Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2011

"Via Dolorosa" - Đường Chúa đi qua.




Khi bình minh vừa ló dạng nơi chân trời. Cũng là lúc kinh thành Giêrusalem lại một phen náo loạn. Sự náo loạn diễn ra trong sân dinh quan tổng trấn. Hội Đồng Công Tọa đứng đầu là Cai-Pha “bàn kế hại Đức Giêsu, để xử tử Người. Sau đó, họ cho trói Người lại và giải đi nộp cho tổng trấn Philatô” (Mt 27, 1-2). Họ muốn quan tổng trấn mở phiên tòa xét xử Ngài.
….....................................

Vài hôm trước đó, nhóm thượng tế và Giuda Iscariot đã sắp đặt một kế hoạch truy bắt Đức Giêsu. Và hôm qua, khi những vệt nắng cuối cùng khuất hẳn bầu trời Giêrusalem. Một nhóm người được các thượng tế và kỳ mục sai đi truy nã Ngài.

Ánh đuốc bập bùng phá tan màn đêm vườn “Ghết”, nơi được cho là Đức Giêsu cùng các môn đệ của Ngài đang cầu nguyện. Tiếng vó ngựa, tiếng gươm giáo và gậy gộc va chạm đến rợn người. Vòng vây mỗi lúc một xiết chặt hơn.

Ghết-si-ma-ni như nổ tung lên khi Giuda Iscariot, một người trong nhóm mười hai, xuất hiện. Nụ hôn của Giuda chính là ám hiệu cho cuộc bắt bớ. Hắn đã nói với đồng bọn rằng : “Tôi hôn ai thì chính là người đó. Các anh bắt lấy.” (Mt 26, 48). Sự trang nghiêm của nguyện cầu bị phá vỡ khi Giuda xông đến hôn Đức Giêsu…

Ba năm công khai rao giảng Tin Mừng cứu độ. Đây không phải lần đầu tiên người ta tìm bắt Đức Giêsu. Đã nhiều lần người ta tìm cách giết Ngài, đe dọa và ném đá Ngài. Đức Giêsu đều tìm cách lánh đi. (Ga 8,59).

Nhưng hôm nay, tại vườn Ghếtsimani, Giêsu người Nazareth , Ngài đứng lặng “lòng xao xuyến bởi địch thù gào thét, bởi ác nhân hà hiếp”.(Tv 55).

Toán quân và viên chỉ huy cùng đám thuộc hạ người Do Thái ập đến bắt Đức Giêsu. Họ trói Ngài rồi điệu đến dinh thượng tế Caipha.

Họ bắt Ngài chỉ vì Ngài đã dám tuyên bố rằng “Tôi có thể phá Đền Thờ Thiên Chúa, và nội trong ba ngày sẽ xây cất lại” (Mt 25,61). Họ bắt Ngài chỉ vì Ngài nhìn nhận mình chính là “Đấng Kitô Con Thiên Chúa”.

Bảy mươi mốt thành viên Hội Đồng Công Tọa quá đỗi bất ngờ trước chiến tích của tên “nằm vùng” Giuda. Màn đấu tố Đức Giêsu suốt đêm tại dinh thượng hội đồng không làm họ mãn nguyện. Họ muốn tìm một sự hậu thuẫn từ quan tổng trấn Philatô.

Tại dinh quan tổng trấn. Philatô xuất hiện. Philatô lặng người khi nhìn thấy thân thể rã rời của Đức Giêsu sau một đêm bị những trận đòn tra tấn. Hình hài của Đức Giêsu, thật đúng như những gì ngôn sứ Isaia đã tiên tri : “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi người ta phỉ nhổ” (Is 50, 6).

Cuộc thẩm vấn “bỏ túi” giữa Philatô và Đức Giêsu diễn ra chóng vánh, trước mắt ông ta, Đức Giêsu “chẳng can tội gì đáng chết” (Lc 23,14).

Philatô, ba lần muốn phóng thích Ngài, nhưng cả ba lần ông ta đều được đáp lại bằng những tiếng gào thét man rợ của nhóm kỳ mục và đám đông dân chúng : “Giết ! Giết nó đi ! Đóng đinh nó vào thập giá”.

Phiên tòa bị nát vụn bởi sự nhu nhược của Philatô. Đức Giêsu,như bị bủa vây bởi sự hèn nhát của quan tổng trấn. Ông ta, chứ không ngoài ai khác, đã lộ tâm địa của một kẻ bàng quang. Qua việc “rửa tay”, ông phủi bỏ trách nhiệm của mình.

Dẫu biết chắc rằng các cáo buộc chống lại Đức Giêsu không đạt tiêu chuẩn của một cuộc điều tra tư pháp đúng luật lệ. Dẫu biết rằng, những lời chứng đều là “chứng gian” (Mt 26, …59). Thế nhưng, Philatô vẫn ngoảnh mặt làm ngơ trước “sự thật và công lý”. Trước tiếng gào thét cuồng nộ của đám đông. Philatô ngượng ngùng tuyên bố : “Mặc các ngươi liệu lấy !”. (Mt 27, 25)

một chút tâm tình................…

“Mặc các ngươi liệu lấy !” Chỉ với năm từ đó, quan lớn Philatô, một cách nào đó, đã đặt tay ký bản án tử cho Đức Giêsu. Giờ đây, Đức Giêsu “như chiên con bị dẫn đi làm thịt. Như chiên mẹ trước mặt thợ xén lông”(Isaia).

Một ngày nọ, khi Thầy và trò chuẩn bị vào Giêrusalem. Đức Giêsu đã nói với các môn đệ rằng : “Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ kết án xử tử Người, sẽ nộp Người cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá” (Mt 20, 18-19).

Và hôm nay, ngày thứ sáu trong tuần, trên con đường từ dinh quan tổng trấn đến đồi Golgotha . Tất cả những lời Đức Giêsu loan báo đều đã được ứng nghiệm.

Thân xác Đức Giêsu, sau những giờ phút bị bức cung, trông như “thân sâu bọ chứ người đâu phải” (Tv 22,7). Khuôn mặt Đức Giêsu đã từng biến hình sáng láng trên núi Tabor, giờ đây bị biến dạng bởi sự diễu cợt và nhạo báng của cả một cơ đội chuyên viên tra tấn.

Con đường Đức Giêsu vác thập giá đi qua, hôm nay quen được gọi là “Via Dolorosa” có nghĩa là “Con đường đau đớn”. “Con đường sầu thảm”.

Làm sao không đau đớn cho được ! Hãy nhìn Giêsu. Một Giêsu sức cùng lực kiệt với khuôn mặt rỉ máu bởi một vòng gai sắc nhọn ở trên đỉnh đầu. Với một đôi vai cong oằn trước sức nặng của cây thập giá...

Làm sao không sầu thảm cho được ! Hãy nhìn Giêsu. Ngài thật cô đơn. Thấy Ngài “ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai” (Tv 22, 8).

Làm sao không sầu thảm cho được ! Hãy nhìn Giêsu. Ngài thật cô độc. Các môn đệ của Ngài ở đâu ư !!! Mỉa mai thay ! Họ đã “bỏ Ngài mà chạy trốn hết.”(Mt 26,56).

Và cũng một ngày nọ, Đức Giêsu, một lần nữa nhấn mạnh rằng : “Con Người sẽ phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ mục, thượng tế cùng các kinh sư loại bỏ, bị giết chết” (Mc 8, 31).

Nhắc lại lời nói này để hiểu rằng, vì sao Đức Giêsu, dù đang phải “ôm vết thương rỉ máu*” nhưng Ngài vẫn “ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi**” tiến thẳng lên đồi Golgotha .

Và hơn nữa, khi nhắc lại lời nói này, chúng ta sẽ hiểu rằng, vì sao khi thấy một nhóm người phụ nữ “vừa đấm ngực vừa than khóc Người”, Đức Giêsu đã quay lại và cho họ một lời khuyên chân tình : “Đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu.” (Lc 23,28).

Các bà quên rằng, Đức Giêsu nếu muốn, Ngài đã có thể cầu xin Thiên Chúa Cha “cấp ngay cho (Ngài) hơn mười hai đạo binh thiên thần” để giải thoát Ngài.

