Thứ Sáu, 17 tháng 8, 2012

Bánh Hằng Sống : đây là Mầu Nhiệm đức tin


Trẻ mãi không già và trường sinh bất lão là điều ai cũng ước mơ. Hiện nay, nhiều nhà khoa học trên khắp thế giới đang tiến hành một loạt các công trình nghiên cứu về quy trình chống lão hóa và nâng cao tuổi thọ.


Viện sĩ Vladimir Skoulatchev của Viện Hàn lâm Khoa học Nga, trưởng khoa Công nghệ Sinh học của đại học Moscow đã dành phần lớn cuộc đời để nghiên cứu hiện tượng lão hóa.


Ông ta đã chế tạo được một loại thuốc được cho là có thể triệt tiêu sự lão hóa của tế bào. Viện sĩ Skoulatchev hy vọng trong vòng 5 năm tới, kết quả nghiên cứu này sẽ được công bố rộng rãi trước công chúng.


Trong khi đó, tại Viện Kỹ thuật Massachusetts ở Boston (Hoa Kỳ) một nhóm nhà khoa học do giáo sư Leonard Guarente đứng đầu, cũng đang nghiên cứu về một loại gen có khả năng kéo dài tuổi thọ của tất cả các bộ phận cơ thể.


Giáo sư Leonard Guarente hy vọng có thể ứng dụng gen này trong lĩnh vực sản xuất dược phẩm. Người ta hy vọng, trong một tương lai gần, các nhà khoa học sẽ “trình làng” một loại thuốc trường sinh. (nguồn : internet)


Phải chăng, sự tiến bộ của khoa học sẽ đáp ứng được “giấc mơ” trẻ mãi không già và trường sinh bất lão? Xin thưa, không chắc lắm, bởi vì cho tới bây giờ, hết ngày dài lại đến đêm thâu, con người vẫn phải nức nở cất tiếng thở than “đêm nay lại một đêm nữa… giấc mơ chỉ là giấc mơ”.


Vâng, từ ngàn xưa, sinh-lão-bệnh-tử là quy luật muôn đời.


Đức tin Kitô giáo cũng đã dạy rằng “vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết… như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người”. (Rm 5, 12). Tội ấy chính là tội nguyên tổ, tội bất tuân mà Ađam-Eva đã phạm. Và án phạt chính là con người phải “trở về với bụi đất” (St 3, …19).


Thế nhưng, Thiên Chúa là “Đấng từ bi nhân hậu. Người chậm giận và giàu tình thương” (Tv 103, 8). Thật vậy, Thiên Chúa đã xóa “án tử” bằng cách “sai Con của Người đến thế gian… để thế gian nhờ Con của Người, mà được cứu độ”. Và hễ ai “tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16).


Belem của hơn hai ngàn năm trước đó, Con Thiên Chúa “đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1, 14).


“Người phàm” đó chính là Đức Giêsu.


******
Vâng, sau ba mươi năm sống ẩn dật tại Nazareth, Đức Giêsu bắt đầu ra đi rao giảng Tin Mừng. Bất cứ nơi nào Ngài đến giảng dạy, lập tức nơi đó đông đảo dân chúng kéo đến đi theo. Họ đến từ khắp mọi miền Palestina, từ Galilê, Giuđê, Giêrusalem và cả vùng phụ cận bên kia sông Gio-đan.


Họ đến không chỉ “để nghe Người giảng dạy” mà còn để xin Đức Giêsu “chữa lành bệnh tật”. Thật vậy, khi “Người đi tới đâu, vào làng mạc, thành thị hay thôn xóm nào, người ta cũng đặt kẻ ốm đau ở ngoài đường, ngoài chợ và xin Người cho họ…được khỏi” (Mc 6, 56).

Thế nhưng, theo là vậy, nghe là vậy… không phải ai đến với Đức Giêsu cũng đều tin và đón nhận lời giảng dạy của Ngài. Đã có một số người, điển hình là nhóm Pharisêu, luôn rình rập tìm dịp Đức Giêsu giảng những gì họ cho là “trái khoáy” hầu để chất vấn, công kích và phản đối.

Sự kiện Đức Giêsu chữa một người đau ốm ở bên hồ nước tại Bet-da-tha là một ví dụ điển hình. Hôm đó, sau khi Đức Giêsu chữa một người bất toại ba mươi tám năm được khỏi thì giữa Ngài và những người Do Thái đã xảy ra một cuộc tranh luận gay gắt.


Có sự ganh tỵ giữa người được chữa lành và người không được chữa lành chăng? Xin thưa, không thấy thánh sử Gioan nói tới và đó cũng không phải là nguyên nhân dẫn đến việc tranh luận. Nguyên nhân chính, đó là người Do Thái nuốt không trôi lời Đức Giêsu đã nói rằng, “Thiên Chúa là Cha của mình” (Ga 5, 18).


Vâng, thật khó để mà công nhận một người tự nhận là “Con Thiên Chúa” mà lại cứ vi phạm luật ngày sabát. Và tất nhiên, là họ tức giận, giận đến nỗi muốn “tìm cách giết Đức Giêsu”.


Sự tức giận đó âm ỉ như một lò thuốc nổ, để rồi ít lâu sau đó, tại Caphacnaum, sự tức giận đó nổ bùng lên, khi họ, một lần nữa, lại phải nghe những lời mà họ cho rằng rất vô lý từ Đức Giêsu.


Hôm đó, Đức Giêsu tuyên bố rằng “Tôi là bánh từ trời xuống”. Chẳng những thế, Ngài còn khẳng định rằng : “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống.” (Ga 6, 51).


Một phút tâm tình và suy tư…


Khi nghe Đức Giêsu tuyên bố như thế, người Do Thái đã xầm xì với nhau rằng: “Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao?.. Cha mẹ ông ta , chúng ta đều biết cả. Sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống?” (Ga 6, 41-42).


Ngày xưa, khi còn trong sa mạc, chỉ vì đói, chỉ vì khát mà cha ông họ đã “xầm xì” trước mặt ông Môsê “Chúng tôi sẽ lấy gì mà uống… Chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây” (Xh 16, …3) thôi thì cũng đành!


Còn hôm nay… Ôi! Tệ thật… Đức Giêsu hứa sẽ cho họ ăn… ăn một thứ bánh “từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết” thế mà họ lại “xầm xì phản đối”!!!


Kinh Thánh chép rằng, Thiên Chúa “chẳng trách cứ luôn luôn, không oán hờn mãi mãi” (Tv 103, 9).


Vâng, hôm nay, tại Caphacnaum, dù cho họ có xầm xì không tin, Đức Giêsu vẫn không tỏ lời trách cứ, Ngài vẫn nói lên những lời nói tràn đầy tình yêu thương: “Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6, 51).


*****


Đáng buồn thay! Hôm nay, vẫn còn không ít người mang danh là “Christian” nhưng lại “xầm xì” không tin lời Jesus Christ đã tuyên phán được nêu ở trên!


Và còn buồn hơn nữa, buồn thật buồn… khi hôm nay, thế gian lại muốn dùng một thứ “thịt” khác để mưu cầu sống mãi. Họ đã không ngần ngại ăn “thịt thai nhi” nhất là những “thai nhi con so” để cải lão hoàn đồng, để trường sinh bất lão…



Không cần nói nhưng ai trong chúng ta cũng có thể hiểu rằng “thịt thai nhi” là một thứ ô uế hơn tất cả mọi thứ ô uế.


Là một Kitô hữu, “mọi thứ ô uế” – tông đồ Phaolô nói “dù nói đến, anh em cũng phải tránh, như thế mới xứng đáng là những người trong dân thánh” và thánh nhân tiếp lời rằng “không một kẻ ô uế - được thừa hưởng cơ nghiệp trong Nước của Đức Kitô và của Thiên Chúa” (1Cor 5, ..5).

Hỡi thế gian - Hãy dừng lại việc giết chết thai nhi, vì đó là "hành vi gian ác". 


Một lần nữa, chúng ta hãy nghe lời Đức Giêsu tuyên phán, “Tôi là BÁNH HẰNG SỐNG từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”.


Giáo Hội Công Giáo luôn trung thành với niềm tin này. Trong thánh lễ mỗi ngày, Giáo Hội, qua vị linh mục, vẫn luôn cất tiếng loan báo cho mọi người biết rằng: “Đây là mầu nhiệm đức tin”.


