Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2026

Hãy nhìn… Đấng diệt cả hồn lẫn xác…

 Chúa Nhật XII – TN – A

Hãy nhìn… Đấng diệt cả hồn lẫn xác…

SnTM 200626b


Sợ… hay sợ hãi là gì? Thưa, “là một cảm xúc nguyên thủy tự nhiên của con người, đóng vai trò như một cơ chế sinh tồn thiết yếu. Phản ứng này giúp cơ thể nhận thức được mối đe dọa hoặc nguy hiểm và đưa ra quyết định đối phó hoặc bỏ chạy.” (nguồn: internet).

Nói rằng “là một cảm xúc nguyên thủy tự nhiên của con người”, không sai. Nói rằng “phản ứng này giúp cơ thể nhận thức được mối đe dọa hoặc nguy hiểm và đưa ra quyết định đối phó hoặc bỏ chạy” cũng không sai. Nguyên tổ Adam và Eva như một minh chứng cho định nghĩa này.

Theo Kinh Thánh ghi lại, trước lời mời mọc quá hấp dẫn của satan: “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác”, Adam và Eva không thể cưỡng lại, đã ăn. Hậu quả, “họ thấy mình trần truồng… họ trốn chạy… họ sợ hãi” (x.St 3, 1-10).

Như tội tổ tông, sự sợ hãi cũng là ác mộng không của riêng ai. Có mối sợ hãi khiến ta thẫn thờ, bất động. Ví dụ như sợ ma. Có mối sợ hãi làm cho ta hoảng loạn. Ví dụ như chiến tranh, thiên tai v.v…

Là người Công Giáo, có một mối sợ hãi khiến ta có thể “không dám suy nghĩ và hành động đúng theo niềm xác tín Công Giáo của mình”. Đó là sự bách hại.

Đây là mối sợ hãi đặc biệt thường do từ sự đe dọa. Sự đe dọa bởi một ai đó, bởi một thể chế nào đó, bởi một thế lực nào đó v.v…
 
Đức Giê-su rất quan tâm đến mối sợ hãi này. Trong những ngày ra đi rao giảng Tin Mừng, Ngài và Nhóm Mười Hai vẫn thường phải đối diện với nhiều sự đe dọa. Những sự đe dọa này, thường xuất phát từ giới thần quyền Do Thái. Đó là quý ông Phariseu, kinh sư, biệt phái.

Với Đức Giê-su, Ngài chưa một lần tỏ ra sợ hãi. Nhưng, với Nhóm Mười Hai… Có, có vấn đề! Thế nên, Đức Giê-su đã có những lời chỉ dạy thiết thực, hầu đem lại cho các ông niềm xác tín vững mạnh vào sứ vụ trong một tương lai mà các ông sẽ thực hiện. Những lời chỉ dạy này, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mát-thêu.

**
Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại, thì: Sau khi Đức Giê-su tiên báo những cuộc bách hại sẽ xảy ra, Ngài đã có những lời chỉ dạy cho các môn đệ của mình, rằng: “Anh em đừng sợ người ta.”

Đức Giê-su bảo đừng-sợ-người-ta” là bởi, những con người đó chỉ là phàm nhân. Là phàm nhân, giỏi lắm họ chỉ “giết được thân xác mà không giết được linh hồn”.

Nếu có sợ… Vâng, hôm ấy, Đức Giê-su nói: “Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục”.

Đấng-có-thể-tiêu-diệt cả-hồn-lẫn-xác trong-hỏa-ngục, là ai! Thưa, đó chính là Thiên Chúa.

Nhìn các môn đệ, Đức Giê-su nói tiếp: “Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi”. (x.Mt 10, 29-30).

Sau đó, Ngài cho các ông một lời khuyên: “Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ”.

***
Trên đây là những lời chỉ dạy của Đức Giê-su dành cho các môn đệ. Và các ông đã tuân giữ lời chỉ dạy của Ngài.

Chuyện kể rằng, một ngày nọ các môn đệ “đang đứng trong Đền Thờ và giảng dạy cho dân”. Hôm ấy, các ông đã giảng Tin Mừng Đức Kitô phục sinh.

Nguồn tin này lọt đến tai Thượng Hội Đồng. Lập tức, họ sai lãnh binh Đền Thờ cùng nhóm thuộc hạ đi bắt.

