nghèo, đừng là kẻ nghèo-mà-kiêu. Kinh Thánh gọi những người sống theo lối sống này là những người đáng “gớm ghét” (Hc 25, …2).

Kinh Thánh còn có lời chép rằng: Có…”một thời để lìa thế… một thời để yêu thương.” (Gv 3, 2… 8).

Hôm nay, chúng ta chưa “lìa thế”. Chúng ta đang sống. Và có lẽ… có lẽ không ai trong chúng ta muốn mình đứng chung hàng ngũ với những người bị gọi là đáng “gớm ghét”.

Thế nên, nếu chúng ta “còn một chút gì để nhớ để quên”, thì hãy quên… quên đi lối sống vô tâm, vô cảm… vô tâm, vô cảm trước những bất hạnh, khổ đau, nghèo đói của tha nhân.

Mà hãy nhớ… nhớ rằng: “Ta còn những người ngồi quanh đây, trán in vết nhăn. Ta còn những người thật (đáng) yêu biết bao thiết tha.”

Vì thế, chúng ta hãy nhớ… nhớ “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm” Chúng ta hãy nhớ… nhớ “tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu. (KINH HÒA BÌNH - Tác giả: Kim Long).

Đừng lãng phí thời gian vào những đêm dài say sưa chèn chén, vào những tháng ngày yến tiệc linh đình, vào những chuyện vô bổ.

Bởi… nếu lãng phí, khi đến “thời gian lìa thế”, hệ quả mà chúng ta sẽ lãnh nhận cũng chính là hệ quả “ông nhà giàu” trong dụ ngôn đã lãnh nhận. Đó là: “bị thiêu đốt khổ sở lắm”.

Chúng ta… chúng-ta-chỉ-có-một-thời-để-yêu.

Petrus. tran

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết


Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2025

Không làm tôi hai chủ…

 Không làm tôi hai chủ…

snTM 200925a


Trung tín là gì? Thưa, có nghĩa là: “Đức tính thành thật, giữ đúng lời hứa và trung thành với một điều gì đó, với ai đó, thể hiện qua sự tin cậy và cam kết bền bỉ, không bỏ cuộc. Từ ‘trung’ nghĩa là ‘ở giữa’ hoặc ‘trung tâm’, còn ‘tín’ nghĩa là ‘tin tưởng - giữ lời hứa’, kết hợp hai chữ này lại tạo nên ý nghĩa sâu sắc về sự chân thành và lòng thủy chung.”

Còn bất trung thì sao! Thưa, “là không thành thật, không hết lòng, phản bội lại lòng tin hoặc sự tín nhiệm của người khác dành cho mình.”

Định nghĩa là vậy đó. Và, không ai có thể phủ nhận trung tín là một nhân đức tốt, đáng trân trọng.

Là một nhân đức tốt, và còn được gọi là “hoa quả của Thần Khí”, thế nên, nhân đức này phải là hành trang cho những ai đã là Ki-tô hữu. Phải là hành trang, bởi như lời Kinh Thánh có chép, rằng: “Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mão triều thiên của sự sống.” (Kh 2, …10).

Đức Giê-su, khi còn tại thế, rất coi trọng đến lòng trung tín. Một ngày nọ, Ngài đã có lời dạy rằng: “Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn.” (Lc 16, 10).

Hôm ấy, Ngài đã kể một dụ ngôn nói về một kẻ bất lương, bất lương từ một việc rất nhỏ, và cuối cùng dẫn đến việc rất lớn. Dụ ngôn này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Luca. (Lc 16, 1-13).

**
Dụ ngôn được kể rằng: “Một nhà phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này phung phí của cải nhà ông”.

Phung-phí-của-cải, mà “của cải” đó không phải của mình, thì có phải là “bất lương” chăng! Thưa, đúng quá đi chứ!
Thế rồi, sau khi sự việc này, đến tai ông phú hộ. Chuyện kể tiếp rằng: “Ông mới gọi anh ta đến mà bảo: Tôi nghe người ta nói gì về anh đó? Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa!”

Nghe-người-ta-nói-gì… là nói gì! Có, có phần chắc, người quản gia hiểu… hiểu rằng: “ta vất vả rồi!”

Đúng vậy! Bị ông chủ “sa thải”. Thế là, người quản gia ra về trong tâm trạng sầu não. Vừa đi, anh ta vừa nghĩ đến những vất vả sẽ xảy đến trong tương lai của mình… “Mình sẽ làm gì đây? Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi.”

Và rồi, đúng như người xưa nói: “cùi không sợ lở”, anh quản gia đã nghĩ ra được một diệu kế cũng không kém phần bất lương như việc đã “lỡ” phung-phí-của-cải-không-phải-của-mình, đó là: “cho gọi từng con nợ của chủ đến”.

Khi các con nợ đến, rất thản nhiên, anh ta “khuyến mãi” cho mỗi con nợ của chủ bằng cách “giảm nợ” tùy theo giá trị số nợ của họ.

Với con nợ thứ nhất, người quản gia hỏi: “Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy? Người ấy đáp: Một trăm thùng dầu ô-liu.” Nghe thế, người quản gia bảo: “Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi.”

Một con nợ khác, người này nợ “một ngàn giạ lúa”. Cũng như con nợ thứ nhất, người quản gia nói với con nợ này rằng: “Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi”.

Sự bất lương (trong việc lớn) này (có lẽ cũng đến tai ông chủ), chuyện kể tiếp rằng: “Và ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo.”

***
Câu chuyện… câu chuyện nghe có vẻ “hơi khó hiểu”, khó hiểu vì lời khen của ông phú hộ đối với tên quản gia, phải không, thưa quý vị!

Thật ra, ông phú hộ không khen sự bất trung của tên đầy tớ, đâu!

Lời khen của ông phú hộ, chỉ là “Khen tên đầy tớ biết chớp lấy thời cơ ngắn ngủi còn lại trước khi bị sa thải, để làm ơn, hầu kết thân với nhiều con nợ của chủ, bằng cách là xóa bớt nợ cho họ. Đó chính là sự ‘khôn lỏi’ của con cái đời này, so với con cái của Chúa.” Một nhà truyền giáo, qua bài viết, “chuyện kẻ bất trung, người trung tín”, đã có lời chia sẻ như thế.

Nhà truyền giáo này tiếp lời rằng: “Chúa Giê-su, thông qua dụ ngôn này, muốn con cái của Ngài, cũng cần biết tận dụng cơ hội ngắn ngủi của cuộc sống hôm nay, mà trung tín trong sứ vụ chia sẻ ‘của cải đời đời’ (ơn cứu độ của Thiên Chúa qua Con Một Người) cho mọi người, hầu kết nối được nhiều người vào Vương Quốc Nước Trời.” (nguồn: internet).

Do vậy, đừng ngạc nhiên khi Đức Giê-su tuyên bố: “Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi vĩnh cửu”.

Sẽ thật khôn ngoan nếu chúng ta không quá chú tâm vào những chữ “Tiền Của bất chính” và đòi hỏi một sự giải thích cặn kẽ. Đó chỉ là một cách nói, như nhiều cách nói (hơi khó hiểu) mà Chúa Giê-su đã nói. Các nhà chú giải Kinh Thánh gọi đó là lối nói “sê-mít”.

Đức Giê-su chẳng bao giờ truyền dạy các môn đệ (và bây giờ là chúng ta) dùng Tiền Của bất chính, chẳng hạn như, tiền buôn bán ma túy, làm việc từ thiện. Đức Giê-su chẳng bao giờ dạy chúng ta cướp ngân hàng, tặng quý cha xây sửa nhà thờ.

