Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2010

sự khẩn nài và lòng nhẫn nại...

Cn 29 Tn : Sự khẩn nài và lòng nhẫn nại…


“Lạy Trời mưa xuống;
Lấy nước tôi uống…
Lấy ruộng tôi cày.
Lấy đầy bát cơm;
Lấy rơm đun bếp…”.
Đây là những lời “đồng dao”; những lời đồng dao chất chứa một tâm tình cầu nguyện. “Lạy Trời !!!”
Vâng; từ ngàn xưa con người đã biết tới cầu nguyện. Trong bất cứ tôn giáo nào, cầu nguyện luôn là một chiều kích, một điều quan trọng của mối tương giao giữa người tín hữu với Đấng tối cao.
Cầu nguyện giúp con người nhận ra thân phận mỏng manh, yếu đuối, bất toàn và giới hạn của mình. Cầu nguyện giúp con người biết trông cậy vào Đấng toàn năng.
Với Kitô giáo; cầu nguyện được cho là một vấn đề quan trọng trong cuộc sống bước theo Chúa. Cầu nguyện thường được ví như hơi thở. Được ví như hơi thở; vì thế cầu nguyện thật quan trọng là dường nào…
……
Đó cũng là tâm tình của Đức Giêsu khi Ngài còn tại thế. Không chỉ chú tâm vào công việc loan báo Tin Mừng; Đức Giêsu luôn coi trọng đến tâm tình cầu nguyện. Tâm tình cầu nguyện không chỉ dừng ở điểm “xin thì sẽ được…” nhưng còn phải có lòng nhẫn nại trong sự khẩn nài.
…….
Đó là lý do tại sao Đức Giêsu; mượn câu chuyện “quan tòa bất chính và bà góa quấy rầy” để dạy cho các môn đệ rằng “phải cầu nguyện luôn, không được nản chí”(Lc 18, 1)...
Câu chuyện được kể rằng : một bà góa đến gặp một vị quan tòa. Bà ta khẩn khoản van nài ông ta minh xét về việc có người rắp tâm “hại bà”…
Ôi ! tệ thật… Ông quan “phụ mẫu chi dân” này coi trời bằng vung. Ông ta “chẳng kính sợ Thiên Chúa”. Với đám dân đen; ông ta lại càng “chẳng coi ai ra gì cả”(Lc 18,2)…
Với tính cách như thế, nếu không “nhất thân nhì thế” hoặc dùng chiêu “đồng tiền đi trước đồng tiền khôn” thì thật khó để mà đến “cầu cạnh” ông ta…
Ở một xã hội trọng nam khinh nữ ; thường người đàn bà phải chịu sự câm nín; không được có tiếng nói nơi cộng đồng. Người đàn bà đến gặp quan tòa lại là “bà góa” thì quả là nghiệt ngã biết bao !!!
Thế mà bà ta vẫn cứ liều mà “đến thưa với ông quan tòa…” Chuyện gì sẽ xảy ra cho bà ta khi mà quan tòa thời đó được mô tả là “Tất cả bọn chúng đều thích ăn hối lộ, và chạy theo quà cáp. Chúng không phân xử công minh cho cô nhi, cũng chẳng quan tâm đến quyền lợi quả phụ” (Is 1, 23). Không dừng ở đó; họ còn “đặt ra những luật lệ bất công… viết nên các chỉ thị áp bức… để biến bà góa thành mồi ngon cho chúng, và bóc lột kẻ mồ côi” (Is 10,2)…
Thế nhưng !!! Thật không thể tin được… Ông quan này – tuy bị cho là “quan tòa bất chính” – nhưng có lẽ vì bị “mụ góa này quấy rầy mãi…” và chắc là nhờ những cơn “nhức đầu nhức óc” đánh thức “bộ óc lương tâm” của quan-phụ-mẫu… Vì thế,chẳng đặng đừng; ông ta đáp ứng lời nài xin của bà góa với một lý lẽ rất … lý-sự-cùn… Kệ ! “Ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài”…
“Cứ đến hoài”… Vâng, chính hành động đó đã chứng tỏ rằng; bà góa; quả là một người đầy lòng nhẫn nại; bền chí khẩn nài cho một ước nguyện.
Và cũng chính hành động này đã được Đức Giêsu làm mẫu gương cho những ai “ngày đêm hằng kêu cứu với Chúa”(Lc 17,7)…
Một chút tâm tình…


Lịch sử đã trả lời cho chúng ta rằng; Thiên Chúa “đã minh xét” cho những kẻ có lòng nhẫn nại trong sự khẩn nài “ngày đêm hằng kêu cứu với người”…
Chuyện kể rằng : Israel đang trên đường đi đến miềm đất hứa. Bất ngờ đạo quân “Amalech đến đánh Israel tại Rophidim” (Xh 17,8).

một đạo binh tinh nhuệ và quá kinh nghiệm trong những trận địa chiến; quân đội Amalech đủ sức “làm gỏi” quân đội Israel – một đạo quân ô hợp…
Thế mà… thế mà… “Nực cười châu chấu đá xe. Tưởng rằng chấu ngã nào ngờ xe nghiêng”. Con châu chấu Israel đã xô ngã cả một đạo quân tinh nhuệ Amalech. Quân sử Israel đã ghi lại chiến tích này rằng : “Giôsuê đã đánh bại Amalech… xóa hẳn tên tuổi Amalech, khiến cho thiên hạ không còn nhớ đến nó nữa”(Xh 17,13…14).
Có được chiến tích đó chính bởi lời cầu nguyện của Mosê. “Tôi , tôi sẽ đứng trên đỉnh đồi, tay cầm gậy của Thiên Chúa”. Mosê cần có sức mạnh để “giơ tay lên” cầu nguyện. Bởi nhờ thế thì “dân Israel thắng thế”… Sức mạnh đó đã được Aharon và Khua trợ giúp.
Và Mosê đã đủ sức liên lỉ cầu nguyện “cho đến khi mặt trời lặn”...
Nhờ Mosê đã liên lỉ “kêu cứu với Người…”. Thiên Chúa đã không “bắt họ phải chờ đợi mãi”… Và Ngài đã “mau chóng” cho Israel cất tiếng hát khúc khải hoàn ca.