Nhưng ! Vâng, “như thế, thì lời Kinh Thánh ứng nghiệm sao được ?”(Mt 26,54).

một phút suy tư…

Cách nay vài năm,(có lẽ là vào năm 2004), vào dịp mùa chay, rất nhiều nhà thờ Công Giáo chiếu bộ phim “The Passion Of The Christ” do tài tử kiêm đạo diễn Mel Gibson thực hiện.

Khi bộ phim được chiếu tới cảnh Đức Giêsu bị tra tấn, có nơi, hơn nửa nhà thờ òa lên khóc. Phần đông là quý bà và quý cô.

Cứ thử tưởng tượng. Nếu Đức Giêsu hiện ra làm phép lạ. Từ trong màn ảnh, Ngài bước ra đứng giữa mọi người và nói “Đừng khóc nữa ! Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” của quý vị đi !!!

Hôm nay, vẫn còn đó những tên Giuđa thời đại. Vẫn còn đó những tên “nằm vùng" trong Giáo Hội và sẵn sàng “chia rẽ” Giáo Hội. Đây là một nỗi buồn không của riêng ai. Thật phải đạo, nếu có khóc thì hãy khóc thương cho Giáo Hội của chúng ta. Và đừng quên hãy cùng với Đức Giêsu mà cầu nguyện rằng : “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Người bỏ rơi Giáo Hội chúng con”.

Hôm nay, trước một thế giới cổ vũ nền văn hóa của sự chết, một nền văn hóa phát triển tràn lan chủ nghĩa duy vật, duy hưởng thụ, duy khoái lạc và tục hóa. Có khủng khiếp không ! Bà Merian Clindon, trưởng đoàn Tòa Thánh, tham dự diễn đàn phụ nữ tại Bắc Kinh năm 1995, đã phát biểu rằng : “Một trong những dấu hiệu rõ ràng nhất trong nền văn hóa sự chết là con người không còn màng đến các giá trị đạo đức nữa. Quan hệ gia đình ngày càng mong manh. Tình mẫu tử bị kinh miệt. Trẻ em dành ít thì giờ cho cha mẹ và anh chị em hơn là màn ảnh truyền hình”… (trích nguồn : Vietcatholic).

“Con người không còn màng đến các giá trị đạo đức nữa”. Merian Clindon nói tiếp rằng : “nền văn hóa sự chết lại được thịnh hành hơn trong những thành phần ưu tú và lãnh đạo trong xã hội”. Những-thành-phần-ưu-tú-và lãnh-đạo-trong-xã-hội. Ôi ! nguy hiểm thay ! Đức Giêsu quả đúng khi nói, có khóc thì hãy “khóc cho con cháu” của chúng ta.

Chúa Nhật hôm nay, Phụng Vụ Lời Chúa đọc bài “Tưởng niệm cuộc thương khó của Đức Giêsu”.

Bài đọc có vẻ khá dài. Nó cũng dài như cuộc đời Kitô hữu của chúng ta hôm nay.

Bài đọc cho chúng ta thấy nhiều vấp ngã của các môn đệ. Nó cũng giống như những vấp ngã của chúng ta hôm nay.

Bài đọc cho thấy một Phêrô sau ba lần vấp ngã. Ông sực nhớ lời Đức Giêsu và ông đã “ra ngoài khóc lóc thảm thiết” (Mt 26,…75).

Vâng, hôm nay, có lẽ điều quan trọng hơn hết là chúng ta “hãy đấm ngực than khóc cho chính bản thân mình”.

Đã bao năm, “miệng tôi xưng Chúa nhưng lòng không có Ngài !?”

Đã bao năm, chúng ta vẫn cứ “đứng nhìn (Chúa) từ đàng xa” !? (Mt 27,, 55).

Chúa Nhật hôm nay còn được gọi là Chúa Nhật lễ lá. Mở đầu cho Thánh Lễ là cuộc rước lá long trọng và trang nghiêm. Một rừng người bước theo sau vị chủ tế mặc áo đỏ tượng trưng cho Chúa Giêsu. Mọi người cùng cất tiếng ca “Vang lời tụng ca… Hoan hô, hoan hô, hoan hô Con Vua David. Chúc tụng Đấng Nhân Danh Chúa mà đến***”

“Chúc tụng Đức Vua. Đấng ngự đến nhân danh Chúa !” (Lc 19,38).

Vâng, viên đại đội trưởng và những người cùng ông, chỉ trong vài giờ canh giữ Đức Giêsu, thế mà họ đã nhận ra Đức Giêsu “Quả thật là Con Thiên Chúa”.

Còn chúng ta, bao năm qua, tuy đã là một Kitô hữu. Chúng ta đã thật sự tin nhận Ngài là Cứu Chúa của đời ta !?

Petrus.tran
……………

(*)&(**) : (trích đoạn nhạc phẩm : Việt Nam quê hương ngạo nghễ. Tác giả : cố NS. Nguyễn-Đức-Quang).

(***) : (trích đoạn nhạc phẩm : Vang lời tụng ca. Tác giả : NS. Nguyễn Duy)
































































































Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2011

CON CÓ TIN KHÔNG !?

CON CÓ TIN KHÔNG !?


Tuần thứ năm của Mùa Chay đã đến. Và cũng là lúc chúng ta sắp sửa bước vào những ngày tĩnh tâm. Tĩnh tâm chính là lúc để cho tâm hồn lắng đọng, để sám hối, và để chuẩn bị cho ngày đại lễ Đức Giêsu Kitô đã sống lại một cách sốt sáng.

Nói đến sự sống lai không thể không nghĩ tới sự chết. Vâng, sự chết, đó là nỗi ám ảnh suốt chiều dài lịch sử con người. Bắt nguồn từ sự bội phản và bất trung của nguyên tổ Adam và Eva. Một án phạt Thiên Chúa đã dành cho con người rằng “Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3,..19). Án phạt đó cho thấy “Thiên Chúa là thẩm phán công minh”(Tv 7,12). Thế nhưng, không vì sự phản bội bất trung đó mà Thiên Chúa bỏ rơi con người. Thiên Chúa còn là “Đấng từ bi nhân hậu. Chúa nhân ái đối với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên” (Tv 145,9). Lòng nhân hậu đó được biểu lộ qua việc “sai Con của Người đến thế gian”. Người Con đó chính là Đức Giêsu “để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).

Chính Đức Giêsu khi còn tại thế, Ngài cũng đã tuyên bố rằng “tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6,40).

Qua phép lạ cho con trai bà góa thành Nain sống lại. Và nổi bật nhất, qua việc cứu một người đã chết bốn ngày cũng được sống lại, đã củng cố cho lời tuyên bố nêu trên của Đức Giêsu.

…….

Câu chuyện cứu một người đã chết sống lại xảy ra tại làng Bêtania. Nơi đó có một gia trang với ba chị em Macta, Maria và Lazaro cùng nhau sinh sống.

Có phải rằng, cuộc đời con người lúc nào cũng êm đềm, phẳng lặng ! Thưa không ! Trong một đời người, “không phải lúc nào cũng chỉ có niềm vui” Louis Evely nói tiếp “còn có cả sương mù và giá lạnh” nữa.

Vâng, sương mù và giá lạnh đang phủ trùm lên gia đình hai chị em Macta và Maria. Người em trai của hai chị em cô, tên là Lazaro, “đang bị đau nặng” (Ga 11,…3).

Thật là nghiệt ngã. Không phương tiện cứu chữa và cũng không biết bám víu vào đâu. Thời gian trôi qua thật ngột ngạt. Một sự ngột ngạt bởi không khí của sự chết. Sự sống của Lazaro như sợi chỉ mành treo chuông ! Và rồi chỉ đứt chuông rơi… Gia trang của Macta bao phủ một màu tang tóc. Lazaro đã chết !!!

Có cái chết nào lại không làm cho lòng người thổn thức và xao xuyến.! Nếu cái chết của Abel kêu thấu tận Trời cao. Thì hôm nay, cái chết của Lazaro đã làm cho Con Trời “bật khóc”.

Đức Giêsu đã khóc. Ngài khóc không phải bởi tại không có mặt kịp thời kể cứu Lazaro. Chính Đức Giêsu, khi nhận được tin xấu về Lazaro, Ngài đã nói với các môn đệ rằng : “Thầy mừng cho anh em, vì Thầy không có mặt ở đó, để anh em tin.”(Ga 11,15).

Nhưng Đức Giêsu khóc là “vì dân chúng đứng quanh đây”(Ga 11,..42). Họ đúng là như bầy chiên không người chăn dắt.