Bạn… bạn có tin không?


Vâng, đừng quên, Đức Giêsu khẳng định “Thật, tôi bảo thật, ai tin thì được sự sống đời đời” (Ga 6, 47).


Petrus.tran




Thứ Hai, 23 tháng 7, 2012

Nơi thanh vắng chính là nơi nghỉ ngơi tuyệt diệu.

Nơi thanh vắng chính là nơi nghỉ ngơi tuyệt diệu.



Thế giới mà chúng ta đang sống, có thể nói, càng ngày càng nhiều người mắc phải “stress”. Nguyên nhân chính là do cuộc sống căng thẳng với nhịp sống nhanh, với áp lực công việc, với những va chạm bởi các mối quan hệ ngoài xã hội.


Theo một nghiên cứu của Hiệp Hội Tâm Thần Mỹ, cứ 5 người Mỹ thì có 1 người tuyên bố rằng họ cảm thấy bị stress. Và người ta đã khuyến cáo rằng, stress chính là tên sát thủ thầm lặng, nó có thể cướp đi sinh mạng của bất cứ ai, bất cứ lúc nào.


Mới đây, ngày 21.07.2012, VnExpress.net đưa một bản tin, nguyên văn như sau : “Tuần qua, dân mạng Trung Quốc xôn xao trước cái chết của một cô gái trẻ mới 24 tuổi, chủ một gian hàng trên Taobao, đột tử vì quá bận rộn cho công việc kinh doanh. Cô cũng đang lo sửa sang nhà cửa để chuẩn bị đám cưới đồng thời nhịn ăn để giảm cân. Sau khi thức trọn một ngày làm việc, khi đi ngủ vào rạng sáng 17/7, cô gái đã không tỉnh dậy nữa”.


Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự đột tử của cô ta. Và có phần chắc nguyên nhân chính là do cô ta thiếu thời gian nghỉ ngơi.


Y học đã khẳng định rằng, sự nghỉ ngơi chính là liều thuốc bổ tốt nhất, nó không chỉ phục hồi thể xác mà còn bồi dưỡng tinh thần một cách tuyệt hảo.


Quan trọng là thế. Thế nhưng, có bao giờ chúng ta thử hỏi, thế nào là một sự nghỉ ngơi tốt nhất? Phải chăng, đó chính là những giây phút thư giãn bên ly cà phê, trong một quán rượu, xem một bộ phim hoặc là một chuyến du lịch, picnic hay là một giấc ngủ sâu với nhiều mộng đẹp, v.v…?


Thưa không. Ngay cả giấc ngủ, nó cũng chưa phải là sự nghỉ ngơi tuyệt diệu.
Có được sự nghỉ ngơi tuyệt diệu, điều cần phải có cho bản thân chính là một khoảng không gian trong tâm hồn, trong một nơi thanh vắng và không thể không có nguyện cầu.


*****


Đức Giêsu chính là người hội đủ tất cả những điều nêu trên. Trong ba năm ra đi rao giảng Tin Mừng, dù phải chống chọi với rất nhiều áp lực tứ phía, nhưng khi trở về, Đức Giêsu đã cho mọi người thấy cuộc sống nội tâm của Ngài là một biển cả bao la của sự bình an.


Bất cứ ai đến với Đức Giêsu họ đều có thể nhận được sự bình an từ nơi Ngài. Ngay cả khi phải đối diện trước những giây phút của sự phản bội, của bắt bớ, của chết chóc, Đức Giêsu vẫn có thể truyền cảm sự bình an cho các môn đệ.


Có được như vậy chính là nhờ Ngài đã có những phút giây tĩnh lặng của tâm hồn, trong một nơi thanh vắng và luôn nguyện cầu.

 
Có những lúc một mình Đức Giêsu đi vào những nơi “hoang vắng và cầu nguyện”. Và cũng có khi Ngài truyền cho các môn đệ cùng đi với Ngài.


Hôm đó, sau những ngày nhận “bài sai” ra đi khắp thôn làng rao giảng Tin Mừng, mười hai người môn đệ “tụ họp chung quanh Đức Giêsu”. Các ông thay nhau “kể lại cho Người biết mọi việc các ông đã làm và mọi điều các ông đã dạy” (Mc 6, 30).

 
Mọi việc các ông đã làm và mọi điều các ông đã dạy… Vâng, có phần chắc đó là những công việc đã để lại nơi các ông những “gánh sầu thương mệt mỏi hai vai”.


Với sự cảm thông sâu sắc, Đức Giêsu khuyên các ông rằng, “Anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng và nghỉ ngơi đôi chút.” Và rồi “Thầy trò xuống thuyền đi lánh riêng ra một nơi hoang vắng.”


Phải chăng là các ông đã quá chán ngán trong sứ vụ ra đi “tìm chiên lạc”? Thưa không. Không ai có thể thấy một lời than phiền nào đến từ các ông.

Ngược lại, hình ảnh một rừng người “kẻ lui người tới quá đông” khiến cho các ông “chẳng có thì giờ ăn uống” đã chứng tỏ kết quả việc ra đi loan báo Tin Mừng của các ông thành công mỹ mãn.


Hãy nhìn xem, “khi thấy các ngài ra đi, nhiều người hiểu ý, nên từ khắp các thành, họ cùng nhau theo đường bộ chạy đến.”

 
Hãy nhìn xem, tuy chạy bộ nhưng họ đến nơi “trước cả các ngài” (Mc 6, 33). Chính hình ảnh này làm nổi bật lòng tin của họ vào Đức Giêsu.


Và kìa, còn gì xúc động hơn, khi “ra khỏi thuyền, Đức Giêsu thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt”.


Kinh Thánh Cựu ước có viết rằng: “Ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình.”(Hs 2,16).

 
Vâng, trong nơi thanh vắng đó, Đức Giêsu đã thổ lộ tâm tình cùng họ bằng cách “Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều” (Mc 6, …34)


Một phút tâm tình và suy tư…


“Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều.”


Vâng, điều này vẫn tiếp tục xảy ra đối với chúng ta hôm nay.


Trong thánh lễ, với phần Phụng Vụ Lời Chúa, lời dạy dỗ của Đức Giêsu vẫn vang vọng đến với mỗi chúng ta. Qua các giám mục và các linh mục, Đức Giêsu vẫn tiếp tục dạy dỗ chúng ta bằng những giáo huấn, bằng những thư chung, bằng những bài giảng trong thánh lễ.


Và nơi thanh vắng của hôm nay, để mỗi chúng ta đến đón nhận sự nghỉ ngơi tuyệt diệu, sau những căng thẳng trong cuộc đời, chính là nơi ngôi nhà tạm thân yêu mà Đức Giêsu Phục Sinh đang đứng đó cất lời mời gọi “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ” (Mt 11, 28).


Vâng, trong một thời đại “cơm-áo-gạo-tiền” là một cuộc chạy marathon, sự bất công không thể phản kháng, bạo lực thì ngày một tràn lan… lan từ học đường lan ra khắp phố phường, lòng trung tín và sự thủy chung là một thứ xa xỉ… Con người đã đối xử với nhau mất hẳn tình người.


Ai…? Ai trong chúng ta dám nói rằng, mình không cảm thấy “mệt mỏi và gánh nặng”… không hơn một lần rơi vào trạng thái trầm cảm, không hơn một lần cảm thấy bất an?


Hãy để tâm hồn mình chìm trong thinh lặng và hãy tự hỏi lòng mình rằng: tôi có rơi vào tình trạng nêu trên?


Nếu có hãy đến cùng lương y Giêsu. Điều này, thánh Phaolô đã trải nghiệm và ngài đã khẳng định rằng “chính Người là bình an của chúng ta” (Ep 2,14).


Vua David xưa cũng đã cảm nghiệm: “Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn” (Tv 62,2).


Petrus.tran









Thứ Năm, 19 tháng 7, 2012

Hãy đi...

HÃY ĐI…



Chúa Nhật 26.02.2012 vừa qua, tiểu ban dự tòng của Ban Giáo Lý Tổng Giáo Phận Sài-Gòn đã tổ chức buổi gặp gỡ giữa giám mục giáo phận và anh chị em dự tòng tại Trung-Tâm Mục-Vụ Tổng-Giáo-Phận.


