Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2012

Đức Giêsu... thật sự là Vua của đời tôi!


Đức Giêsu… thật sự là Vua của đời tôi!

Theo truyền thống, Giáo Hội Công Giáo kết thức năm phụng vụ bằng thánh lễ kính trọng thể Chúa Giêsu Kitô Vua. Lễ Chúa Giêsu Kitô Vua được thiết lập cách nay hơn tám mươi năm, chính xác là vào ngày 11 tháng 12 năm 1925.

Trước trào lưu con người chủ trương tiêu diệt Thiên Chúa, con người hô hào trục xuất Thiên Chúa ra khỏi gia đình, ra khỏi xã hội, ra khỏi quốc gia, Đức Giáo Hoàng Piô XI đã thiết lập một ngày lễ tôn vinh CHÚA GIÊSU KITÔ VUA như một cách minh định rằng: Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, và là Thiên Chúa thật, Ngài là Vua vũ trụ, Vua muôn loài, là Vua của tất cả mọi người, của mọi dân tộc, của mọi quốc gia.


Thật ra, không đợi để giáo hội tôn Chúa Giêsu là vua; nhưng cách đây hơn hai ngàn năm, chính Thiên Chúa đã có chương trình tôn vinh Người là vua, bằng việc sai sứ thần Gabrien đến một thành miền Galilê gọi là Nazareth, gặp một trinh nữ tên là Maria và báo tin rằng “bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu, Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua David, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacop đến muôn đời, và triều đại Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1, 31-33)

Có điều là, hôm nay, Chúa Giêsu được tôn vinh là Vua muôn Vua, là Chúa các Chúa trong sự trang nghiêm, cung kính nơi thánh đường. Còn xưa kia…

…..

Vâng, xưa kia, tại Palestina của hơn hai ngàn năm xa trước đó. Đang lúc cư dân Giêrusalem chìm đắm trong giấc ngủ, thì tại vườn Giếtsêmani, một khung cảnh hỗn loạn xảy ra. Đức Giêsu đang bị bao vây bởi một nhóm người. Họ là quân binh cùng đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Phariseu.

Vài hôm trước, khi Đức Giêsu tới Giêrusalem. Một rừng người đã cầm nhánh thiên tuế ra đón Người và reo hò “Hoan hô! Hoan hô!... Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Chúc tụng vua Israel”.

Làm sao không chúc tụng Đức Giêsu như thế cho được. Ba năm công khai rao giảng Tin Mừng. Đức Giêsu đã để lại nơi mọi người hình ảnh Ngài là Vua, một vị Vua “ưa sự nhân từ”, một vị Vua “hiền lành và khiêm nhường”, một vị Vua luôn “chạnh lòng thương xót”, một vị Vua “đến để phục vụ”, một vị Vua dám “hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu”…

Người ta thường nói, “tiếng lành đồn xa”. Vì thế, “tiếng lành” về Đức Giêsu được dân chúng chúc tụng là vua Israel “đồn” đến tai các thượng tế và nhóm Pharisêu, lập tức, họ quyết định tìm Ngài…

Tìm Đức Giêsu để tôn Ngài làm vua ư! Thưa không. Họ tìm để bắt Ngài. Bắt Ngài vì họ cho rằng cuộc rước sách đó chính là là nguyên nhân dẫn đến việc Roma sẽ phá hủy thành thánh. Do Thái đang bị cai trị bởi Roma. Ngoài hoàng đế Cesar … ai dám tôn xưng là vua!

Tên phản bội Giuda biết rõ nơi Đức Giêsu đang hiện diện. Y đã thông báo cho các thượng tế và nhóm Phariseu. Giếtsêmani bị phong tỏa bởi một đội cơ binh. Và rồi, khi tìm thấy Đức Giêsu, như con thú đói mồi, Giuda xông đến trước mặt Ngài.

Nụ hôn của tên phản bội chính là sự điềm chỉ, nhóm cơ binh chờ có thế và xông vào trói Ngài lại. Họ điệu Ngài đến trước các ông Kha-nan và thượng tế Cai-pha, chức sắc cao cấp của người Do Thái.

Sau những màn sỉ nhục và đánh đập diễn ra, họ dẫn giải Ngài đến trước tổng trấn Phi-la-tô.