Họ cần nhìn đức tin đơn sơ của hai chị em Macta và Maria “Nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết”.


Họ cần nghe lời Đức Giêsu công bố : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11, 25). Họ cần nghe lời tuyên tín của Macta : “Thầy là Đức Kitô”(Ga 11,27).


Họ cần chứng kiến hình ảnh “Lazaro ra khỏi mồ”. Một hình ảnh chứng thực Đức Giêsu, quả thật, Thiên Chúa Cha “đã nhận lời Ngài”. Và rằng Chúa Cha “đã sai Ngài” xuống thế gian để cứu chuộc thế gian.


Và cuối cùng, họ cần trả lời câu hỏi của Đức Giêsu rằng : “Con có tin thế không ?”(Ga 11,26).


một chút tâm tình…


Món quà “sống lại” và “sự sống đời đời” Đức Giêsu không dành riêng cho anh Lazaro. Ngài còn tặng cho tất cả những ai “tin vào người… thì được sống đời đời”(Ga 3, 36).


Tông đồ Phao-lô cũng đã xác tín rằng : “Nếu Đức Ki-tô ở trong anh em, thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội phạm, Thần Khí cũng ban cho anh em được sống, vì anh em đã được trở nên công chính”.


Hãy chậm trãi đọc tiếp lời của Phaolô. Đừng thấy những từ “Thần Khí” lập đi lập lại mà bối rối.

Thánh nhân nói tiếp rằng : “Lại nữa, nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới” (Rm 8,11).

Chính cách dẫn giải này, chúng ta có được một cái nhìn rõ nét về thân phận của những ai đã tin vào Đức Giêsu Kitô.

Tin vào Đức Giêsu Kitô, chúng ta nhận được một sự-sống-mới. Một sự sống không phải để chờ tới ngày “trở về với bụi đất”, nhưng là một “sự sống thay đổi chứ không mất đi” (1)(Kinh tiền tụng thánh lễ an táng).

Vâng, “chỉ là sự biến đổi, chứ không hề tiêu tan”(2).

một phút suy tư…

“Con có tin thế không ?”. Vâng, nếu hôm nay Đức Giêsu cũng hỏi chúng ta như thế ! Chúng ta sẽ trả lời ra sao !? Có sự sống đời sau không ? Có sự sống đời đời không ?


Thật nực cười vì có nhiều người, nhất là những kẻ vô thần, không tin có sự sống đời đời. Nhưng, họ lại rất muốn được sống đời đời… Chính vì thế họ tìm đủ mọi cách để kéo dài cuộc sống. Họ không ngần ngại giết một mầm sống để nuôi dưỡng sức sống, để kéo dài cuộc sống cho họ. Đã có những bạo chúa, vì muốn kéo dài tuổi thọ, vì muốn trường sinh bất tử, họ đã dửng dưng phạm những tội ác tầy trời.


Những kẻ ấy, không biết rằng “cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên (họ) !


Thật ra, khi đã là một Kitô hữu. Khi đã tin nhận Đức Giêsu là Cứu Chúa của đời mình. Vấn đề không còn là có tin hay không tin. Nhưng, vấn đề là phải nhận biết rằng sự sống đời đời ở đây không phải là một cuộc sống đời đời ở trần thế.


Một khi chúng ta đã nhận thức được như thế… Vâng, có điều gì ngăn trở chúng ta, tuy vẫn sống ở thế gian nhưng không thuộc về thế gian !?


Để có một cuộc sống đời đời ư !


Hãy đem “phiếm đá xác thịt” ra khỏi tâm hồn mình. Hãy bước ra khỏi “mộ huyệt” của thú vui trần thế. Hãy cởi những tấm khăn dâm bôn, ô uế, phóng đãng. Hãy bỏ những tấm vải hận thù, bất hòa, chia rẽ, ganh tị, say sưa, chè chén ra khỏi con tim mình.


Chỉ như thế, chúng ta mới có thể bước đi theo “hướng đi của Thần Khí”. Một khi đã bước đi theo hướng đi của Thần Khí. Vâng, chúng ta sẽ có “sự sống và bình an”. (Rm 8,…6).


Petrus.tran















































Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2011

AI MÙ ! AI SÁNG !!!

“Tôi mang thân phận người mù,
Ngày dài đêm ngắn âm u cũng là.
Người mù đếm những xót xa,
Đêm dài ngày ngắn cũng là bóng đêm.(1)



…..!






Sau khi đọc những dòng thơ trên, mỗi chúng ta hãy nhắm mắt lại, chỉ vài phút thôi. Hãy thử tưởng tượng, sẽ ra sao, nếu chúng ta phải sống suốt cuộc đời mình trong cảnh mù lòa tối tăm như thế !

Vâng, không có gì đau khổ hơn, khi một người phải sống trong cảnh “Lần mò phận lấy thương thân; Làm sao biết được phương gần phương xa”(2). Và có gì bất hạnh hơn khi người đó chỉ : “Nghe tiếng Cha, biết vậy mà ! Nghe tiếng Mẹ, Mẹ ấy à, Mẹ ơi !”(3).

Thói đời, khi nhìn những người hoạn nạn tật nguyền, người ta thường nghĩ rằng, chắc tại “kiếp trước” người đó sống thất đức, nên họ phải gánh chịu những bất hạnh khổ đau cho kiếp này.


Niềm tin Kitô giáo không cho phép nghĩ như vậy. Đức Giêsu khi còn tại thế, Ngài đã dạy một bài học cho các môn đệ khi các ông có cùng một não trạng như trên.
…..

Chuyện được kể lại rằng : Sau khi Đức Giêsu lánh đi và ra khỏi Đền Thờ. Và khi đi ngang qua, “Đức Giêsu nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh”(Ga 9,1).

Người mù này được mô tả là một kẻ hành khất. Anh ta “ngồi ăn xin” bên lề đường với sự cô đơn, với khuôn mặt phảng phất “một nỗi ưu sầu đắng cay”(4).

Các môn đệ của Đức Giêsu cũng nhìn thấy. Nhưng thay vì nhìn anh mù với một tấm lòng nhân ái, các ông đã nhìn tên “đệ tử cái bang” này với một cái nhìn sặc mùi Do Thái giáo.

Đối với người Do Thái, hễ người nào bệnh hoạn tật nguyền, họ cho rằng kẻ đó bị Thiên Chúa trừng phạt.

Chính vì thê, khi thấy anh mù ngồi ăn xin, các môn đệ liền hỏi Đức Giêsu : “Thưa Thầy ! ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù…”. Quả là một cái nhìn đầy thiển cận của các ông.

Thay vì kêu thủ quỹ Giuda xuất quỹ vài đồng xu lẻ bố thí cho anh mù, các ông đã “thí” vào mặt anh mù một câu hỏi đầy ác ý: “anh ta hay cha mẹ anh ta phạm tội ?”(Ga 9,2).

Thiên Chúa là tình yêu. Người đã sai “Con của Người, đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu” (Ga 3,17).

Thật vậy, tại nhà Da-kêu, Đức Giêsu cũng đã khẳng định điều đó trước bàn dân thiên hạ, trong đó có cả các môn đệ, rằng “Con Người đến là để tìm và cứu”(Lc 19,10).

Tệ thật ! có lẽ các môn đệ đã quên… quên lời phán hứa đầy tình yêu và lòng thương xót của Thầy mình !

Anh chàng khiếm thị bẩm sinh này ư ! Đức Giêsu nói : “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh” (Ga 9,3). Đó… đó chính là lý do Đức Giêsu xuống thế làm người. Ngài đến thế gian là để “Thực hiện công trình của Đấng đã sai (Ngài)”.

Làm sao Đức Giêsu có thể vô cảm nhìn anh chàng khiếm thị bẩm sinh này đang phải “Lần mò từng bước tôi đi… Mò trong bóng tối biết gì thời gian.”(5) !

Anh mù bẩm sinh chính là công trình mà Thiên Chúa đã tác tạo nên. Anh mù bẩm sinh chính là “công trình của Đấng đã sai Ngài”.

Vâng, làm sao có thể làm ngơ trước một công-trình-của-Thiên-Chúa !

Chính vì thế “Đức Giêsu (đã) nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và sức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta : Anh hãy đến hồ Si-lô-ac mà rửa”.

