Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2011

mầu nhiệm NƯỚC TRỜI.

NHIỆM NƯỚC TRỜI.

Cách nay khoảng gần một năm, chính xác là vào ngày 14.07, ủy ban đối ngoại thượng viện Hoa Kỳ đã công bố hơn một ngàn trang tài liệu từng được coi là những “bí mật” về cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Việc công bố những bí mật này, không biết có đem lại điều gì tốt lành cho cuộc sống của con người hôm nay cũng như mai sau hay không ! Thực tế, khi những “bí mật” này được công bố, chỉ thấy khơi lại trong cõi lòng nhiều người những mất mát, những đau thương, những buồn phiền, những uất hận…

Cũng là những điều được cho là “bí mật”, nhưng khi được công bố,

nó đã không đưa con người đến những điều tồi tệ, không dẫn con người “đi vào cõi thung lũng âm u, nghi ngờ và chết chóc”.

Ngược lại, những bí mật này, khi được công bố, nó đem lại cho con người niềm tin, sự hy vọng, và hơn hết, đó là niềm hạnh phúc có được một sự sống đời đời.

Sẽ có một câu hỏi được đặt ra. Đó là bí mật gì ?

Thưa rằng, hãy trở lại Palestin của hơn hai mươi thế kỷ trước. Trong khung cảnh đầy thơ mộng của Biển Hồ Tiberia, có một người tên là Giêsu, được mọi người quen gọi là Giêsu Nazareth. Tại nơi đây, Đức Giêsu đã công bố một bí mật. Nó không phải là một bí mật thông thường, đại loại như bí mật của các “sao” mà báo chí “lá cải” thường đưa tin. Bí mật mà Đức Giêsu công bố là một bí mật đặc biệt và đã gây chấn động toàn cầu. Đó chính là “Bí Mật Nước Trời”, theo ngôn ngữ Kinh Thánh được quen gọi là “Mầu nhiệm Nước Trời”.


Câu chuyện được kể lại rằng : “Hôm ấy, Đức Giêsu từ trong nhà đi ra ngồi ở ven Biển Hồ”. Một rừng người vây quanh Ngài. Và cũng như những lần trước. “Ngài dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều”.


Một trong những điều rất quan trọng luôn được Đức Giêsu đề cập đến đó là ân sủng. Phải có ân sủng, phải có “ơn trên” con người mới có thể “hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời”(Mt 13, 11).


Không phải hôm nay Đức Giêsu mới nhắc đến “phải có ân sủng, phải có ơn trên”. Vào một đêm nọ, khi Nicôđêmô đến gặp Đức Giêsu để tìm hiểu mầu nhiệm Nước Trời. Đức Giêsu đã nói với ông ta rằng : “Không ai có thể thấy Nước Trời, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên”. Vâng, phải có “ơn trên”.


Cũng không phải hôm nay Ngài mới nhắc đến “Nước Trời”. Ngay khi bắt đầu sứ vụ loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu đã lớn tiếng nói cho mọi người biết rằng, “Nước Trời đã đến gần”. Không chỉ loan báo vu vơ, Đức Giêsu còn khuyến cáo mọi người rằng “Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Trời và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33).


“Nước Trời” không có gì là bí ẩn để mọi người không thể nhận ra. Và mầu nhiệm Nước Trời không phải là “bí mật quốc gia” để mà che dấu cả thế giới.

Qua dụ ngôn “người gieo giống”, Đức Giêsu đã bày tỏ cho mọi người thấy, rằng mầu nhiệm Nước Trời, chẳng phải là điều gì đó xa vời đối với mọi người. Như một người ra đi gieo giống và những hạt giống đó được gieo vào lòng đất. Mầu nhiệm Nước Trời cũng được gieo vào mảnh đất tâm hồn mỗi con người.

Vâng, vấn đề là, tâm hồn con người có mở ra để “nghe Lời và hiểu” về mầu nhiệm Nước Trời, hay tâm lại khép kín và hồn thì chai đá, để rồi “có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy”!!

Đức Giêsu chấm hết dụ ngôn bằng một lời hết sức tế nhị :“Ai có tai thì nghe”. (Mt 13,8).

Một chút tâm tình…

“Ai có tai thì nghe”. Vâng, phụng vụ Lời Chúa hôm nay kêu gọi mọi người “nghe” lại dụ ngôn “người gieo giống”, một hình ảnh rất đời thường. Nhưng trong cái hình ảnh người gieo giống “bình thường” đó, nó lại phảng phất một con người “khác thường”. Con người khác thường đó chính là Đức Giêsu Kitô.

Vâng, Đức Giêsu Kitô, không ai khác, chính là hình ảnh người gieo giống. Ngài đã ra đi gieo những hạt giống “Nước Trời”. Qua Đức Giêsu Kitô, mọi người được nghe Ngài “rao giảng mầu nhiệm Nước Trời”.

Làm sao có thể am hiểu mầu nhiệm Nước Trời khi chưa am hiểu Lời Chúa ! Mà “Lời Chúa” lại chính là những lời “rao giảng Nước Trời” được loan báo bởi chính Đức Giêsu Kitô .

Vì thế, trước hết, phải nhận biết Đức Giêsu Kitô, nghĩa là phải đón nhận Ngài. Và một khi đã đón nhận Đức Giêsu thì sẽ am hiểu mầu nhiệm Đức Kitô. Am hiểu mầu nhiệm Đức Kitô sẽ dẫn đến am hiểu mầu nhiệm Nước Trời. Một khi đã am hiểu Nước Trời thì, như lời Đức Giêsu nói : “Ai có thì được cho thêm và sẽ có dư thừa”.

Cho thêm và dư thừa điều gì ! Phải chăng là “ơn hiểu biết” ?

Thưa đúng vậy. Chính ơn hiểu biết sẽ dẫn đưa đến việc “nghe Lời và hiểu” những lời rao giảng Nước Trời. Và điều tất yếu như lời Đức Giêsu đã giải thích trong dụ ngôn người gieo giống rằng, người đó “tất nhiên sinh hoa kết quả”(Mt 13,23).

”Quả” đó là quả gì !? Thưa chính là, như lời tông đồ Phaolô đã nói rằng, sẽ “được cùng thừa kế gia nghiệp… cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa ban” (Ep 3,6).

Điều Thiên Chúa hứa ban chính là “Nước Trời” và một cuộc sống đời đời.