Tại đây, không tra tấn, không đánh đập nhưng thật tệ vì những câu hỏi, những câu hỏi không đáng hỏi của quan lớn Philatô.

“Ông đã làm gì? Ông có phải là vua dân Do Thái không?” Ôi! Không phải là người Do Thái, làm sao quan tổng trấn Phi-la-tô có thể hiểu được vai trò và sứ mạng của Đức Giêsu khi Ngài đến thế gian!

Đức Giêsu đến thế gian để “làm gì” ư? Hơn bảy trăm năm trước, Israel đã được ngôn sứ Mikha tiên báo rằng, “Phần ngươi, hỡi Belem Epratha… từ nơi ngươi… sẽ xuất hiện một vị có sứ mạng thống lĩnh Israel” (Mk 5, 1).

Trước mặt tổng trấn Philatô, bất chấp bạo lực và chết chóc, Đức Giêsu trả lời rằng “Chính Ngài nói tôi là vua”.

Vâng, đến thế gian, Đức Giêsu là vua để thi hành sứ-mạng-thống-lĩnh-Israel. Thống lĩnh Israel nhưng Ngài không thống lĩnh quốc gia “thuộc về thế gian này” mà là thống lĩnh con dân Israel trở về với chân lý và sự thật, “làm chứng cho sự thật và đứng về phía sự thật”. (Ga 18, 37)

**

“Sự thật là gì?” Sự thật Chúa Giêsu thật sự là Vua?

Qua việc tổng trấn Philatô đã “cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá; bảng đó có ghi: “Giêsu Nazareth, Vua dân Do Thái”, vâng, dẫu cho có là vô tình thì điều đó cũng có thể nói lên rằng “ý dân không bằng ý trời”.

Thế còn chúng ta! Có bao giờ chúng ta tự hỏi: Sự thật là gì? Giêsu… thật sự là Vua của đời tôi! Và tôi có là con dân của Người?

Hay, phải chăng, chủ nghĩa thế tục đẻ ra những “vương quốc thế tục” được cai trị bởi những “ông vua thế tục” với sức mạnh bởi nòng súng hoặc mền mỏng bởi những chính sách mị dân, cho phép tự do luyến ái, tự do phá thai, kết hôn đồng tính v.v… lôi cuốn chúng ta, thuyết phục chúng ta bái lạy nó!

Và phải chăng, chủ nghĩa duy vật đẻ ra những “vương quốc của cải” được cai trị bởi những ông-vua-duy-vật-chất, rao giảng một học thuyết cho rằng, những tiện nghi vật chất, những khoái lạc và dục vọng, tiền bạc và danh vọng v.v… mới thật sự là vua của đời tôi?

Tưởng cũng nên nhắc tới “vương quốc game” một vương quốc được lập nên bởi chủ nghĩa của cải và thế tục. Vâng, nó đã làm gì cho thần dân của nó! Hạnh phúc ư! Sự sống đời đời ư! Hay nó chỉ đem lại cho thần dân của nó bạo lực, chém giết và sự chết?

Hãy nhớ lời Đức Giêsu đã phán “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào được ích gì” và luôn phải nhớ, đã là người môn đệ của Chúa, dù đang “ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian; sống ở giữa đời nhưng không sống như người đời”.

***

Thế giới vẫn đang hướng tới chủ nghĩa thế tục, và chúng ta hãy biết rằng, một chủ nghĩa thế tục dù có ôn hòa hay trung lập cũng sẽ có ngày trở thành một thế lực “hung hãn”, nó sẵn sàng “cưỡng chế” mọi người, thông qua những đạo luật nghe cứ tưởng như là tự do dân chủ, đạo luật Obamacare, một sản phẩm của chủ nghĩa thế tục, là một ví dụ điển hình.

Nghe ra có đáng sợ không? Thưa không, để có thể chiến thắng chủ nghĩa thế tục, tông đồ Phaolô có lời khuyên rằng “anh em hãy tìm sức mạnh trong Chúa và trong uy lực toàn năng của Người” (Ep 6, 10)

Sức mạnh trong Chúa và uy lực toàn năng của Người chính là “đức tin và Lời Thiên Chúa” (x. Ep 6, 16-17).