Kỳ diệu thay ! “Anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được” (Ga 9,7)

một chút tâm tình…

Một cuộc tranh luận nổ ra sau khi anh mù bẩm sinh được Đức Giêsu chữa lành.

Ai mù ! Ai sáng ! Ai đã được sáng ! Ai đang bị mù !

Đặt vấn đề như thế, để nhắc lại hình ảnh nguyên tổ Adam và Eva nơi vườn Eden năm xưa.

Ông bà đang sáng mắt nhưng lại tưởng mình bị mù. Chính vì thế ông bà nghĩ rằng, sau khi ăn “trái của cây cho biết điều thiện điều ác”… Vâng, Adam và Eva chắc mẩm rằng “mắt ông bà sẽ mở ra”(St 3,…5).

Đúng, “mắt hai người mở ra, và họ thấy mình…” Ôi ! quả thật là khó diễn tả !

Trở lại câu chuyện anh mù bẩm sinh được Đức Giêsu chữa lành. Quả là có một số người cũng rơi vào trường hợp nguyên tổ năm xưa.

Họ sáng mắt đấy, nhưng đôi mắt “cú vọ” của họ chuyên dùng vào việc “vạch lá tìm sâu, bới lông tìm vết”. Và họ đã thành công khi tìm ra cái “vết” mà Đức Giêsu đã phạm. Cái vết đó là “ngày sa-bát”, ngày Đức Giêsu chữa lành cho anh mù.

Dựa vào tôn giáo, đôi mắt họ nhìn soi mói Đức Giêsu. Họ cho rằng, một người “không giữ ngày sabat, không thể là người của Thiên Chúa !”.

Thật không khác gì đôi mắt của nguyên tổ Adam và Eva. Một khu vườn Eden rộng lớn bao la. Thế mà dưới đôi mắt lệch lạc của ông bà, khu vườn ấy trở nên “nhỏ hơn con thỏ”, nhỏ hơn cái túi “tinh khôn”. Ông bà có ngờ đâu, túi tinh khôn đó chỉ là “tinh khôn ảo”.

Và hôm nay, những người Phariseu, lại theo vết xe cũ của tổ tiên. Đôi mắt họ đã dính “cườm”, một thứ cườm-lề-luật, thứ cườm đó đã làm hoen mờ tình yêu của Thiên Chúa.

Xét cho cùng, những người chỉ trích Đức Giêsu, họ chỉ sáng đôi mắt thể lý. Còn đôi mắt tâm linh, không quá lời, họ mù. Họ mù Kinh Thánh. Hoặc họ “giả mù sa mưa”, quên lời ngôn sứ Isaia.


Lời ngôn sứ Isaia còn đó. Chính Đức Giêsu đã lớn tiếng đọc vào một ngày sabat, trong một hội đường tại Nazareth : “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt…”(Lc 4,18).

“Cho người mù biết họ được sáng mắt”. Tới đây, quá rõ để biết rằng, ai mù, ai sáng… Ai đang sáng hóa mù ! Ai đang mù hóa sáng !

Vâng, anh mù từ thuở mới sinh. Anh ta đang mù hóa sáng. Không chỉ sáng đôi mắt thể lý, nhưng còn sáng đôi mắt tâm linh.

Thật phải đạo khi anh ta cất tiêng ca, ca tụng Đức Giêsu, rằng “Ngài là một vị ngôn sứ”. (Ga 9,17).

một phút suy tư…

Mỗi một phép lạ Đức Giêsu thực hiện, Ngài đều muốn gửi đến một thông điệp hoặc dẫn đến một chân lý nào đó.

Qua phép lạ chữa lành anh mù từ thuở mới sinh, phải chăng Đức Giêsu muốn gửi đến chúng ta một thông điệp rằng “mù mắt sáng hồn hơn mù hồn sáng mắt !”.

Đúng vậy, cái sợ của thế giới hôm nay không phải là cái sợ mù-thể-lý. Y học ngày nay cho biết, những bệnh có thể gây mù, lé, nhược thị ở trẻ em thường gặp nhất, đó là : bệnh ROP, glocom bẩm sinh, đục thủy tinh thể và bướu nguyên bào võng mạc. Tuy nhiên, nếu được phát hiện và điều trị sớm sẽ ngăn ngừa được mù lòa, giảm thiểu biến chứng.

Ngày nay, có sợ, hãy sợ mù-tâm-hồn. Mù tâm hồn sẽ dẫn tới mù lương tâm. Mù lương tâm sẽ dẫn tời mù lương thiện. Mù lương thiện sẽ dẫn tới mù công chính. Mù công chính sẽ dẫn tới mù chân thật. Mù chân thật sẽ dẫn tới sự nghi kỵ. Sự nghi kỵ dễ dẫn tới hận thù. Có hận thù là có chiến tranh và chết chóc.

Có vẻ như đây là một căn bệnh trầm kha trong thế giới hôm nay !? Vâng, làm thế nào để chữa trị căn bệnh mù tâm hồn này !?

Xin thưa ! Hãy đến cùng Giêsu. Trước khi chữa lành anh mù. Tại Đền Thờ, Đức Giêsu đã nói với người Do Thái rằng : “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng ban sự sống”. (Ga, 8,12).

Thánh Phaolô cũng đã khẳng định : “Trong Chúa, anh em lại là ánh sáng”. Thánh nhân nói tiếp rằng : “Ánh sáng (đó) đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật” (Ep 5, 8-9).

Một khi chúng ta “nhận được ánh sáng ban sự sống”. Một khi chúng ta lương thiện, công chính và chân thật. Chúng ta sẽ là, như lời Đức Giêsu nói, “ánh sáng cho trần gian”.

Và một khi đã trở nên ánh sáng cho trần gian, ơn Chúa, chúng ta đủ sức để “dọi ánh sáng vào nơi tối tăm (chân lý), đem niềm vui đến chốn u sầu (tâm linh)”.

Một lần nữa, chúng ta hãy nhắm mắt lại, một phút thôi ! Một phút không chỉ để cảm thông cho những ai đang bị mù lòa thể lý, mà còn để tự hỏi mình rằng : Tôi đang mù hay sáng ? Tôi đang mù mắt sáng hồn ? Tôi đang mù hồn sáng mắt !?

Nếu chúng ta sáng-mắt-mù-hồn !!!

Hãy coi chừng : “TỘI CHÚNG TA VẪN CÒN”. (Ga 9, 41)

petrus.tran
……..


(1) (2) (3) (4) (5) : (trích thơ : Tôi mang thân phận người mù - tác giả : Mặc Giang).





Thứ Tư, 30 tháng 3, 2011

Đức Giêsu...Đấng chinh phục lòng tôi !

ĐỨC GIÊSU… Đấng chinh phục lòng tôi !.  



--------------------------------------------------------------------------------


Petrus Tran




Mùa chay thánh đã bước vào tuần thứ ba. Và chỉ còn ba tuần nữa Giáo Hội long trọng tưởng niệm cuộc tử nạn và sự Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô.

Cuộc tử nạn và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô đã minh chứng rằng "Thiên Chúa là tình yêu". Người yêu thế gian, nên đã “sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,17). Trước những giờ phút bị nộp, Đức Giêsu cũng đã nói rằng : “Phần tôi,một khi được giương cao khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”. (Ga 12,32).

…..

Thật vậy, ba năm thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng cứu độ, Đức Giêsu luôn chứng tỏ cho mọi người biết rằng, Ngài đến không phải để lên án tội nhân nhưng đến là để chinh phục, như Ngài đã tuyên bố “Con Người đến để tìm và cứu những kẻ hư mất” (Lc 19,10).

Bất cứ ai, khi gặp Đức Giêsu, đều bị chinh phục trước những lời nói, trước những việc làm và nhất là trước những lời giảng dạy của Ngài.

Câu chuyện giữa ông Nicôđêmô và Đức Giêsu gặp gỡ trong đêm khuya là một minh chứng cụ thể. . Ông đến gặp Đức Giêsu vì biết rằng Ngài chính “là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến”(Ga 3,2). Qua những giờ phút tiếp xúc, ông đã bị chinh phục bởi những lời giảng dạy của Đức Giêsu và ông đã phải thú nhận với Ngài rằng “chẳng ai làm được những dấu lạ Thầy làm, nếu Thiên Chúa không ở với người ấy”.