Bắt được, lãnh binh Đền Thờ điệu các ông đến Thượng Hội Đồng. Vị thượng tế hỏi các ông: “Chúng tôi đã nghiêm cấm các ông không được giảng dạy danh ấy nữa, thế mà các ông đã làm cho Giê-ru-sa-lem ngập đầy giáo lý của các ông, lại còn muốn cho máu người ấy đổ trên đầu chúng tôi.”

Nghe thế, các môn đệ phản ứng thế nào! Thưa, các ông đáp lại: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm…”

Ngôn sứ Giê-rê-mi, được mênh danh là “Người của Thiên Chúa”, thấu hiểu điều này, bởi ông cũng từng bị nhạo báng, bị sỉ nhục và chế giễu.

“Nhưng…” ông nói: “…ĐỨC CHÚA hằng ở bên con như một trang chiến sĩ oai hùng. Vì thế những kẻ từng hại con sẽ thất điên bát đảo, sẽ không thắng nổi con. Chúng sẽ phải thất bại, và nhục nhã ê chề: đó là một nỗi nhục muôn đời không thể quên.” (x.Gr 20, 11).

Khi có ĐỨC CHÚA hằng-ở-bên, dù chưa bao giờ nghe Chúa Giê-su tuyên phán: “Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày, và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng…”, nhưng ông biết… Giê-rê-mi biết sấm ngôn của ĐỨC CHÚA phải “nói ra giữa ban ngày”.

Chuyện được kể lại rằng: “Giê-rê-mi bị những kẻ chống lại ông buộc phải lên đường trốn sang Ai Cập. Theo truyền thuyết, ông bị một số đồng bào của mình giết hại tại đó.”

Lm Charles E.Miller, suy tư vụ thảm sát của Giê-rê-mi, có lời chia sẻ rằng: “Những con người độc ác (những kẻ giết ông) không được ai nhắc nhở, nhưng với Giê-rê-mi thì ngược lại. Ông vẫn tồn tại không chỉ trong các trang Sách Thánh, mà còn trên Thiên Đàng với Chúa Giê-su, Đấng Mesia mà ông chưa từng biết tới trên cõi đời này, nhưng luôn giữ một lòng trung tín với Người tuy không hề nhận biết.”

Nói tắt một lời, Giê-rê-mi: vâng-lời-Thiên-Chúa hơn-vâng-lời-người-phàm.
 
****
Là người Công Giáo, có phần chắc, chúng ta nhận biết Chúa Giê-su. Có phần chắc, chúng ta đã được nghe những lời chỉ dạy thiết thực (nêu trên), của Ngài.

Hãy xem những lời chỉ dạy này, như chiếc kim- chỉ-nam cho cuộc hành trình về Thiên Quốc, của chúng ta. Bởi, chiếc kim-chỉ-nam này, chính là bửu bối, đem lại cho chúng ta sức mạnh kỳ diệu, sức mạnh của một Thiên Chúa “có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục”.

Phải mang trong mình chiếc kim-chỉ-nam này. Có như thế, chúng ta mới có thể chiến thắng trước những sự đe dọa của Satan, thông qua “những trào lưu nguy hiểm” đầy dẫy trong xã hội, hôm nay.

Mang trong mình chiếc kim-chỉ-nam này, chúng ta không ngại khi bị “chụp cho một cái mũ vi phạm nữ quyền” vì mình quá nhấn mạnh “phá thai là một tội ác không sao tả xiết”.

Mang trong mình chiếc kim-chỉ-nam này, chúng ta không ngại khi những người tôn thờ “chủ nghĩa cá nhân” nhìn chúng ta bằng cặp mắt hình “viên đạn đồng đen” vì chúng ta “cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc” v.v…

Mang trong mình chiếc kim-chỉ-nam này, chúng ta vẫn có thể tự tin “ngước mặt nhìn đời”, mặc thế gian “chê bai và ganh ghét”, chê-bai-và-ganh-ghét vì chúng ta rao giảng những lời giáo huấn mà Đức Giê-su Ki-tô đã truyền dạy, năm xưa.

Chúng ta đang sống trong thời kỳ cuối cùng. Thời kỳ “Có nhiều kẻ sẽ mạo danh Thầy đến, nói rằng: Chính Ta đây! Và họ sẽ lừa gạt được nhiều người”. (Mc 13, 6).

Có nhiều rồi đấy, thưa quý vị! Đã có người nói: “Tui là thư ký của Chúa”. Tin không! Đừng tin. Đừng tin, vì nó chính là “đệ ruột” của Satan, đội lốt người.