Một phút suy tư…
“Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí”(Lc18,1).
Chúng ta thường hay nản chí khi cầu nguyện; phải chăng là vì lời cầu nguyện của chúng ta không có sự hồi âm ! Lời cầu nguyện của chúng ta không có sự hồi âm; phải chăng là vì chúng ta chưa đủ nhẫn nại đợi chờ !
Sự nhẫn nại đó không tự nhiên mà tới. Chúng ta phải “vật lộn”… Vâng, như một trận “boxing” chúng ta phải chiến đấu để dành giật lấy nó.
Giacop trước khi được “chúc phúc”; ông ta đã phải chiến đấu, đã phải “vật lộn” với Thiên Chúa suốt cả đêm. Kinh Thánh thuật lại rằng : “Có một người vật lộn với ông cho tới lúc rạng đông” (Stk 32, …25).
Cuộc sống Kitô hữu của chúng ta cũng luôn phải “vật lộn” với những cơn-đau-tinh-thần; cơn đau của sự thất vọng và bội phản… Và cả những cơn-đau-của-thể-xác, cơn đau của bệnh tật, của mất mát người thân… những cơn đau của sự bất trung; bất tín…
Giacop đã chiến thằng bằng sự nhẫn nại. Giacop biết rằng người vật lộn với mình không ai khác chính là Thiên Chúa. Vì thế dù “khớp xương hông của ông bị trật đang khi ông vật lộn với người đó”. Nhưng Giacop vẫn kiên trì chiến đấu. Sự kiên trì chiến đấu của ông không ngoài mục đích là “đòi” cho được lời chúc phúc từ nơi Thiên Chúa. Ông đã lớn tiếng nói rằng : “Tôi sẽ không buông ngài ra, nếu ngài không chúc phúc cho tôi”(Stk 33,…27).
Là một Kitô hữu chúng ta có kinh nghiệm gì trong đời sống cầu nguyện ! Chúng ta cũng sẽ như Giacop “không buông Chúa ra” khi đứng trước sự tuyệt vọng ! Chúng ta cũng sẽ cất tiếng nói rằng : “Con sẽ không buông Ngài ra, nếu Ngài không chúc phúc cho con” !
Thánh Augustin có nói : “Niềm tin làm phát sinh cầu nguyện, và cầu nguyện một khi đã phát sinh sẽ đem lại chắc chắn trong niềm tin”.
Khi chúng ta đã “chắc chắn trong niềm tin” và luôn kiên trì trong sự cầu nguyện thì dẫu cho “Con Người ngự đến” cách bất ngờ; trong khi các người nữ đồng trinh đi đón Ngài còn ngủ mê; chúng ta vẫn có thể dõng dạc lớn tiếng ca ngợi Thiên Chúa rằng : “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22,…20).

Petrus.tran   

Thứ Bảy, 9 tháng 10, 2010

Tâm tình TẠ ƠN...

                  tâm tình tạ ơn…

“Con hủi… đồ hủi” là một từ ngữ thể hiện hàm ý khinh miệt, ghê sợ  chỉ người bệnh hủi và nghe có vẻ hơi lạ với nhiều người. Nhưng khi nói bằng từ ngữ “bệnh phong hủi” chắc hẳn ai cũng có thể mường tượng ra căn bệnh đó.
Người bị bệnh phong hủi da thịt thường phát nhọt và lở loét. Khi chuyển nặng vết thương lỏm vào da thịt. Trên khuôn mặt, lông mày rụng kèm theo là mắt lộ ra, thanh quản bị lở nên giọng nói trở nên khàn khàn. Tình trạng mất cảm giác xuất hiện ở một vài bộ phận trên cơ thể do dây thần kinh bị nhiễm trùng. Các bắp thịt tiêu dần đi, gân cốt co làm cho hai bàn tay co lại. Ở mức độ nặng ngón tay và ngón chân rụng.
Xã hội thời xa xưa thường xa lánh và kỳ thị những người mắc bệnh phong hủi. Đã có thời người bệnh phong phải chịu  nhiều luật lệ khắt khe như thả trôi sông, chôn sng, bỏ vào rừng cho thú dữ ăn thịt. Vì thế khi một ai đó mắc bệnh, chỉ có nước bỏ làng ra đi, ở lại cũng không ai chứa chấp, không ai quan hệ… 
………………
Israel thời Cựu Ước cũng có luật lệ riêng cho những người bệnh phong hủi. Những luật lệ đó cũng không kém phần khắc nghiệt. Khắc nghiệt ngay từ “khâu chẩn bệnh”… Nếu một người bị nhọt, lác, đốm, ung, phỏng, lang ben, sói đầu v.v… mà các vết thương đó “cứ loang ra” trên cơ thể... “Tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế: đó là bệnh phong”(Lêvi 13,7).
Một đạo luật đã được các Tư tế đặt ra : “Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xoã tóc, che râu và kêu lên: "Ô uế! Ô uế!" .Bao lâu còn mắc bệnh, thì nó ô uế; nó ô uế: nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại”(Lêvi 13, 45-46).
Nói chung, đối với xã hội thời xa xưa; cả ở phương Tây lẫn phương Đông… người bệnh phong hủi bị ghẻ lạnh, kỳ thị và xa lánh…
Ấy vậy mà !!! Vâng, vậy mà !!! Có một người đã làm thay đổi một định kiến thâm căn cố đế như thế… Người đó chính là Đức Giêsu Kitô.
……………..
Chuyện là thế này. Khi còn tại thế; trong một dịp Đức Giêsu lên Giêrusalem. “Lúc Người vào một làng kia, thì có mười người phong hủi…”. Theo luật định họ “phải ở riêng ra”; phải la lớn lên rằng : “Ô uế ! Ô uế !” để mọi người tránh xa.
Thế nhưng, có lẽ vì nghe đồn rằng; cách đây không lâu;  Đức Giêsu đã cứu chữa một người cũng mắc bịnh phong như họ bằng cách “Giơ tay đụng vào anh ta… Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi” (Lc 5,13). Chính vì nghe được tin đồn đó, nên hôm nay, khi biết Đức Giêsu “đi qua biên giới giữa hai làng Samari và Galilê”… Đạp-lên-luật-lệ; họ đi đến “đón gặp Người”.
Dù còn ở xa, họ không ngần ngại lớn tiếng kêu : “Lạy Thầy Giêsu, xin rủ lòng thương chúng tôi” (Lc 17,13). Có thể hình dung ra hình hài ghê tởm với tiếng kêu gào của họ thảm thiết đến mức nào. Và cũng có thể hình dung ra hình ảnh một Đức Giêsu động lòng thương xót họ ra sao.
Ngài không sợ lây bệnh. Vì thế; thay vì sai các môn đệ lớn tiếng mắng mỏ họ rằng “đồ hủi ! tránh xa ra !!!”. Đức Giêsu với ánh mắt cảm thông và trìu mến. Ngài không giơ-tay-đụng-vào-họ và cũng không truyền họ phải “đi tắm bảy lần trong sông Giodan” như trường hợp ngôn sứ  Elise; đã trị bệnh phong cho “tướng chỉ huy quân đội của vua Aram là ông Naaman” (2V5,1…10) bằng lệnh truyền đó…
Vâng, chỉ với một lệnh truyền rất phù hợp với truyền thống : “Hãy đi trình diện với các tư tế”. Và thật bất ngờ. Câu chuyện được kể tiếp rằng : “Đang khi đi thì họ được sạch” (Lc 17,14)…