Rồi đến trường hợp ông Da-kêu. Là thủ lãnh những người thu thuế, một hạng người bị cho là kẻ tội lỗi, thật khó có hy vọng được Đức Giêsu tiếp xúc. Thế mà Ngài đã “ở lại nhà ông”. Chính sự kiện gặp gỡ này, Đức Giêsu đã chinh phục được tâm hồn ông. Từ một hạng người bị mọi người xầm xì cho là “người tội lỗi”, ông đã được cảm hóa và được nhận lãnh ơn cứu độ.

Có thể nói rằng, Đức Giêsu là Đấng chinh phục các tội nhân vĩ đại nhất trải qua mọi thời đại, dù chỉ qua một lần gặp gỡ, qua một lần tiếp xúc và đôi khi thật tình cờ. Câu chuyện Đức Giêsu tại Samari đã vẽ lên chân dung “Đấng chinh phục” thật rõ nét.

Hôm ấy, Đức Giêsu “đến một thành xứ Samari, tên là Xy-kha… Ở đấy, có giếng của ông Giacóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng.” (Ga 4,6).

Vâng, thật tình cờ… “Có một người phụ nữ Samari đến lấy nước”.

Chỉ là những trao đổi rất đời thường. Đói thì phải ăn. Khát thì phải uống. Đức Giêsu đã dẫn dắt người phụ nữ Samari đi từ ngạc nhiên đến thán phục và để rồi chị ta đã bị chinh phục.

Làm sao không bị chinh phục cho được ! Chỉ là một kẻ xa lạ, mới gặp gỡ lần đầu tiên, thế mà Đức Giêsu đã biết rất rõ cái lý lịch đen tối của chị ta rằng “chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị” (Ga 4,18).

Làm sao không bị chinh phục cho được ! Những gì chị đã làm, Đức Giêsu đã nói tất cả cho chị nghe.

Có thể nói rằng, cuộc gặp gỡ tình cờ này, một lần nữa chứng minh rằng, Đức Giêsu đến là để chinh phục. Chị Samari như “các con chiên lạc” được Đức Giêsu chinh phục, để rồi con chiên lạc đó biết rằng, Ngài chính là nguồn mạch “đem lại sự sống đời đời” (Ga 4,…14).

một chút tâm tình…

Trở lại câu chuyện nêu trên. Đức Giêsu nói với người phụ nữ Samari rằng : “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị : cho tôi chút nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống”.

Chắc hẳn chị Samari này nghĩ rằng “nước hằng sống” chính là loại nước chị ta dùng hằng ngày. Vì thế chị ta đã không ngần ngại xin Đức Giêsu “thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước”.

Cứ cho là chị ta nghĩ như thế ! Vâng, thật đáng cảm phục về lòng tin của chị ta. Chỉ mới diện kiến lần đầu. Chưa biết Đức Giêsu là ai ! Thế mà chị ta vẫn cứ tin vào lời nói của Ngài “ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa”.

Nghĩ đến chị Samari này, thật đáng xấu hổ cho một số người hôm nay.

Vẫn còn một số người, khi gặp cơn hạn hán, miệng thì ra rả kêu van "Lạy Trời mưa xuống. Lấy nước tôi uống...", nhưng tâm lòng lại không tin có Trời.

Tệ hơn, có một số người còn cho rằng Thiên Chúa đã chết rồi. Chính vì thế, họ đã ngạo mạn đòi thay “thằng trời” làm mưa !!!

Ôi ! “Tại sao lại thử thách ĐỨC CHÚA ?”. Ông Môsê đã phải thốt lên như thế khi con cái Israel cũng đã ngạo mạn tuyên bố "có ĐỨC CHÚA ở giữa chúng ta hay không ?" (Xh 17,7).

Hãy nhìn xem, Thiên Chúa vẫn đang “cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như kẻ tốt, và cho mưa trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5, …45).

Thánh Phaolô khẳng định : Nếu “chúng ta tin, … Đức Giêsu (sẽ) mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa”(Rm5,2).

Vâng, chị Samari đã tin. Và quả thật, ân sủng của Thiên Chúa, qua Đức Giêsu, đã đem đến cho chị ta thứ nước "không bao giờ khát nữa". Đó là nước "thần khí và sự thật".

Chính thứ nước này, thứ nước không cần dùng "gầu" để múc, không cần dùng "vò" để đựng, đã giải cơn khao khát chờ mong "Đấng Mesia, gọi là Đức Kitô, sẽ đến" nơi chị. Để rồi chị đã nhận ra "Đấng ấy chính là (Đức Giêsu), người đang nói với chị". (Ga 4,26)

một phút suy tư…

Hôm nay, Đức Giêsu vẫn tiếp tục ngồi bên bờ giếng, không phải bờ giếng Giacop năm xưa, nhưng là bờ-giếng-Thánh-Thể, để chinh phục chúng ta.

Đã năm năm, mười năm, ba mươi năm tin Chúa. Thế nhưng, chúng ta đã bao nhiêu lần đến bờ-giếng-Thánh-Thể để gặp gỡ, để trò chuyện cùng Đức Giêsu !?

Hay là chúng ta đang mải mê bu quanh bờ-giếng-trần-thế, mong sao giải quyết được những cơn khát trần gian. Những cơn khát quyền lực, những cơn khát danh vọng, những cơn khát tiền bạc, những cơn khát tình dục v.v...

Đừng sợ phải đối diện những cơn khát-thuộc-thể, những cơn khát trần gian. Hãy nghe Cohelet nói : "Phù vân, quả là phù vân...Tất cả chỉ là phù vân". Và ông ta nói tiếp rằng : "Thú vui trần gian ư ! Nhà cửa, bạc vàng và vật quý ư ! Đào kép, mỹ nữ cung phi ư ! Tôi đã trổi vượt và giàu có hơn mọi người... Tôi nhận thấy : tất cả chỉ là phù vân" (Gv 2,11).

Nhưng hãy sợ phải đối diện những cơn khát-thuộc-linh. Những cơn "đói khát được nghe LỜI Đức Chúa" (Amos 8,11).

Hãy đến bên bờ-giếng-Thánh-Thể, Đức Giêsu vẫn ngồi đó chờ đợi chúng ta. Ngài vẫn sẵn sàng ban cho chúng ta một thứ bánh trường sinh, một thứ nước hằng sống. Bánh và nước đó chính là Mình Máu thánh của Ngài. Để những ai "ăn và uống thì được sống muôn đời" (Ga 6,54).

Chúng ta tin chứ !? Nếu tin... nếu chúng ta tin. Hãy đến và hãy nếm thứ "nước hằng sống" đó. Chúng ta sẽ thấy ngọt dịu dường bao.

Sự ngọt dịu đó chính là, chúng ta có thể nhận ra Đức Giêsu Kitô "Người thật là Đấng cứu độ trần gian" (Ga 4,...42).

SAIGON - MÙA CHAY 2011         






































































































Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2011

Hãy biến đổi.

Cn 02 chay A : Hãy biến đổi...


Sau bốn mươi ngày ăn chay ròng rã trong hoang địa, Đức Giêsu trở về Galile. Từ nơi đây; Ngài bắt đầu sứ vụ loan báo Tin Mừng. Công việc đầu tiên của Đức Giêsu đó là thâu nạp các môn đệ. Không phải ai cũng sẵn sàng đáp lời mời gọi của Đức Giêsu.

Có người khi nghe Đức Giêsu nói : “Hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo… Rồi hãy đến theo Ta”, đã buồn bã bỏ Ngài mà đi. Có những người chỉ cần một lời mời gọi “Hãy theo tôi”. Lập tức họ bỏ mọi sự mà đi theo Ngài. Đó chính là bốn anh em ngư dân tên là Anrê, Phêrô, Giacôbê và Gioan.

Cũng có người phải đợi thấy quyền năng của Ngài, họ mới tin và đi theo. Đó là trường hợp ông Nathanael. Ông ta chỉ tin sau khi nghe Đức Giêsu nói rằng “đã thấy ông ở dưới cây vả trước khi Philipphê gọi ông” đến gặp Ngài.

Biết rằng các môn đệ không phải một sớm một chiều đặt trọn niềm tin vào Ngài. Vì thế Đức Giêsu đã nói : “Anh em sẽ còn thấy những điều lớn lao hơn thế nữa.” Ngài nói tiếp : “Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người” (Ga 1,51).