Một phút suy tư…

“Ai có tai thì nghe”. Vâng, chúng ta đã “nghe” dụ ngôn người gieo giống” được bao nhiêu lần ? Mới lần đầu ! Mười lần ! Hai mươi lần !

Dù chúng ta đã nghe bao nhiêu lần đi chăng nữa, nhưng nó sẽ chẳng ích lợi gì, nếu chúng ta “nghe mà không hiểu”. Và một khi không hiểu Lời Chúa dạy thì làm sao chúng ta có thể đem ra thực hành !

Phải chăng Lời Chúa khó hiểu ? Hay chúng ta làm bộ không hiểu ? Chúng ta làm bộ không hiểu, không phải vì chúng ta không hiểu, nhưng rất có thể chúng ta cố tình không muốn hiểu.

Và một điều quan trọng không kém, đó là, đôi khi chúng ta nghe Lời Chúa, nhưng “không sinh ích gì cho chúng ta” bởi vì tuy đã nghe, nhưng chúng ta, như lời tông đồ Phêrô đã nói : “không lấy đức tin đáp lại lời giảng” (Dt 4,…2).

Câu chuyện dụ ngôn người gieo giống đã được Đức Giêsu giải thích quá rõ ràng. Vâng, đừng nói là khó hiểu, nhưng hãy tự hỏi lòng mình rằng, mảnh-đất-tâm-hồn-của-tôi thuộc loại nào trong bốn loại đất đã được Đức Giêsu nêu trong dụ ngôn người gieo giống !?

Mảnh đất bên vệ đường ư ! Hay là mảnh đất chỉ toàn sỏi đá ! Có phải là mảnh đất đầy gai góc ! Hay mảnh đất tốt chính là mảnh đất tâm hồn của tôi ?

Dĩ nhiên là không ai trong chúng ta lại mong muốn mảnh đất tâm hồn của mình thuộc ba mảnh đất “xấu” nêu bên trên. Thế nhưng, chắc hẳn chúng ta sẽ băn khoăn và tự hỏi rằng : làm thế nào để mảnh đất tâm hồn mình thuộc loại “mảnh đất tốt” !

Đức Giêsu đã trả lời băn khoăn đó cho chúng ta. Chỉ cần thực hiện bốn chữ mà thôi, “nghe Lời và hiểu”. Hãy chú ý ! Chữ “Lời” viết hoa trong Kinh Thánh đồng nghĩa với chữ “Chúa”. Vâng, phải “nghe Chúa và hiểu lời Chúa dạy”.

Một câu chuyện trong sách Samuel được kể lại rằng : “Samuel đang ngủ trong đền thờ Đức Chúa. Nơi có đặt hòm bia Thiên Chúa”(1Sm3,3). Chúa gọi Samuel, thế mà ông ta lại tưởng thầy của mình là Êli gọi. Ba lần Chúa gọi nhưng Samuel vẫn không nhận ra. Chỉ đến khi thầy Êli “hiểu là Đức Chúa gọi” và dạy cho Samuel cách trả lời. Samuel mới “hiểu” và mới có thể nhận ra lời Chúa phán dạy cho mình.

Qua câu chuyện được kể trên, không thể phủ nhận rằng, sự thiếu hiểu biết về lời Chúa chính là rào cản để chúng ta đến với Chúa. Hay nói đúng hơn sự thiếu hiểu biết lời Chúa đã ngăn cản chúng ta nhận ra “mầu nhiệm Nước Trời”.

Một điều chắc rằng, chúng ta sẽ không thể “hiểu lời Chúa dạy” nếu không đọc và học hỏi Lời Chúa hàng ngày. Đừng nghĩ rằng chỉ các linh mục hay các tu sĩ mới phải “đọc Lời Chúa” mỗi ngày.

Hãy nhìn cộng đoàn dân Chúa ở Beroia năm xưa, họ chính là mẫu mưc cho chúng ta hôm nay về việc đọc và học hỏi Lời Chúa.

Tác giả Công Vụ Tông Đồ đã thuật lại việc đó như sau : “Những người Do Thái ở đây cởi mở hơn những người ở Thesalonica : họ đón nhận lời Chúa với tất cả nhiệt tâm, ngày ngày tra cứu Sách Thánh để xem có đúng như vậy không” (Cv 17,11).

Nếu chúng ta “đón nhận lời Chúa với tất cả nhiệt tâm, ngày ngày tra cứu Sách Thánh”. Vâng, chắc chắn rằng, mảnh đất tâm hồn của chúng ta sẽ là “mảnh đất tốt” và hãy tin rằng, chúng ta sẽ được ơn :”hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời”.

Petrus.tran



Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2011

Hãy đến cùng TA.



Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất...Thiên Chúa sáng tạo con người. (Cho) con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất".(Stk 1, 26). "Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa" (St 1,27).Một hồng phúc mà chỉ "con người" mới có diễm phúc được nhận lãnh.

Chương thứ hai sách Sáng thế ký mô tả rõ nét về hồng phúc đó, rằng:"Đức Chúa là Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Eden, về phía đông, và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra...Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Eden, để cày cấy và canh giữ đất đai" (St 2, 8...15).

Buồn thay ! Chỉ vì nguyên tổ phạm tội bất tuân; con người mất hết hồng phúc Thiên Chúa đã ban. Đang ở địa vị bá chủ muôn loài, giờ đây nguyên tổ đã phải lãnh nhận một án phạt nặng nề. Một án phạt chỉ nghĩ đến cũng đủ “mệt mỏi và gánh nặng”. Đó là, con người, từ đây “phải cực nhọc mọi ngày trong đời mới có miếng ăn.”(Stk 3, …17)

Án phạt “phải cực nhọc” được ba lần tuyên bố. Lệnh trục xuất con người ra khỏi vườn Eden cũng đã được thực thi. Có thể kết luận rằng, cuộc sống của con người như bị phủ trùm bởi một màn đêm của những “gánh sầu thương mệt mỏi hai vai”, để rồi hôm nay, hậu duệ của nguyên tổ chỉ còn biết thở than rằng “Cuộc đời bon chen giữa muôn con người;. Cùng niềm lo lắng, áo cơm bạc tiền!!!”.

Thế nhưng, Thiên Chúa không vì thế mà để cho con người chìm đắm trong mệt mỏi và gánh nặng. Ngài là Ðấng từ bi và nhân hậu. Người chậm giận và giàu tình thương. Chúa nhân ái đối với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên”. (Tv 145:8-9).