Một chút tâm tình…  

Rất nhiều lần, sau mỗi phép lạ chữa lành. Thường thì người được chữa lành lẫn người chứng kiến đều khen ngợi Đức Giêsu và “Tôn Vinh Thiên Chúa”. Câu chuyện Đức Giêsu chữa người bại liệt là một ví dụ điển hình.
Thật vậy, ngay sau khi được Đức Giêsu chữa lành; anh bại liệt “vừa đi về nhà vừa tôn vinh Thiên Chúa”. Chẳng những thế; những người chứng kiến sự kiện vô tiền khoáng hậu đó cũng đều “sửng sốt và tôn vinh Thiên Chúa”(Lc 5,25-26).
Thật đáng tiếc ! “Mười người phong hủi” sau khi được chữa lành, chỉ có một người “thấy mình được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa” (Lc 17,15).
“Thế thì chín người kia đâu ?”… Chắc họ còn phải “trình diện tư tế” theo đúng luật. Chắc họ còn phải gặp tư tế để : ‘làm lễ tạ tội và… cử hành lễ xá tội (để được) thanh tẩy khỏi sự ô uế, sau đó sẽ sát lễ vật toàn thiêu… Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho nó và nó sẽ thanh sạch” (Lv 14, 19…20). 
Trách rằng “chín người” trong bọn họ “vô ơn” ư !!! Họ “vâng lời” Đức Giêsu mà đi “trình diện tư tế” kia mà !!! Thế nhưng, chính… chính việc đi trình-diện-tư-tế nên hành động đó tố cáo rằng họ là kẻ vô ơn…
Thật vậy, là người Do Thái, họ rành “sáu câu” về Kinh Thánh. Họ thuộc nằm lòng luật “Lêvi” dành cho người bị phong hủi. Thế mà họ quên hoặc chưa bao giờ đọc sách “Các Vua” !!!
Sách các vua kể lại rằng : khi bị vua Aram “ép” phải chữa bệnh phong cho quan Naaman. Vua Israel “xé áo mình ra và nói : Ta đâu có phải là vị thần cầm quyền sinh tử, mà ông ấy lại sai người này đến nhờ ta chữa hắn khỏi bệnh phung hủi” (2V 5, …7).
Đối với quan niệm Do Thái xưa; chữa lành khỏi bệnh phong được coi như là sự Phục Sinh từ cõi chết... Và  người ta chỉ có thể chờ mong Thiên Chúa làm điều đó.
“Thần cầm quyền sinh tử” là ai nếu không phải là Thiên Chúa !!!
Nếu… nếu “chín người kia” hiểu được điều đó và quay lại tôn vinh Thiên Chúa trước mặt Đức Giêsu trước khi gặp tư tế “tái khám” căn bệnh phong của mình... Vâng, họ đã không mắc nợ Ngài “một lời tạ ơn” !!!
Trở lại anh chàng “Samari” được cho là “người ngoại bang” nhưng lại nhận ra Đức Giêsu chính là “thần cầm quyền sinh tử”. Tuy trình thuật Luca không viết ra; nhưng chúng ta có thể nghĩ rằng; anh chàng phong hủi này trên đường quay trở lại tìm “Đức Giêsu mà tạ ơn”; chắc hẳn anh ta vừa đi vừa ca rằng : Chúa ơi ! Chúa ơi ! con người không đạo…  Nhưng tin Chúa giúp đời thương đau…” (trích đoạn nhạc phẩm : Trời chưa muốn sáng – tác giả Trần Thiện Thanh).
John Hery Jowett đã viết: "Lòng tin mà thiếu niềm tri ân là một lòng tin không có nghị lực. Tất cả những nhân đức bị tách biệt khỏi lòng biết ơn đều trở nên tàn tật khập khiễng trên con đường thiêng liêng".(nguồn internet).
Tông đồ Phao lô cũng có lời khuyên: “Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu.” (1Tx 5, 16-18).

 Một phút suy tư…
“Thế thì chín người kia đâu ?” Vâng, là một Kitô hữu; phải chăng câu hỏi này cũng rất phù hợp đối với chúng ta hôm nay ???
Được “rửa tội” khi vừa tròn tháng tuổi; có khác nào chúng ta được sạch khỏi “bệnh phong tổ tông”… Cớ sao khi trưởng thành cũng là lúc ý thức được hồng ân làm con Thiên Chúa; thay vì “quay trở lại ngôi thánh đường” tôn vinh Đức Chúa Trời; chúng ta lại “trình diện satan và những sự cám dỗ của nó”!!!
Tại sao chúng ta sợ “vi khuẩn bệnh than”… Sợ vi khuẩn Hansen… Sợ phong cùi thể xác… Thế mà lại không sợ “vi khuẩn dâm bôn… vi khuẩn phóng đãng, thờ quấy, vi khuẩn hận thù, bất hòa, ghen tuông, tranh chấp, tị hiềm, chia rẻ, bè phái, ganh tị, say sưa v.v…” là những loại vi khuẩn dẫn đến “phong cùi tâm linh” !!!
Hãy để cho tâm hồn lắng đọng và hãy tự hỏi rằng : những vi khuẩn kể trên có đang cư ngụ; đang đục khoét tâm hồn chúng ta khống ?
Nếu có… vâng, nếu có thì hãy đến với Đức Giêsu. Ngài vẫn đang có mặt nơi biên-giới-giữa “ngôi thánh đường” và “Gierusalem Thiên Quốc”. Ngài vẫn mời gọi chúng ta “Hãy đi trình diện tư tế”. Không phải tư tế theo “phẩm trật Aharon”, không phải “tư tế do Lề Luật quy định cha truyền con nối, nhưng do sức mạnh của một đời sống bất diệt” (Dt 7,16).
Vị tư tế đó chính là các Linh Mục mà chúng ta quen gọi một cách thân thương là “Quý Cha”…  Với “Dapsone-Giải tội”… với “Rifarmpin và Clofazimine-Hòa giải”… Vâng, với quyền thay mặt Đức Giêsu Kitô ban “Bí Tích Giao Hòa”; vị “Tư tế-Linh Mục” đó sẽ chữa sạch bệnh-phong-tâm-hồn chúng ta. 
Chúng ta đã sẵn sàng “gặp các vị tư tế Linh Mục” để được cứu chữa ??? Chúng ta đã sẵn sàng để đón nhận lời Đức Giêsu nói – qua các Linh Mục – rằng : “Lòng tin của anh đã cứu chữa (bệnh phong tâm hồn) anh” !!!
Nếu chúng ta đã sẵn sàng… Hãy cùng nhau quay-trở-lại-ngôi-thánh-đường-và-lớn-tiếng “Tạ Ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta”. Vâng, vì điều đó “Thật là chính đáng”…
Petrus.tran

Thứ Ba, 5 tháng 10, 2010

MARIA... người Mẹ đáng kính của chúng ta.