Tuy nhiên, sức mạnh và uy lực đó sẽ vô dụng nếu chúng ta còn vấn vương bởi những sự quyến rũ của chủ nghĩa thế tục và duy vật. Lời Thiên Chúa phán dạy rất rõ ràng, rằng “Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi đó, để các ngươi không tham dự vào các tội lỗi của nó và để các ngươi không chia phần tai ương với chúng” (x. Kh 18, 1-4)

Vâng, là một Kitô hữu “Hãy ra khỏi vương quốc thế tục và duy vật đó đi”, còn chần chờ gì nữa, lỡ ngay khi chúng ta vừa đọc xong bài suy tư này, Vua Giêsu Kitô “Người ngự đến giữa đám mây” chúng ta sẽ không phải “đấm ngực than khóc khi thấy Người” nhưng chúng ta có thể nhìn Người mà nói: Lạy Chúa Giêsu! “Ngài… thật sự là Vua của đời tôi”.

Petrus.tran













Thứ Hai, 19 tháng 11, 2012

Đây! Con Người đã đến…


Chúng ta đang ở trong những ngày cuối cùng của năm Phụng Vụ 2012. Có lẽ không ít người trong chúng ta nghĩ rằng “Ồ! Lại sắp đến ngày kỷ niệm mừng Chúa Giáng Sinh”.

Với sự kiện Con Thiên Chúa đã đến thế gian lần thứ nhất, chúng ta đã quá quen thuộc về những hiện tượng đã xảy ra, nào là có một cô “trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”, nào là trong hang đá có Đức Maria và thánh Giuse cùng với vài con chiên quây quần bên hài nhi Giêsu, nào là có ngôi sao lạ dẫn đường cho ba nhà thông thái đến Belem để bái lạy Ngài, rồi có những trẻ mục đồng cùng với muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng vinh danh Thiên Chúa v.v…


Thế nhưng, với sự kiện Con Thiên Chúa sẽ đến thế gian lần thứ hai! Thành thật mà nói, chúng ta ít quan tâm đến nếu không muốn nói là thờ ơ “que sera sera!”…


Những hiện tượng nào sẽ xảy ra! Sẽ có những biến cố nào xoay quanh sự quang lâm của Đức Giêsu? Vâng, đối với các môn đệ, đó là điều quan trọng mà các ông rất cần biết và các ông đã đến gặp Đức Giêsu để hỏi Ngài.


***
Chuyện đã được tông đồ Maccô ghi lại rằng, hôm đó, lúc Đức Giêsu ngồi trên núi Ôliu, đối diện với Đền Thờ thì bốn người môn đệ là các ông Phêrô, Giacôbê, Gioan và Anrê đã đến bên Đức Giêsu.


Ba năm theo Thầy Giêsu, có thể nói rằng, chưa có lúc nào mà các ông lại mang tâm trạng buồn hiu hắt buồn như hôm đó.


Làm sao không buồn cho được khi mà Thầy Giêsu đã đưa ra những lời cảnh báo nhuốm đậm hình ảnh tang thương và chết chóc… Nào là “Anh em hãy coi chừng kẻo bị người ta lường gạt… Nếu có ai bảo anh em: này Đấng Kitô ở đây! Kìa, Đấng Kitô ở đó!... đừng có tin”. Và có tang tóc không kia chứ! Khi mà “trong những ngày đó, sau cơn gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không có chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển” v.v… (Mc 13, 24-25).


Người ta thường nói, nỗi buồn càng dấu kín càng thêm buồn khổ. Chính vì thế, để dịu bớt đi nỗi buồn tang thương đó, các ông gặp Đức Giêsu và đã thổ lộ với Người bằng một câu hỏi rằng “Xin Thầy nói cho chúng con biết bao giờ các sự việc ấy sẽ xảy ra, và khi sắp đến hồi chung cục, thì có điềm gì báo trước?” (Mc 13, 4).


Và quả thật, sau lời thổ lộ đó, qua thí dụ về cây vả, Đức Giêsu đã giải tỏa nỗi buồn hiu hắt của các ông. Hình ảnh nắng hạ với những cành cây “xanh tươi và đâm chồi nẩy lộc” không chỉ xứng hợp để so sánh với ngày “Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến” (Mc 13, 28) mà còn như một lời nhắc lại cho các môn đệ điều Đức Giêsu đã nói với các ông trước đó rằng “lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho tới cuối chân trời”! (c. 27)


Thật ra, đó cũng chỉ là những “hiện tượng”. Điều quan trọng mà Đức Giêsu muốn nhắn nhủ các ông, đó chính là niềm tin.