Nếu xưa kia, Thiên Chúa “đuổi con người” ra khỏi vườn Eden . Thì hôm nay,Con Thiên Chúa là Đức Giêsu, cất tiếng kêu gọi con người “Hãy đến cùng TA”.

Nếu xưa kia, Thiên Chúa phạt con người “phải cực nhọc mọi ngày trong đời”. Thì hôm nay, Thánh Tử của Người, hứa sẽ đem lại cho con người một cuộc sống “êm ái và nhẹ nhàng”.

Trong ba năm thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu đã chuyển hóa những lời rao giảng bằng hành động cụ thể. Ngài đã làm vơi đi những mệt mỏi và gánh nặng nơi con người. Ngài khiến cho người mù thấy được, người điếc nghe được. Ngài đã chữa lành “mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền : những kẻ bị quỷ ám, kinh phong, bại liệt”. Nói tắt một lời, Đức Giêsu đã làm cho con người “được sống và sống sung mãn”(Ga 10,10).

Trước hàng ngàn cử tọa, Đức Giêsu đã cất tiếng nói : “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường, nên hãy gánh lấy ách của ta và học theo ta, thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ. Vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30).

Một phút tâm tình…

Với những gì Đức Giêsu đã nói, phải chăng đây là một lời mời gọi có kèm theo một lệnh truyền !? Và phải chăng chính lệnh truyền đó gây ra sự mâu thuẫn cho lời nói trên !?

Đúng vậy. Đến với Thiên Chúa, lời mời gọi luôn kèm theo một lệnh truyền. Hãy nhớ lại trường hợp của Apraham khi xưa. Ông ta cũng đã nhận được một lời mời gọi của Thiên Chúa : “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha người, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi” (Stk 12,1). Và kèm theo lệnh truyền “hãy đem con của ngươi, đứa con một yêu dấu của người là Isaac… mà dâng nó làm lễ toàn thiêu”. (Stk 22,1).

Và cũng chẳng mâu thuẫn chút nào. Lệnh truyền kèm theo, dẫu có nghiệt ngã đến đâu, cũng là cách Thiên Chúa thử thách lòng tin con người. Câu chuyện ông quan Naaman là một ví dụ điển hình. Nếu ông ta không thực thi lệnh truyền của “ông Elisa … đi tắm bảy lần trong sông Giodan”, nếu ông ta không vượt qua được sự thử thách đó, thì làm sao, đang là một kẻ “mắc bệnh phong hủi” nay “da thịt ông trở nên như da thịt một đứa trẻ nhỏ” cho được !!

Một điều cần lưu ý là, chính sự “khiêm nhường” của Naaman, không kiêu ngạo coi mình là một “nước lớn” có hai con sông hùng vĩ “Avana và Pacpa” tốt hơn và sạch hơn con sông Giodan của một Israel nhỏ bé, nó đã chuyển động tâm hồn ông, một con người “thần thế” trở nên khiêm hạ trước một “Êlisa – người của Thiên Chúa”.

“Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường, nên hãy gánh lấy ách của ta và học theo ta, thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ.”. Vâng, đây chính là một lệnh truyền vàng ngọc, một lệnh truyền, chỉ những ai, như lời Đức Giêsu nói “được Thiên Chúa mặc khải” mới có thể cảm nhận rằng, quả thật “Ách của Chúa thật dễ chịu và gánh của Ngài thật nhẹ nhàng”. .

Một phút suy tư…

Thế giới hôm nay không thiếu những lo lắng và gánh nặng. Có người mang gánh nặng tài chánh, thiếu trước hụt sau vì đang trong cảnh thất nghiệp ! Có người mang gánh nặng gia đình, ông nói gà bà nói vịt, con cái có biểu hiện bất tuân. Cũng có người mang gánh nặng về thể xác, bệnh hoạn yếu đau. Tuổi đời càng cao, ôi sao, sức khỏe càng yếu !!!

Đó là chưa nói tới gánh nặng tội lỗi. Chính gánh nặng tội lỗi đã đưa con người đến chỗ diệt vong.

Hãy tự hỏi mình rằng, tôi đang ở trong tình trạng nào !? Gánh nặng nào đang đè nặng trên cuộc đời tôi ? Tôi sẽ làm gì để tháo bớt gánh nặng trên cuộc đời mình !!

Câu chuyện sau đây như một lời giải đáp. Một anh quản thủ thư viện, phải ôm một chồng sách lớn, đi từ lầu một lên lầu năm. Quả là một gánh nặng đối với anh ta. Để bớt đi gánh nặng đó, anh ta chỉ cần làm một động tác giản dị, đó là giao bớt số sách cho một người khác mang dùm.

Cũng vậy, với những ai đang “dong duỗi đường gió bụi, gánh sầu thương mệt mỏi hai vai”. Vâng ! Hãy đến cùng Đức Giêsu. Và hãy giao bớt gánh nặng của mình cho Ngài.

Hãy nghe lại lời mời gọi vàng ngọc của Đức Giêsu : “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường, nên hãy gánh lấy ách của ta và học theo ta, thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ. Vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30).

Lời mời gọi này gợi cho chúng ta nhớ lại hình ảnh Simon người Kyrene năm xưa. Ông ta đã “gánh lấy ách của Đức Giêsu” qua việc vác chung gánh nặng thập giá của Ngài. Một cách nào đó, Đức Giêsu cũng đã gánh bớt gánh nặng đường đời của ông ta.

Đức Giêsu không nói : hãy đến ông vua này, ông quan lớn kia để xin các vị đó cho ta được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Ngài nói : “Hãy đến cùng TA”.

Chúng ta sẽ đến cùng Giêsu ? Nếu chúng ta đến. Vâng, hãy hợp lòng cùng Vua David, một người đã từng trải nghiệm ơn cứu rỗi, mà : “trút nhẹ gánh lo vào tay CHÚA. Người sẽ đỡ đần cho, chẳng để chính nhân phải nghiêng ngửa bao giờ” (Tv 55, 23).

Petrus.tran



Thứ Bảy, 25 tháng 6, 2011

Bánh hằng sống.


Không ai có thể phủ nhận rằng, ăn uống là một phần không thể thiếu cho sự sống của con người. Sách Lĩnh Nam chích quái cho biết đôi nét về đồ ăn thức uống của người Việt hồi quốc sơ khi mới dựng nước như sau: “…lấy cốt gạo làm rượu, lấy cây quang lang, cây tung lư làm cơm, lấy cầm thú, cá, ba ba làm mắm; lấy rễ gừng làm muối, cày bằng dao, trồng lúa, sản xuất nhiều lúa nếp, lấy ống tre mà thổi cơm”. (nguồn : internet)

Rồi từ những nguyên liệu thiên nhiên, bằng tài năng và óc sáng tạo, thức ăn còn được con người chế biến đa dạng và phong phú. Trong những loại thức ăn chế biến, có loại được gọi là bánh.