“Lần hạt Mân Côi”… Vâng, khi lần hạt Mân Côi; phải chăng chính là lúc chúng ta “đổ tràn đầy nước vào cái chum tâm hồn” của mình những lời ăn năn thống hối; những lời cầu nguyện xin ơn và những lời tán dương chúc tụng Thiên Chúa !!!



********************

Đức MARIA…người Mẹ đáng kính của chúng ta.


Phụng vụ Thánh Lễ được chia theo mùa trong năm. Ngoài những mùa đặc biệt như “Mùa Vọng & Mùa Giáng Sinh” kế đến là “Mùa Chay & Mùa Phục Sinh”. Phụng Vụ Thánh Lễ còn có Mùa Thường Niên.
Trong mùa-thường-niên Giáo Hội ấn định một số lễ riêng biệt để mừng các Thánh Bổn Mạng, các Thánh Tử Đạo hoặc các Thánh nam nữ. Nhưng đặc biệt hơn hết Giáo Hội đã dành riêng một số ngày để kính nhớ một cách kính trọng về Đức Maria.


Có thể nói rằng Đức Maria là nhân vật được kính trọng một cách đặc biệt của Giáo Hội Công Giáo.


Vì sao Giáo Hội lại kính trọng Đức Maria như thế !!!


Hãy trở về Palestina cách đây hơn hai ngàn năm của lịch sử Kitô giáo; và hãy lược qua ba mươi ba năm cuộc đời Đức Giêsu…


Từ “thành Galilê, gọi là Nazareth ”. Sứ thần của Thiên Chúa đã cho chúng ta thấy được dung nhan một cô “trinh nữ tên là Maria”.
“Maria” tên nàng đã đi vào “Lịch Sử Cứu Độ”. Ba mươi ba năm nghiệt ngã; khởi đầu là cuộc gặp gỡ với Gapriel – vị sứ thần của Thiên Chúa đã loan báo rằng : “Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu”(Lc 1, 31). Chín tháng cưu mang với nhiều biến động trong cuộc đời. “Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ” đã được sinh ra tại Belem miền Giuda”. Chính nơi đây lịch sử cứu độ được hình thành. Hình thành do bởi lòng tin và lời “xin vâng” của cô thôn nữ tên Maria. “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như sứ thần nói” (Lc 1, 38).
“Maria” nàng không còn là một nàng thôn nữ… Nàng đã trở thành Đức Maria - Mẹ Chúa của muôn dân - như lời tán dương chúc tụng của bà chị Elizabeth : “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này”(Lc 1,42-43).
Đức Maria – có thể nói rằng – kể từ đó đã gắn chặt cuộc đời mình với Đức Giêsu. Hãy nhìn xem những gian truân của Đức Maria từ Belem cho tới đồi máu Golgotha … Ai… ai là người duy nhất bên Đức Giêsu nếu không phải là Đức Maria !!!
Chiều Golgotha… một chiều hoàng hôn tím ! “Đứng gần thập giá Đức Giêsu có thân mẫu người” (Ga 19,25). Lịch sử cứu độ đã hoàn thành. Một Đức Maria chính là nhân chứng. Nhân chứng của sự “thủy chung”…


Từ lòng tin vào Thiên Chúa dẫn đến lời xin vâng và kết thúc là sự thủy chung bên Đức Giêsu; cho tới khi Ngài trút hơi thở cuối cùng… Vâng, hỏi sao Giáo Hội không kính trọng Đức Maria cho được !!!


Hơn nữa sự kính trọng Đức Maria không chỉ nằm ở những nhân đức và sự thánh thiện của Mẹ; mà còn ở chỗ Đức Maria là Mẹ Giáo Hội và là Mẹ của mỗi chúng ta.



Một chút tâm tình…


“Đức Maria… Người Mẹ của Giáo Hội và là Mẹ đáng kính của mỗi chúng ta”.


Nhân chứng sống động cho lời tín thác trên chính là Đức Maria và tông đồ Gioan. Thánh Gioan đã thuật lại rằng : “Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng :Thưa Bà, đây là con Bà. Rồi người nói với môn đệ : Đây là Mẹ anh. Kể từ giờ đó, người môn đệ rước Bà về nhà mình” (Ga 19,26-27).


Một khi chúng ta tin vào Đức Giêsu và là môn đệ của Ngài, thiết tưởng chúng ta cũng sẽ không có vấn đề gì khi gọi Đức Maria là Mẹ Giáo Hội và cũng là Mẹ của mỗi chúng ta.


Đừng ngần ngại mà không gọi Đức Maria là Mẹ… “Mẹ của tôi” Và cũng đừng chần chờ mà không thực thi những lời Mẹ khuyên răn…


Hãy nhìn những gia nhân trong bữa tiệc cưới ở Cana . Họ nghe lời Đức Maria dạy bảo. Nhờ thế; họ đã “cứu một bàn thua trông thấy” cho đôi tân lang và tân nương.


Chuyện là thế này… Tiệc chưa tàn mà lại “thiếu rượu”. Sau một cuộc trao đổi ngắn với con mình là Đức Giêsu. Đức Maria nói với các gia nhân : “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo…”


Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng biết rằng; kết thúc câu chuyện này có hậu. Thật vậy, đó là một phép lạ, và cũng là phép lạ đầu tiên Đức Giêsu làm. Sáu chum đá được các gia nhân “đổ đầy nước vào tới miệng chum”… Kết quả là “nước đã hóa thành rượu” mà lại là “rượu ngon” nữa chứ ! (Ga 2, 10)…





một phút suy tư
Hôm nay Đức Maria đã về trời không còn cư ngụ giữa chúng ta. Nhưng có phải vì thế mà Mẹ không thể khuyên dạy chúng ta ???


Thưa không. Đức Maria vẫn dạy dỗ chúng ta qua những gì đã được chép lại trong Kinh Thánh. Thật vậy, lòng tin cùng với sự khiêm nhường và lời xin vâng; chắc chắn là điều mà Đức Maria : “vẫn hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,…51).


Vâng, nếu Mẹ không nói ra cho các môn đệ nghe và các môn đệ không nói lại cho Luca biết; thì làm sao thánh sử có thể truyền bá lại những nhân đức của Mẹ để hậu thế noi theo !!!


Sẽ là thiếu xót nếu chúng ta không nhắc lại những điều Đức Maria trực tiếp dạy dỗ khuyên răn chúng ta qua những lần Mẹ hiện ra trong thế kỷ trước. Khi thì Mẹ hiện ra ở Lộ Đức 1858; khi ở Fatima năm 1917 và nhiều nơi trên thế giới. Trong đó có La Vang Việt Nam năm 1798….


“Hãy ăn năn đền tội. Tôn sùng Mẫu tâm. Siêng năng lần hạt Mân Côi”… Đó… đó chính là những gì Đức Maria đã khuyên răn.