Lời Đức Giê-su nói (nêu trên), Cha Charles có lời giải thích, rằng: “Chúa Giê-su trông đợi chúng ta (hãy) cật lực đạt tới các giá trị thiêng liêng như một số người cố giành cho được lợi lộc về tiền bạc.”

Chúng ta cần được vào-nơi-vĩnh-cửu, đúng không, thưa quý vị!

Thế nên, lời khuyến cáo của Đức Giê-su: “Nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em?”, có nghĩa là chúng ta phải “cật lực” cảnh giác, cảnh giác để mình không sa vào “vết chàm khôn lỏi” của người quản gia bất lương, trong câu chuyện dụ ngôn.

Nơi vĩnh cửu không hoan nghênh những kẻ có “tâm hồn khôn lỏi”, nhưng sẽ làm “cho thỏa lòng (những) ai khát khao nên người công chính” (Mt 5, 6).

Lời khuyến cáo: “Nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em?”, có nghĩa là chúng ta phải “cật lực” cảnh giác, cảnh giác để chúng ta không trở thành “kẻ bất lương”, như người quản gia, trong câu chuyện dụ ngôn.

Nơi vĩnh cửu không chào đón những kẻ có tâm-hồn-bất-lương, nhưng sẽ “welcome” những ai “có tâm hồn trong sạch”.
Nhưng thôi, không đề cập đến chữ Tiền-Của-bất-chính nữa, mà hãy tập trung vào những chữ “nếu anh em không trung tín”.

****
Nếu chúng ta không trung tín! Đó… đó là điều chúng ta phải luôn tự hỏi lòng mình.

Vâng , hãy tự hỏi lòng mình, luôn tự hỏi lòng mình, rằng: Tôi có trung tín với lời hứa của mình! Tôi có trung tín với những gì được trao phó?

Trong đời sống hôn nhân, mới “Chiều hôm nao, tiếng hát bay cao. Quỳ bên nhau truớc Đấng Tối Cao. Hứa yêu nhau trao câu thề chung sống trọn đời.” Rồi… đến chiều hôm nay, chỉ vì “gặp lúc phải âu sầu” chỉ vì gặp những lúc đời-buồn-vui, chúng ta vẫn trung-tín-với-lời-hứa, chúng ta vẫn “Tay đan tay nhịp bước đi trên đời. Xin yêu thương hạnh phúc đến cho người…” Hay ta lại lớn tiếng hét lên rằng: “Thôi là hết anh đi đường anh. Tình duyên mình chỉ bấy nhiêu thôi”?!

Có một thực tế rất phũ phàng, trong số những cuộc hôn nhân tan vỡ, đa số các cặp vợ chồng đều đưa ra biết bao nhiêu lý do liên quan tới “tại và vì”. Không ai chịu nhận mình bất trung bất tín!!!

Vợ chồng xưa, sống trung thành, trung tín lắm. Chuyện bên Trung Hoa xưa kể rằng: “Vua Cảnh Công thấy Án Tử là người tài nên muốn gả con gái của mình cho Án Tử. Vua vời Án Tử vào và nói: ‘Vợ khanh già xấu rồi. Quả nhân muốn ngươi cưới con gái yêu của trẫm.’ Án Tử giật mình tâu: ‘Vợ hạ thần ngày xưa cũng xinh đẹp, đã sống với hạ thần bao năm, nay về già, mong nhờ cậy hạ thần. Nay bệ hạ bảo vậy, hạ thần cảm ơn. Nhưng hạ thần không hề dám bội bạc mà mất lòng chung thủy.”.

Lời bàn: “Đã không trung tín trong tình nghĩa vợ chồng, chẳng mong gì trung tín trong những việc khác.” (nguồn: internet).

Trở lại với đời sống tu trì. Là linh mục, là tu sĩ… ta có trung tín với thánh chức, với chức vụ, thánh chức giảng dạy, chức vụ săn sóc đoàn chiên, Chúa trao ban? Hay ta “đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại nhìn sau…”?!

Nói chung, trong cuộc sống thường nhật, trong Giáo Hội cũng như ngoài xã hội, nơi đâu chúng ta cũng phải thể hiện lòng trung tín.

Sống trung tín ngoài xã hội, chúng ta sẽ xây dựng được một cộng đồng: “láng giềng thân thiết, anh em hòa thuận, vợ chồng ý hợp tâm đầu”. Thực hiện được ba điều này, chúng ta biết rồi, “cả ba đều làm đẹp lòng Thiên Chúa” (Hc 25, 1).

Thế còn trung tín trong thánh chức, chức vụ, Chúa trao ban thì sao, nhỉ! Thưa, tuyệt vời lắm, thưa quý linh mục, quý tu sĩ. Trung tín với thánh chức, chức vụ Chúa trao ban, thánh Phao-lô nói: “Làm như vậy, anh em sẽ cứu được chính mình, lại còn cứu được những người nghe anh giảng dạy” (x.1Tim 4, …16).

Do vậy, đừng quên lời Đức Giê-su đã truyền dạy: “Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được.” (Lc 16,13).

Kinh Thánh cho biết: “Thiên Chúa là Đấng thành tín - Chúa Giê-su là Đấng trung tín và chân thật”. Chúa Thánh Thần cũng là Đấng trung tín, thánh Phao-lô đã xác tín như thế. Ngài tông đồ dân ngoại có lời dạy rằng: “Anh em chớ làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa, vì chính Người là dấu ấn ghi trên anh em, để chờ ngày cứu chuộc.” (Ep 4, 30).

Vâng, chúng ta đang chờ-ngày-cứu-chuộc. Và, trong lúc chờ đợi, chúng ta hãy sống trung tín, như Chúa chúng ta là Đấng trung tín.

Chúng ta hãy: Trung tín trong việc thờ phượng Chúa. Trung tín trong việc học, đọc và sống Lời Chúa. Trung tín trong sự cầu nguyện, ngõ hầu có thể giữ mối tương giao mật thiết với Chúa. Trung tín làm gương sáng để mọi người có thể nhận ra Chúa, qua đời sống của chúng ta. Trung tín trong việc Chúa giao, theo ơn phước mà Ngài đã ban, cho mỗi con cái của Ngài.

Để có thể trung tín trong những việc nêu trên, chỉ cần chúng ta: KHÔNG LÀM TÔI HAI CHỦ.

Petrus.tran 

Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2025

Hãy treo thánh giá – trong trái tim tôi...

 Chúa Nhật XXIV – TN – C

Hãy treo thánh giá – trong trái tim tôi

snTM 130925a


Cách đây khoảng mười năm, trong lúc ngồi lướt web, thì có một ông bạn hàng xóm sang chơi. Ông ta sang chơi, ngoài việc hỏi thăm sức khỏe, còn mang theo sự mong muốn được giúp đỡ đến từ một đôi vợ chồng công nhân trẻ.

Chuyện là, đôi vợ chồng này cần một người đưa đón con của họ đi học, mỗi ngày. Thấy tôi rảnh rỗi, ông bạn hàng xóm nói: “hay anh nhận lời đi!”. Suy tính tới lui, cuối cùng tôi nhận lời và nhờ ông bạn hàng xóm gửi một cái hẹn của tôi, cho đôi vợ chồng trẻ.

Rồi khi ngày hẹn đến, đôi vợ chồng này đến nhà tôi để trao đổi ngày giờ đưa đón. Khi hai người vừa bước chân vào nhà, cô vợ lớn tiếng nói với người chồng: “chú này có đạo, anh ơi!”