Đây là lúc chúng ta cần sự khôn ngoan. Sự khôn ngoan đích thực, đó là chúng ta hãy “nhìn xem Đức Giê-su như là cội rễ và cuối cùng của đức tin” (Dt 12, 2).

Nói cách khác, chúng ta “Hãy nhìn… Đấng diệt cả hồn lẫn xác”, xem đó như là cội rễ và cuối cùng đức tin của chúng ta.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

Lạy Chúa! Xin Ngài sai con.

 Chúa Nhật XI – TN – A

Lạy Chúa! Xin Ngài sai con

SnTM 130626a


Theo lịch sử Giáo Hội, chúng ta được biết, Đạo Công Giáo đã hiện diện trên thế giới này hơn hai ngàn năm. Và theo thống kê mới nhất (năm 2025) trên toàn thế giới có 1 tỷ 406 triệu tín hữu Công Giáo.

Đó là một con số không nhiều, không ít. Không nhiều, vì nó chỉ chiếm khoảng 17,8% dân số toàn cầu. Không ít, vì so với “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” nó chỉ vọn vẹn có mười hai người, thêm dăm-ba-bà-đạo đức, vài quý ông nhận ra Đức Giêsu “là một vị tôn sư được Thiên Chúa tuyển chọn” như Nicôđimô… là cùng!

Vâng, lúc khởi đầu, chỉ là mười hai. Mười hai người này đã được Đức Giê-su tuyển chọn và được gọi là Tông Đồ.

**
Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại: “Tên của nhóm mười hai Tông Đồ: đứng đầu là ông Si-mon, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông. Sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông. Ông Phi-lip-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô, ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế, ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô, ông Si-mon thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là chính kẻ nộp Người.”

Chỉ là mười hai Tông Đồ. Họ đã được Đức Giê-su sai đi. Họ đã được Ngài ban cho “quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền”, cùng với lời chỉ thị, rằng: “Anh em đừng đi về phía các dân ngoại, cũng đừng vào các thành nào của dân Sa-ma-ri. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en.”
Đây không phải là sự kỳ thị. Vào thời kỳ đó, người Do Thái không được giao thiệp với người Samari. Theo Tin Mừng thánh Luca cho biết, đã có “một làng Samari không đón tiếp Đức Giê-su” (x.Lc 9, 51).

Nói các ông hãy-đến-với các-con-chiên-lạc-nhà It-ra-en là bởi, Đức Giê-su thấy họ “lầm than vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt.”

Suy gẫm lời Đức Giê-su nói, Cha Charles E.Miller có lời chia sẻ: “Đây là cách Đức Giê-su bộc lộ một trái tim nhân bản trọn vẹn tròn đầy tình yêu của Thiên Chúa”.

Mà, đúng là vậy. Hồi ấy, Đức Giê-su đã chỉ thị cho nhóm mười hai tông đồ: “Hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần… Hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ.”

Và, cuối cùng Ngài khuyến cáo: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.”

***
Trước khi sai nhóm mười hai, Đức Giê-su đã nói với các ông rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.”

Nhắc lại lời nói này để làm gì? Thưa, để chúng ta tự hỏi mình rằng: Phải chăng, đây cũng là lời Đức Giê-su nói với chúng ta, hôm nay? Đúng vậy, cũng là lời Ngài nói với chúng ta, hôm nay.

Là chúng ta, bởi chúng ta cũng là môn đệ của Ngài. Vì thế, chúng ta cũng phải “xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”. Chúng ta cũng phải tiếp bước như các môn đệ xưa “đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”.

Xưa, các môn đệ được chỉ thị: “Hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần…”

Nay, chúng ta hãy rao giảng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời… Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,13-17).

Xưa, các môn đệ được chỉ thị: hãy-đến-với các-con-chiên-lạc nhà-It-ra-en.

Nay… Chúng ta hãy…

Hãy đến với những ai đang “rong ruổi đường đường gió bụi… gánh sầu thương mệt mỏi hai vai.” Nói với họ… “Về đây nấp bóng Sao Mai. Về đây quên lãng những ngày truân chuyên.”

Hãy đến với những ai “…Thiếu vỗ về người Mẹ. Tháng ngày trôi lặng lẽ cô liêu.” Nói với họ… “Về đây Mẹ sẽ thương yêu. Về đây Mẹ sẽ ban nhiều ơn thiêng.”