“Bánh”. Vâng, có thể nói đó là loại thức ăn mà hầu như bất cứ ai cũng đã hơn một lần dùng qua trong cuộc đời mình. Và có vẻ như, bánh là loại thức ăn được tiêu thụ mạnh nhất trong các loại thức ăn trên thị trường thế giới hôm nay.

Có bao nhiêu loại bánh trên khắp thế giới này ? Quả là một câu hỏi đầy thú vị. Gõ vào Google chữ “các loại bánh trên thế giới”, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều kết quả hiện ra. Nào là bánh pizza, bánh cake, bánh hotdog, patechaux, bánh dày, bánh chưng, bánh bò, bánh tiêu v.v… Vâng, có rất nhiều loại bánh, với nhiều tên gọi khác nhau, tùy theo cách gọi của mỗi quốc gia, vùng, miền trên hành tinh này.

Có rất nhiều loại bánh. Đúng. Nhưng sự thật hiển nhiên, là có một loại bánh, có đi khắp cả thế giới này,có lên rừng xuống biển, cũng không thể tìm thấy, đó chính là “Bánh Hằng Sống”. Và đó cũng chính là điều, mà hôm nay, Giáo Hội Công Giáo muốn mời gọi mọi người hãy trở về Palestina, cách nay hơn hai mươi thế kỷ, để khám phá ra, ai là tác giả của loại bánh được mang tên “Bánh Hằng Sống”.

…………..

Hơn hai mươi thế kỷ trước. Tại thành phố Caphanaum trong một ngày không êm ả. Từng đoàn người bên kia Biển Hồ tràn qua hội tụ nơi đây, khi họ biết rằng, có sự hiện diện của Đức Giêsu.

Nguyên nhân sâu xa của cuộc hội tụ này, là do trước kia, vào những ngày đầu Đức Giêsu thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng. Họ đã chứng kiến quyền năng của Ngài qua việc chữa lành “mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 4,24).

Một nguyên nhân khác khiến họ kéo đến với Đức Giêsu. Đó là, do vài hôm trước, vào một buổi chiều tà, Đức Giêsu đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để cứu đói họ.

Vì thế, không lạ gì khi thấy, hôm nay, họ lại “đi Caphanaum tìm Người” (Ga 6,24). Họ đi tìm Ngài với mong muốn rằng, Ngài sẽ, một lần nữa, dùng quyền năng, để biến hóa nhiều thứ khác trở thành bánh, để cho họ có thể lại được một bữa ăn no nê.

Họ đã gặp Đức Giêsu. Thế nhưng, cuộc gặp gỡ này, không có tiếng nói chung. Một bên chỉ nghĩ đến những chuyện liên quan tới sự sống “dưới đất”. Còn Đức Giêsu, Ngài muốn họ nhận ra rằng, còn có sự sống “trên trời”. Sự sống đó không thể được nuôi dưỡng bởi những thứ “lương thực mau hư nát” nhưng phải được nuôi bởi thứ “lương thực thường tồn đem lại hạnh phúc trường sinh” (Ga 6,27).

Thật ra, không phải là họ không ao ước có được thứ lương thực đem lại hạnh phúc trường sinh. Nhưng ! Vâng, quả thực là khó nuốt trôi bởi những lời Đức Giêsu đã công bố với họ rằng : “Chính tôi là bánh trường sinh… Và bánh tôi ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”(Ga 6,48-…51)..

Bất chấp những lời “xầm xì phản đối”. Bất chấp những lời tranh luận giữa họ với nhau. Bất chấp họ nghi ngờ về việc “(Ngài) có thể cho (mọi người) ăn thịt của (Ngài)”. Đức Giêsu vẫn xác quyết rằng : “Tôi là BÁNH HẰNG SỐNG”.

Một chút tâm tình.

Qua cuộc tranh luận giữa Đức Giêsu và nhóm người Do Thái được kể lại ở trên. Phải chăng, Đức Giêsu không quan tâm, điều mà con người rất cần đến, đó là lương thực nuôi thân xác !?

Thưa rằng, không phải vậy. Muốn có bánh để “được ăn, được no nê” ư ! Chẳng có gì khó đối với Đức Giêsu. Ngài đã chẳng từng nói “hãy xin thì sẽ được” kia mà.

Vấn đề là, biết đâu, như lời ông Môse đã nói với toàn dân Israel năm xưa, rất có thể, khi được như thế “anh em (sẽ)… kiêu ngạo mà quên Đức Chúa” (Dnl 8,…14).

Có lẽ, nhóm người Do Thái quên mất vai trò và sứ vụ của Đức Giêsu. Ngài đến thế gian không để trở thành nhà ảo thuật, biến “đá thành bánh”. Bởi nếu có làm như thế thì tấm bánh đó cũng chẳng khác nào “manna xưa, tổ tiên họ đã ăn và đã chết”

Vai trò và sứ vụ của Đức Giêsu đến thế gian, là “để cho thế gian được sống”. Được-sống-muôn-đời bằng một thứ manna mới. Manna mới đó chính là Mình-và Máu của Ngài, như lời Ngài đã nói “thịt tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống’ (Ga 6,55).

Một phút suy tư…

Hôm nay, toàn thể Giáo Hội long trọng mừng Lễ Mình Máu Chúa Kitô. Mình Máu Chúa Kitô chính là trung tâm điểm của đời sống Kitô hữu. Hay nói một cách rõ nét hơn, Mình Máu Chúa Kitô chính là nguồn sống cho những ai là Kitô hữu.

Đây không phải là một niềm tin mơ hồ. Nó đã được xác tín bởi lời khẳng định của Đức Giêsu : “Tôi là BÁNH HẰNG SỐNG từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”.

“Được sống và sống muôn đời”. Vâng, đó là ước mơ không nguôi của con người. Đã có nhiều người tốn biết bao thời gian lẫn tiền bạc để mua cho được sự sống đời đời. Rất tiếc, mọi người đều thất bại. Hay bất quá, họ chỉ có thể kéo dài sự sống mà không thể ngăn được sự chết.