Tôi rất ngạc nhiên và tự hỏi, mình và đôi vợ chồng này chưa bao giờ gặp nhau, không hiểu vì sao cô ta lại biết mình có đạo! Và, tôi đã hỏi cô ta: “sao biết chú có đạo!” Cô ta nói: “con thấy chú treo hình Chúa.”

Đúng. Tôi có treo hình Chúa… Chính xác là một tấm hình chân dung Chúa Giê-su, và tất nhiên là không thể thiếu một cây thánh giá có Chúa Giê-su chịu đóng đinh trên đó.

Thánh Giá! Có gia đình Công Giáo nào lại không treo hình “Thánh Giá Đức Ki-tô”, trong nhà mình, nhỉ!

Vâng, là Thánh-Giá-Đức-Kitô, bởi vì “Đó là biểu tượng của tình yêu cứu độ, chính biểu tượng đó là chìa khóa vạn năng Thiên Chúa trao cho con người, để mở lại cánh cửa đã bị đóng kín sau khi nguyên tổ phạm tội. Từ đó, họ tìm lại được con đường về trời, về lại ngôi nhà của Cha mình.” – Cha Phêrô Trần Bảo Ninh, trong bài suy niệm Tin Mừng - Lễ Suy tôn Thánh Giá, đã có lời chia sẻ, như thế.

Lời chia sẻ của Cha Phê-rô, có thể nói rằng, nó gợi cho chúng ta nhớ lại cuộc đối thoại giữa ông Ni-cô-đê-mô và Đức Giê-su. Đó là một cuộc đối thoại về sự tái sinh, về sự sống muôn đời, về ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa. Cuộc đối thoại này, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an. (Ga 3, 13-17).

**
Theo Tin Mừng thánh Gio-an ghi lại, chúng ta được biết: “Trong nhóm Pha-ri-sêu, có một người tên là Ni-cô-đê-mô, một thủ lãnh Do Thái.”

Ông ta đến gặp Đức Giê-su và nói với Người: “Thưa Thầy, chúng tôi biết: Thầy là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến… Chẳng ai làm được những dấu lạ Thầy làm, nếu Thiên Chúa không ở cùng người ấy.”

Gọi Đức Giê-su là “một vị tôn sư”, và nhìn nhận những dấu lạ Ngài làm phải có Thiên Chúa ở cùng, ông Ni-cô-đi-mô đã nói lên sự tôn kính, tôn trọng và yêu quý của mình đối với Đức Giê-su.

Sự tôn kính, tôn trọng và yêu quý của ông Ni-cô-đê-mô đã được đền đáp bằng việc Đức Giê-su nói lên một sự thật, một sự thật mà có lẽ ông Ni-cô-đê-mô chưa bao giờ nghe đến, đó là Nước Thiên Chúa.

Vâng, khởi sự cho việc loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su đã lớn tiếng nói: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời dã đến gần.” Và, hôm nay, Ngài đã có lời cảnh báo với ông Ni-cô-đê-mô: “Thật, tôi bảo thật ông, không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên… Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí.”

Và, như để làm cho ông bớt căng thẳng bởi những thắc mắc của ông, rằng: “Một người già rồi làm sao có thể sinh ra được? Chẳng lẽ người đó có thể trở vào lòng mẹ lần thứ hai để sinh ra sao!”, Đức Giê-su nói: “Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí. Ông đừng ngạc nhiên vì tôi đã nói: các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên.”

Vâng, phải tái sinh bởi nước và Thần Khí. Có như thế thì mới được tham dự vào sự sống mới trong Nước Thiên Chúa. Con-đường-vào-Nước-Thiên-Chúa, một con đường cho tới hôm nay, Đức Giê-su nói: “Không ai đã lên… ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống.”

Cuối cùng, và cũng là điều quan trọng. Đức Giê-su kết luận: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người, thì được sống muôn đời”.

***
“Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy…” Đó… đó chính là lời tiên báo của Đức Giê-su về cái chết của mình.

Đỗ Vy Hạ, qua nhạc phẩm LỜI VỌNG TÌNH YÊU, đã mô tả cái chết của Đức Giê-su đầy bi ai: “Trên đồi cao trong tiếng ngân chuông chiều vọng tình yêu. Giê-su lặng lẽ, môi khô bờ hé, tim nát tan gai nhọn bạo tàn… Thân tàn vơi, Con Chúa Trời nghe hồn chợt đơn côi. Ôi nhân loại hỡi sao chưa hoài tới mà nỡ quên ân tình biển khơi.”

Vâng, rất bi ai phải không, thưa quý vị! Thế nhưng, cái chết bi ai đó, lại là chỉ-vì-tình-yêu. “Chỉ vì tình yêu Chúa chịu nhục thân chết cho trần gian. Vì Ngài chỉ đến sống cho tình yêu chết cho tình yêu, để cứu nhân loại lỗi tội, đưa về trời đẹp tươi.”

Thánh Phao-lô đã cảm nghiệm được điều này và ngài đã thổ lộ với cộng đoàn tín hữu Phi-líp-phê, lời thổ lộ rằng: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải giành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình mà vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập giá” (Pl 2, 6-8).

Qua Tin Mừng thánh Gio-an, chúng ta cũng được biết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Ga 3, 16-17).

****
Chúa Nhật hôm nay (14/09/2025) Giáo Hội long trọng cử hành lễ SUY TÔN THÁNH GIÁ. Có người nói “Vinh quang của Chúa là THÁNH GIÁ”. Thế nên, đã là một người Công Giáo, chúng ta “Hãy học cách nhìn thấy vinh quang nơi Thánh giá Chúa Ki-tô.”

Làm thế nào để nhìn thấy? Thưa, như một cuốn sách, để biết được nội dung, chúng ta phải mở ra đọc. Chúng ta hãy mở cuốn sách tựa đề là “Thập giá của Chúa Giêsu”, mà đọc. Chúng ta sẽ thấy… chúng ta sẽ nhìn thấy “tình yêu, lòng thương xót và chiến thắng của Người trước tội lỗi và sự chết”. Và, đó chính là “vinh quang nơi Thánh giá Chúa Ki-tô.”

Khi Đức Giê-su cầu nguyện: “Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”, chẳng phải là Ngài đã có một cử chỉ biểu lộ tình yêu, sao!

Khi Đức Giê-su nói với một trong hai tên gian phi cùng chịu đóng đinh như Ngài: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ ở với tôi trên Thiên Đàng” chẳng phải là Ngài đã thể hiện lòng thương xót của mình, sao!

Khi Đức Giê-su cầu nguyện trong vườn Ghết-sê-ma-ni “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng cho ý con thể hiện, mà là ý Cha” Hoặc “Anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần!”, chẳng phải là Ngài chiến thắng trước sự chết, sao!

Khi đã nhìn thấy “Vinh quang nơi Thánh giá Chúa”, việc tiếp theo là chúng ta hãy làm cho vinh quang của Người được lan tỏa khắp nơi.

Một cách cụ thể, đó là chúng ta hãy “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm…”

Đó còn là, hãy “tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.”

Như đã nói ở trên, không một gia đình Công Giáo nào lại không treo hình “Thánh Giá Đức Ki-tô”, trong nhà mình. Đó là điều tốt. Nhưng sẽ tốt hơn nếu chúng ta treo ngay trong con tim mình.

Vâng… Hãy treo thánh giá – trong trái tim tôi.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2025

Hãy vui mừng, vác thập giá mình…

 Chúa Nhật XXIII – TN – C

Hãy vui mừng, vác thập giá mình…

snTM 060925a


Theo đạo, hay nói đúng hơn, theo Chúa Giê-su không giản dị chỉ là đi nhà thờ, hay lãnh nhận các Bí Tích, nhưng còn phải thực thi những điều Ngài đã truyền dạy.