Vâng, kết thúc buổi trò chuyện với các môn đệ, Đức Giêsu đã nhắn nhủ các ông rằng “Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Mc 13, 31)


Một phút tâm tình và suy tư…


“Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu”.


Các môn đệ đã tin vào lời nói đó của Đức Giêsu. Niềm tin đó đã được đóng ấn bằng chính cái chết, cái chết “tử đạo” của ba trong bốn chàng ngự lâm, đầu tiên là Giacôbê, rồi đến Phêrô và sau đó là Andrê.


Riêng tông đồ Gioan, Ngài đã được Thiên Chúa cho thấy những kẻ đã được Người tuyển chọn “đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi nước, mọi chi tộc và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên” (Kh 7, 9)


Không ai có thể phủ nhận rằng, trong số những người thuộc “mọi dân, mọi chi tộc, mọi ngôn ngữ” đó, có cả ngàn người Việt Nam và đã có 117 vị chính thức được tôn phong hiển thánh mà hôm nay Giáo hội Việt Nam long trọng kính nhớ.


Đừng bao giờ yếu đuối mà nghĩ rằng, tôi chỉ là một giáo dân, thật khó để mà trở thành một “martyr” của Đức Giêsu. Hãy nhìn người giáo dân Phaolô Tống Viết Bường như là tấm gương mẫu mực cho đời sống đức tin của chúng ta.


Chuyện được kể rằng, khi nghe tin ông bị bắt nhiều giáo hữu đến thăm ông. Ông nói với họ: “Ðem cho tôi cái gì nặng hơn nữa, vì xiềng xích của tôi còn nhẹ. Người ta chưa đánh đập tôi nhiều, tôi muốn người ta đánh tôi nhiều hơn nữa. Phúc được chịu khó vì Chúa.”. Những lời này cho thấy tâm trạng của người tù Phaolô Tống Viết Bường rất can trường, không chút sợ khổ hình vì Ðức Tin.


Đứng trước bạo quyền và bạo lực ai mà không sợ hãi! Đứng trước xiềng xích tù đày, ai mà không thối lui! Nhưng với Phaolô Tống Viết Bường thì nhờ “áo giáp đức tin” và “mũ chiến là niềm hy vọng”, ngài đã đánh bại tất cả, kể cả sự chết.


Thật vậy, khi đàn áp bằng đánh đập tàn nhẫn không có kết quả, các quan quay sang dụ dỗ. Ðích thân quan thượng thư Bộ Hình Võ Xuân Cẩn ra sức khuyến giục Tống Viết Bường nên chiều theo ý vua “bỏ đạo lúc này thôi rồi sau sẽ hay, muốn làm gì thì làm”. Tống Viết Bường trả lời khiêm tốn, nhưng cương quyết “Quan lớn có lòng thương thì tôi cũng xin quan lớn một điều là cho tôi được vẹn chữ trung với Chúa Trời”.(nguồn: internet)


***


Đúng là chúng ta đang ở trong những ngày cuối cùng của năm Phụng Vụ 2012. Hãy tự hỏi lòng mình rằng, ngay giây phút này đây, tôi thật sự vẫn “trung với Chúa Trời!”…


Và nếu… nếu ngay lúc này, Đức Giêsu “trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết”… tôi sẽ ra sao?


Hy vọng mỗi chúng ta sẽ không có câu trả lời rằng “muốn ra sao thì ra” mà hãy chiêm nghiệm lại những lời tiên báo của Chúa Giêsu xưa kia như môt lời cảnh giác.


Có thể nói, chưa có thời đại nào những lời tiên báo của Chúa Giêsu lại ứng nghiệm như thời đại chúng ta hôm nay.


Ngày nay, thiên nhiên mỗi ngày một bị xáo trộn, mưa bão thất thường, nước sông bỗng nhiên đỏ như máu, phải chăng đó là dấu hiệu sẽ có lúc “mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không có chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống”!