Muốn “được sống và sống muôn đời” ư ! Chỉ cần một niềm tin : “tin vào Đấng Người đã sai đến” Và hãy đến với Đức Giêsu theo lời mời gọi của Ngài : “Hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng”.

Tin và đến. Vâng, chắc chắn rằng : Đức Giêsu sẽ “bồi dưỡng” chúng ta thứ bánh hằng sống từ trời xuống.


Petrus.tran



Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2011

"3.16" - mật mã THÌNH YÊU THIÊN CHÚA.

“3.16” - mật mã Tình Yêu Thiên Chúa
--------------------------------------------------------------------------------

Thời gian và không gian thường được con người sử dụng như là điểm mốc để ấn định cho một biến cố quan trọng nào đó xảy ra trên cuộc đời này.

Xưa kia, khi chưa sử dụng lịch để tính thời gian, người ta thường tính theo niên hiệu triều đại vua chúa hay quan quyền. Ví dụ, khi hỏi Chúa Giêsu chịu khổ hình và chết vào thời điểm nào. Chúng ta không thể trả lời vào ngày mấy, thứ mấy, năm mấy. Nói tắt một lời, chúng ta không thể đưa ra một con số cụ thể nào đó. Nhưng chắc chắn mọi người đều trả lời rằng : “thời tổng trấn Philatô”.

Nhưng khi đã sử dụng lịch. Người ta thường đưa ra những “con số” để xác định thời gian cho một biến cố quan trọng nào đó đã xảy ra. Ví dụ, khi nói tới con số “4.7.1776”, hẳn nhiên sẽ có nhiều người nghĩ rằng, đó là ngày bản tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ được công bố.

Ở một trường hợp khác, cũng tại xứ sở “Cờ Hoa” này. Nhắc tới con số “11.9.2001” hay viết theo lối ngày tháng tại Mỹ “9.11”. Vâng, người ta không thể không nhớ tới vụ mười chín tên không tặc, cướp bốn chiếc máy bay, trong đó có hai chiếc đâm vào tòa tháp đôi của Trung Tâm Thương mại thế giới tại Manhatta – NewYork. Hậu quả như thế nào mọi người đều đã rõ.

Nếu con số “9.11” trở thành con số ám ảnh toàn nước Mỹ. Thì có một con số khác đem đến niềm vui và hạnh phúc cho thế gian. Nó có liên quan đến vận mệnh con người trên trái đất này. Đó chính là con số “3.16”.

Có thật vậy không ? Trước khi trả lời chi tiết cho câu hỏi này, chúng ta hãy trở về quá khứ của nhiều ngàn năm xa trước đó. Hay đúng hơn, hãy trở về cái ngày được gọi là ngày “tạo thiên lập địa”. Ngày mà với niềm tin, chúng ta tin rằng “Từ ban đầu Thiên Chúa sáng tạo trời và đất” (St 1,1). Thiên Chúa còn “làm ra con người theo hình ảnh (Thiên Chúa) và để cho con người làm bá chủ trên mặt đất” (St 1,26).

Buồn thay ! con người đã phạm tội bất tuân. Chính tội lỗi đã phá hủy chương trình sáng tạo của Thiên Chúa. Nó đã hủy diệt tất cả những gì là tình yêu thương mà Thiên Chúa đã dành cho con người. Nó đã làm cho con người sợ hãi để rồi trốn chạy Thiên Chúa. Nó đã đặt sự chết thống trị con người. “Là bụi đất, (con người) sẽ trở về với bụi đất” (St 3,…19).

Và điều đau buồn hơn hết, chính vì tội lỗi đã phạm, nên con người phải lìa xa Thiên Chúa. Mất đi hồng phúc làm con Thiên Chúa.

Có người sẽ hỏi, thế có gì liên quan đến con số “3.16” ? Vâng, chẳng liên quan gì đến con số đó, nếu nó đứng riêng lẻ một mình. Nhưng nếu con số “3.16” được kèm thêm hai chữ. Chỉ hai chữ thôi, nó sẽ cho chúng ta thấy “Tình Yêu Thiên Chúa” đối với con người như thế nào.! Đó là hai chữ “đoạn và câu”. Vâng, chúng ta hãy thêm chữ “đoạn” trước số 3, và chữ “câu” trước số 16.

Đoạn 3 câu 16 trong Tin Mừng thánh Gioan đã ghi lại lời “Con Trời” nói với con người rằng : “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16).

Trong ba năm thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng. “Con Trời” là Đức Giêsu, qua những lời giảng dạy, Ngài đã nhấn mạnh với con người rằng “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Ga 3,17).

Với bài dụ ngôn “người con hoang đàng”(Lc 15, 11-32), qua nhân vật người cha, Đức Giêsu đã cho con người thấy rõ nét về một Thiên Chúa Cha nhân hậu và bao dung. Một Thiên Chúa luôn “chạnh lòng thương xót” trước những hối nhân trở về.

Cũng với bài dụ ngôn, Đức Giêsu đã gửi đến một thông điệp rằng, con người không thể đón nhận lòng nhân hậu và sự bao dung của Thiên Chúa nếu không “tin” vào sự tha thứ, không đứng lên và đi về với Thiên Chúa, như người con hoang đàng đã “tin” rằng người cha sẽ tha thứ và anh ta đã “đứng lên, đi về cùng cha”.

Vâng, có thể gọi “3.16” là con số mật mã. Mật-mã-tình-yêu-Thiên- Chúa. Vui thay ! Mật mã đó đã được “giải mã” qua lời công bố của Đức Giêsu, rằng “Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa” (Ga 3,18).

Một chút tâm tình…

“Mật mã Tình Yêu Thiên Chúa” không chỉ mang đến ơn cứu độ cho thế gian nhưng nó còn mặc khải cho thế gian thấy tình yêu đó chỉ có thể được kiện toàn trong “Ba Ngôi Thiên Chúa”.

Đây không phải là một niềm tin vu vơ, mơ hồ. Niềm tin này đã được chính Con Trời là Đức Giêsu mặc khải trong đêm Ngài trò chuyện với Nicôđêmô.

Trong đêm đó, Đức Giêsu đã nói rằng “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí” (Ga 3,5). Và rằng “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Ga 3,17).

Qua hai lời tuyên bố trên của Đức Giêsu, không thể phủ nhận, mầu nhiệm về “Ba Ngôi Thiên Chúa : Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” đã được sáng tỏ.

Đây là mầu nhiệm đức tin. Vâng, tông đồ Phaolô đã tin. Vì thế, không ngạc nhiên khi thánh nhân luôn “cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa và ơn hiệp thông của Thánh Thần” (2Cor13,13).