Trong những ngày còn tại thế, Chúa Giê-su có lời truyền dạy rằng: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy, ‘Lạy Chúa! lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Ðấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7,21).

Có rất nhiều điều Chúa Giê-su đã truyền dạy. Và, Ngài coi đó như là điều kiện không thể thiếu cho những ai muốn theo Ngài.

Một trong những điều Chúa Giê-su truyền dạy, chúng ta có thể nói, đó là điều kiện “tiên quyết” để theo Ngài, đó là “vác thập giá mình mà đi theo”. Lời truyền dạy quan trọng này được ghi chi tiết trong Tin Mừng thánh Luca. (Lc 14, 25-33).

**
Theo Tin Mừng thánh Luca ghi lại, thì: “Hôm ấy, có rất đông người cùng đi đường với Đức Giê-su.” Cùng-đi-đường-với Đức Giê-su, phải chăng là trong số đông người đó, có người muốn trở thành môn đệ của Ngài? Thưa, cũng có thể lắm chứ!

Thế nên, rất hợp lý khi Đức Giê-su đã quay lại bảo họ: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được.” (x.Lc 14, 26).

Một, một lời dạy bảo, thoạt nghe có thể làm cho nhiều người nghe phải cảm thấy giật mình! Vâng, sẽ có người giật mình, vì lời dạy bảo này xem ra mâu tuẫn với điều răn thứ tư “Hãy thảo kính cha mẹ”.

Thật ra, khi nói lên lời yêu cầu nêu trên, Đức Giêsu không tự tạo ra mâu thuẫn giữa lời yêu cầu với điều răn thứ tư. Văn chương Cựu ước của Israel không có kiểu nói so sánh “hơn hay kém”. Đức Giêsu, khi nói như thế, Ngài muốn đặt ra một bậc thang giá trị cho một chọn lựa. Muốn là môn đệ của Đức Giê-su ư! Phải đặt Chúa lên hàng ưu tiên số một trong bậc thang giá trị của con người.

Đừng quên, có một lần nọ, Đức Giêsu cũng đã nói, rằng: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10, 37).

Hôm ấy, Đức Giê-su rất quyết liệt khi nói: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.” (x.Lc 14, 27).

***
Muốn là môn đệ của Đức Giê-su, không ai được phép sống một đời sống đức tin “nửa vời”. Đức Giê-su đã cảnh báo điều này, qua việc kể hai câu chuyện điển hình.

Chuyện thứ nhất, nói về việc xây một cái tháp. Để thành công, người xây “phải ngồi xuống tính toán phí tổn”, bởi nếu sau khi “đặt móng rồi (lại) không có khả năng làm xong, thì mọi người thấy vậy sẽ lên tiếng chê cười”.

Chuyện thứ hai, nói về một vị vua muốn đi giao chiến với vị vua khác. Muốn chiến thắng, trước tiên, ông ta phải ngồi xuống bàn tính xem tương quan lực lượng hai bên.

Không khó lắm để chúng ta nghĩ rằng, đó chính là một lời “cảnh báo”, cảnh báo cho những ai muốn đi theo Ngài, rằng họ “phải chuẩn bị” cho một cuộc sống mới. Một cuộc sống mà họ phải là những môn đệ trung thành và sẵn sàng “từ bỏ hết những gì mình có”.

Về hai câu chuyện này, Cha Charles E.Miller có lời chia sẻ, rằng “Với tư cách là môn đệ của Chúa, chúng ta biết chắc là mình được mời gọi đáp lại cách hào phóng, chứ không theo chủ nghĩa tối thiểu, hoặc vin cớ này cớ nọ để không sống một đời sống Công Giáo như được mong đợi”.

Đúng vậy. Có lần Đức Giê-su nói: ”Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đằng sau thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa” (x.Lc 9,62).

Thế nên, chúng ta phải sẵn sàng vác-thập-giá-mình-mà-đi-theo-Chúa. Chúng ta phải sẵn sàng từ-bỏ-hết-những-gì-mình-có. Bởi vì, nếu không vác, không từ bỏ, chúng ta “không thể làm môn đệ Chúa được.”

Các vị môn đệ xưa, Kinh Thánh gọi là Nhóm Mười Hai, chính là những người tiên phong cho lời truyền dạy của Đức Giê-su. Tấm gương bốn người môn đệ đầu tiên, khi đáp lời mời gọi của Đức Giêsu, hẳn là một bài học tốt cho những ai muốn “Theo Chúa”.

Chuyện được kể lại rằng: một hôm, “Đức Giê-su đi dọc biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai anh em kia, là ông Si-mon… và người anh là An-rê, đang quăng lưới chài xuống biển. Người bảo các ông: Các anh hãy theo tôi… Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người”.

Trường hợp hai anh em con ông Dê-bê-đê là Gioan và Gia-cô-bê, cũng thế. Khi được Thầy Giê-su gọi, hai ông cũng đã “bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người” (x.Mt 4, 18-22).

Những vị môn đệ này, không chỉ “từ bỏ mọi sự”, không chỉ “vác thập giá”, mà còn chịu đóng đinh trên thập giá như Thầy Giê-su, xưa. Tông đồ Phê-rô, như một điển hình.

Còn thánh Phaolô ư? Thưa, tuy là người Do Thái, nhưng thánh Phao-lô một có thứ quyền rất vinh dự, đó là quyền công dân Roma. Thế mà ngài dám “Từ bỏ” cái quyền đó, để trở nên người môn đệ của Chúa. Hành động này, người đời gọi là ngu dại, nhưng người tông đồ dân ngoại lại coi đó như là “…được hưởng niềm vui đó trong Chúa” (x.Plm 20).

****
Lịch sử hơn 2000 năm của Giáo Hội, cũng đầy dẫy những cái tên, những chứng tá cho sự ”từ bỏ” và “vác thập giá” đi theo Đức Giê-su.

Một Maria Goretti mới 12 tuổi, đã vác một “cây thập giá”, in hằn mười bốn nhát dao oan nghiệt, để thực thi lời Chúa đã truyền dạy: “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5, 8).

Để lời dạy của Chúa Giê-su rằng: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”, được tỏa sáng, Cha Maximilien Kolbe đã sẵn sàng “chết thay” cho một bạn tù, hồi Đệ nhị thế chiến.

Thế giới hôm nay, một thế giới của tội lỗi, dục vọng, vô cảm, hận thù, ghen ghét, ích kỷ v.v… vẫn cần và rất cần một chút “muối”, một ít “men”, một “đốm lửa” đến từ chúng ta, là những người đã “theo đạo – theo Chúa”. Để làm được điều đó, chúng ta phải-từ-bỏ-mình, phải-vác-thập-giá-mình.

Vâng, chúng ta hãy từ-bỏ-mình, hãy vác-thập-giá-mình. Rất giản dị, khi chúng ta “Cố gắng yêu thương người. Dù người không yêu ta, hãy cứ yêu thương hoài”, đó là lúc chúng ta đã-từ-bỏ-chính-mình

Khi chúng ta “không oán ghét, không gây hận sầu”, đó là lúc chúng ta đã vác-thập-giá-mình, cây thập giá mang tên “nhân hậu, từ tâm, hiền hòa”, nói tắt một lời, đó là: cây thập giá mang tên tình yêu.