Hãy đến với những ai “Đang mê mải tìm hoan lạc. Những ngày đêm thổn thức băn khoăn.” Nói với họ… “Về đây ngỏ hết tâm can. Về đây Mẹ có muôn ngàn yêu thương.”

Hãy đến với những ai đang “Sống mãi trong do dự. Kiếp trần gian lữ thứ đau thương.” Nói với họ… “Về đây nấp bóng Trinh Vương. Về đây hưởng phúc thiên đàng yên vui.”

Khi chúng ta, đến với những ai rơi vào những hoàn cảnh nêu trên. Nói với họ, về những điều tốt lành như thế. Chúng ta chẳng khác gì một vị lương y, một vị lương y kê cho họ một toa thuốc “chữa lành”.

Làm như thế, chúng ta mới thực sự là đã thực thi lời Đức Giê-su chỉ thị: “Hãy chữa lành người đau yếu...”

Nói cách khác, làm như thế, chúng ta kéo họ ra khỏi thảm họa “ma đưa lối, quỷ dẫn đường”, một thảm họa sẽ dẫn họ đến “thung lũng âm u, nghi ngờ và chết chóc”.

***
Đừng nhát đảm nghĩ rằng, chúng ta không thể thực thi lời Đức Giê-su chỉ thị. Mọi sự đều có thể… có thể nếu chúng ta giàu lòng thương xót, như Đức Giê-su - Đấng giàu lòng thương xót.

Đức Giê-su không loại trừ bất kỳ ai. Ngài luôn sẵn sàng đón nhận những tâm hồn đau khổ và mời gọi con người sám hối để được chữa lành. Ngài đã có lời truyền dạy: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15, 13).

Đức Giê-su đã thực sự “hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” Điều này đã làm cho thánh Phao-lô “hết sức kinh ngạc và sửng sốt”.

Vị tông đồ dân ngoại đã giải bày nỗi lòng mình với tín hữu thành Roma: “Hầu như không ai chết vì người công chính, họa may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng? Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.” (x.Rm 5, 7-8).

Là-bằng-chứng-Thiên-Chúa-yêu-thương-chúng-ta… có tôi… có anh! Vâng, đúng thế. Thế nên, chúng ta phải đáp lại lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho chúng ta.

Đáp lại bằng cách nào? Thưa, đó là chúng ta “Cố gắng yêu thương người. Dù người không yêu ta, hãy cứ yêu thương hoài. Mặc người ai quen ai, hãy cho nhau một lời. Dù là nghe chua cay, dù là lời thoáng qua tai...”

Một cách tích cực hơn, đó là chúng ta hãy “đem уêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm.”

Đó là: hãy “đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậу vào nơi thất vọng… rọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu.”

Đó là: hãy “tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm уêu mến người hơn được người mến уêu.”

Vâng, chúng ta… chúng ta “còn (nhiều) người ngồi quanh đây, trán in vết nhăn.” Vẫn còn rất nhiều vầng trán nhăn nhó vì phải đối diện với nỗi đau thể xác lẫn tinh thần.

Vẫn còn rất nhiều vầng trán in đầy vết nhăn, những vết nhăn do phải lựa chọn giữa sự ác và sự thiện, giữa điều phải làm và điều không nên làm.

Hãy đến với họ. Vì, chúng ta đã-được-cho-không, thì cũng-phải-cho-không-như-vậy. Hãy-xin-chủ-mùa-gặt-sai-đi. Hãy nói với Chúa: Lạy Chúa! Xin Ngài sai con.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2026

Hãy cùng nhau dự Tiệc Thánh Chúa

 Chúa Nhật Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô

Hãy cùng nhau dự Tiệc Thánh Chúa

SnTM 060626b


“Người ơi! Nào mau tới thờ lạy Chúa! Quỳ dâng lòng tôn kính Chúa trên cao. Linh thiêng ôi phút giây giờ đây khi đoàn con được chiêm ngắm nhan thánh Chúa chí nhân quyền uy. Người ơi! Nào mau tới thờ lạy Chúa! Đồng thanh hợp chung tiếng hát ca khen. Cảm mến ơn Chúa ban tràn lan cho trần gian Mình Máu Thánh nên nguồn sống tuôn ngày đêm.”