Tham dự buổi gặp gỡ có Đức Hồng Y Tổng Giám-Mục Gioan Baotixita Phạm-Minh-Mẫn, Đức Giám Mục Phụ Tá Phêrô Nguyễn-Văn-Khảm và 782 người dự tòng thuộc 43 giáo xứ, trong đó có 264 người dự tòng sẽ được rửa tội vào Lễ Vọng Phục-Sinh.


Vui mừng thay trước sự kiện 782 người anh chị em này từ khắp bốn phương trời, nay gia nhập vào đại gia đình Công Giáo với khoảng gần 2 tỷ người trên toàn thế giới.


Có lẽ trong chúng ta, không ai mà không hiểu rằng, có được một đại gia đình Công Giáo như thế, chính là nhờ các tông đồ xưa, cũng như các nhà truyền giáo hôm nay, họ đã thực thi mệnh lệnh Đức Giêsu đã truyền dạy trước khi về trời, một cách hoàn hảo, rằng, “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng cho khắp loài thụ tạo”.






*****


Thật ra, không đợi tới lúc về trời, mà ngay khi còn tại thế, Đức Giêsu đã coi sứ mạng ra đi loan báo Tin Mừng là một việc hệ trọng. Chính vì thế, ngay khi bắt đầu sứ vụ, Đức Giêsu đã cất tiếng mời gọi một số người để họ trở thành những người tiếp nối sứ mạng loan báo Tin Mừng.


Đầu tiên là An-rê và Simon Phêrô, kế tiếp là Giacôbê và Gioan, sau đó là Philipphê, Nathanael, Matthêu, Tôma, Giacôbê con ông An-phê, Tađêô, Simon thuộc nhóm quá khích và Giuda Itcariot. Họ chính là “nhóm Mười Hai”, họ đã đáp lời mời gọi và đã được Đức Giêsu quy tụ lại “để ở với Người và để Người sai đi rao giảng” (Mc 3, 14). Có thể nói rằng, họ đã sống như một nhóm truyền giáo lưu động rày đây mai đó cùng với Đức Giêsu.


Trong những lần ra đi rao giảng Tin Mừng, nhìn những người dân Israel luôn phải mệt mỏi và gánh nặng bởi sự lãnh đạo của những Pharisiêu và những kinh sư, những người mà Đức Giêsu gọi là “những kẻ giả hình”, là những kẻ “rủ cho được một người theo đạo, nhưng khi họ theo rồi thì lại làm cho họ đáng xuống hỏa ngục gấp đôi”… Vâng, Đức Giêsu đã phải chạnh lòng thương xót để rồi Ngài đã phải thốt lên rằng “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít”.


Đối với Đức Giêsu, vai trò của người môn đệ không chỉ tin-và-theo-Ngài nhưng còn phải “được sai đi” cũng giống như “chủ gặt sai thợ ra gặt lúa về”.


Chính vì thế, sau chuyến hành trình về làng quê Nazareth với những “gánh sầu thương mệt mỏi hai vai”, Đức Giêsu đã “gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi” (Mc 6, 7).


Ngôn sứ Isaia có nói : “Đẹp thay trên đồi núi bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ” (Is 52, 7)


Quả đúng là như thế, “từng hai người một”, các môn đệ đi đến khắp thôn làng rao giảng Tin Mừng và kêu gọi người ta ăn năn sám hối . Họ đã để lại khắp thôn làng những hình ảnh đẹp của vị sứ giả.


Vâng, đẹp thay hình ảnh những vị sứ giả của Đức Giêsu, họ đã “trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa trị họ khỏi bệnh” (Mc 6, 13).


Một phút tâm tình và suy tư…


Tất cả những sự kiện trên được ghi lại trong Phúc Âm thánh Máccô với tiêu đề “Đức Giêsu sai nhóm mười hai đi giảng”. Vâng, trong câu chuyện này, có hai chi tiết không thể không làm cho chúng ta suy nghĩ.


Chi tiết thứ nhất là việc “sai nhóm Mười Hai”, chi tiết thứ hai là những chỉ thị cho người được sai đi, đó là “không được mang gì đi đường, không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng v.v…”


“Sai nhóm Mười Hai” nghĩa là gì ? Vâng, theo lời giải thích của một số nhà chú giải Kinh Thánh, con số “12” tượng trưng cho mười hai chi tộc Israel . Việc Đức Giêsu sai nhóm mười hai có thể hiểu rằng, trước hết, mười hai chi tộc Irael là “đích ngắm” mà các môn đệ phải đến rao giảng trước tiên.


Thế nhưng, “sai nhóm Mười Hai” với thực tại hôm nay, nếu được hiểu đó là lời sai được gửi đến tất cả những ai đã là một Kitô hữu, có gì là sai trái?


Và nếu được hiểu như thế, thì chúng ta có mong “được sai đi” để mà đáp lời mời gọi ?


Vâng, đừng sợ rằng, Chúa Giêsu của hôm nay, khi sai đi, Ngài cũng lại ra chỉ thị cho chúng ta rằng : “không được mang laptop, không được đi Honda, không được mang iPod v.v…” mà hãy sợ rằng, với lợi thế về công nghệ thông tin, về phương tiện cơ giới hiện đại, thuận tiện hơn so với các môn đệ xưa, chúng ta có giới thiệu được khuôn mặt đích thực của Chúa Giêsu cho muôn dân hay không ?


Thực ra, không nhất thiết phải có đầy đủ những phương tiện nêu trên chúng ta mới có thể trở thành một nhà truyền giáo “Pro”.


Hãy nghe anh Tạ-Ân-Phúc nói về trường hợp sự trở về của một tân tòng qua một bài viết được đăng trên VietCatholic vào ngày 29.02.2012. Anh ta viết như sau :


“Đến với Công-Giáo qua chứng tá của người có đạo, qua những sinh hoạt của người Công-Giáo là trường hợp của em Nguyễn-Thị-Thanh-Hồng, sinh viên năm thứ hai trường Cao Đẳng Công Thương.

Sinh ra trong một gia đình cách mạng, ba là đảng viên, trước đây em không hề biết đến Thiên Chúa. Khi lên Sài-Gòn đi thi, được các tình nguyện viên đưa về một nhà trọ, cô chủ nhà trọ đã yêu thương giúp đỡ trong năm ngày đi thi đó. Em đã có hai buổi giao lưu với gần 150 người và cô đã có dịp để giới thiệu về Thiên Chúa với một câu hỏi làm đánh động mọi người: “Con người sinh ra từ đâu và chết đi sẽ đi về đâu?”.


Khi trọ học, mỗi tối Chúa Nhật, em đã cầu nguyện cùng với các bạn, đó là nơi chia sẻ những vui buồn và những điều nhân bản. Từng bước, em đã đến với Thiên Chúa và giờ đây mỗi ngày em đều có Chúa trong tâm tư, hành động.” (ngưng trích).


“… Cô chủ nhà trọ đã yêu thương giúp đỡ trong năm ngày đi thi đó.”. Vâng, đó chính là hành trang mà mỗi nhà truyền giáo phải “mang theo”. Và đây cũng là câu trả lời vì sao Đức Giêsu căn dặn : ““không được mang gì đi đường, không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng v.v…”


Chỉ tính ở Việt-Nam, tám mươi triệu người đang thiếu “tình yêu của Thiên Chúa”. Ai sẽ mang đến cho họ ! Phải chăng là chính chúng ta ? Phải chăng là Thiên Chúa “Người đã chọn ta” ? (Ep 1, 4)


Chúng ta không chịu trách nhiệm về chuyện này trước khi sinh ra, nhưng giờ đây, chúng ta đầy trọng trách trong cuộc đời hiện hữu, hiện hữu mình là một Kitô hữu.


Bạn có đồng ý như thế không ? Nếu đồng ý, thì, dù tôi không phải là giám mục, cũng chẳng phải là linh mục… tôi chỉ là một bác sĩ, một nữ điều dưỡng, một giáo sư, một người công nhân, một phu cyclo, một chị quét rác bên đường v. v… hãy xác tín rằng “chính ĐỨC CHÚA đã bắt lấy tôi… và ĐỨC CHÚA đã truyền cho tôi : Hãy đi…” (Am 7, 15)


Petrus.tran

Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2012

Đức Giêsu : Vị mục tử nhân lành

Đức Giêsu : Vị Mục Tử nhân lành.