Còn về những giá trị “siêu nhiên” thì ngày nay, con người càng ngày càng muốn từ bỏ. Thiên Chúa phán “Chớ giết người” con người lại cổ vũ cho việc phá thai. Thiên Chúa phán “Sự gì Thiên Chúa kết hợp con người không được phân ly” thì người ta lại cổ vũ cho việc ly thân ly dị.


Vâng, việc con người cổ súy cho hôn nhân đồng tính, phải chăng đó là dấu hiệu “các quyền lực trên trời bị lay chuyển”?


Vẫn biết rằng, Chúa Giêsu đã nói “Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi”, nhưng có gì sai khi chúng ta nhìn những hiện tượng đó như một lời cảnh báo rằng “Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi”!


Trong một thế giới mà con người đang cổ vũ cho một nền văn hóa sự chết, cho một lối sống duy vật… ai… ai trong chúng ta lại không hơn một lần rơi vào vòng quyến rũ của nó! Ai trong chúng ta không một lần bất trung, bất tín!


Hôm nay, trong tâm tình hướng về các thánh tử đạo Việt Nam , không gì tốt hơn là hãy nhìn các ngài như là tấm gương mẫu mực cho một đời sống đức tin và sự trung tín.


Các thánh tử đạo cũng chỉ là những con người trần gian, nhưng các ngài có thể “coi thường mạng sống mình ở đời này” là bởi các ngài đã nhờ có “Ơn Chúa!”


Đúng vậy, tông đồ Phaolô đã thú nhận rằng “thân xác tôi như bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Xa-tan được sai đến vả mặt tôi… Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nổi khổ này. Nhưng Người quả quyết với tôi: Ơn của Thầy đã đủ cho anh” (2 Cor 12, 7-9)


Ơn của Chúa đủ cho Phaolô chẳng lẽ lại không đủ cho chúng ta!


Vâng, ơn của Chúa chính là bí tích Thánh Thể, một ơn phúc bảo đảm cho sự sống đời đời và là nguồn lực giúp chúng ta bền vững trong sự trung tín.


Sự trung tín không chỉ giúp chúng ta được “chiếu sáng muôn đời như những vì sao” mà còn giúp chúng ta đứng vững trước nhan Thiên Chúa để nghe tiếng Ngài phán “Đây! Con Người đã đến”.


Petrus.tran






Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2012

Dâng ít … hiến nhiều.




Dâng cúng hay dâng hiến là một hành vi biểu lộ lòng tôn kính và biết ơn của con người đối với Thượng Đế. Việc dâng cúng đã có từ thời tạo thiên lập địa. Thuở đó, con người thường dùng “hoa trái đầu mùa” như là lễ vật dâng lên Thượng Đế. Để biểu lộ lòng tôn kính và biết ơn, họ chỉ cần dâng cúng “con đầu lòng của bầy chiên” thì cũng đủ để được “Đức Chúa đoái nhìn” (St 4, 4)

Đáng tiếc thay! Theo thời gian, con người đã có cái nhìn phàm tục về sự dâng cúng. Nhiều người nghĩ rằng, dâng cúng như là một sự “hối lộ” Thượng đế, càng dâng cúng nhiều, thì càng chứng tỏ lòng hảo tâm cao, và rồi họ cho rằng, những người khá giả, giàu có, dễ dàng thực hiện việc dâng cúng hơn những người thiếu thốn nghèo khó.

Kitô giáo không có cái nhìn về sự dâng cúng như thế. Đối với Thiên Chúa, Kinh Thánh chép rằng “Đừng hối lộ, Người chẳng nhận đâu”. Sự dâng cúng đẹp lòng Thiên Chúa chính là “phải giữ nét mặt tươi cười… và tùy khả năng con có” (Hc 35, 8-9).


**

Sự dâng cúng đẹp lòng Thiên Chúa cũng đã được Đức Giêsu nói đến một lần ở Giêrusalem.

Giêrusalem hôm đó, hôm có sự hiện diện của Đức Giêsu, như một ngày lễ hội. Ngoài đường phố là những khuôn mặt hợm hĩnh của các ông kinh sư “xúng xính trong bộ áo thụng”. Các ông dạo qua dạo lại mong được người ta chào hỏi. Còn bên trong Đền Thờ là một dòng người đang tiến về thùng tiền dâng cúng.

Trong dòng người đó, có một người phụ nữ. Và người phụ nữ đó được mô tả là “một bà góa nghèo”.