Những dòng chữ trên đây là phần trích đoạn bài thánh ca rất quen thuộc mà hầu như mọi người Công Giáo đều biết đến. Đó là bài PHÚT LINH THIÊNG.

PHÚT LINH THIÊNG do Lm. Thành Tâm sáng tác, là một bài hát nói về Bí Tích Thánh Thể, một Bí Tích đã được Đức Giê-su thiết lập trong bữa tiệc Lễ Vượt Qua.

Nói đến Bí tích Thánh Thể hay còn được gọi là Bí Tích Mình Thánh Chúa, có thể nói đó là Bí Tích rất quan trọng, rất quan trọng bởi bí tích này “là nguồn mạch và đỉnh cao của đời sống Kitô hữu. Nơi bí tích này, Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong hình bánh và rượu, liên kết người tín hữu vào Hy tế Thập giá và Mầu nhiệm Vượt qua, từ đó nuôi dưỡng và hiệp nhất toàn thể Giáo hội.”

Chất thể của Bí Tích Thánh Thể “là rượu, bánh và nước.” Mô thể của Bí Tích Thánh Thể là lời truyền phép: “Này là Mình Ta sẽ bị nộp vì các con… Này là chén Máu Ta, máu sẽ đổ ra vì các con…”

Đây là lời truyền phép vô cùng thiêng liêng. Chính Đức Giê-su đã đọc lời này trong bữa Tiệc Ly (Lễ Vượt Qua) để lập Bí tích, trước khi bước vào cuộc tử nạn.

Bí Tích Thánh Thể, có người còn gọi là “thần lương nhiệm mầu”. Gọi như thế bởi, tại Caphanaum, Đức Giê-su đã có một bài diễn từ nói đến “ơn phước nhiệm mầu” dành cho những ai “cầm lấy mà ăn - cầm lấy mà uống.” Sự kiện này, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an. (x.Ga 6, 51-58).

**
Vâng, Caphanaum trong một-ngày-như mọi-ngày. Từng đoàn người bên kia Biển Hồ tràn qua hội tụ nơi đây, khi họ biết rằng, có sự hiện diện của Đức Giêsu.

Lý do có cuộc hội tụ này, có thể là do vài hôm trước, vào một buổi chiều tà, Đức Giêsu đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để cứu đói họ.

Vì thế, hôm nay, họ lại “đi Caphanaum tìm Người”, đi tìm Đức Giê-su với ước muốn, biết đâu, một lần nữa, Ngài lại dùng quyền năng để làm một việc gì đó cứu đói họ chăng? Nếu đúng vậy, đó là ước muốn bình thường của những con người bình thường.

Vâng, những con người bình thường đó “khi gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ (liền) nói: Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?”

Đi-guốc-trong-bụng-họ, Đức Giê-su đã đáp lời rằng: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê”.

Đúng vậy, mấy hôm trước đó, chỉ với “năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá” Đức Giê-su đã “hóa bánh ra nhiều” cho năm ngàn người ăn no nê.

Còn hôm nay, Đức Giê-su có lời khuyến cáo với họ, rằng: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận.”

Nghe thế, một cuộc tranh luận “căng như dây đàn” giữa Đức Giê-su và họ, nổ ra.

Họ, chất vấn Đức Giê-su. Họ, bắt bẻ Ngài. Ôi thôi! đủ chiêu trò. Đúng như thành ngữ dân gian xưa nói: “bạc như dân, bất nhân như lính”.

Hôm trước, cho ăn no nê, đòi tôn Đức Giê-su làm vua. Hôm nay, nói vài câu phật ý, bắt bẻ, đòi dấu lạ: “Ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông?”

Thật đáng tiếc, Đức Giê-su không làm dấu lạ nào hết. Đối với họ, chuyện sống còn “dưới đất” là điều thật khẩn thiết. Nhưng, với Đức Giêsu, Ngài lại muốn họ nhận ra rằng, còn có sự sống “trên trời”. Sự sống đó, phải là thứ-lương-thực-Con-Người-sẽ-ban.

“Không…” Đức Giê-su nói tiếp: “…không phải ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian”.

Nhìn, những con người bình thường, với những ước muốn bình thường, Ngài tuyên bố: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói, ai tin vào tôi chẳng khát bao giờ… ”.

Nuốt không trôi lời Đức Giê-su nói, họ “liền xầm xì phản đối”, phản đối vì Ngài nói rằng: “Tôi là bánh từ trời xuống”. Họ phản đối chẳng sai. Họ nói: “Ông này chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống?”