“Lần hạt Mân Côi”… Vâng, khi lần hạt Mân Côi; phải chăng chính là lúc chúng ta “đổ tràn đầy nước vào cái chum tâm hồn” của mình những lời ăn năn thống hối; những lời cầu nguyện xin ơn và những lời tán dương chúc tụng Thiên Chúa !!!


Thật vậy, có gì tốt hơn khi nhớ lại hình ảnh Đức Giêsu trong vườn cây dầu “lo buồn đổ mồ hôi máu”; chúng ta hãy khẩn khoản “xin cho được ăn năn tội nên”…


Có gì tốt hơn khi nhớ lại biến cố “Đức Mẹ đi viếng Bà Isave” chúng ta hãy cầu xin “cho được lòng yêu người”…


Và khi suy tư về việc “Đức Chúa Trời thưởng Đức Mẹ trên trời” có gì ngăn cản chúng ta xin “Đức Mẹ phù hộ cho chúng ta được thưởng cùng Mẹ trên nước Thiên Đàng”…


Một trăm năm mươi kinh Mân Côi có khác nào một trăm năm mươi Thánh Vịnh sám hối, xin ơn và tán tụng hồng ân Thiên Chúa…


Vâng, đừng chần chờ gì nữa; hãy thực thi lời khuyên của Mẹ Maria mà cùng nhau đồng tâm nhất trí; cất cao lời hát dâng lên Mẹ : “Một tràng hoa Mân Côi hương thơm ngào ngạt thắm ân tình. Từng lời kinh sốt mến xin dâng về Nữ Vương hiển vinh”.Amen.


SAIGON – 10.2010 - THÁNG MÂN CÔI.
Petrus.tran

Thứ Bảy, 25 tháng 9, 2010

VÔ CẢM...

ĐỪNG VÔ CẢM…

“Thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ;
Tuổi ấu thơ đã mang nhiều âu lo
 …………

Cuộc sống đói rach bơ vơ;
Hỏi ai ai cho nương nhờ !!!
Chuỗi ngày tăm tối bơ vơ…”

Có lẽ ai trong chúng ta đều nhận ra những lời ca trên được trích trong nhạc phẩm “NÓ” của tác giả Anh Bằng. Và khi nghe nhạc phẩm này, chắc hẳn mỗi chúng ta đều cảm nhận được nỗi khó nghèo của một cậu bé mồ côi mẹ.

“Giàu-nghèo” đúng là chuyện muôn thuở trên trái đất này. Và có vẻ như khoảng cách giữa “giàu nghèo” như mỗi ngày một được nhân rộng. Thật đáng buồn; đang khi nhiều nơi trên thế giới có rất nhiều người “một chén cơm chiều nhưng lòng chưa no”… Thì ngược lại, nơi phương trời Âu Mỹ, tỷ phú người Nga Abramovich đã chi hơn 52.000 USD, bằng với thu nhập cả năm của một người dân ở nước giàu, chỉ để “xơi” một bữa ăn trưa.(nguồn internet). Quả là đúng với câu tục ngữ xưa : “Kẻ ăn không hết, người lần không ra” !!!
……………
Palestin cách đây hơn hai ngàn năm; trong thời Đức Giêsu Kitô còn tại thế; cũng không thiếu những cảnh đời ngang trái nêu trên.

Ba năm thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng. Đức Giêsu đã cảm nhận được điều này. Ngài đã từng chứng kiến nơi Đền Thờ “có lắm người giàu” và ngược lại cũng có nhiều người nghèo; nghèo đến độ chỉ có “hai đồng tiền kẽm” dính túi. (Mc 12,41-42)…

Và quả thật đã có những người, có “rất nhiều của cải” nhưng lại không dám “bán những gì (họ) có mà cho người nghèo”… Đó là trường hợp anh chàng thanh niên giàu có muốn đi theo Đức Giêsu. (Mc 10,17-22).

Không chấp nhận sự “vô cảm” nơi một số người giàu có; Đức Giêsu trong một lần giảng thuyết; Ngài đã dạy cho họ một bài học qua dụ ngôn : “ông nhà giàu và anh Lazaro nghèo khó” (Xem Luca 16, 19-31).

Ông nhà giàu và chàng Lazaro nghèo khó tuy “rất gần mà lại xa”!!! Vâng, họ rất gần nhau; chỉ cách “một cái cổng nhà”… Như lại rất xa; xa bởi chính “sự-vô-cảm” nơi ông ta.

Sự vô cảm đó khiến ông ta chỉ quan tâm tới việc “ăn mặc” và “ngày ngày yến tiệc linh đình”… Còn chàng Lazaro nghèo khó : “mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng nhà của ông” thì ông ta phớt lờ !!!

Kệ ! đã có “mấy con chó… đến liếm ghẻ chốc anh ta” là tốt rồi !!!

Kết thúc câu chuyện là một sự đảo ngược. Ông nhà giàu lại là kẻ mong Lazaro “đừng-vô-cảm” trước sự đau khổ của ông ta !!!

Vâng, trước kia thì Lazaro “thèm những thứ trên bàn ăn của ông rớt xuống mà ăn cho no”… Thì hôm nay ông “thèm” được Lazaro : “nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi (ông) cho mát, vì ở đây (ông) bị lửa thiêu đốt khổ lắm” (Lc 16, 24).

Qua dụ ngôn trên; Đức Giêsu đã hé mở cho mọi người thấy rằng : “sự-vô-cảm” trước những người nghèo khó sẽ dẫn con người đi về đâu !!!

Đó chính là : “Dưới âm phủ” (Lc 16, 23)...

Một chút tâm tình…

Giàu có không phải là một cái tội. Câu chuyện dụ ngôn trên không thấy một câu hay một chữ nào Đức Giêsu lên án về việc “giàu có” của ông nhà giàu.

Trái lại “giàu có” là ơn phúc Chúa ban. Kinh Thánh đã mô tả Đức Chúa đã ban cho ông Gióp giàu sang như thế nào. Ông ta có : “một đàn súc vật bảy ngàn chiên dê, ba ngàn lạc đà, năm trăm đôi bò, năm trăm lừa cái”. Chính Xatan cũng phải công nhận Đức Chúa đã : “ban phúc lành cho công việc do tay (Gióp) làm, và các đàn gia súc của (Gióp) lan tràn khắp xứ” (G 1, 10).

Giàu có ư ! Hãy nghe lời khuyên của Tông đồ Phaolô : “Đừng tự cao tự đại, cũng đừng đặt hy vọng vào của phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng”(1Tm 6,17). Thánh nhân thêm một lời khuyên rằng : “Phải làm việc thiện và trở nên giàu có về các việc tốt lành, phải ăn ở rộng rãi, sẵn sàng chia sẻ. Như vậy (sẽ) tích trữ cho mình một vốn liếng vững chắc cho tương lai”. Và nhất là : “để được sự sống thật”(1Tm 6,19).