Israel thời đó là một xã hội phân chia giai cấp rõ rệt. Những người bị bệnh truyền nhiễm như phong hủi, những người tật nguyền, các bà góa… tất cả đều bị gạt ra bên lề xã hội. Phụ nữ khi kết hôn phải chấm dứt liên hệ với gia đình ruột thịt. Điều tệ hại là nếu chồng chết cũng là lúc mất hết mọi quyền lợi vật chất từ nhà chồng.

Bà góa nghèo hôm đó, chắc hẳn đã “mất hết mọi quyền lợi vật chất” thế nhưng bà ta vẫn lên Đền Thờ, bởi bà ta tin rằng, Thiên Chúa “Người không coi thường lời khấn nguyện của kẻ mồ côi, hay tiếng than van của kẻ góa bụa” (Hc 35, 14), hơn nữa, lên Đền Thờ là để “gắn bó với lệnh truyền là dâng lễ kỳ an”. Bà ta đã không “đứng trước nhan Đức Chúa tay không” nhưng với của lễ là “hai đồng tiền kẽm”…

Từng bước, từng bước bà ta tiến đến thùng tiền, nơi luôn có những vị “cảnh sát tôn giáo” hiện diện canh chừng. Đây là thùng tiền dâng cúng cho Đền thờ. Không một chút ngập ngừng, bà ta “bỏ vào đó hai đồng tiền” một cách hân hoan vui vẻ theo đúng khả năng bà ta có. Rồi bà ta vội vã đi ra.

Đức Giêsu, lúc đó, đang “ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng” và sau khi “quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao”, Ngài kết luận rằng, “bà góa này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”

Một phút tâm tình và suy tư…

“Bà góa này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”. Vâng, lời nhận định của Đức Giêsu có là nghịch lý không, trong khi đó, còn “có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền”!

Thưa không, Mẹ Têrêsa Calcutta có nói: “Khi ta trao tặng một món quà, mà nếu là một mất mát hy sinh lớn đối với ta, thì đó mới thật là món quà”.

Bà góa nghèo đã “rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó”, thì quả đúng là một-mất-mát-hy-sinh-lớn đối với bà ta.

Cho nên, dù bà ta “dâng ít” cũng kể như “hiến nhiều”.

**

Là một Kitô hữu, khi tham dự thánh lễ, chúng ta nghĩ gì về lòng quảng đại của Đức Giêsu qua Bí Tích Thánh Thể! Mình và Máu Chúa Kitô không trở thành lực đẩy và sức mạnh để chúng ta có thể, cũng giống như bà góa, dám đem “tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” mà hiến dâng!

Đừng bao giờ nghĩ rằng, đợi đến khi có của ăn của để chúng ta mới thực hiện sự dâng hiến.

Chuyện kể rằng: Có một chàng thanh niên đến thăm Mẹ Têrêsa Calcutta. Sau khi chứng kiến những việc Mẹ cùng các cộng sự làm, chàng ta xúc động và nói “Thưa Mẹ, con có thể cộng tác vào công việc của Mẹ bằng cách nào? Mẹ Têrêsa từ tốn trả lời rằng “Chỉ cần cố gắng mỉm cười với người khác, vậy thôi”.

Dâng hiến là một khả năng cũng giống như chơi một nhạc cụ nào đó. Có thực tập, chúng ta mới có thể dâng hiến tốt hơn. Chúng ta tiến thân trong nghề nghiệp nhờ những mảnh bằng cấp. Vậy, sao chúng ta lại không xem việc dâng hiến như là một tấm bằng để tiến thân nơi “công sở Nước Trời”!

Hãy thử tưởng tượng, khi Chúa trở lại, điều gì sẽ xảy ra cho những số tiền đang nằm ngay ngắn trong tài khoản ngân hàng hay bất động sản! Phải chăng nó chẳng còn giá trị gì; trong khi lẽ ra nó phải được dùng để chia sẻ cho người nghèo hoặc để sử dụng cho việc truyền giáo…

Thánh Phaolô đã nói “Hãy chú ý làm trổi hơn việc nhân đức dâng hiến này” (2Cor) Đừng quên, khi dâng hiến “Đức Chúa là Đấng thưởng công, sẽ trả lại cho con gấp bảy lần” (Hc 35, 10).

petrus.tran

























Thứ Hai, 8 tháng 10, 2012

Chuỗi Mân C

Chuỗi Mân Côi : một cuộc đối thoại chân tình


--------------------------------------------------------------------------------



Mỗi khi mùa bóng đá bắt đầu khởi tranh hoặc mùa World Cup hay Euro đến, những ông bầu câu lạc bộ cũng như các huấn luyện viên đội tuyển quốc gia lại một phen tất bật cho việc tuyển chọn cầu thủ.