Tin vào “Ân sủng của Chúa Giêsu Kitô. Tình thương của Thiên Chúa. Và ơn hiệp thông của Chúa Thánh Thần”. Vâng, đó chính là tin vào “Ba Ngôi Thiên Chúa”.

Một phút suy tư…

Thật phải đạo, khi hôm nay, toàn thể Giáo Hội Công Giáo xác tín lại niềm tin này qua việc cử hành “Lễ Chúa Ba Ngôi”.

Lễ Chúa Ba Ngôi : Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Vâng, có thể gọi đây là ngày “Lễ Tình Yêu” và nó gợi cho chúng ta nghĩ đến một gia đình.

Hãy để tâm hồn mình trở về trong thinh lặng. Và hãy đọc lại “mật mã Tình Yêu Thiên Chúa”. Vâng, “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16).

Chúng ta hãy thử tưởng tượng…

Gia đình sẽ ra sao ! nếu chúng ta không “yêu thương đến nỗi” sẵn sàng hy sinh mọi thú vui riêng tư của mình !!!

Người bạn đời sẽ ra sao ! nếu chúng ta không “yêu thương đến nỗi” sẵn sàng dẹp bỏ tính ích kỷ, cái tôi của mình !!!

Và còn rất nhiều, rất nhiều đối tượng để chúng ta phải “yêu thương họ đến nỗi”…

Làm sao để có thể “yêu thương mọi người đến nỗi” !?

Hãy nghe lời Đức Giêsu đã nói : “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian” (Ga 3, 17).

Hãy nhớ, có một lần tại Đền Thờ, Đức Giêsu đã tuyên bố trước người phụ nữ bị cho là phạm tội ngoại tình, rằng “tôi không lên án chị đâu”.

Không lên án sẽ dẫn tới sự tha thứ. Có tha thứ thì chẳng có gì có thể ngăn cản chúng ta “yêu thương mọi người đến nỗi”.

Khi chúng ta có thể “Yêu thương mọi người đến nỗi”. Vâng, đó chính là lúc chúng ta nối dài bàn tay yêu thương của Chúa Giêsu bằng chính bàn tay của chúng ta.

Làm được như thế. Vâng, chúng ta hãy tự hào, dĩ nhiên là tự hào trong Chúa, mà giơ bàn tay lên trán và đọc “ Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen”.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2011

Món quà vô giá.

Món Quà Vô Giá.



Thiên Chúa muốn con người được sống và sống muôn đời. Thật vậy, Sách Sáng thế ký đã ghi lại rằng : “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa. Thiên Chúa ban phúc lành cho họ.”

Sáng tạo nên con người, Thiên Chúa không chỉ ban phúc lành cho họ. Ngài còn tặng quà cho con người, để con người có miếng ăn mà sống.

Món quà đầu tiên mà Thiên Chúa đã ban cho con người chính là “một vườn cây ở Eden ”. Vườn Eden, nơi tràn ngập “thảo mộc xinh tươi… cây trên mặt đất có trái… Nước sinh ra đầy dẫy những sinh vật. Chim bay lượn trên mặt đất. Các thủy quái khổng lồ cùng mọi sinh vật vẫy vùng lúc nhúc dưới nước tùy theo loại”. Một nơi như thế, quả là lý tưởng để mà sinh sống. Sách Thánh ghi lại rằng : Thiên Chúa “đặt vào đó con người do chính mình tạo ra” để con người làm bá chủ.

Thế nhưng, thay vì đón nhận món quà đó như một ơn huệ Thiên Chúa ban cho, con người đã đánh đổi nó bằng một món quà khác. Một món quà tưởng chừng như sẽ làm cho con người đi từ sự sống giới hạn quanh vườn Eden , đến một sự sống vô biên, thông biết mọi sự. Nhưng, hỡi ơi ! khi nhận món quà khác, không do Thiên Chúa ban, sự sống của con người lại bị giới hạn hơn, đó chính là sự chết.

Dẫu vậy, Thiên Chúa vẫn muốn con người được sống và sống muôn đời. Chính vì thế, từ các dân các nước; dân tộc Israel đã được tuyển chọn. Từ dân tộc này; Thiên Chúa đã ban cho thế gian một món quà mới. Đó chính là Con Một của Người. Con của Người sẽ được gọi là “Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. Để “ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Vâng, Giêsu người Nazareth , chính là món quà bởi trời, một món quà mới được ban cho thế gian.
……
Trong những ngày thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu đã tái khẳng định điều đó rằng “Tôi từ trời mà xuống” (Ga 6,38).

Nhiều người tin và đi theo Ngài. Trong số đó, có nhóm mười hai môn đệ. Họ đã bỏ cả công việc, nghề nghiệp và ngay cả gia đình, để cùng đồng hành với Thầy Giêsu. Họ say sưa trong công việc rao giảng Nước Trời. Họ tin rằng, Ngài chính là Đấng Kitô. Họ nghĩ rằng “Đấng Kitô phải trường tồn”. Họ hy vọng rằng, “khi Đấng Kitô được vinh quang”, ít nhiều, họ cũng sẽ được ngồi bên tả hoặc bên hữu Ngài.

Thế nhưng, mọi suy nghĩ của các ông đều bị đảo ngược. Và Đức Giêsu đã nói về các ông rằng “tư tưởng của (các) anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16,23).

Đã ba lần, Đức Giêsu nói cho các môn đệ biết về vai trò và sứ vụ của Ngài. Đúng, Đức Kitô phải trường tồn. Nhưng trước hết “Con Người (tức chính Đấng Kitô) phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày, sống lại.” (Mt 16: 21).

Trong bữa tiệc ly, vai trò và sứ vụ của Đức Giêsu được công bố một cách cụ thể. “Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi”. Đức Giêsu nói tiếp rằng “đã đến giờ Con Người được tôn vinh”.

Quả thật, lời công bố của Đức Giêsu đã làm cho các môn đệ không thể không xao xuyến và bối rối. “Thầy đi đâu ?… (về) nhà Cha Thầy ư ?”. Có chắc là “Thầy đi dọn chỗ” cho các môn đệ ! Hay là món quà từ trời ban xuống cho các ông, nay bị “Trời” thâu hồi ?

Không để cho các môn đệ phải “xao xuyến”. Đức Giêsu nói với họ rằng, “Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”. Qua lời trần tình đó, Ngài đã vực dậy niềm tin các ông.