Từ-bỏ-mình… vác-thập-giá-mình… “Là một cuộc chiến đấu liên lỉ trên con đường nên thánh. Chiến thắng của Kitô giáo luôn là một thập giá, nhưng thập giá ấy đồng thời là ngọn cờ chiến thắng, được ta mang vác với một tình yêu dịu hiền, bất khuất chống lại những tấn công của ma quỷ”, cố Đức Giáo Hoàng Phanxicô, qua “Tông huấn HÃY VUI MỪNG HOAN HỈ”, đã có lời dạy như thế.

Thế nên, vâng lời Chúa Giê-su truyền dạy, cũng như lời cố Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã dạy, chúng ta: Hãy vui mừng, vác thập giá mình…

Petrus.tran

Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2025

Hãy thể hiện, sự tự hạ mình…

 Chúa Nhật XXII – TN – C

Hãy thể hiện, sự tự hạ mình…

SnTM 300825a


Khiêm nhường nghĩa là gì? Thưa, có nghĩa là “không kiêu căng, tự mãn, phô trương hay tự cho mình hơn người khác.” Còn nhún nhường thì sao! Thưa, có nghĩa là “tỏ ra khiêm tốn, nhã nhặn, sẵn sàng hạ thấp mình một chút trong giao tiếp hoặc khi nhận thức về sự hơn kém với người khác. Điều này thể hiện sự tôn trọng đối với người khác và thường đi kèm với sự tự tin, thay vì sợ hãi hay yếu đuối”. (nguồn: internet).

Nhắc đến khiêm nhường hay nhún nhường, nói không sợ sai, nó là điều chúng ta thường thấy nơi người quân tử. Ông Lưu Bị trong truyện Tam Quốc Chí, như một điển hình cho con người đó.

Truyện Tam quốc kể rằng: Ông Lưu Bị ba lần tìm đến nhà Khổng Minh. Sách sử gọi là “tam cố thảo lư”. Lần thứ nhất: Khổng Minh đi vắng. Lần thứ hai: viện cớ đang bận việc. Lưu Bị kiên nhẫn đến lần thứ ba, lúc này Khổng Minh mới tiếp kiến và trình bày Long Trung đối sách (kế hoạch chiến lược để gây dựng cơ nghiệp).

Dù là một vị lãnh chúa, mang trong mình dòng máu hoàng tộc, nhưng Lưu Bị không ngại hạ mình đến cầu kiến, đủ để nói lên sự nhún nhường và tôn trọng đối với Khổng Minh.

Khiêm nhường hay nhún nhường, nói chung đều là “nhường”. Đó… đó là điều Đức Giê-su hoan nghênh. Đã có lần Ngài lên tiếng kêu gọi: “Anh em… hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.” (Mt 11, …29).

Đặc biệt hơn, một lần nọ, Đức Giê-su đã dùng một dụ ngôn, như để diễn đạt một cách rõ ràng rằng, khiêm nhường chính là hạ-thấp-mình-một-chút, chỉ một chút thôi, trong giao tiếp hằng ngày. Vâng, câu chuyện này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Luca. (Lc 14, 1, 7-14).

**
Theo Tin Mừng thánh Luca ghi lại: “Một ngày sa-bát kia, Đức Giê-su đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pha-ri-sêu để dùng bữa.”


Vâng, nói về ngày sa-bát, tưởng chúng ta nên biết: “Sau khi Chúa đưa dân Israel ra khỏi Ai Cập, Người đã dạy họ về ngày sabat, rằng: làm việc sáu ngày và nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Sabat cũng là một trong Mười Điều Răn mà Chúa đã truyền lại trên núi Sinai.”

“Ngày Sa-bát bắt đầu từ lúc hoàng hôn ngày thứ Sáu, cho đến khi ba ngôi sao đầu tiên xuất hiện trên bầu trời đêm thứ Bảy trong lịch của người Do Thái. Vào tối thứ Sáu, họ đọc một lời cầu nguyện đặc biệt trên rượu trong một nghi lễ gọi là kiddush (thánh hóa).

Sau lễ Kiddush, Sabat được tổ chức bằng một bữa tiệc thịnh soạn. Có ba bữa ăn vào ngày Sabat. Một bữa vào tối thứ Sáu, một bữa vào ngày hôm sau, và một bữa nhỏ hơn vào cuối buổi chiều.” (nguồn: internet).

Đức Giê-su, hôm ấy, có lẽ Ngài tham dự bữa ăn vào ngày hôm sau. Và rồi, có một sự việc khiến Ngài đã phải lên tiếng. Chuyện là “khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi”.

“Cứ chọn”… có nghĩa là khách tự động tìm kiếm chỗ ngồi mà không cần tới người sắp xếp. Như vậy, “cỗ hai, cỗ ba” bỏ trống ư! Chẳng lẽ điều này không làm khó khăn cho ban tổ chức sao!

Trước hiện tượng phi lý này, Đức Giê-su đã lên tiếng. Hôm ấy, Ngài đã nói với họ dụ ngôn này: “Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cùng được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia, phải đến nói với anh rằng: ‘xin ông nhường chỗ cho vị này’. Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối”.

Quá bẽ bàng! Phải không, thưa quý vị! Và, có lẽ… có lẽ không ai trong chúng ta muốn mình bị rơi vào tình trạng (ngượng ngùng) này!

Muốn vậy, dễ thôi! Hãy thực hiện lời Đức Giê-su dạy. Hôm ấy, Ngài có lời dạy rằng: “Khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho người đã mời anh phải đến nói: ‘Xin mời ông bạn lên trên cho.’ Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn”.

Cuối cùng, Đức Giê-su có lời khuyến cáo mạnh mẽ, rằng: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 14, 11).

***
Hôm ấy, Đức Giê-su không chỉ khuyến cáo những vị khách được mời đến dự tiệc mà còn hướng tới ngay cả kẻ-đã-mời-Ngài.

Vâng, cung cách tự-hạ-mình không nhất thiết là từ chối ngồi cỗ nhất, cỗ nhì. Nhưng, nó còn được thể hiện qua sự “hoàn thành công việc của (mình) một cách nhũn nhặn” Nói cách khác, đó là biết “khiêm tốn”.

Cho nên, hôm ấy, rất thẳng thắn, Đức Giê-su nói với kẻ đã mời Ngài, rằng: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em hay bà con hàng xóm, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc, vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại” (x.Lc 14, 14).

Vâng, lời truyền dạy của Đức Giê-su cho ông-thủ-lãnh, rất phù hợp với lời Kinh Thánh đã được ghi lại năm xưa: “Càng làm lớn, con càng phải tự hạ, như thế, con sẽ được đẹp lòng Đức Chúa.”

Đức Giê-su không phải là kẻ “nói cho nhiều, rồi lại quên”. Ngài đã thể hiện sự “tự hạ mình” một cách ngoạn mục, nếu có thể được nói như thế!

Chuyện xảy ra trong bữa tiệc ly. Hôm ấy, chuyện được ghi lại rằng: “Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giêsu đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau” (Ga 13, 4-5).


“Thầy mà lại rửa chân cho con sao?” Ông Simon Phê-rô kinh ngạc nói như thế!

Thế nhưng, sự việc này chưa ăn thua gì! Điều đáng kinh ngạc hơn, đó là: Đức Giê-su: “vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (x.Pl 2, 8).

****
Những điều Đức Giê-su truyền dạy với những vị khách được mời đến dự tiệc, cũng như kẻ-đã-mời-Ngài dự tiệc, phải chăng cũng là lời truyền dạy cho chúng ta, hôm nay!