Theo thống kê của StandwithUs, hiện nay trên thế giới có 2 tỷ người tin Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu Kitô là ai? Ngài là ai mà hai tỷ người đã tin theo ? Ngài là ai mà hôm nay mọi người khắp năm châu trần gian đã tin theo !?

Suốt chiều dài lịch sử Kitô giáo, đã có nhiều câu trả lời được đưa ra, qua sách vở, qua âm nhạc, qua kịch nghệ lẫn phim ảnh. Gần đây nhất, một người mang tên là Joseph Ratzinger hiện đang là đương kim Giáo Hoàng Benedict XVI cũng đã gửi đến thế giới câu trả lời về Đức Giêsu Kitô qua tác phẩm kinh điển với tựa đề là “Đức Giêsu thành Nazareth ”.

Vâng, hãy ngược dòng thời gian trở về Nazareth của hơn hai ngàn năm xa trước đó, nơi đây chúng ta sẽ nhận được câu trả lời : Đức Giêsu là ai.

……

Tại làng Nazareth , sau ba mươi năm sống ẩn dật, Đức Giêsu khởi sự ra đi rao giảng Tin Mừng. Có thể nói rằng, trong suốt ba năm thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng, bất cứ nơi nào Đức Giêsu hiện diện, lập tức nơi đó liền có một rừng người qui tụ chung quanh Ngài. Họ đến từ khắp mọi miền đất nước, từ : “Giuđê, Giêrusalem cũng như từ miền duyên hải Tia và Siđôn”. Họ đến để xin Đức Giêsu “chữa lành bệnh tật” (Lc 6:17-18).

Thật vậy, người ta đã kể lại rằng : “Người đi tới đâu, vào làng mạc, thành thị hay thôn xóm nào, người ta cũng đặt kẻ ốm đau ở ngoài đường, ngoài chợ và xin Người cho họ…được khỏi” (Mc 6:56).

Không chỉ bởi những phép lạ chữa lành bệnh, không chỉ bởi quyền năng trừ quỷ nhưng còn do những lời giảng dạy của Đức Giêsu đã lôi cuốn nhiều người đến với Ngài. Chính những lời rao giảng đó đã khiến “mọi người đều kinh ngạc”. Họ kinh ngạc bởi “Giáo Lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền” (Mc 1 :27).

Sách có chép rằng “tiếng lành đồn xa”. Đúng vậy. Thực tế đã cho thấy, “danh tiếng Người đồn ra khắp xứ Xyri”. Có thể nói, kể từ đây, với những gì Đức Giêsu đã làm và những gì Ngài đã giảng dạy, nhiều người bắt đầu thắc mắc và tự hỏi “Ông Giêsu này là ai ?”…

“Ông là ai ?”. Vâng, người đường thời với Đức Giêsu, mà đa phần là nhóm kinh sư và biệt phái, thường thắc mắc về nhân thân của Đức Giêsu và luôn chất vấn Ngài mỗi khi có dịp tiện. Và trong mỗi trường hợp, Đức Giêsu đều có câu trả lời thích hợp cho hoàn cảnh câu hỏi được đặt ra.

Trong một lần tranh luận về nguồn gốc Đức Kitô, Ngài nói với người Do Thái rằng “Tôi là ánh sáng thế gian”. Lần khác, trong lúc tranh luận về lời chứng của Đức Giêsu liên quan đến bản thân Người, Đức Giêsu nói với họ rằng : “Tôi Hằng Hữu”.

Có thể nói rằng những câu trả lời này như khẳng định rõ nét cho lời nói sau này của Đức Giêsu “Tôi và Chúa Cha là một”.

“Tôi và Chúa Cha là một” đó chính là sự mặc khải rằng Đức Giêsu cũng chính là Thiên Chúa. Một Thiên Chúa “đã trở nên người phàm” và cư ngụ giữa thế gian. Một Thiên Chúa “đến thế gian không phải để lên án thế gian nhưng là để thế gia nhờ (đó) mà được cứu độ”.

Trong đêm ông gặp Nicôđêmô, Đức Giêsu đã nói với ông ta rằng “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16)

Vâng, quả là một thông điệp tràn đầy tình yêu của Thiên Chúa ban cho nhân loại qua Con Một của Người là Đức Giêsu.

Và hôm nay, Con Một Thiên Chúa - Đức Giêsu thành Nazareth, bằng phương pháp “trực quan sinh động”, Ngài đã mượn hình ảnh “người mục tử và đàn chiên” để nói lên mức độ Ngài yêu thế gian như thế nào.

Con Một Thiên Chúa - Đức Giêsu thành Nazareth đã phán rằng “Tôi chính là mục tử”, là người mục tử sẵn sàng : “Hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10, 11)

Và sự thật đã rõ, lời nói của Đức Giêsu đã đi đôi với việc làm. Tại đồi Golgotha , người mục tử Giêsu đã hy sinh mạng sống mình bằng cái chết trên thập giá. Một cái chết để cứu chuộc nhân loại. Một cái chết để không ai còn có thể mỉa mai nói rằng “từ Nazareth , làm sao có cái gì hay được ?” Và cuối cùng, một cái chết để muôn thế hệ về sau đều phải nhìn nhận rằng, Đức Giêsu thành Nazareth , Ngài chính là “Vị Mục Tử nhân lành”.

Một chút tâm tình…

Vào Google, một trang mạng với chức năng tìm kiếm, đánh lên đó dòng chữ “người mục tử nhân lành”, vâng, chúng ta sẽ thấy rất nhiều hình ảnh Đức Giêsu như người mục tử vác con chiên trên vai muôn kiểu, muôn màu, muôn sắc.

Theo Kinh Thánh Cựu Ước, những hình ảnh đó như là biểu tượng nói về lòng thương xót, sự chăm lo, bảo vệ và nâng đỡ của Thiên Chúa đối với con người.

Và từ ý nghĩa sâu sắc đó, hình ảnh người mục tử với con chiên trên vai nay trở thành biểu tượng đẹp cho các giám mục và linh mục – những người được Chúa tuyển chọn để thay Ngài chăm sóc, yêu thương, dẫn dắt và bảo vệ đoàn chiên của Người.

Vì thế, thật phải đạo, khi hôm nay, ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu, chúng ta không chỉ cầu nguyện cho Giáo Hội có thêm nhiều người “tự ý không kết hôn vì Nước Trời” (Mt 19, …12) nhưng trên hết, hãy nguyện xin cho những người đã-được-Chúa-tuyển-chọn, ngày càng thêm “đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người”.

Bởi vì chỉ khi “đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người”, người mục tử hôm nay mới có thể cùng Đức Giêsu “đi trước” chứ không phải “đi giữa hay đi sau” đoàn chiên và đủ dũng cảm như “anh cả Phêrô” dám hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên.

Đức Giêsu nói “Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được”. Vâng, chỉ khi thực thi mệnh lệnh đó, người mục tử hôm nay mới có thể được ghi nhận là người mục-tử-nhân-lành.

Hay nói chính xác hơn, người mục tử đó chính là “người mục tử đích thực”.

Một phút suy tư…

Thật ra, không nhất thiết phải quan niệm rằng, chỉ các giám mục hay linh mục mới là mục tử duy nhất. Giáo Hội ngày nay, với Hiến chế Tín lý về Giáo Hội, số 9, cũng mời gọi các tín hữu hãy trở nên là những mục tử cho nhau, đặc biệt là mục tử ở trong gia đình.

Trong thời đại bùng nổ thông tin, internet chính là những “con sói” hung hãn nhất của con em mình. Chính “con sói internet” đã làm cho biết bao con trẻ rơi vào trạng thái trầm uất, bạo lực, đam mê thần tượng, cuồng dâm, mất niềm tin vào chính mình để rồi cuối cùng là tiến tới tội ác, ma túy và tự tử…

Chắc hẳn chúng ta không muốn con em mình đến trường một mình. Vậy tại sao chúng ta lại để cho con em mình “một mình” đi vào thế giới ảo nơi mà “con sói imternet” luôn rình rập để hãm hại?

Ai… ai sẽ là người mục tử để đánh đuổi những “con sói” đó nếu không phải là chính chúng ta ? Ai sẽ là người mục tử - người chỉ đường dẫn lối cho con em mình nếu không phải là chính chúng ta ?