Một phút suy tư…

Là một Kitô hữu; sẽ thật là tốt; nếu mỗi chúng ta sau khi đọc xong một dụ ngôn trong Kinh Thánh; hãy tự hỏi rằng : tôi-là-nhân-vật-nào-trong-dụ-ngôn-ấy !!!

Vâng, tôi là nhân vật nào trong dụ ngôn “ông nhà giàu và anh Lazaro nghèo khó” ?

Là vai ông nhà giàu ư !!! Hãy tạ ơn Chúa… Và đừng để mình mắc-bệnh-vô-cảm; mà cứ vô tư “sáng sáng shopping, đêm đêm yến tiệc linh đình”…

Trái lại, “Hãy rộng lượng với kẻ nghèo hèn, đừng chần chừ khi phải bố thí. Hãy đón tiếp kẻ khó nghèo, vì họ túng quẫn, đừng để họ ra về tay trắng” (Hc 28, 8-9).

Hãy nhớ rằng, nếu chúng ta : “Theo lệnh Đấng Tối Cao mà sử dụng của cải, việc đó còn ích lợi cho (ta) hơn cả vàng” (Hc 28,11).

Vâng, chỉ khi thực thi trọn vẹn những lời dạy dỗ trên, chắc chắn sẽ không còn “vực-thẳm-lớn” nào ngăn cách người giàu và kẻ nghèo “đến nỗi bên này muốn qua bên (kia) cũng không được, mà bên đó có qua bên (đây) cũng không được” (Lc 17, …26).

Có một điều phải thừa nhận rằng; thường thì chúng ta quá chú trọng đến sự “đói-nghèo-thuộc-thể” hơn là “đói-nghèo-thuộc- linh”…

Chúng ta “đói nghèo thuộc thể ư” ! Hãy mở Kinh Thánh ra và hãy nghe lời hứa của Đức Giêsu : “Thầy bảo cho anh em biết : đừng lo cho mạng sống : lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể : lấy gì mà mặc… Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Ngài” (Mt 6, 25…33).

Vua David cũng có một lời khuyên rằng : “Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay” (Tv 37, 5).

Vâng, vấn đề là chúng ta hãy sợ mình là một người “nghèo-khó-thuộc-linh”… Một người suốt cả cuộc đời này; cuộc đời Kitô hữu; chỉ “đứng-ngoài-cổng-nhà-thờ” và luôn “đói khát… Lời Đức Chúa” (Amos 9,11) thì làm sao “đời sau” có thể được ở “trong lòng tổ phụ Apraham” được !!Đức Giêsu không phải là ông nhà giàu trong dụ ngôn trên. Ngài không “vô cảm” trước sự nghèo-đói-thuộc-linh của chúng ta. Đức Giêsu luôn đứng trước “Ngôi-Nhà-Tạm-Thánh-Thể” với không phải là “những vụn bánh rơi vãi từ bàn ăn” mà chính là tấm bánh “Mình-Máu-Thánh” của Ngài.

“Hãy đến cùng Ta”. Vâng, Đức Giêsu luôn mời gọi chúng ta, với mong mỏi chúng ta hãy đến; để cùng được “Dùng bữa với Ngài” (Kh 3, 20)

Petrus.tran   



Thứ Năm, 23 tháng 9, 2010

Thư ngỏ...

But copy.jpgThân chào các BẠN sinh viên Công Giáo.
Hôm vừa qua, sau khi đọc xong bài cảnh báo về những website chống đối Đạo Công Giáo. Điển hình như trang “sáchhiếm” và “giaođiểm”. Petrus.tran có đôi điều suy tư gửi đến các bạn.
Đúng là hai trang này chuyên đăng những bài mạ lỵ bôi xấu Đạo Công Giáo nói riêng và Kitô giáo nói chung. Ở trang này, họ tập trung nhiều cây bút sắc sảo chuyên bới móc, xuyên tạc những khuyết điểm thuộc lãnh vực con người của Giáo Hội.

Họ còn bẻ cong lời Kinh Thánh và trích dẫn lệch lạc để phê phán giáo lý Công giáo cũng như niềm tin vào Đức Giêsu, Mẹ Maria và các thánh.
Ngoài những cây bút không Công Giáo, họ còn thu nạp một số người Công Giáo bỏ Giáo Hội. Điển hình là một người có bút hiệu là Charlie Nguyễn.
Ông này là một người Công giáo và đã từng là một tu sĩ với chức Thày sáu. Chẳng hiểu có phải "vụng đường tu" hay là bất mãn gì đó với Giáo Hội, ông ta bỏ đạo và công kích Giáo hội qua nhiều bài viết của ông ta. Thật đáng tiếc “CharliE” yêu quí của ta đã về-với-Chúa rồi !!!
Thật ra thì không đợi những website trên bôi xấu Đạo Công Giáo. Hàng ngày chúng ta là những người theo Chúa vẫn luôn phải nghe rất nhiều lời công kích mạ lỵ trên truyền thông xã hội cũng như những người chung quanh ta.

Chắc hẳn các bạn cũng biết văn hào François-Marie Arouet triết gia người Pháp. Có bút hiệu là Voltaire. Qua những bài bình luận có tính châm biếm. - Voltaire thường chỉ trích Giáo hội và nhà nước Pháp. Ông được xem như một nhân vật có tiếng và quan trọng lúc sinh thời.
Phải nói rằng Voltaire là một cây bút xuất sắc trong vai trò chống đối Giáo Hội Công giáo thời bấy giờ. Ấy thế mà ông ta đã phải chết nhưng Giáo Hội Công Giáo vẫn không những tồn tại mà còn phát triển.
Gần đây nhất là Karl Marx. Nên nhớ rằng Marx là con một mục sư tin lành phái Luther. Không cần nói ra ở đây chắc các bạn cũng biết Marx ghét cay ghét đắng Jesus Christ của ông ta như thế nào.
Marx đã chết. Nếu Chúa cho Marx sống lại ngay bây giờ chắc hẳn ông ta rất buồn vì "tín đồ" của ông ta đã chôn vùi "cái gọi là thuyết marxis-vô thần" của ông ta đã được tròn 20 năm.
Còn Giêsu Kitô - Ngài vẫn tồn tại. Ngài vẫn là Thiên Chúa của tình yêu.
Rồi ở Việt Nam chúng ta. Trong cuối thế kỷ trước ; một trào lưu chống đối Công Giáo qua những tác phẩm văn học như « ruồi trâu.. ruồi bò » vớ vẩn gì đó v.v..