Thưa, đúng vậy. Và, cái cách tự hạ mình đẹp nhất, mà chúng ta nên thực hiện, đó chính là từ bỏ cái tôi của mình. Từ bỏ cái tôi của mình, đức tính khiêm nhu sẽ hiện hữu trong con người chúng ta.

Quý vị có biết không? Khiêm nhu là một đức tính tốt đẹp. Khiêm nhu không kiêu căng, tự mãn. Người khiêm nhu biết kính nhường kẻ khác.

“Theo ý nghĩa truyền thống và thần học, khiêm nhu mang tính yếu đuối, nhưng người khiêm nhu chiến thắng cơn tức giận của mình, biết kiềm chế, biết điều chỉnh và điều khiển năng lực để làm điều tốt hơn điều xấu.” (nguồn: hddaminhthanhlinh).

Nếu chúng ta áp dụng những đức tính tốt đẹp nêu trên vào đời sống Giáo Hội, chúng ta sẽ có một Giáo Hội “Hiệp Nhất – Thánh Thiện”, như lòng Chúa mong ước.

Nếu chúng ta áp dụng những đức tính tốt đẹp nêu trên vào đời sống hằng ngày, lẽ nào chúng ta lại không tạo nên một cộng đồng “láng giềng thân thiết”, một gia đình “anh em hòa thuận” đặc biệt hơn cả, đó là: “vợ chồng ý hợp tâm đầu”!

Nhớ cho kỹ! Cả ba việc nêu trên: “Cả ba đều đẹp lòng ĐỨC CHÚA” (Hc 25, 1).

Đã là một Ki-tô hữu “đẹp lòng ĐỨC CHÚA”, tại sao không làm, nhỉ! Vâng, chúng ta hãy làm. Làm bằng cách: Hãy thể hiện, sự tự hạ mình.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 23 tháng 8, 2025

Hãy chiến đấu…

 Chúa Nhật XXI – TN – C

Hãy chiến đấu…

SnTM 230825a


Theo Tin Mừng thánh Luca ghi lại, chúng ta được biết, “khi Đức Giê-su khởi sự rao giảng, Người trạc ba mươi tuổi.” (Lc 3, 23). Lời rao giảng đầu tiên Đức Giê-su gửi đến mọi người, đó là: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.”

Tiếp đó, Ngài đi khắp miền Ga-li-lê giảng dạy trong các hội đường. Danh tiếng Đức Giê-su được đồn ra, và thế là “thiên hạ đem đến cho Ngài mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền: những kẻ bị quỷ ám, kinh phong, bại liệt v.v…”, Ngài đều chữa họ.

Một ngày nọ, có rất đông người tìm đến Đức Giê-su. Thấy thế, Ngài lên núi. Từ trên ngọn núi cao, với từng nhóm dân chúng ngồi vây quanh, Đức Giê-su đã dạy dỗ họ, những lời dạy dỗ thấm đậm tình yêu thương.

“Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Lề Luật Mô-sê hoặc các lời ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn”.

Nhìn dân chúng với ánh mắt trìu mến, Đức Giê-su có lời khuyên: “Đừng giận ghét. Chớ ngoại tình. Đừng ly dị. Đừng thề thốt. Chớ trả thù. Phải yêu kẻ thù.”

Khi cầu nguyện, Ngài nói: “Hãy cầu nguyện nơi kín đáo.” Khi ăn chay, Ngài bảo: “Hãy ăn chay cách kín đáo.” Với Thiên Chúa, Ngài khẳng định: “Hãy tin tưởng vào Chúa quan phòng”.

Tất cả những lời dạy dỗ này, đã làm cho mọi người phải thốt lên rằng: “Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền.”

Thật vậy, hôm ấy với uy quyền của mình, Đức Giê-su tuyên phán: “Thầy bảo cho anh em biết; đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn. Cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc… Hãy xem chim trời, chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao?… Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi; ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó.”

Và rồi, như một Đấng có thẩm quyền, Đức Giê-su nói, rất rõ ràng, rằng: “Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho”.

Loan báo “Nước Trời đã đến gần”, với lời kêu gọi “Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Trời”, Đức Giê-su muốn gửi đến mọi người một thông điệp, thông điệp rằng: đó chính là cứu cánh cho cuộc sống của mọi người.

Nước Trời chính là nơi con người hưởng được sự cứu rỗi vĩnh cửu nơi Thiên Chúa, qua việc nhận biết và làm theo ý Ngài, như lời Ngài đã tuyên phán: “Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”. (Ga 14, 6).
Đức Giê-su chính là con đường. Đó… đó là một con đường không dễ để đi. Đó là một con đường hẹp. “Phải chiến đấu để qua được”. Đức Giê-su đã nói như thế, với một người Do Thái, trong một dịp Ngài trên đường đi Giê-ru-sa-lem. Diễn tiến câu chuyện, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Luca. (Lc 13, 22-30).

**
Theo Tin Mừng thánh Luca ghi lại: Hôm ấy, “Trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su (đã) đi ngang qua các thành thị và làng mạc mà giảng dạy”.

Trong lúc giảng, có kẻ hỏi Ngài: “Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không?” (x.Lc 13, 23).

Đừng ngạc nhiên về câu hỏi này! Tại sao! Thưa, là bởi, đối với người Do Thái xưa, họ nghĩ rằng, chỉ có dân tộc của họ, một dân tộc được Thiên Chúa chọn làm “dân riêng” của Người, mới là những người được hưởng ơn cứu thoát.

Vâng, nếu kẻ hỏi Đức Giê-su lại có suy nghĩ như vậy, thì đó là một sự suy nghĩ thiển cận. Người này quên mất rằng, Thiên Chúa, qua môi miệng ngôn sứ Isaia, có lời tuyên phán, rằng: “Còn Ta, Ta sẽ đến tập họp mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ; họ sẽ đến và được thấy vinh quang của Ta.” (x.Is 66, 18).

Mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ là ai, nếu không phải là dân các nước khác! Không, “sự cứu thoát” không là của riêng ai, không chỉ là sự độc quyền của dân tộc Israel! Hôm ấy, thay vì trả lời nhiều-hay-ít, Đức Giê-su nói với người đã tìm đến gặp mình, rằng: “Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào…”

Còn chuyện những người được cứu thoát, “nếu ít” ư! Đức Giê-su cho biết: “có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được”.

Hôm ấy, Đức Giê-su còn đưa ra một lời cảnh báo cho những ai còn chần chờ, còn ngần ngại “không sẵn sàng” chiến-đấu-để-qua-được-cửa-hẹp, nhưng lại sẵn sàng đi vào “cửa rộng và đường thênh thang” nơi chỉ “đưa đến diệt vong”, thảm bại!

Rất đáng buồn! Ngày nay, không ít người vẫn chọn đi vào-cửa-rộng-và-đường-thênh-thang. Satan đang là người chỉ đường dẫn lối và nó rất vui mừng khi “ngày một ngày đông hơn” người đi vào đó!

Trở lại với lời cảnh báo của Đức Giê-su. Lời cảnh báo, rằng: “Một khi chủ nhà đã đứng dậy và khóa cửa lại, mà anh em còn đứng ngoài, bắt đầu gõ cửa và nói: ‘Thưa ngài, xin mở cửa cho chúng tôi vào’, thì ông sẽ bảo anh em: ‘Các anh đấy ư! Ta không biết các anh từ đâu đến’!”

Thế nên, đừng quá muộn màng trong việc tham dự vào cuộc chiến đấu. Không có sự biện minh nào có thể cứu vãn sự muộn màng.

Đây! Chúng ta hãy nghe lời biện minh. Họ đã biện minh, rằng: “Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt ngài, và ngài đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi.”