Việc tuyển chọn cầu thủ là điều không thể thực hiện một sớm một chiều. Có khi kéo dài hàng tháng, có khi mất hàng năm, những ông bầu cũng như các huấn luyện viên mới có thể tìm được một người có thể đảm trách được vị trí trong đội hình mà đội bóng mong muốn.




*
Lịch sử cứu độ cũng là một chuỗi dài, không phải hàng tháng, hàng năm mà là trải qua nhiều thế kỷ cho việc tuyển chọn.


Thật vậy, sau khi nguyên tổ Adam và Eva phạm tội bất tuân, chương trình sáng tạo của Thiên Chúa dành cho con người bước vào khúc quanh mới. Con người bị trục xuất khỏi vườn Eden với án phạt nặng nề, đó là sự chết.


Dẫu vậy, Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi con người. Trước mặt satan, kẻ chủ mưu trong việc cám dỗ con người, Thiên Chúa đã phán rằng: “Mi đã làm điều đó… Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3, 14-15).


Kể từ đó, chương trình cứu độ của Thiên Chúa bắt đầu và lịch sử cứu độ được khởi động bằng một chuỗi dài những cuộc tuyển chọn của Thiên Chúa.


Khởi đầu là việc Thiên Chúa tuyển chọn ông Apram và sau này được gọi là Apraham. Ông Apraham có được một người con tên là Isaac. Từ ông Isaac, Esau và Giacop được sinh ra. Và từ Giacop, mười hai chi tộc Israel ra đời.


Khi mười hai chi tộc Israel , sau nhiều thế hệ thăng trầm và tột cùng là kiếp nô lệ ở Ai Cập, Thiên Chúa lại tuyển chọn một người tên là Môse để người này như là vị cứu tinh của dân tộc và đem dân tộc về miền đất Thiên Chúa đã hứa ban.


Không dừng ở việc tuyển chọn Môsê, qua nhiều thế kỷ, Thiên Chúa tiếp tục tuyển chọn một số người, họ là những ngôn sứ của Thiên Chúa, là những người có trách nhiệm loan báo một Đấng Cứu Thế sẽ ra đời bởi một người trinh nữ.


Không như Apraham, Môse hay các ngôn sứ đã được Thiên Chúa trực tiếp tuyển chọn, với người trinh nữ này, Thiên Chúa đã sai sứ thần Gaprien chuyển đến lời tuyển chọn của Người.


**


Câu chuyện được thuật lại rằng, hơn hai mươi thế kỷ trước, tại “một thành miền Galilê, gọi là Nazareth … Thiên Chúa sai sứ thần Gaprien đến gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua David. Trinh nữ ấy tên là Maria” (Lc 1,26-27) .

Không có tiếng sấm chớp ầm ĩ hay hiện tượng bụi cây cháy bừng, nhưng cây không bị thiêu rụi như lần tuyển chọn Môsê, lần tuyển chọn Maria, sứ thần của Thiên Chúa hiện đến trong sự tĩnh lặng với những lời đối thoại đầy chân tình.


Thật vậy, có chân tình không kia chứ! Lời phán của Thiên Chúa qua sứ thần không gầm thét như là một mệnh lệnh, nhưng chỉ là lời chào hỏi dịu êm “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”. Và có lời chào hỏi nào ngọt ngào hơn khi sứ thần Gaprien nói tiếp “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa”.


Bà-đẹp-lòng-Thiên-Chúa, chính vì thế, Thiên Chúa, qua lời sứ thần, đã gởi đến Maria lời mời gọi chân tình “Này đây bà sẽ thụ thai sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao…”


Chỉ là một cô thiếu nữ thôn dã. Lại là cư dân của Galilê, gọi là Nazareth . Một địa danh được biết đến như là một nơi “chẳng có cái gì hay cả…”, thế mà lại được Thiên Chúa tuyển chọn làm mẹ “Con Đấng Tối Cao”…


Vâng, mừng thì mừng thật nhưng làm sao không lo sợ cho được!