“Thầy đi”. Đúng ! Nhưng “Thầy sẽ không để anh em mồ côi”.

“Thầy đi”. Đúng ! Nhưng Thầy “sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi” (Ga 14,16).

Nếu xưa kia, từ Belem , một món quà bởi trời, được ban cho con người là Đức Giêsu Kitô. Thì hôm nay, tại Giêrusalem, một món quà bởi trời, cũng được ban cho con người, chính là “Đấng Bảo Trợ”.

Đức Giêsu và Đấng Bảo Trợ. Vâng, chính là món quà vô giá được ban bởi trời. Một món quà 2 trong 1.

Một chút tâm tình…

Đấng Bảo Trợ là ai ? Đức Giêsu đã cho chúng ta câu trả lời rằng : “Đó là Thần Khí sự thật” (Ga 14,17).

Thần Khí sự thật là một món quà vô giá ? Đúng vậy, đó là một món quà, theo như lời tông đồ Phêrô đã nói “(không) thể lấy tiền mà mua”(Cv 8,20).

Để có thể đón nhận được món quà vô giá là “Thần Khí sự thật”, không gì tốt bằng hãy đón nhận chính Đức Giêsu Kitô. Hay nói một cách cụ thể là hãy “yêu mến Đức Giêsu và giữ các điều răn của Ngài”.

Đừng quên thảm kịch nơi vườn Eden năm xưa. Chỉ vì không còn yêu mến Chúa. Chỉ vì muốn “trở nên như những vị thần”. Chỉ vì gạt bỏ những “điều răn cấm” của Thiên Chúa. Hai ông bà Adam và Eva đã đánh mất “món quà địa đàng” Thiên Chúa đã ban cho.

Đức Giêsu đã khẳng định “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy. và sẽ tỏ mình ra cho người ấy”.

“Tỏ mình ra” bằng cách nào ! Thưa chính là bằng cách “xin Chúa Cha ban cho Thần Khí sự thật”. Để Người “luôn ở giữa chúng ta, ở trong chúng ta và ở với chúng ta luôn mãi”.

Một phút suy tư…

Đức Giêsu đã phán rằng “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật” (Ga 14,16-17).

“Thần Khí sự thật” chính là Chúa Thánh Thần theo cách gọi hôm nay.

Vâng, hãy để tâm hồn lắng đọng và hãy tự hỏi mình rằng, đời sống tâm linh của ta đã thật sự có Chúa Thánh Thần !?

Không có Chúa Thánh Thần ngự trị trong đời sống đức tin, thật quá khó để chúng ta có thể đương đầu với một thế giới ngày một “tục hóa” như hôm nay.

Nếu không có Chúa Thánh Thần. Đấng có thể “ban cho trí hồn (ta). Ơn biết khôn ngoan tìm theo chân lý”(1). Vâng, làm sao chúng ta có thể “xa điều gian dối” nhan nhản trên truyền thông đại chúng cũng như ngoài xã hội hôm nay !

Không có Chúa Thánh Thần. Chúng ta không thể gặt hái hoa trái của Người.

Nếu không có hoa trái Chúa Thánh Thần, hoa trái “bác ái, vui vẻ, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm”… Vâng, làm sao chúng ta có thể “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục. Đem an hòa vào nơi tranh chấp. Đem chân lý vào chốn lỗi lầm”(2) !

Nếu không có hoa trái Chúa Thánh Thần, hoa trái “tiết độ và trong sạch”… Vâng, làm sao chúng ta có thể chế ngự những dục vọng, một trong nhiều nguyên nhân gây đổ vỡ hôn nhân gia đình !?

Có bao giờ chúng ta phân vân chọn lựa giữa món quà của thế gian như tiền tài, danh vọng, quyền lực v.v… với món quà Thiên Chúa ban cho chính là Chúa Thánh Thần !?

Xưa kia, Adam và Eva đã chọn món quà của thế gian. Và kết quả của sự lựa chọn đó chính là sự chết. Còn hôm nay, việc lựa chọn xin dành riêng cho mỗi người chúng ta.

Nhưng trước khi lựa chọn, chúng ta hãy nhớ rằng, món quà Đức Giêsu xin Chúa Cha cho chúng ta “Đó là Thần Khí sự thật”. Vâng, Thần Khí sự thật sẽ giải phóng chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết. Thần Khí sự thật sẽ dẫn chúng ta đến sự sống vĩnh cửu, nơi chúng ta sẽ thấy được Đức Giêsu Phục Sinh. Nơi mà “Đức Giêsu sống và chúng ta cũng sẽ được sống”(Ga 14,…19).
Petrus.tran
…………
(1) trích Cầu xin Chúa Thánh Thần – Ns Phương Linh.
(2) trích Kinh hòa bình - Ns Kim Long.

Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2011

Đừng bối rối !

Đừng bối rối !
--------------------------------------------------------------------------------


Thế giới chúng ta đang sống, có thể nói rằng, quả là một thế giới quá nhiều âu lo và sợ hãi. Âu lo và sợ hãi bởi sự khủng hoảng kinh tế, bởi nạn thất nghiệp tràn lan, bởi đạo đức băng hoại, bởi sự tiềm ẩn của những mối đe dọa chiến tranh và khủng bố, cuối cùng là bởi tội lỗi ngày một gian ác, ngày một gia tăng.

Nhìn vào những thực trạng trên, hỏi rằng, cuộc sống của chúng ta, làm sao ít nhiều không bị ảnh hưởng. ! Hỏi rằng, cuộc sống của chúng ta, làm sao ít nhiều không khỏi bàng hoàng, lo lắng và bối rối !
…..

Bàng hoàng, lo lắng và bối rối cũng chính là điều mà các môn đệ của Đức Giêsu xưa kia từng đối mặt. Ba năm theo Thầy Giêsu, mỗi khi đối diện với những vấn đề nan giải, các môn đệ cũng không thoát khỏi tâm trạng bàng hoàng, lo lắng và bối rối.

Một trong những những nan đề dẫn đến sự bàng hoàng, lo lắng và bối rối trầm trọng nhất trong ba năm theo Thầy Giêsu chính là những sự kiện đã xảy ra vào buổi chiều của bữa tiệc ly.
…….

Hãy trở về Giêrusalem của hơn hai ngàn năm trước. Chúng ta sẽ thấy điều gì đã xảy ra ! Điều gì đã khiến cho các môn đệ phải bàng hoàng, lo lắng và bối rối !