Nghe hay đấy nhỉ! Thế nhưng, điều đó cũng không làm cho “chủ nhà” bớt khó chịu. Ông ta nói: “Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính.”

Trước tòa phán xét, chúng ta nói với Chúa: Con vẫn đi nhà thờ, xưng tội, rước lễ, Chúa không thấy sao! Chúa sẽ nói: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm nom”.

***
“Cửa hẹp”… hẹp cỡ nào! Có lẽ, sẽ có người tự hỏi như thế! Vâng, sẽ hết sức ngây thơ khi chúng ta hiểu hai chữ “cửa hẹp” theo nghĩa đen.

Giải nghĩa hai chữ “cửa hẹp”, Cha Giu-se Nguyễn Hữu An có lời chia sẻ: “Tin Mừng hôm nay dùng hình ảnh cửa hẹp để chỉ những đòi hỏi của Nước Trời. Hẹp ở đây không có nghĩa là hẹp hòi hay kém giá trị. Tính từ hẹp chỉ sự thách đố, chông gai, đòi hỏi nỗ lực để kiên vững bước đi. Hẹp chỉ sự khó khăn, vất vả, từ bỏ, cần phải ‘chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào’. Các bài đọc Thánh Kinh hôm nay nói về cửa vào Nước Trời tuy hẹp nhưng không chật mà vẫn rộng thênh thang.”

Nói ngắn gọn, đó là “cửa của tình yêu chân thành, hy sinh và sự công chính thực sự từ trái tim, không phải là vẻ ngoài giả tạo.” (nguồn: internet).

“Cửa hẹp” mà Đức Giê-su nói đến, có thể nói, đó là “những đòi hỏi”, những đòi hỏi dành cho những ai muốn trở nên môn đệ của Ngài. Phải “chiến đấu” thì mới có thể “qua được”.

Đúng… đúng như vậy đó! Chúng ta hãy thử nghĩ xem! Làm sao có thể “từ bỏ chính mình… hạ mình xuống… “nếu chúng ta không chiến đấu để chiến thắng cái-tôi-của-mình, hầu có thể bước vào cánh cửa của tình yêu thương, của sự hiền lành, của sự nhẫn nhục, của sự từ tâm v.v...!

Từ-bỏ-chính-mình quan trọng lắm. Nó chính là “chìa khóa” để chúng ta mở cánh cửa tâm hồn mình “Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự”.

Lịch sử Giáo Hội đã để lại cho chúng ta nhiều tấm gương “chiến đấu để chiến thắng” cho việc từ-bỏ-chính-mình. Thánh Augustino thành Hippo, như điển hình. (Quý vị có thể tìm hiểu thêm về cuộc đời của thánh nhân trên internet).

Gần đây nhất, chúng ta có thể nói đến Jim Caviezel, người đóng vai Chúa Giê-su trong bộ phim THE PASSION OF CHRIST.
“Đạo diễn Mel Gibson đã cảnh báo nam diễn viên Jim Caviezel rằng, đóng vai Chúa Giê-su sẽ rất khó khăn và nếu anh ấy nhận lời, rất có thể anh ấy sẽ bị Hollywood gạt ra ngoài lề”.

Nói tới Hollywood thì nhiều chuyện (không hay) để nói lắm! Nhưng thôi, không bàn ở đây! Có bàn, thì bàn đến chuyện Jim Caviezel.

“Caviezel đã yêu cầu một ngày để suy nghĩ về điều đó và câu trả lời của anh ấy với Mel, người đã tài trợ và đạo diễn bộ phim là: Tôi nghĩ chúng ta phải làm được, ngay cả khi điều đó rất khó khăn.”

Và, đúng là thế, rất là khó cho Jim. Chuyện được kể lại, rằng: sau khi hoàn tất bộ phim, Hollywood lạnh nhạt Jim Caviezel. Lâu lâu cho đóng một vai phụ, thế thôi!

Jim Caviezel, nói không sợ sai, ông ta xứng đáng được đứng vào hàng ngũ những người dám từ-bỏ-chính-mình, từ bỏ quyền lợi của mình, bước vào cửa hẹp.

Vâng, thật vui thay! Trong cánh cửa hẹp đó, Caviezel đã “quyến rũ” được Luca Lionello, người thủ vai Giu-đa Ich-ca-ri-ốt. Ông ta là một người theo chủ nghĩa vô thần trước khi khởi sự quay cuốn phim. Rồi sau khi cuốn phim hoàn tất, Lionnello đã theo Jim vào cửa hẹp. Ông ta theo đạo, lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội cho chính mình cùng các con của ông ta.

Còn với Pedro Sarubbi, người thủ vai Barabbas, đã tâm sự rằng: “Ông ta cảm thấy rằng, không phải Caviezel đang nhìn anh ta, mà là chính Chúa Giê-su. Đôi mắt của anh ấy không có sự thù hận hay oán giận đối với tôi, chỉ có lòng thương xót và tình yêu thương.” (nguồn: internet).

****
Thánh Augustino… Jim Cavieze… và nhiều tấm gương khác, trong suốt chiều dài lịch sử Giáo Hội, có là nguồn cảm hứng để chúng ta sẵn sàng bước qua cửa hẹp!

Vâng, câu trả lời là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, đừng quên rằng, chỉ những người đi vào cửa hẹp, những người “thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời” thì mới được “dự tiệc trong Nước Thiên Chúa”, mà thôi.

Ngược lại, những ai chỉ thích “cửa rộng và đường thênh thang”. Đại loại như: thích phô trương sự hào nhoáng của ngôi nhà thờ trị giá vài chục triệu Mỹ kim… thích biến những nơi thánh địa thành khu “du lịch tâm linh”, thành nơi buôn thần bán thánh… thích dễ dãi trong việc giữ Luật Chúa cũng như Luật Giáo Hội v.v… Coi chừng!

Coi chừng! Những người nào mang pháp-danh-thích-như-thế, Chúa Giê-su nói: “(Họ) sẽ khóc lóc nghiến răng, khi thấy các ông Áp-ra-ham, I-sa-ac và Gia-cóp cùng tất cả các ngôn sứ được ở trong Nước Thiên Chúa”.

Thế nên, đừng để chúng ta rơi vào tình trạng là… là “kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót”, khi gặp “ông Áp-ra-ham, I-sa-ac và Gia-cóp”!

Nhưng, phải bằng mọi cách ở trong tình trạng là… là “kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu”, khi gặp “tất cả các ngôn sứ (đang) được ở trong Nước Trời”.

Vâng, có một cách rất dễ dàng, Đức Giê-su chỉ dẫn rồi: “Hãy chiến đấu để qua cửa hẹp.”

Petrus.tran

Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2025

Đừng để tắt trong lòng mình

 Chúa Nhật XX – TN – C

Đừng để tắt trong lòng mình

SnTM 160825a


Ki-tô giáo nói chung - Công Giáo nói riêng, có thể nói là một “ĐẠO” được sinh ra bằng sự bách hại, tù đày và chết chóc. Ngay từ những ngày đầu sơ khai của Giáo Hội, theo sách Công Vụ Tông Đồ thuật lại, ông Tê-pha-nô chính là người đầu tiên bị bắt bớ và bị giết chết, chỉ vì niềm tin vào Chúa của mình.Tiếp đến là 300 năm ở Roma. Rồi nhiều nơi trên thế giới. Việt Nam cũng chẳng kém cạnh gì Roma.

Vâng, nói tới bách hại, tù đày và chết chóc, chúng ta không ngạc nhiên. Không ngạc nhiên, vì trong những ngày còn tại thế, Đức Giê-su đã có lời khuyến cáo: “Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét”.