Vâng, không nhất thiết chúng ta phải hy sinh cả mạng sống nhưng thật cần thiết để chúng ta hy sinh một chút thời giờ, một chút riêng tư để cùng đồng hành với con cái chúng ta, để đưa con cái chúng ta đến bên bờ suối mát của tình yêu thương trong đức tin vào Thiên Chúa.

Đương nhiên không thể phủ nhận giám mục và linh mục chính là những người mục tử. Họ là những người kế vị các thánh tông đồ quyền “chăm sóc và chăn dắt” qua Bí Tích Truyền Chức Thánh.

Một điều tuy đã cũ nhưng xin được trình bày lại ngày hôm nay rằng : nếu các linh mục khi lãnh nhận Bí tích truyền chức, họ được trao ban chức tư tế - “Tư tế thừa tác”. Thì người Kitô hữu khi lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy, cũng được trao ban chức tư tế - nhưng là “tư tế cộng đồng”.

Công Đồng Vatican II dạy rằng : “Chức tư tế chung của các tín hữu và chức tư tế thừa tác hay phẩm trật, tuy khác nhau không chỉ về cấp bậc mà còn về yếu tính; song cả hai bổ sung cho nhau. Thật vậy, cả hai đều tham dự vào chức tư tế duy nhất của Chúa Kitô theo cách riêng của mình” (Hiến chế tín lý về Giáo Hội – số 10).

Có thể nói cách khác chăng ! Vâng : giám mục, linh mục hay giáo dân tất cả đều tham dự vào vai trò mục tử của Đức Giêsu theo cách riêng của mình. Nhưng trước nhất và quan trọng nhất đó là chúng ta phải để cho Đức Giêsu : Vị Mục Tử nhân lành sống và hành động trong tâm hồn chúng ta.

Petrus.tran






































































Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2012

SAO LẠI HOẢNG HỐT ?

Sao lại hoảng hốt ?

Đức Giêsu Phục Sinh chính là sự toàn vẹn của chương trình cứu chuộc hoàn hảo của Thiên Chúa, nhưng lại là những thách đố đối với các môn đệ, là những người đã tin và đi theo Ngài.

Thật vậy, câu chuyện về những lần Chúa Giêsu sống lại và hiện ra với các môn đệ đã cho thấy sự thách đố đó. Và hôm nay, chúng ta hãy trở về Giêrusalem, cách đây hơn hai ngàn năm, nơi Đức Giêsu đã tử nạn và đã Phục Sinh, để thấy các môn đệ của Người đã vượt qua sự thách đố như thế nào.

………

Kể từ khi Thầy Giêsu bị bắt và bị chết treo trên thập giá tại đồi Golgotha, nhóm mười một môn đệ sau những giờ phút “tan hàng”, giờ đây, trong căn nhà nhỏ, họ quây quần bên nhau với tâm trạng “nhớ nhớ buồn buồn với chán chường”.

Làm sao không buồn chán cho được. Ba năm theo Thầy Giêsu, với hy vọng một ngày kia, chính Thầy mình sẽ đem lại cho đất nước, cho gia đình, cho mọi người, niềm vui mừng thoát khỏi ách thống trị của đế quốc Roma.

Chính Thầy Giêsu đã sai họ ra đi rao giảng cho mọi người rằng “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần” (Lc 10,9). Nằm trong nhóm môn đệ thân cận của Thầy, họ đã nhìn thấy quyền năng của Thầy Giêsu. Một thứ quyền năng mà chỉ cần “nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục”. (Lc 10,17).

Mới vài hôm trước, cùng Thầy Giêsu vào Giêrusalem với những lời tung hô rợp trời, với những tiêng hò hét vang khắp thành đô “Hosana. Hosana. Chúc tụng vua Israel”…

Than ôi ! sự việc lại không như mong muốn. Triều Đại đâu không thấy, chỉ thấy sự thất vọng não nề… Thê thảm quá ! Thật không thể hiểu nổi, một người đầy quyền năng, đầy lòng nhân ái như “sư phụ”, thế mà lại có một kết cục bi đát ! Thầy Giêsu đã chết. Bước qua ngày thứ ba rồi. Thế là chấm hết ! Thế là “mộng vàng tan mây” !

Ngoài kia, bình minh của ngày thứ nhất vừa ló dạng, những tin đồn về Thầy Giêsu mỗi lúc một lan rộng khắp kinh thành Giêrusalem.

Có những tin đồn bất lợi cho các môn đệ. Nhóm thượng tế và kỳ mục đã có một hành động hết sức “ma giáo”. Họ xuất một một số tiền lớn cho bọn lính canh mộ và bảo nhóm lính đó hãy tung tin đồn rằng, vào ban đêm “các môn đệ của ông Giêsu đã đến lấy trộm xác” (Mt 28, 13).

Bên cạnh những tin thất thiệt đó, còn có những nguồn tin khác về Thầy Giêsu. Bà Maria Macdala, người đã theo chân Thầy Giêsu suốt con đường từ dinh Philato đến tận đỉnh đồi Golgotha, thuật lại cho các môn đệ rằng “Tôi đã thấy Chúa”.

Một nguồn tin thân cận khác do hai người môn đệ trong lúc “nhọc nhằn lê gót chân buồn” trở về làng Emmau cho biết, trên đường đi, họ đã gặp Thầy Giêsu và họ “nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh” (Lc 24, 35). Và một trong hai người môn đệ tham dự cuộc hành trình đó xác quyết “Chúa trỗi dậy thật rồi”.

Thật vậy sao ? Có đáng tin không ? Từ thuở khai thiên lập địa cho đến hôm nay đã có ai chết rồi lại được sống lại !!!

Trong khi các ông còn đang bình luận về những nguồn tin trên thì “Đức Giêsu đứng giữa các ông…” Với một động tác quen thuộc, Ngài đưa tay về phía các ông và nói : “BÌNH AN CHO ANH EM”.

Âm vang của tiếng nói khiến cho Phêrô cũng như toàn thể mọi người sửng sờ đến nỗi “các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma” (Lc 24 : 37).

Ôi ! Tệ thật. Mới chỉ có chưa đầy ba ngày mà các ông đã quên hẳn hình ảnh Đức Giêsu. Tệ hơn nữa, những lời Đức Giêsu đã dạy bảo rằng “Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại…” có vẻ như các ông cũng chẳng tin !!!

Đúng. Thầy đã trỗi dậy từ cõi chết – Đức Giêsu tiến về phía các ông và nói : “Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây ?”

Và như người mục tử xót xa nhìn đàn chiên bơ vơ không người chăn dắt, Đức Giêsu, một lần nữa “mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh” và Người nói tiếp rằng “Tất cả những gì sách luật Môse, các sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm”.

Người ta có nói “Kẻ thù của niềm tin là sự sợ hãi chứ không phải sự nghi ngờ”. Và thông thường sự sợ hãi luôn dẫn đến sự hoảng hốt.

Vâng, Đức Giêsu quả đúng là một bậc thầy về tâm lý. Ngài đã không trách cứ các môn đệ về sự “ngờ vực” của họ. Với một lời hết sức giản dị, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng : “Sao lại hoảng hốt ?”…

Một chút tâm tình…

Hãy trở lại với câu chuyện Đức Giêsu Phục Sinh. Vâng, không phải một sớm một chiều mà các môn đệ tin rằng Đức Giêsu Phục Sinh. Thật vậy, niềm tin của các ông là một niềm tin tiệm tiến.

Tất cả những dấu chỉ như “ngôi mộ trống” hay “khăn liệm không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi” cũng chỉ làm cho các ông “rất đỗi ngạc nhiên về sự việc đã xảy ra” (Lc 24,…12).

Còn lời chứng của nhóm các bà Maria Macdala, bà Gioanna và bà Maria, mẹ ông Giacobe thì “các ông cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin” (Lc 24, 11).

Chỉ khi các môn đệ “nhìn” thấy Đức Giêsu, rồi được “nghe” Người giải thích Kinh Thánh, lúc đó các môn đệ mới tin và không còn hoảng hốt trước bất cứ áp lực nào trong công cuộc rao giảng Tin Mừng Phục Sinh sau này.