……

Và quả thật, Đức Giêsu đã cho các môn đệ thấy điều đó.

Hôm ấy, Đức Giêsu “lên một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng”. Sự kiện này chứng thực cho điều Đức Giêsu đã tuyên bố trước đây rằng “rồi các anh sẽ thấy…”


Và quả thật hôm ấy, trên đỉnh núi cao, các ông đã thấy và đã nghe. Phêrô và hai người bạn của ông là Giacôbê và Gioan đã thấy, không phải là hình ảnh “thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống” nhưng là hình ảnh “ông Mose và ông Elia hiện ra đàm đạo với Đức Giêsu”.

Trong sự kinh hoàng bởi đám mây sáng ngời bao phủ; các ông ngã xấp mặt xuống đất. Có tiếng từ đám mây phán rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người.” (Mt 17,5).

Không phải tự nhiên mà Đức Giêsu; đặc biệt; cho Phêrô cùng lên núi với Ngài ! Bởi chỉ mới cách đó sáu ngày, giữa Đức Giêsu và ông Phêrô đã xảy ra một cuộc tranh luận gay gắt về việc lên Gierusalem. Làm sao ông có thể chấp nhận việc “Đức Giêsu phải lên Gierusalem; phải chịu nhiều đau khổ… rồi bị giết chết”. Làm sao ông có thể tin rằng Thầy của mình “ngày thứ ba sẽ sống lại” !!!

Hôm nay, trên ngọn núi cao, sau khi chứng kiến tận mắt cuộc thần hiện, và nghe tận tai những lời phán từ trời cao, ông đã nhận ra rằng, Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa, và rằng Ngài chính là Người mà “các ông phải vâng nghe lời”.

Một chút tâm tình…

Qua biến cố Đức Giêsu biến hình, Phêrô, Giacôbê và Gioan đã nhìn thấy Vinh Quang của Thiên Chúa. Các ông đã cảm nghiệm và hiệp thông thực sự với Thiên Chúa.

Các ông đã không “dựa theo những chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo, nhưng là (các ông) đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người” (2Pr 1,16).

Tông đồ Gioan cũng đã làm chứng rằng : “Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giêsu Kitô, Con của Người” (1Ga1,3).

Hôm nay, là một Kitô hữu, làm thế nào để có thể cảm nghiệm và hiệp thông thực sự với Đức Giêsu !?

Thưa rằng, chính Kinh Thánh, bởi “đó là Lời sự sống”. Và Bí Tích Thánh Thể.

Kinh Thánh cho chúng ta nhận ra Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa, để từ đó, chúng ta có thể cảm nghiệm được rằng : quả thật Ngài có Lời ban sự sống đời đời.

Với Bí Tích Thánh Thể, đó chính là phương thế để chúng ta hiệp thông mật thiết với Đức Giêsu Kitô Phục Sinh. Hiệp thông với Đức Giêsu Phục Sinh, dù chúng ta có chết, thì “sự chết chỉ là sự biến đổi chứ không hề tiêu tan” (kinh tiền tụng 1).

Chúng ta tin, bởi Đức Giêsu đã phán rằng : “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sự sống muôn đời; và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6,54).

một phút suy tư…

Giáo Hội đã bước vào tuần thứ hai của Mùa Chay Thánh. Mùa Chay Thánh, mùa mà chúng ta thường quy hướng về sự ăn chay và hãm mình. Mùa mà chúng ta thấy các vị chủ tế thay đổi phẩm phục áo lễ màu trắng, màu xanh bằng chiếc áo màu tím.

Thế nhưng, sẽ là ý nghĩa hơn, tích cực hơn, thì đây chính là mùa để mỗi người Kitô hữu chúng ta không chỉ thay đổi cách ăn, cách mặc nhưng còn thay đổi cách sống. Chính sự thay đổi cách sống nó sẽ dẫn chúng ta đến sự biến hóa tâm hồn.

Là một Kitô hữu, không gì tốt hơn là hãy để cho Thiên Chúa "biến hóa" tâm hồn chúng ta. Nếu không để Thiên Chúa biến hóa; chúng ta sẽ bị đồng hóa với đời.

Thật vậy, trong một thế giới ngày một "tục hóa" nguy cơ chúng ta bị "đồng hóa" không phải không khả thi.

Hãy nhìn xem, chưa bao giờ thế giới phải sống-chung-với-lũ… quỷ như hôm nay. Chỉ một cú “click chuột”, một tâm hồn trong trắng dễ dàng biến hóa thành một tâm hồn nhớp nhơ.

Mở đầu trình thuật “Đức Giêsu hiển dung”, Thánh Matthew thuật rằng : “Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao” (Mt 17,1).

Vâng, chúng ta, nhất là các bạn trẻ, cũng cần “đi riêng ra một chỗ” để gặp gỡ Đức Giêsu. Gặp gỡ Ngài qua Kinh Thánh và Thánh Thể. Hãy tin rằng, Kinh Thánh và Thánh Thể chính là “lưỡng kiếm trấn ải” đủ sức quét sạch những làn gió văn hóa độc hại, văn hóa của sự chết.

Phải “đi riêng ra một chỗ” để cảm nhận và hiệp thông với Đức Giêsu. Có Đức Giêsu, dù “có phải đi trong trũng bóng chết; cũng không sợ gì”. Hãy tin rằng : Đức Giêsu, Ngài sẽ đến bên chúng ta và bảo : “Hãy trỗi dậy đi ! Đừng sợ !”.

petrus.tran

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2011

HOANG ĐỊA... thao trường đổ mồ hôi !!!

Đang khi thành phố Galile vẫn mọi-ngày-như-mọi-ngày. Vẫn là những buổi bình minh rực nắng. Vẫn là những buổi hoàng hôn êm đềm. Vẫn là những sinh hoạt đời thường của mọi cư dân. Vẫn thấy những bầy lạc đà của thương nhân qua lại. Vẫn thấy những thương thuyền lướt sóng trên biển hồ. Vẫn thấy những chàng trai vạm vỡ dong thuyền ra khơi.


Có một người lặng lẽ rời bỏ Galile. Từng bước, từng bước chân âm thầm tiến về sông Giodan.


Sông Giodan như bừng tỉnh khi thấy bóng dáng người đi qua. Dòng sông dõi theo người. Dòng sông lắng nghe tiếng thì thầm to nhỏ giữa người với người. Dòng sông cuộn sóng khi người và người cùng bước xuống dòng sông.


Họ quen mà lạ. Họ lạ mà quen. Họ nhận ra đâu là sứ vụ của mình. Rồi thì kẻ ở người đi. Người ở lại Giodan như thấu hiểu công việc mình phải làm. Người ra đi tiếp tục cất bước. Lại từng bước chân âm thầm; từng bước chân lặng lẽ.


Rồi khi hoang địa hiện ra trước mắt. Người đã ra đi dừng lại và quỳ xuống nguyện cầu. Người đó chính là Giêsu người Nazareth.
…


“Bấy giờ; Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ” (Mt 4,1). Ba mươi năm sống ẩn dật đã trôi qua. Giờ đây, Đức Giêsu xuất hiện và bắt đầu sứ vụ mà Cha Ngài là Thiên Chúa giao phó.


Khởi đầu sứ vụ bằng việc vào hoang địa chay tịnh. Đức Giêsu muốn gửi đến cho mọi người một thông điệp. Rằng: sự chay tịnh chính là phương cách tốt nhất để vượt lên chính mình, để vượt qua thử thách, để chiến thắng satan, để chiến thắng những cơn cám dỗ.


Với bốn mươi ngày ròng rã chay tịnh, mệt mỏi, đói và khát… Dầu đang trong tình trạng bất lợi về thể lực. Nhưng Đức Giêsu vẫn vững vàng trước những thách thức của “tên cám dỗ”.


Hình ảnh “tên cám dỗ đến gần Người” gợi cho ta nhớ lại nơi vườn Eden năm xưa. Một Eden với những bi kịch của nó. Một “địa đàng” bỗng chốc biến thành “địa ngục”. Nguyên tổ Adam và Eva đã không vượt lên được chính mình. Hai ông bà đã “knock out” ngay từ hiệp thứ nhất. Cú “rờ ve” của tên-cám-dỗ đã làm cho đôi mắt của nguyên tổ “mở ra và họ thấy mình…”. Vâng, thật là khó diễn tả!!!