Hôm đó, bất chấp những lời xầm xì nhỏ to, Đức Giêsu vẫn nói lên thông điệp từ trời, một thông điệp của tình yêu, rằng: “Thật tôi bảo thật với các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết.”

Tiếp đến, Đức Giê-su khẳng định: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.” (x.Ga 6, 51).

Lời công bố của Đức Giê-su dẫn đến một cuộc tranh luận sôi nổi. Chuyện kể rằng: “Người Do Thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?”

Mặc cho những lời tranh luận giữa họ với nhau. Đức Giêsu vẫn không rút lời: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy.” (x.Ga 6, 52-56).

 Đây không phải là một trò ảo thuật. Đây là ân sủng, một thứ ân sủng đến từ “Chúa Cha là Đấng hằng sống”.

Tin mừng thánh Gio-an có lời chép rằng:“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,13-17).

Và tình yêu ấy, đã được Đức Giêsu xác quyết mạnh mẽ, rằng: “Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” (Ga 6, 58).

***
Những điều được trình bày trên đây: “đó là những điều Đức Giê-su đã nói khi giảng dạy trong hội đường, ở Ca-phac-na-um” (x.Ga 6, 59). Và, đó chính là lý do, hôm nay, Giáo Hội long trọng mừng lễ Mình Máu Chúa Ki-tô.

Hôm nay, Giáo Hội tiếp tục nói với mọi người tín hữu điều Đức Giêsu đã truyền dạy năm xưa, lời truyền dạy rằng: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”

Hôm nay, Đức Giê-su, qua vị linh mục chủ tế, cùng lời truyền thánh hiến Bánh, nói với chúng ta, rằng: “Tất cả các con hãy lãnh nhận mà ăn, vì này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con”. Đức Giê-su, qua vị linh mục chủ tế, cùng lời truyền thánh hiến Rượu, nói với chúng ta, rằng: “Tất cả các con hãy lãnh nhận mà uống, vì này là Chén Máu Thầy, Máu Tân Ước vĩnh cửu sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”.

Vâng, trong mỗi thánh lễ, vị linh mục chủ tế “làm việc này (để) tưởng nhớ tới Thầy”. Là một Ki-tô hữu, trong mỗi thánh lễ, chúng ta cũng “hãy làm việc này(rước lễ) mà nhớ đến Chúa”.

Như có lời nói rằng: “Biết điều đó thì khác xa với những ai đã nếm được điều đó”.

Thế nên, hãy đáp lời mời gọi của Thiên Chúa, lời mời gọi, rằng “Hãy đến mà ăn bánh của ta và uống rượu do ta pha chế! Đừng ngây thơ khờ dại nữa, và các con sẽ được sống, hãy bước đi trên con đường hiểu biết” (x.Cn 9, 5-6).

Con-đường-hiểu-biết, đó là đáp lời mời gọi của Thiên Chúa. Đó là hãy-đến-mà-ăn. Bởi “Khi ta cùng bẻ Bánh Thánh”, tông đồ Phao-lô nói, “đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao?”

Nhắc đến điều này để làm gì? Thưa, để chúng ta nhớ, nhớ rằng, Đức Giê-su đã phán hứa: “Kẻ ăn tôi… sẽ nhờ tôi mà được sống” (x.Ga 6, …57).

Vâng, nhạc sĩ Ignatiô Nguyễn Hùng Lân, khi còn tại thế, cũng đã cất tiếng nhắn nhủ chúng ta: “Hãy đến mà ăn, đây bánh Ta ban dưỡng nuôi linh hồn. Cùng dự Tiệc Thánh Chúa nhiệm tích muôn ngàn ơn thiêng...

Chúng ta không cần tranh luận hay xầm xì về những lời Đức Giêsu đã phán truyền. Bởi… bởi vì… “Đây là mầu nhiệm đức tin”.

Thế nên, đã là một Ki-tô hữu, chúng ta: Hãy đến mà ăn. Hãy cùng nhau dự Tiệc Thánh Chúa.

Petrus.tran

Hãy nhìn… Đấng diệt cả hồn lẫn xác…

  Chúa Nhật XII – TN – A Hãy nhìn… Đấng diệt cả hồn lẫn xác… Sợ… hay sợ hãi là gì? Thưa, “là một cảm xúc nguyên thủy tự nhiên của con người,...