Vâng, tất cả những tác phẩm đó đã đi vào quên lãng.. Niềm tin Kitô giáo vẫn trường tồn.
Các Bạn SINH VIÊN CÔNG GIÁO thân mến.
Vào những website vớ vẩn đó, có chăng chỉ là thỏa một chút tò mò ; chứ ở đó cùng lắm chỉ để lại nơi chúng ta sự bực bội về một lối trình bày quan điểm tôn giáo thiếu khách quan, không trung thực và nhất là có tính cách gây chia rẽ tôn giáo.
Chắc hẳn các BẠN đồng ý rằng : chúng ta không cần tranh luận với những loại người chỉ biết nhìn cọng-rác nơi mắt người khác mà giả vờ quên « cây-xà-gồ » ngay trong đôi mắt của mình.
Chúng ta đừng quên sự im lặng của Đức Giêsu Kitô – Thầy Chí Thánh – trước mặt quan lớn Philatô ! Vì thế không cần quan tâm đến họ hoặc tranh luận với họ làm gì !

Đôi lời chia sẻ với các BẠN. Hãy vui mừng và tạ ơn Chúa vì Ngài đã : « Mặc lấy xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta » (Ga 1,14). Nguyện xin ơn phước và sự bình an của Chúa luôn ở cùng với các BẠN.
petrus.tran

Thứ Bảy, 18 tháng 9, 2010

Phải lựa chọn...

                  PHẢI LỰA CHỌN…                 
Cuộc sống của một đời người luôn phải đối diện nhiều lựa chọn. Có những lựa chọn dẫn ta đến niềm vui và hạnh phúc trong cuộc sống. Có những lựa chọn đẩy ta rơi xuống vực thẳm hố sâu của cuộc đời. Chính vì thế mỗi khi phải đứng trước một lựa chọn; ai trong chúng ta lại không khỏi băn khoăn và trăn trở…
Ba năm rao giảng Tin Mừng – Đức Giêsu cũng đã chứng kiến nhiều trường hợp băn khoăn và trăn trở như được nêu ở trên. Đã có rất nhiều người; ngưỡng mộ trước những lời giảng dạy và kinh ngạc về những phép lạ Đức Giêsu đã làm; họ “xin đi theo Ngài”…
Thế nhưng, sự lựa chọn của họ luôn bị cản trở bởi nhiều băn khoăn và trăn trở rất đời thường. Khi thì từ phía gia đình. Như trường hợp một người lựa chọn đi theo Đức Giêsu nhưng lại băn khoăn về việc làm sao “chôn cất cha tôi” (Lc 9,60).  Khi thì sợ phải từ bỏ tiền bạc của cải. Đó là trường hợp người thanh niên có nhiều của cải. Anh ta dù rất “muốn nên hoàn thiện” nhưng lại ngần ngại trước lời đề nghị của Đức Giêsu rằng : “Hãy bán đi tài sản của anh và đem cho người nghèo… Rồi hãy đến theo Ta” (Mt 19, 21-22).
Với các môn đệ; Đức Giêsu cũng đã “biết điều các ông tự hỏi trong lòng” về những băn khoăn và trăn trở khi đã lựa chọn đi theo Ngài. Khi thì các ông đã băn khoăn về ngôi thứ “Ai sẽ là người lớn nhất”. Khi thì các ông trăn trở về vị trí “được ngồi bên tả, bên hữu Thầy”…     
Có vẻ như các ông đã quên những lời dạy dỗ của Đức Giêsu : “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình” (Lc 9,23). Và rằng : “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 14,11).
Để cho các ông biết rõ người môn đệ khi đã lựa chọn đi theo Ngài thì phải làm gì ? Đức Giêsu tuyên bố : “Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết… (rằng) Anh Em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền bạc được” (Lc 16,…13).
Phải lựa chọn ! Vâng, phải-lựa-chọn… “Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia” (Lc 16,13).
     Một chút tâm tình…
Đưa ra lời dạy dỗ trên; Đức Giêsu đồng thời đã dùng dụ ngôn “người quản gia bất chính” như để làm sáng tỏ cho những điều Ngài dạy dỗ.
Thật vậy, một người đã “làm tôi hai chủ” làm sao họ có thể “trung tín” trong công việc chủ đã giao phó. Dù là trung tín “trong-việc-rất-nhỏ”…
Khi đã làm-tôi-hai-chủ; cũng không chắc lắm họ sẽ “ghét chủ này và yêu chủ kia”. Chín mươi chin phần trăm họ sẽ “phung phí của cải” của cả hai ông chủ của mình…
Khi Đức Giêsu nói : “Nếu anh em không trung tín trong việc sự dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em ?”. Và rằng : “Nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em” (Lc 16,11-12).
Vâng, hai câu nói trên không chỉ “cảnh tỉnh” cho mọi người chớ- có-dại-làm-tôi-hai-chủ mà còn cho mọi người thấy rằng “nằm mơ” cũng không thấy Đức Giêsu tán đồng cho phép dùng dụ ngôn “người quản gia bất lương” này như một mẫu gương; hay Ngài cho phép người môn đệ làm điều bất chính, gian lận…      
Điều Đức Giêsu muốn dạy dỗ chính là “lòng trung tín” của người môn đệ. Và một khi đã lựa chọn theo Chúa thì đừng vấn vương những gì thuộc trần thế…
Vâng, hãy nhớ lời Đức Giêsu đã nói : “ Của cải các con ở đâu, thì lòng các con cũng ở đó."(Mt 6,21).
       Một phút suy tư…       
 Là một Kitô hữu; chúng ta hiểu thế nào là “làm-tôi-hai-chủ ???”.
Mới hôm nao : “Quỳ bên nhau trước Đấng Tối Cao. Hứa yêu nhau trao câu thề chung sống trọn đời”… Rồi hôm nay, kẻ chán “cơm”… người thèm “phở”… Để rồi “tay đan tay nhịp bước (ra-tòa) đời”… Vâng ! Phải chăng đó chính là hành động làm tôi hai chủ !!!
“Tâm” tôi đã lựa chọn sống đời sống tu trì; độc thân phục vụ; thế mà “hồn” tôi lại muốn đóng trọn vai “Ralph”… phải chăng đó cũng là một hình thức làm-tôi-hai-chủ !!!
Tuyên thệ giữ Mười điều răn Đức Chúa Trời, nhưng vẫn ủng hộ phá thai cách này cách khác; phải chăng đó cũng là một hình thức làm-tôi-hai-chủ !!!
Là một Kitô hữu; chắc chắn Đức Giêsu cũng khuyến cáo chúng ta rằng : “(Đừng) làm tôi hai chủ”… Bởi khi rơi vào trường hợp này ai mà không “gắn bó với chủ này mà khinh dể với chủ nọ” !!!
Một điều chắc chắn rằng - lúc đó - người chủ bị khinh dể chính là “Thiên Chúa”… Và phải chăng “khinh dể Thiên Chúa” chính là chối bỏ Ngài !!!
Hãy nhớ rằng; Tông đồ Phao lô đã nói  : “Nếu ta chối bỏ Ngài. Ngài cũng sẽ chối bỏ ta” (2Tm 2,…12).  
                                                                                          Petrus.tran

Thứ Bảy, 4 tháng 9, 2010

THẬP GIÁ và sự từ bỏ...