Trở lại hoang địa; có thể ví đây như là chặng đầu của vòng đua “tour de Palestin”. Điểm xuất phát từ Galile đến hoang địa. “Cua rơ” Giêsu đã gặp ngay đối thủ sừng xỏ là tên-cám-dỗ.


Tên cám dỗ bước vào đấu trường với ánh mắt gian xảo của những tên đánh bài bịp không làm Đức Giêsu nao núng. Ba lần tráo bài là ba lần bị Đức Giêsu lật tẩy. Đúng là “mãnh hổ nan địch quần hồ”.
…


Kinh Thánh có chép rằng: “Trong hy vọng và thinh lặng, con sẽ được cường tráng”. Trong thinh lặng của hoang địa, Giêsu tràn đầy “Thần Khí Thiên Chúa”.


Thật vậy, Thần Khí Thiên Chúa đã không ở lại sông Giodan, nơi Đức Giêsu vừa đến để nhận phép rửa và được “Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như hình chim bồ câu và ngự trên Ngài” (Mt 3,…16).


Thần Khí Thiên Chúa vẫn luôn đồng hành cùng với Ngài. Vẫn cùng chiến đấu để chiến thắng những lời phỉnh gạt của tên-cám-dỗ.


Ba lần dụ dỗ, dù đã được ngụy trang bằng những lời Kinh Thánh, như những viên thuốc độc bọc đường, vẫn không lừa bịp được Đức Giêsu. Thấm nhuần lời Chúa. Đức Giêsu đã xuất chiêu “gậy ông đập lưng ông”. Cũng là những lời Kinh Thánh được trích dẫn. Đức Giêsu đã lột chiếc mặt nạ gian trá của satan.


Cua-rơ mặc số áo “666”(1) gãy “ghi-đông” ngay chặng đầu của vòng đua. Tên-cám-dỗ lủi đi không quên ngoái lại nhìn “các sứ thần tiến đến” choàng vòng hoa chiến thắng lên cổ Đức Giêsu.


Vừa đi Satan vừa nghe văng vẳng bên tai hắn những từ ngữ đầy khinh miệt: “Satan kia! Xéo đi!”(Mt 4,10).


Một chút tâm tình


“Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hóa bánh đi!”. Lời thách đố trên khiến cho chúng ta liên tưởng đến lời của Satan thách đố Adam và Eva khi xưa ở vườn Eden. “(Nếu) ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần…” (St 3,5).


Đức Giêsu không sập bẫy trước những lời khiêu khích của Satan. Ngài vào hoang địa không phải để mở trường dạy làm “ảo thuật”. Cũng không phải để biểu diễn một vài màn xiếc nhào lộn trên không trung.

Vào hoang địa, Đức Giêsu đã mở một lớp “dạy Kinh Thánh”. Kinh Thánh, nếu được đọc trong sự soi sáng của Thánh Thần. Vâng, nó chính là giáp sắt để bảo vệ đức tin và là ánh sáng để chiếu soi chân lý.


Vua David đã cảm nghiệm được điều này nên đã nói: “Lời Chúa là ngọn đèn soi con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119,105).


Những lời Kinh Thánh mà Đức Giêsu dùng để “phản biện” tên-cám-dỗ đã cho mọi người thấy đâu là chân lý, đâu chính “Là Đường, là sự thật và là sự sống”.


Việc leo lên nóc đền thờ rồi “gieo mình xuống” đất!!! Vâng, không phải là Đức Giêsu không làm được. Ở đây, Ngài muốn dạy con người cách làm thế nào để đang-từ-dưới-đất-có-thể-bay-lên-Trời.


Làm thế nào ư! Satan không có câu trả lời. Có biết nó cũng chẳng nói ra.


Thật giản dị. Đức Giêsu, trong hoang địa, Ngài đã để lại cho mọi người một bài học để đời. Bài học đó chính là “Phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Ngài mà thôi” (Mt 4,10).


Một phút suy tư..


Tin Mừng Luca thuật lại rằng: “Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ (Đức Giêsu), quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ” (Lc 4,13).


Có vẻ như hôm nay đang là thời cơ của chúng!!! Vẫn là những chiêu thức cổ truyền: gian dối và phỉnh gạt. Satan dẫn đưa chúng ta vào mê cung của chúng bằng những triết lý ảo tưởng. Rằng “Thiên Chúa đã chết! Phải thay trời làm mưa!”. Và rằng “Tôn giáo chỉ là thuốc phiện…”


Cái “độc…” của satan thời @ là nó cũng biết “nâng cấp cám dỗ” cho hợp với xu hướng thời đại.


Có thể nói, hôm nay, những cám dỗ của satan rất tinh vi xảo quyệt.


Hãy nhìn xem! Chỉ vì muốn khẳng-định-cá-tính, một số bạn trẻ dù đang còn trong độ “tuổi thần tiên nép trong tay mẹ hiền”(2)… nên đã không ngần ngại tham dự những cuộc thi hoa-hậu-tuổi-teen!!! Để làm gì? Để tự tin bước vào đời? Để tự mãn rằng mình đã “tinh khôn…”!!!


Phải cảnh giác! Những lời mời gọi có cánh của nhà tổ chức rằng: hãy tự khẳng định mình; có khác nào lời dụ dỗ ngọt ngào của tên-cám-dỗ ở vườn Eden năm xưa… “Chẳng chết chóc gì đâu!” (St3,4).


Coi chừng! sau những màn tung hứng trên sân khấu, mắt-mình-lại-nhìn-thấy-mình…! Vâng, cũng thật là khó nói!


Kinh Thánh có chép rằng: “Hãy thinh lặng trước mặt Chúa và đợi trông Ngài” (Tv 37,7).


Khung cảnh tuyệt vời nhất mà chúng ta có thể thinh lặng phải chăng là trong hoang địa!? Đúng vậy. Hãy bước theo Đức Giêsu vào-hoang-địa chay tịnh và nguyện cầu.


Đói ăn, đói mặc ư! Đừng sợ. Có sợ thì hãy sợ đói-Lời-Thiên-Chúa. Bởi vì “người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh. Nhưng còn mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra”.


Tiền bạc, danh vọng, quyền lực “và vinh hoa lợi lộc của thế gian” liệu sẽ mãi tồn tại bên tôi suốt đời!? Hay là “…khi tôi không còn nữa, sẽ lấy được những gì về bên kia thế giới, ngoài trống vắng mà thôi !”(3)?


Cohelet có câu trả lời rằng: “Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân” (Gv1,2).


Vào hoang địa chay tịnh và nguyện cầu. Vâng, có thể nói đây chính là thao trường rèn luyện cho các nhân đức: Đức tin, đức cậy và đức mến.


Nếu chúng ta cậy trông và tin tưởng “gắn bó cùng Chúa…” chẳng có gì ngăn cản “Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho (ta)” (Tv 91,12)


Và một khi chúng ta chỉ “bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của (ta), và (chỉ) thờ phượng một mình Người mà thôi”. Vâng, chắc chắn rằng “Thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng” cho ta “khỏi sa-chước-cám-dỗ”.


petrus.tran


.............


(1) "666" : Dấu hiệu của satan.


(2) trích nhạc phẩm : Tuổi thần tiên - tác giả : Phạm Duy.


(3) trích thơ : Khúc thụy du - tác giả : Du Tử Lê.

Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2011

Nói phải làm !!!

NÓI PHẢI LÀM …


Theo số liệu mới nhất của Giáo Hội Công Giáo. Số người tin vào Chúa mỗi ngày một tiếp tục tăng. Niên giám Giáo Hội năm 2011 đã được trình lên Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI vào ngày 19.02 cho biết : tổng số người Công Giáo hiện đang sống trên toàn cầu trong năm 2009 đạt 1.181.000.000 tín hữu. (nguồn : VietCatholic). Cuốn niên giám còn nhấn mạnh rằng; trong hai năm gần đây (2008-2009); số lượng tín hữu tăng thêm 15 triệu người.

Nhìn lại từ ngày Lễ ngũ tuần; ngày được coi là ngày khai sinh Giáo Hội; cho đến hôm nay. Quả là càng lúc càng có nhiều người tin và theo Chúa.