Thật vậy, bằng chứng rõ nét nhất, đó là, dù phải đối mặt với các tư tế, các kỳ mục, các kinh sư, dù các Tông Đồ bị đánh đòn và cấm rao giảng Đức Giêsu Phục Sinh, nhưng những hình phạt đó vẫn không làm cho các ông “hoảng hốt”. Ông Phêrô và và các Tông Đồ khác vẫn hiên ngang làm chứng rằng “Đấng mà chính anh em đã nộp và chối bỏ… đã giết… nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết, về điều này chúng tôi xin làm chứng” (Cv 3, …13-14).

Một điều cũng nên biết, trừ tông đồ Gioan, còn tất cả các tông đồ khác đều đã “tử đạo” để làm chứng cho niềm tin cứu độ, niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh.

Vâng, máu tử đạo của các Ngài chính là chất tẩy rửa cho lời than phiền của Đức Giêsu xưa kia đối với các ông rằng “Sao lại hoảng hốt ? Sao lòng anh em còn ngờ vực”.

Một phút suy tư…

“Sao lại hoảng hốt ?”.

Vâng, trong một lần hiện ra với nhóm chị em phụ nữ, Đức Giêsu đã có một lời nói mạnh mẽ hơn : “Chị em đừng sợ ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó” (Mt 28, …10).

“Sao lại hoảng hốt ? – Chị em đừng sợ !” Phải chăng đó cũng là lời Đức Giêsu muốn nhắn nhủ mỗi người Công Giáo chúng ta hôm nay ?

Thế giới hôm nay còn quá nhiều bất ổn. Ai dám chắc rằng vụ khủng bố “11.09.2001” sẽ không còn tái diễn ? Sau sự kiện của ngày 11 tháng 9, nhiều người đã bị đông lạnh bởi sự sợ hãi. Họ hầu như luôn hoảng hốt trước những lời cảnh báo của bất cứ tổ chức khủng bố lớn nhỏ nào trên thế giới.

Kinh nghiệm của sự khủng hoảng cá nhân nói lên điều đó.

Chiến tranh… khủng bố… hay động đất ư ? Vấn đề sức khỏe ư ! Hay là một vài lần thất bại trong kinh doanh, thiếu may mắn trong tình trường, đổ vỡ trong cuộc sống hôn nhân gia đình !!! Hay một ai đó trong người thân của chúng ta “về bên kia thế giới” ? Vâng, nếu phải đối diện trước những nghịch cảnh này, chúng ta có “hoảng hốt ?

Sao lại hoảng hốt ? Phải chăng chúng ta hoảng hốt là vì không có sự bình an của Chúa ?

Đức Giêsu, trong bữa tiệc ly đã nói rằng : “Thầy để lại bình an cho anh em. Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.” (Ga 14 : 27).

Bình An Chúa ban “không theo kiểu thế gian”. Nói cách khác, đó chính là bình an trong nghịch cảnh. Sự bình an trong nghịch cảnh chấp nhận thương đau, chấp nhận hy sinh, chấp nhận từ bỏ…

Và một khi chấp nhận thương đau, chấp nhận từ bỏ, chấp nhận hy sinh thì còn gì có “hận thù”. Không có hận thù lấy gì tạo ra “chiến tranh và khủng bố”…

Thánh Phaolô xác tín rằng : “Cho dầu là sự chết hay sự sống...không có gì tách được chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta" (Rm 8, 37-39).

Bộ mặt thế giới luôn thay đổi, nhưng niềm tin Chúa Giêsu Phục Sinh thì không. Chúng ta mừng Chúa Giêsu Phục Sinh năm nay thì cũng giống như hàng năm, giống như chính “ngày thứ nhất” năm xưa Chúa Giêsu đã sống lại và đã nói “Bình An cho anh em”.

Chúng ta không được phép “độc quyền” sự Bình-An-của-Chúa đã ban cho chúng ta. Chúng ta còn phải “chia sẻ” sự bình an đó bằng công việc mục vụ của chúng ta qua sự rao truyền về quyền năng thay-đổi-cuộc-đời của Chúa Giêsu Phục Sinh đến với mọi người.

Và chúng ta đừng quên dựa vào lời hứa của Ngài về sự trở lại... trở lại trong cuộc đời của chúng ta và trong cuộc đời của những người mà chúng ta muốn đặt niềm tin của họ vào Ngài.

Bởi đó chính là lời Đức Giêsu Phục Sinh truyền dạy : “Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân… kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân về những điều này”. (Lc 24, 47-48)

Petrus.tran

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

Đức Giêsu Phục Sinh nói` gì ?

Đức Giêsu Phục Sinh nói gì ?

Kể từ khi Thầy Giêsu bị bắt và bị kết án tử, các môn đệ của Ngài chẳng khác gì như đàn gà con mất mẹ. Sau hai ngày tan tác, các môn đệ tụ tập về nơi họ thường nhóm họp. Họ họp lại trong sự sợ hãi và hoang mang.

Không sợ hãi và hoang mang sao được ! Ngoài kia là cả một rừng những tin đồn. Nhóm thượng tế và các kỳ mục đã nham hiểm cho lính một số tiền lớn và bảo họ tung tin đồn rằng, vào ban đêm “các môn đệ của ông Giêsu đã đến lấy trộm xác” (Mt 28, 13). Còn nơi đây, nơi các ông đang nhóm họp thì bà Maria Macdala lại xác nhận “Tôi đã thấy Chúa”…


“Tôi đã thấy Chúa”. Vâng, tính từ hôm thứ-sáu-đen, ngày Đức Giêsu bị đóng đinh trên cây thập tự tại đồi Golgotha, cho đến hôm nay đã là bốn mươi tám tiếng đồng hồ. Sắp hết ba ngày rồi ! Phải chăng lời phán hứa của Đức Giêsu rằng : “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại”, hôm nay sẽ ứng nghiệm !!!

Đang lúc các môn đệ suy đi nghĩ lại lời Đức Giêsu phán hứa thì một điều không tưởng đã xảy ra. “Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông”, mặc dầu nơi các ông đang ẩn náu “các cửa đều đóng kín”.

Hai mươi đôi mắt rực sáng lên trong hân hoan và vui mừng. Họ “vui mừng vì được thấy Chúa” (Ga 20, 20). Thầy Giêsu đó ư ! Lời phán hứa của Thầy nay đã ứng nghiệm sao! Đúng. Chính Đức Giêsu chứ không là ai khác. Trong giây phút lịch sử đầy linh thiêng đó, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng : “Bình an cho anh em” (Ga 20, 19).

Câu chuyện được kể tiếp rằng : Nói xong “Người cho các ông xem tay và cạnh sườn”. Bàn tay và cạnh sườn in đậm dấu tích của vết đinh và mũi đòng. Những dấu tích mà tám ngày sau, Tôma đã phải quỳ mọp xuống khi Đức Giêsu bảo với ông rằng : “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20,27).


Hôm đó tông đồ Tôma vắng mặt. Ông hồ nghi sự kiện Đức Giêsu hiện đến với các bạn đồng môn của mình. Ông không tin những gì các bạn đồng môn kể lại. Đã vậy, ông còn thách thức rằng “nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20, 25).

Cho đến tám ngày sau, ông mới thấy sự hồ nghi của mình quả là đáng trách. Không trách sao được, bởi có lời chép rằng “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi” …

Giờ đây, sự hồ nghi đã biến khỏi tâm hồn của Tôma, thay vào đó là một tâm hồn tan vỡ, một tâm hồn mở ra và ông đã cất lên lời tuyên xưng, xác tín niềm tin của mình rằng, Đức Giêsu quả là “ Chúa của tôi… Thiên Chúa của tôi”. (Ga 20, 28).


Một chút tâm tình…

Đức Giêsu Phục Sinh đã nói gì với tông đồ Tôma ? Xin thưa, Ngài nói rằng “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin”. Và phải chăng đây là lời Đức Giêsu trách cứ Tôma?

Thực ra, nếu phải trách cứ, thì cả nhóm mười người còn lại cũng cần phải bị trách cứ.

Sự kiện tông đồ Phêrô chối Thầy ba lần có đáng trách không ? Với các anh còn lại, lúc Thầy mệt mỏi và gánh nặng bởi cây thập giá, sao các anh không chạy lại tay-đỡ-tay-nâng giúp Thầy ! Sao các anh lại mạnh ai nấy ca bài “tẩu vi thượng sách” !!!


Không ! Đức Giêsu Phục Sinh và hiện đến không phải để “thanh trừng nội bộ” như các lãnh tụ thế gian. Ngài không phải “tuýp” lãnh đạo hễ ai nghĩ sai ý mình là trù dập, là trách móc.