Vì-danh-Chúa ư! Đúng. Tuy nhiên, chúng ta còn có thể nói, vì nó hệ tại nơi giáo lý của Ngài. Tại sao! Thưa, là bởi: “Giáo lý của Chúa”, Cha Charles nói: “…có thể mang lại một sự căng thẳng và sẽ kết thúc với tình trạng chia rẽ, ngay cả trong gia đình.”

Đây… sự thật là đây. Một ngày nọ, khi nghe Đức Giê-su giảng dạy về “Bánh hằng sống”, lời dạy rằng: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”, đã có không ít người căng thẳng thốt lên rằng: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi.” Hôm ấy, thánh sử Gio-an cho biết: “nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa.”

**
Chưa hết đâu! Đức Giê-su còn nhiều lời dạy khác nữa, khiến ai nghe đến cũng phải sững sờ.

Có sững sờ không, khi Đức Giê-su nói: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên”!

“Sốc” hơn nữa, khi Ngài nói tiếp rằng: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ”.

Và, cuối cùng Đức Giê-su có lời cảnh báo: “Từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ, mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng”. (x.Lc 12, 49-53).

***
Những điều Đức Giê-su tuyên bố, căng quá phải không, thưa quý vị!

Vâng, sẽ rất căng thẳng, nếu chúng ta cho rằng, những lời tuyên bố (nêu trên) nghe sao “hiếu chiến” quá! Nghe sao có vẻ như Đức Giê-su muốn tuyên chiến với thế giới con người!

Dạ thưa, đừng hiểu như thế! Hiểu như thế, chúng ta làm cho tình yêu của Thiên Chúa sẽ “chết theo mùa đông năm nao”!

Đừng quên! Trong những ngày còn tại thế, điều Đức Giêsu luôn nhắc đến, đó là tình yêu. Tình yêu mà Đức Giêsu nói đến, đó là một thứ tình yêu thương “người liều mạng sống vì người mình yêu”. Một ngày nọ, Ngài còn có lời nói rằng: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em”.

Không! Đức Giê-su không dạy con người hiếu chiến. Trái lại, Ngài dạy, rằng: “Anh em đã nghe dạy rằng: ‘mắt đền mắt, răng đền răng’. Còn Thầy, Thầy bảo anh em; đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa” (Mt 5, 38).

Chính cái chết của Đức Giêsu trên đồi Golgotha, với lời nguyện rằng “Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” đã chứng thực cho những lời Ngài giảng dạy.

Như vậy, những lời tuyên bố của Đức Giê-su, chúng ta cần ngầm hiểu rằng, Ngài muốn những ai đến với Ngài, phải có một sự lựa chọn. Giữa thiện và ác, giữa tốt và xấu, giữa công bằng và bất công, giữa thật thà và dối trá, giữa yêu thương và hận thù, v.v… phải lựa chọn. Phải lựa chọn, dù sự lựa chọn đó có phải rơi vào tình trạng căng thẳng, căng thẳng đến độ “cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ, mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng”.

****
Khi Đức Giê-su nói: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ”, không có nghĩa là Ngài không-muốn-ban-cho-trái-đất-hòa-bình!

Thiên Chúa ban rồi. Ban ngay khi Đức Giê-su sinh ra tại Belem. Hôm ấy, chẳng phải là “Có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa, rằng: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”, đó sao!

Trái đất có hòa bình, nhưng con người đã làm mất vào tay Sa-tan. Làm mất bởi những “tranh chấp, chia rẽ, bất hòa, hận thù v.v…” Con người đã nhiều lần chiến đấu giành giật lại. Tiếc thay! không đủ sức để chiến thắng.

Nay, Đức Giê-su đến thế gian là để chiến đấu với Satan. Ngài tuyên chiến với những tà ác của nó, những tà ác gây hại cho con người, cho thế giới, cho xã hội.

Ngài-đến-để-chia-rẽ. Không phải là để chia rẽ giữa con người với con người, nhưng chính là để “rẽ” con người ra khỏi Satan, “rẽ” con người ra khỏi bóng tối tội lỗi. Đức Giêsu đã chiến thắng satan. Ngài chiến thắng bằng ngọn lửa tình yêu, “ngọn lửa của Thiên Chúa”.

Vâng, Cha Giuse Nguyễn Cao Luật O.P, với ơn Chúa, ngài đã vẽ lại một Giê-su oai hùng, ném ngọn lửa mầu nhiệm đó vào thế gian, như sau: Đức Giê-su - “Người đã rước ngọn lửa đó đi khắp đất nước Do Thái, vượt ra khỏi những biên cương do con người tạo nên. Người đã đem ngọn lửa ấy vào giữa đám dân Do Thái đang chờ mong Ðấng Cứu Tinh. Người đã đem ngọn lửa ấy vào giữa những người dân ngoại. Người đã làm bừng lên trong tâm hồn mọi người ngọn lửa như ông Gioan Tẩy Giả đã loan báo. Ông Gioan Tẩy Giả thanh tẩy bằng nước, còn Ðức Giêsu thanh tẩy trong Thần Khí, tức là gió và lửa.

Tất cả lời nói và hành vi của Ðức Giêsu đều cho thấy một ngọn lửa đích thực, lửa vĩnh cửu, lửa thiêng, để rồi cuối cùng, Người lấy chính mạng sống của mình để đốt lên một cách dứt khoát trên lễ đài thập giá, trên đồi Canvê. Chính lúc ấy, Người đã thốt lên: MỌI SỰ ĐÃ HOÀN TẤT.”

*****
Mọi-sự-đã-hoàn-tất. Thế nhưng, với chúng ta hôm nay, chưa thể gọi là hoàn tất.

Chưa hoàn tất, bởi theo Cha Giuse Nguyễn Cao Luật O.P: “Ngọn lửa ấy, hôm nay (còn phải) được chuyển đến các Kitô hữu, được thắp lên trong tâm hồn họ. Khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, mỗi người đã được trao cho một cây nến sáng, với lời nhắn nhủ hãy giữ cho ngọn lửa cháy mãi.

Người Kitô hữu sẽ mang ngọn lửa ấy và đốt lên trong thế-vận-hội-trần-gian. Nơi đâu họ có mặt, nơi ấy là vận-động-trường, và ở đó (rất) cần có lửa. Với những hoàn cảnh sống khác nhau, về cả nơi chốn và điều kiện, người Kitô hữu có nhiều cơ hội để mang ngọn lửa Tin Mừng thắp sáng mọi ngõ ngách cuộc đời.”

“Đức tin. Tinh thần Ki-tô giáo, chính là ngọn lửa”, Cha Giu-se kết thúc bài chia sẻ của mình, như thế! Vâng, thật phải đạo khi chúng ta, hãy là những người làm cho ngọn lửa ấy luôn được thắp bùng lên, đúng như ước mong của Đức Giê-su. Hồi ấy, Ngài đã nói rằng: “Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên”.

Muốn thực hiện trọn vẹn ước mong của Đức Giê-su, chúng ta đừng bao giờ để ngọn lửa mầu nhiệm, ngọn lửa của Thiên Chúa... “TẮT”! Vâng, Đừng để tắt trong lòng mình…

Petrus.tran

 

Thánh lễ… nơi Chúa Phục Sinh gặp ta

  Chúa Nhật II Phục Sinh – Năm A Thánh lễ… nơi Chúa Phục Sinh gặp ta “Chúa hóa nên người vì thương chúng ta, sống kiếp con người lam lũ hy s...