……

Vào thời Đức Giêsu còn tại thế. Hiện tượng càng lúc càng có nhiều người tin và theo Ngài cũng thường xuyên xảy ra. Bất cứ nơi đâu Đức Giêsu xuất hiện; lập tức dân chúng lũ lượt tuôn đến với Ngài. Họ đến bởi được nghe những lời giảng dạy đầy quyền uy. Họ đến bởi được chứng kiến nhiều phép lạ Đức Giêsu đã làm.

Thật vậy; Phúc Âm Thánh Matthew đã chép lại rằng : Khi Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Với lời kêu gọi : “Hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần”. Với những phép lạ chữa lành mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền. Lập tức “Danh tiếng Người đồn ra khắp xứ Xyri… Từ miền Galile, vùng Thập Tỉnh, thành Giêrusalem, miền Giuđê và vùng bên kia sông Giodan,. Dân chúng lũ lượt kéo đến đi theo Người” (Mt 4,17…24-25).

Quả đó là điều không ai không mong đợi. Nhưng với Đức Giêsu; điều mong đợi nơi Ngài không nằm ở những con số… Hiện tượng từng đoàn người lũ lượt kéo đến; tin và đi theo càng làm cho Đức Giêsu băn khoăn và trăn trở. Điều băn khoăn và trăn trở chính là lòng tin của họ. Họ đã tin và theo Ngài bởi động lực nào ! Tiêu cực hay tích cực !?

Chính vì thế nên hôm ấy; thấy đám đông; Đức Giêsu lên núi. Và tại ngọn núi này; Đức Giêsu đã dạy cho đám đông đó một bài học; thế nào là một người môn đệ tin và đi theo Ngài.

Tin và đi theo Ngài ư ! Đức Giêsu nói : “Hãy có tâm hồn nghèo khó”.

Muốn trở thành môn đệ của Ngài ư ! Phải hiền lành và khiêm nhường. Phải “khát khao nên người công chính”. Phải có lòng “xót thương người”. Phải luôn có “tâm hồn trong sạch” Và sẵn sàng chịu “bách hại vì sự công chính”.

Tin và đi theo Ngài ư ! Tốt. Nhưng với Đức Giêsu; vấn đề Ngài mong đợi và luôn quan tâm đến chính là tâm tình và nỗi khát khao của người môn đệ.

Người tin và đi theo Đức Giêsu; phải khát khao trở nên “muối cho đời” và là “ánh sáng thế gian”. Phải biết yêu thương; kể cả kẻ thù nghịch. Phải biết đặt sự tha thứ lên trên sự trả thù.

Người thực sự tin và đi theo Thầy Giêsu; không chỉ nói ở đầu môi chóp lưỡi nhưng phải có hành động và bằng việc làm.

Đứng trước một rừng người đông đúc; Đức Giêsu lớn tiếng khuyến cáo rằng : “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lạy Chúa ! Lạy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu !”. Tin và đi theo Chúa;; Đức Giêsu tiếp lời rằng : “(Phải) thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời”. Có như thế mới được gọi là người môn đệ chân chính. Và “mới được vào (Nước Trời) mà thôi”. (Mt 7,21).

một chút tâm tình…

Có vô lý không; khi những người tin Chúa cất tiếng “Lạy Chúa !” lại bị Đức Giêsu khiển trách !?

Hãy trở về Galile để thấy được câu trả lời. Thật vậy, khi thấy đoàn dân lũ lượt kéo đến với Đức Giêsu. Với tâm tình của một người giàu lòng thương xót; Đức Giêsu không khỏi chạnh lòng.

Trước cảnh họ đang bị bủa vây bởi một thứ tôn giáo nặng về lề luật và hình thức. Sự bủa vây đó dẫn họ đến tình trạng; như lời ngôn sứ Isaia đã nói : “dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng; còn lòng chúng thì lại xa Ta”.

Trước cảnh những lãnh tụ tôn giáo giữ lề luật Chúa một cách hình thức; họ “đeo những hộp kinh thật lớn; may những tua áo thật dài…Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào. Họ nói mà không làm”(Mt 23,5).

Những kẻ nói mà không làm… Ngôn sứ Isaia nói tiếp : “Chúng có thờ phượng Chúa cũng vô ích” (Isaia).

Chính những hiện tượng nêu trên. Lời khuyến cáo của Đức Giêsu không phải không có lý. Vì thế, đừng hỏi tại sao Đức Giêsu xua đuổi và trách mắng những kẻ đó rằng : “xéo đi cho khuất mắt Ta..” (Mt 7,23).

Nếu… nếu họ nghe lời dạy của Mose mà “ghi lòng tạc dạ… cẩn thận giữ tất cả mệnh lệnh… đem ra thực hành, mà yêu mến Đức Chúa”.

Vâng, nếu họ “vâng nghe mệnh lệnh của Đức Chúa … lo đem ra thực hành mọi thánh chỉ” (Dnl 11,22… 32). Chắc hẳn Đức Giêsu không xếp họ vào hạng những kẻ “làm điều gian ác” (Mt 7,…23).

một phút suy tư…

Qua những lời khuyến cáo trên; có thể tóm tắt rằng; Đức Giêsu muốn gửi đến một thông điệp. Thông điệp đó gói gọn chỉ trong ba chữ. “Nói phải làm”.

Và phải chăng; thông điệp đó; cũng chính là thông điệp Đức Giêsu gửi đến cho mỗi Kitô hữu chúng ta hôm nay !?

Thưa đúng vậy. Đã là một Kitô hữu; lời nói phải đi đôi với việc làm. Nói tắt một lời “nói phải làm”.

Là một Kitô hữu; một khi đã “quỳ bên nhau trước Đấng Tối cao. Hứa yêu nhau trao câu thề chung sống trọn đời”(1). Thế mà đến lúc “đời buồn vui” lại ca bài “thôi là hết anh đi đường anh, tình duyên mình chỉ bấy nhiêu thôi”(2)…như vậy có khác gì nói mà không làm !

Là một Kitô hữu; mười điều răn Chúa và sáu điều Hội Thánh dạy; thuộc văn vách. Thế mà lỡ bể-kế-hoạch, không chần chừ gì, sẵn sàng vi phạm điều răn thứ năm… đi “điều hòa kinh nguyệt” !!! Ngày Chúa Nhật thay vì dành riêng cho Chúa; nhưng lỡ gặp “độ”… thôi thì để tuần sau !!! Phải chăng, làm như vậy; chẳng khác nào nghe những lời Chúa dạy nhưng không đem ra thực hành !?

Là một Kitô hữu; phải có một quyết định … “Nói phải làm”.

Nói mà “lờ” ! … Có khác nào những người Phariseu xưa : “Họ nói mà không làm”.

Nói mà không làm có khác nào nói dối !!! Nói dối là bản tính của ma quỷ. Ma quỷ là chuyên viên nói dối và là cha của sự gian dối.

Kẻ nói mà không làm; phải chăng cũng là “các sứ thần” của ma quỷ !?

Đừng quên “lửa đời đời” chính là nơi “dành sẵn cho tên Ác quỷ và các sứ thần của nó” (Mt 25,41)

Thật ra, Đức Giêsu không ngăn cản những kẻ tin và theo Ngài thưa với Ngài là “Lạy Chúa !”. Hãy nhớ rằng Đức Giêsu đã nói : “Không phải bất cứ ai…”.

Điều đó có nghĩa là : bất cứ ai gọi Thầy Lạy Chúa ! Lạy Chúa. Và “nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá”.

Đừng nghĩ rằng Đức Giêsu trổ nghề “thợ xây”. Nói tới việc xây nhà ở đây; Đức Giêsu ám chỉ đến ngôi nhà tâm linh của chúng ta.

Nếu ngôi nhà tâm linh của chúng ta được xây trên nền tảng đức tin; đức cậy và đức ái. Thì việc “thực thi ý muốn của Chúa” là điều khả thi.

Và một khi đã “thực thi ý muốn của Chúa là Đấng ngự trên trời”. Hãy tin rằng; chúng ta sẽ “được vào (Nước Trời) mà thôi” (Mt 7…21).

Petrus.tran

…………….

(1) trích đoạn : Diễm tình ca 3 – tác giả LM. THÀNH TÂM.

(2) trích đoạn : Tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi – tác giả LAM PHƯƠNG.

Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một.

  Chúa Nhật XXX – TN – A Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một Đọc các sách Tin Mừng, chúng ta được biết, sứ vụ rao giảng Tin Mừng của...