Trong ba năm cùng các môn đệ thực thi sứ vụ rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu luôn hướng những ý tưởng lệch lạc của các môn đệ thành bài học cho cách đối nhân xử thế.

Câu chuyện hai anh em con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan đến xin Đức Giêsu cho họ “một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả” là một minh chứng điển hình.

Thật vậy, không một lời trách móc, Đức Giêsu, nhân cơ hội này, Ngài đã gửi cho các ông một thông điệp về vai trò của người lãnh đạo, rằng “ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em” (Mc 10, 43).

Còn hôm nay, Tôma muốn được dùng chính “thị giác” hơn là “thính giác” để biểu lộ lòng tin của mình thì có gì là đáng trách !!!

Vâng, có gì phải đáng trách chứ ! Chính việc tông đồ Tôma có nhu cầu “nhìn sự thật” hơn là “nghe sự thật” nên nhờ đó Đức Giêsu ưu ái tặng cho các môn đệ và cũng là cho chúng ta hôm nay một lời chúc phúc trên cả tuyệt vời : “Phúc thay những người không thấy mà tin” (Ga 20, …29).

Một phút suy tư…

Đức Giêsu Phục Sinh còn nói gì nữa ? Xin thưa, ngay khi vừa hiện đến với các môn đệ Ngài đã nói “Bình An cho anh em”. Vâng, phải chăng đây cũng là lời Đức Giêsu Phục Sinh muốn gửi đến cho mỗi người Kitô hữu chúng ta hôm nay ?


Đúng vậy. Chúa Giêsu Phục Sinh không quá thiên vị, Ngài vẫn hiện đến với chúng ta qua “Bí Tích Thánh Thể”. Ngài vẫn gửi lời chúc “Bình An” đến với chúng ta - qua vị chủ tế trong mỗi thánh lễ hàng ngày, hàng tuần : “Bình An của Chúa ở cùng anh chị em”.


Nếu chúng ta không nhận được “Bình An của Chúa”, đó chính là chúng ta chưa thật sự “tuân giữ các điều răn của Người” (1Ga 5, …3).


Thật vậy, tại sao cuộc sống hôn nhân của con người hôm nay không có sự “bình an”, luôn có nguy cơ đổ vỡ dẫn đến ly dị ? Phải chăng là vì luật “một vợ một chồng” mà Đức Giêsu đã công bố “sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” nay con người cho là đã lỗi thời !?


Tại sao cuộc sống trong gia đình hôm nay không có sự “bình an”, luôn nhuốm màu tranh chấp, tranh chấp đất đai nhà cửa… luôn chia rẽ, chia rẽ phe cha phe mẹ… để rồi dẫn đến hận thù ? Phải chăng là vì chúng ta chưa thật sự thực thi giới răn “yêu người như chính mình ta vậy” !?


Cùng một niềm tin vào Chúa Giêsu, cùng sinh hoạt trong một cộng đoàn. Vâng, tại sao cộng đoàn luôn sống trong tình trạng “bất an”, luôn có sự dèm pha, nghi kỵ, bè phái !? Phải chăng là vì những thành viên trong cộng đoàn chưa thuộc “điều răn mới” mà Đức Giêsu đã ban cho trong bữa tiệc ly, rằng “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em…” !?


Còn nữa, tại sao chúng ta không nhận được “Bình An của Chúa”, phải chăng vì chúng ta đã dựa vào sự Bình-an-của-thế-gian, một sự bình an nay có mai mất, một sự bình an phù phiếm chóng qua !?


Còn rất nhiều cái “tại sao” nữa… Nhưng thôi, chúng ta hãy trở lại với lời Chúa phán hôm nay. Vâng, lời Đức Giêsu Phục Sinh đã phán, qua môi miệng tông đồ Gioan rằng, “Các điều răn của Người có nặng nề gì đâu” (1 Ga 5, …3)

Tóm lại, để nhận được “Bình An của Chúa” ngoài việc “tuân giữ các điều răn của Người”, đừng quên vào những ngày “thứ nhất trong tuần” mà hôm nay chúng ta thường gọi là “Ngày Chúa Nhật”. Vâng, đừng vì bất cứ lý do gì mà vắng mặt nơi bàn Tiệc Thánh Thể.

Nơi đó, chúng ta được chạm vào chính Đức Giêsu Phục Sinh. Nơi đó, Đức Giêsu Phục Sinh luôn đứng chờ đợi chúng ta với lời khẳng định : “Chính Thầy đây. Hãy yên tâm. Đừng sợ”. Và hơn hết, theo lời tông đồ Gioan nói, “đó là lòng tin của chúng ta”.

Chúng ta có tin lời Người phán ? Hay chúng ta lại muốn nhập vai tông đồ Tôma khi xưa ? Vâng, cho dù chúng ta có là Tôma-thời-đại, thì có phần chắc Chúa Giêsu Phục Sinh cũng sẽ lại nói với chúng ta rằng : “Phúc thay những người không thấy mà tin”.

petrus.tran















Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2012

Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán...

Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán…

Hãy thử tượng tượng, nếu như một ngày nào đó, bỗng nhiên có một số người tụ tập trước dãy phố nhà của bạn, họ bày bán đủ mọi thứ, tôm, cá, gà, vịt v.v… Nói chung, họ tạo ra một ngôi chợ tự phát, một ngôi chợ chồm hổm!

Vâng, chắc hẳn cư dân ở dãy phố đó không thể không khó chịu bởi những tiếng rao, tiếng mời chào, tiếng trả giá, tiếng cãi cọ vì cân đo đong đếm, tiếng gà vịt kêu quang quác, cạp cạp… Và chắc hẳn họ sẽ không im lặng vì những mùi xú uế của tôm, cá, gà, vịt bài tiết ra.

Hãy thử tượng tưởng thêm một lần nữa, nếu trước kia, khu chợ chuyên buôn bán súc vật: chim, chó, mèo, gà v.v.. tọa lạc nơi vỉa hè đường Hàm Nghi, được chính quyền thành phố cho phép di dời về vỉa hè chung quanh ngôi nhà thờ Đức Bà! Vâng, chắc hẳn thẩm quyền Tòa Giám Mục cũng như vị linh mục chánh xứ nhà thờ Đức Bà không thể không buồn bực và rất có thể các vị đó có phản ứng.

Tưởng tượng vậy thôi chứ chẳng có chính quyền thành phố nào lại cho phép những sự việc đó xảy ra nơi tôn nghiêm. Thật ra, tưởng tượng như thế là để thấy rằng, câu chuyện năm xưa Đức Giêsu đã phẫn nộ trước cảnh những người bán chiên, bò, bồ câu nơi Đền Thờ Giêrusalem, là điều dễ hiểu.

Hãy ngược dòng thời gian, trở về quá khứ đến thành Giêrusalem để xem chuyện đó đã xảy ra như thế nào.
…….

Vâng, Giêrusalem hôm đó náo nhiệt khác thường. Khác thường cũng phải, bởi hôm đó “gần đến lễ Vượt Qua của người Do Thái”. Tưởng cũng nên cần biết, người Do Thái có ba ngày lễ quan trọng: lễ Ngũ Tuần, lễ Lều Tạm và lễ Vượt Qua. Theo truyền thống, tất cả mọi người Do Thái hàng năm đều phải lên Giêrusalem dự ba ngày lễ này.

Chính vì thế, cũng như mọi thành phần dân Chúa, “Đức Giêsu lên thành Giêrusalem”. Đây không phải lần đầu tiên Đức Giêsu lên thành Giêrusalem dự lễ Vượt Qua. Năm mười hai tuổi, Đức Giêsu cũng đã cùng với cha mẹ của Ngài “trẩy hội đền Giệrusalem mừng lễ Vượt Qua” (Lc 2, 41-42).

“Trẩy hội” hay bây giờ người ta thường gọi là đi “lễ hội”. Vâng, đó là chuyện dài nhiều tập ở khắp nơi trên thế giới. Không có lễ hội nào mà không để lại nhiều tai tiếng.

Ở Ấn Độ hay ở Campuchia thảm kịch giẫm đạp lên nhau trong những mùa lễ hội khiến cho hàng trăm người chết là điều năm nào cũng có xảy ra. Riêng gần đây nhất, vào ngày 6.2.2012, có 3 người chết và 3 người bị thương trong dịp lễ hội đèn lồng ở Trung Hoa lục địa.