Thập giá và sự từ bỏ…



“Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14, 27).






Sau ba thập niên sống ẩn dật tại quê nhà Nazareth. “Đức Giêsu khởi sự rao giảng Tin Mừng khi Ngài trạc ba mươi tuổi” (Lc 3,23). Mở đầu cho sứ vụ; Đức Giêsu kêu gọi mọi người : “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4,17).


Sự xuất hiện của Đức Giêsu trước công chúng; lập tức trở thành một sự kiện. Và sự kiện này đã được “đồn ra khắp nơi trong vùng”…


Tiếng đồn như một vết dầu loang; loang ra khắp “miền Galilê, vùng Thập Tỉnh, Thành Giêrusalem, miền Giu-đê và vùng bên kia sông Giodan”… Người ta đồn rằng “Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền… Giáo lý thì mới mẻ; người dạy lại có uy quyền”. Một thứ quyền uy khiến cho cả đến thần ô uế cũng phải thét lên rằng : “chúng tôi can gì đến ông mà ông đến tiêu diệt chúng tôi” (Mc 1,24). Và kể từ đó, bất cứ nơi đâu Đức Giêsu xuất hiện rao giảng Tin Mừng; lập tức nơi đó “dân chúng lũ lượt kéo đến đi theo Ngài” (Mt 4,25).


Đi-theo-Thầy-Giêsu ! Có thể nói nó trở thành đề tài “nóng” được bàn luận khắp vùng Palestin. Trong ba năm thi hành sứ vụ; tất cả mọi người, bất luận là ai đến với Đức Giêsu; đều được Ngài mời gọi :“Hãy đến cùng Ta… Hãy theo Ta…”


Không thiếu những trường hợp cá nhân lẫn tập thể xin đi theo Đức Giêsu. Thế nhưng đôi lúc động lực xin đi theo của họ không phù hợp với sứ mạng mà Ngài loan báo…


Có người muốn theo Đức Giêsu để mong sao được Ngài “hóa bánh ra nhiều để được ăn bánh no nê” !!! Có người muốn trở thành môn đệ của Ngài để mong được “ngồi bên hữu; ngồi bên tả Thầy” trong vinh quang !!!


Ôi ! Tệ thật !!! “Các anh không biết các anh xin gì !” Đức Giêsu nói tiếp rằng : Sứ mạng của Thầy chính là : “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết…”(Lc 9,22). Chết trên Thập giá !!!


Trong một dịp “có rất đông người cùng đi”với mình. Đức Giêsu nhân cơ hội này đã phá tan những suy nghĩ lệch lạc của họ bằng lời khẳng định rằng : “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi., thì không thể làm môn đệ tôi được”. Ngài nói tiếp : “Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được”(Lc 14,33)..


Một chút tâm tình…


Đây không phải là lần đầu tiên Đức Giêsu nhấn mạnh đến thái độ và lập trường của người môn đệ muốn đi theo Ngài.


Muốn đi theo Đức Giêsu; điều thứ nhất và quan trọng nhất đó là : phải có thái độ dứt khoát. Ngài đã nói : “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đằng sau thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa” (Lc 9,62).


Khi nói “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được”. Vâng, khi nói lên điều này; Đức Giêsu không tự tạo ra mâu thuẫn giữa lời kêu gọi với điều răn thứ tư “Hãy thảo kính cha mẹ” !!! Văn chương Cựu ước của Israel không có kiểu nói so sánh hơn hay kém.


Thực ra, Đức Giêsu; khi nói như thế; Ngài muốn đặt ra một bậc thang giá trị cho một chọn lựa.


Muốn là môn đệ của Đức Giêsu ư !!! Phải đặt Chúa lên hàng ưu tiên số một trong bậc thang giá trị của con người.


Đức Giêsu đã nói : ‘Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10,37).


Một phút suy tư…


“Thập giá và sự từ bỏ”. Đó … đó chính là hành trang cho những ai muốn đi theo Chúa để trở thành môn đệ của Ngài.


Có quá khó để có thể “vác thập giá mình” và “từ bỏ hết những gì mình có” !!!


Tạ ơn Chúa. Thánh Phanxico Assisi đã cho chúng ta lời khuyên rằng : “Phải sống theo mẫu mực Phúc Âm” (DC 14). Chuyện được kể lại rằng : Khi Bernado di Quintavalle, là luật gia và cũng là người môn đệ đầu tiên; đến với Phanxico và hỏi Ngài rằng; phải làm gì. Thánh nhân đã trả lời rằng : “Ngày mai chúng ta sẽ vào nhà thờ; mở sách Phúc Âm và chúng ta sẽ cầu xin Chúa Kitô ban cho lời khuyên” (2 Cel. 15).


Anh Cả Phêrô cũng đã nói rằng : “Như trẻ sơ sinh, anh em hãy khao khát sữa tinh tuyền là Lời Chúa, nhờ đó anh em sẽ lớn lên để hưởng ơn cứu độ”(1Pr 2,2).


Trở lại câu chuyện thánh Phanxico Assisi. Điều gì đã khiến từ một “Francis nổi tiếng trong vòng bạn bè nhờ tửu lượng cao và giao du rộng, đa phần là với con cái của giới quý tộc” thành một “Khí cụ bình an của Chúa” !!!


Xin thưa chính là Ngài đã “bước đi theo Đức Giêsu Kitô”. Từ bỏ mọi sự và “dâng thân mình… vác thánh giá Người. Và bước tới cùng theo thánh chỉ Người ban” (Kinh vượt qua).


“Thánh chỉ Người ban”… phải chăng chính là Lời Chúa trong Kinh Thánh !!!


“Bước tới cùng” theo Lời Chúa dạy; phải chăng là sống nghèo khó, khiêm hạ, “sẵn sang hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu” !!!


Sống đời sống khiêm hạ, khó nghèo như Đức Giêsu; phải chăng chính là lúc được “nên một” trong Chúa !!


Khi đã được “nên một” với Chúa thì có khác nào – như lời thánh Phaolô nói – “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gal 2,20).


“Đức Giêsu sống trong tôi” thì thập giá của tôi phải chăng cũng là “thập giá của Chúa Giêsu” !!!


Một khi thập giá của tôi trở thành thập giá của Đức Giêsu… Vâng, khi đó chúng ta chỉ cần; như Simon người Kyrene; hạ mình xuống cùng vác thập giá với Ngài… Chắc chắn chúng ta sẽ có thể đi đến đích điểm của cuộc đời mình.


Thế nhưng, để có thể vác-thập-giá-mình đi đến đích điểm của cuộc đời, chúng ta đừng quên lời khuyên của thánh Phanxico : “phải sống mẫu mực theo Lời Chúa”…


Thật vậy, Vua thánh David đã nói : “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119, 105).


Petrus.tran















Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...