Vâng, đó là một buổi chiều của những tin tức xấu, những tin tức buồn.

Một buổi chiều của bàng hoàng. Bàng hoàng vì một kẻ trong nhóm mười hai “sẽ nộp Thầy Giêsu”.

Một buổi chiều của những nỗi “buồn hiu hắt buồn”. Buồn vì có một người sẽ “chối Thầy Giêsu ba lần”.

Một buổi chiều của lo lắng và bối rối. Lo lắng và bối rối vì Thầy Giêsu chỉ “còn ở với (các môn đệ) một ít lâu nữa thôi”.

Hãy thử tưởng tượng, trong ba năm qua, các môn đệ đã bỏ hết mọi sự, nghề nghiệp, cuộc sống gia đình để theo Thầy Giêsu, với tất cả niềm tin và lòng phó thác. Họ đã có một cuộc sống an tâm bên cạnh Ngài. Khi thiếu bánh ăn, Thầy Giêsu hóa bánh ra nhiều. Khi gặp phong ba bão táp, Thầy Giêsu giải cứu họ. Khi cần, Thầy Giêsu dạy dỗ họ…

Thế mà hôm nay, Thầy Giêsu lại nói : “Nơi tôi đi, các ngươi không thể đến được”…

Chuyện là như thế đấy !

Hỏi sao các môn đệ không bàng hoàng, lo lắng và bối rối !

Hỏi sao ông Simon Phêrô lại không hỏi ; “Thầy đi đâu ? Sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được ?”

Hỏi sao ông Tôma lại không thắc mắc với Thầy của mình rằng : “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao biết được đường” !

Nếu những lần trước, Đức Giêsu đã hóa giải sự lo lắng và bối rối trước những nan đề mà các môn đệ đã phải đối mặt, bằng những phép lạ tỏ tường. Thì hôm nay, chỉ cần đôi lời đàm đạo. Ngài đã xua tan những lo lắng và bối rối của các ông.

Qua những lời đàm đạo, Thầy Giêsu không chỉ hé mở cho các môn đệ thấy nơi các ông sẽ đến, nhưng Ngài còn vẽ ra một “sinh lộ” cho cuộc hành trình các ông sẽ phải đi qua. Một cuộc hành trình đi về “Nhà Cha”. Nơi mà Thầy Giêsu sẽ đi trước để “dọn chỗ” cho các môn đệ của Ngài. Để Thầy Giêsu ở đâu thì các môn đệ của Ngài “cũng ở đó”.

Sau phần đàm đạo giữa Thầy và trò. Có phần chắc, các môn đệ thấu hiểu và tin tưởng vào lời Đức Giêsu đã nói : “Anh em đừng bối rối ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1).

Một chút tâm tình…

Trong cuộc đàm đạo. Ông Philipphe có nói với Đức Giêsu “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện”.

Đức Giêsu trả lời: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”. Và rằng “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy” (Ga 14,9…11).

Vâng, Có thể ví rằng, câu trả lời của Đức Giêsu như một “chiếc cầu treo” nối kết “Trời và Đất”. Nó đã phá vỡ sự ngăn cách giữa con người và Thiên Chúa, Sự ngăn cách mà xưa kia nguyên tổ Adam và Eva đã gây ra.

Tất cả những lời đàm đạo giữa Chúa Giêsu với các môn đệ trong bữa tiệc ly năm xưa, có thể được tóm gọn trong lời Ngài đã khẳng định với Tôma rằng : “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy”(Ga 14,6).

Không có dấu hiệu cho thấy các môn đệ nghi ngờ lời khẳng định trên của Chúa Giêsu. Bởi nếu các ông nghi ngờ, thì sau này làm gì có chuyện “Lời Thiên Chúa vẫn lan tràn, và tại Giêrusalem, số các môn đệ tăng thêm rất nhiều, lại cũng có một đám rất đông các tư tế đón nhận đức tin” (Cv 6,7).

Một phút suy tư…

Cuộc đời thường được ví như một con đường. “Đường đời”. Và phải chăng, đường đời chúng ta đi cũng không thiếu những âu lo phiền muộn, những lo lắng và bối rối !

Đúng vậy, trong hoàn cảnh riêng tư của cuộc đời, sẽ có lúc chúng ta cũng lo lắng và bối rối trước một nan đề nào đó.

Một cơn cám dỗ bội phản lời thề thủy chung !

Trước cám dỗ của danh vọng, của tiền bạc, của quyền bính !

Trước sự bắt bớ của bạo quyền !

Chúng ta sẽ làm gì để vượt qua sự sợ hãi, sự lo lắng và bối rối !

Phải chăng là “Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1). Vâng, thông điệp này không chỉ dành riêng cho các môn đệ của Đức Giêsu năm xưa. Nó cũng dành cho chúng ta là những Kitô hữu hôm nay.

Tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy ! Phải chăng chính là hãy tin Đức Giêsu, Ngài chính là “con đường, là sự thật và là sự sống” !?

Các môn đệ đã tin. Vâng, họ đã tin Đức Giêsu chính là con đường đời của họ. Một con đường dẫn đến sự thật và có sự sống đời đời.

Giáo Hội tiên khởi, bất chấp ba trăm năm “hầm trú”, bị bắt bớ, cũng đã tin như thế.

Còn chúng ta ! Chúng ta tin !

Nếu chúng ta tin, chẳng có gì phải lo lắng và bối rối trước cơn cám dỗ bội phản lời thề thủy chung. Hãy mặc lấy tư tưởng ông Giuse, “từ chối, không chịu nghe… chạy trốn và ra ngoài” (St 38, 7…12) .

Nếu chúng ta tin ! Trước cám dỗ của danh vọng, của tiền bạc, của quyền bính ư ! Hãy nhớ rằng “Tất cả mọi sự chỉ là phù vân”.

Sự bắt bớ của bạo quyền ư ! Hãy nhớ rằng Đức Giêsu đã nói : “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục” (Mt 10,28).

“Anh em đừng bối rối ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1). Hãy tin. Bởi có tin vào Thiên Chúa “bất cứ điều gì chúng ta nhân danh Ngài mà xin… thì chính Ngài sẽ làm điều đó” cho chúng ta.

Vâng, Lạy Chúa ! Xin Ngài cất đi những lo lắng và bối rối trong cuộc sống của chúng con. Amen.

Petrus.tran





Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một.

  Chúa Nhật XXX – TN – A Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một Đọc các sách Tin Mừng, chúng ta được biết, sứ vụ rao giảng Tin Mừng của...