Còn ở Việt nam ư ! Lấy lễ hội “Chùa Hương” như một dẫn chứng. Vâng, có lẽ chỉ cần trích bốn chữ nơi hàng “tít” do Báo Thanh Niên số ra ngày 28.01.2012 đăng, rằng “Bát nháo ở chùa Hương” cũng đủ thấy nơi đó đã xảy ra điều gì.

Hôm nay, sự kiện Đức Giêsu cùng với các môn đệ trẩy hội lên Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua, nếu được viết một nhận xét, có lẽ cũng chỉ cần dùng ba chữ ngắn ngủi… “thật đáng tiếc” !!!

Vâng, đáng tiếc thật ! Đáng tiếc là bởi, với người Do Thái, Giêrusalem được cho là nơi Đức Chúa Trời ngự. Chính Thiên Chúa đã hiện ra với vua Salomôn, sau khi nhà vua hoàn tất việc xây “ĐỀN THỜ Đức Chúa”, và Người đã phán với vua: “Ta đã nghe lời ngươi cầu nguyện và van nài trước nhan Ta, Ta đã thánh hóa ngôi nhà này mà ngươi đã xây cho Danh Ta ngự ở đó muôn đời, Ta sẽ nhìn xem và ưa thích ở đấy mọi ngày” (1V 9, 3)…

Đã hẳn, đền thờ Đức Giêsu đang đứng trước đây không phải là ngôi đền thờ đầu tiên mà vua Salomôn đã xây dựng. Nhưng đền thờ vẫn là đền thờ. Thế mà hôm nay, ôi! tệ thật. Đức Giêsu, Con Một của Đức Chúa, khi “nhìn xem” tận mắt “ĐỀN THỜ Đức Chúa” nơi đã được-thánh-hóa, lại chỉ thấy một cảnh hỗn độn, lộn xộn bởi “những kẻ bán chiên bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền.. trong Đền Thờ”.

Vâng, hỏi sao Đức Giêsu có thể “ưa thích ở đấy” cho được! Hỏi sao Ngài không “xua đuổi tất cả chiên cũng như bò, ra khỏi Đền Thờ” cho được! Hỏi sao Ngài lại yêu cầu những người bán bồ câu “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây”! Hỏi sao Người không đổ tung “tiền của những người đổi bạc, và lật nhào bàn ghế của họ” cho được! (Ga 2, 15).

“Đòi dấu lạ” để chứng tỏ quyền của Đức Giêsu ư? Và có cần giải thích lời tuyên bố đầy thách thức của Đức Giêsu rằng : “Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại”!?

Không thấy nhân chứng Gioan ghi lại điều gì. Chỉ thấy Đức Giêsu không nao núng và Ngài dõng dạc cảnh cáo họ rằng: “Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán” (Ga 2, …16).

Một chút tâm tình…

Đối với người Do Thái, đi Giêrusalem dự lễ Vượt Qua, đúng là một dịp trẩy hội vui mừng. Làm sao không vui mừng cho được vì đây là lễ kỷ niệm ngày thoát ách nộ lệ Ai Cập sau hơn 400 năm.

Nhưng với Đức Giêsu, đi Giêrusalem không phải là đi trẩy hội. Ngay lần đầu tiên lên Thành Thánh, Đức Giêsu đã nói rõ cho cha mẹ Ngài biết rằng : “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con đó sao ?” (Lc 2, …49).

“Nhà của Cha con” là nhà nào ? Thưa là Đền Thờ Giêrusalem chứ còn nhà nào nữa. “Con có bổn phận ở nhà của Cha con” nghĩa là gì ? Thưa là lên Giêrusalem để trở thành “Chiên Thiên Chúa gánh tội trần gian”.

Không. Đức Giêsu lên Giêrusalem không phải là để trổ tài “phép thuật” phá hủy Đền Thờ, nội ba ngày sẽ xây dựng lại.

Trong ba năm rao giảng Tin Mừng, mỗi khi nói “đi Giêrusalem”, Đức Giêsu đều nói cho các môn đệ biết rằng, là để Người “phải chịu nhiều đau khổ… bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại”.

Đi lên Giêrusalem là để Người “bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ kết án xử tử Người, sẽ nộp Người cho dân Ngoại nhạo bang, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá và, ngày thứ ba, Người sẽ trỗi dậy” (Mt 20,18-19).

Người nói điều này tới ba lần, nhưng chỉ tới khi “Người từ cõi chết trỗi dậy”, các môn đệ mới “nhớ lại Người đã nói điều đó”. Chẳng những họ đã nhớ mà họ còn tin. Họ “tin vào Kinh Thánh và lời Đức Giêsu đã nói”.

Vâng, các môn đệ đã tin rằng “Đền Thờ Đức Giêsu muốn nói chính là thân thể Người”. Là “Đấng Kitô bị đóng đinh”.

Một phút suy tư…

Hôm nay, chúng ta bước vào tuần thứ ba Mùa Chay. Không còn bao lâu nữa chúng ta sẽ tái chiêm ngắm hình ảnh “Đấng Kitô bị đóng đinh”.

Thế nhưng sẽ chẳng ích lợi gì nếu chúng ta không “cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá” (Gl 2, …19).

Dĩ nhiên cùng-chịu-đóng-đinh-với-Đức-Kitô-vào-thập-giá không có nghĩa là phải thực hiện như các bạn trẻ Công Giáo Philippin ở ngôi làng mang tên Cutud.

Ở nơi đấy, vào thứ Sáu Tuần Thánh, họ chọn một người tự nguyện đóng vai Chúa Giêsu vác một cây thánh giá nặng khoảng nửa tạ. Sau mười bốn chặng đàng thánh giá, người tự nguyện nằm lên cây thánh giá, tay chân họ được buộc chặt. Và cuối cùng là người đó bị đóng đinh như Chúa Giêsu đã bị đóng đinh khi xưa.

Đức Giêsu khi còn tại thế đã phán rằng “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16, 24).

Ôi ! Lạy Thầy Giêsu. Phải chăng “cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá” chính là “phải từ bỏ chính mình”? Thưa , đúng vậy. Phải từ-bỏ-chính-mình hay nói một cách khác, phải “vứt bỏ” những gì có nguy cơ kéo thân thể ta, linh hồn ta xuống địa ngục!

Chúng ta sẽ “vứt bỏ” những gì ? Phải chăng là những thói hư tật xấu ? Phải chăng là quyền lực, danh vọng, tiền bạc ? Là “con lợn lòng” !!!

Vâng, đã là một Kitô hữu có nghĩa là chúng ta trở nên “Đền Thờ của Thiên Chúa”, mà đã trở nên Đền-Thờ-của-Thiên-Chúa chúng ta phải “xua đuổi”, không phải con chiên hay con bò, nhưng chính là “con lợn lòng” ra khỏi tâm hồn chúng ta, một hiểm họa làm cho đền-thờ-của-Thiên-Chúa sụp đổ.

Chính con-lợn-lòng đã quyết định số phận của nhiều người. Tấm gương Samson còn đó. “Con lợn lòng” của Samson đã làm cho chàng trai trẻ ngã gục trước Dalila và cuối cùng là cái chết đầy bi ai. Rồi tấm gương vua David cũng chưa phai mờ !

Xưa kia, Thiên Chúa đã cảnh cáo vua Salomôn rằng “Nếu ngươi và các con cháu của ngươi tráo trở bỏ đường lối của Ta, không giữ các mệnh lệnh các giới răn Ta đã đặt cho ngươi… thì Ta sẽ tiêu diệt… Đền Thờ này sẽ là đống hoang tàn” (1V 9, 6…8).

Cũng vậy với chúng ta hôm nay. Nếu chúng ta để cho tâm hồn mình tràn ngập thói hư tật xấu, chìm đắm đam mê dục vọng… không “từ bỏ con lợn lòng”… có phần chắc rằng, chúng ta- ngôi đền thờ của Thiên Chúa- sẽ không còn “tảng đá nào trên tảng đá nào”.

Chỉ một cách để thoát khỏi thảm họa trên. Vâng, chúng ta hãy tin vào Kinh Thánh và thực thi lời Đức Giêsu đã nói: “Đừng biến nhà Cha Ta thành nơi buôn bán”.

Petrus.tran

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...