Đúng vậy! Nghe những lời loan báo đó, cô Maria sợ hãi và cất tiếng thở than… “việc ấy sẽ xảy ra cách nào…”. Bỡi lẽ, Maria nói với sứ thần rằng “tôi… tôi không biết đến việc vợ chồng”.


Thế nhưng, đó vẫn là cách Thiên Chúa tuyển chọn. Xưa kia, Người đã tuyển chọn một Môsê, dù ông ta “không phải là kẻ có tài ăn nói” (Xh 4, 10) hoặc như ngôn sứ Giêrêmia, khi ông ta “còn quá trẻ (và cũng) không biết ăn nói” (Gr 1, 6).


Còn hôm nay, cũng không là ngoại lệ, bởi vì, như lời sứ thần Chúa đã nói “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37).


Có thể nói, lời đáp của sứ thần đã hun đúc niềm tin cho Maria. Và lời trấn an kèm theo lời hứa ban “Xin đừng sợ… Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” đã tạo một luồng gió ân sủng giúp cô Maria mạnh dạn thốt lên lời “xin vâng”.


Vâng, câu chuyện chép lại rằng, bà Maria đã nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1, 38).


Một chút tâm tình và suy tư

Câu chuyện trên được chép trong Tin Mừng thánh Luca (1, 26-38) và được đọc trong phần phụng vụ Lời Chúa cho thánh lễ Chúa Nhật hôm nay, lễ kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi. (07.10.2012)

Nói tới Đức Mẹ Mân Côi mà không nói tới chuỗi Mân Côi là một điều thiếu sót.


“Chuỗi Mân Côi” là gì? Phải chăng là một trăm năm mươi kinh, đọc tới đọc lui cho vui cửa vui nhà? Xin thưa, nếu chúng ta đọc như vậy, chẳng khác nào chúng ta “tụng kinh”… chỉ thiếu “cái mõ”!


Chuỗi Mân Côi, trước hết, đó chính là cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa với con người.


Khi chúng ta cất tiếng đọc“Kính Mừng Maria đầy ơn phước. Đức Chúa ở cùng Bà. Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ. Và Giêsu con lòng bà gồm phúc lạ”. Vâng, có khác nào chúng ta đang nghe lại lời đối thoại chân tình của Thiên Chúa, qua thiên sứ Gaprien, xưa kia.


Khi chúng ta cất tiếng đọc “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời”. Ôi! Phải chăng là chúng ta, không chỉ được chiêm ngắm hình ảnh bà Êlisabeth tràn đầy “Thánh Thần Chúa”, mà còn được chính “Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi”! (Lc 1, 43)


“Chuỗi Mân Côi còn là gì?”. Xin thưa, còn là cuộc đối thoại giữa con người với Thiên Chúa.


Thật vậy, “năm sự vui” chính là năm lời thì thầm xin Thiên Chúa gia tăng “đức ái” để chúng ta biết “yêu người và ăn ở khiêm nhường v.v…”


“Năm sự thương” là năm lời tâm tình cùng Thiên Chúa, những lời tâm tình xin cho được “ ăn năn tội nên” hầu có thể “đóng đinh tính xác thịt vào Thánh giá Chúa”.


“Năm sự mừng” – Ôi! Vui thay, đó chính là năm lời tán dương chúc tụng tình yêu của Thiên Chúa đã ban cho con người “được sống lại thật về phần linh hồn....”


Chuỗi Mân Côi còn là gì? Xin thưa, chuỗi Mân Côi còn là cuộc đối thoại tạo ra mối dây liên kết giữa con người với con người.


Thật vậy, khi chúng ta “xin cho được ăn ở khiêm nhường”, biết “vâng lời chịu lụy” và có “lòng yêu người”… Vâng, có vợ chồng nào lại không tâm đầu ý hợp! Có gia đình nào lại không anh em hòa thuận! Có người láng giềng nào lại không thân thiết với chúng ta!


Nếu chúng ta lần chuỗi Mân Côi trong tâm tình như thế! Hãy tin, lời cầu xin “cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử” chắc chắn Thiên Chúa sẽ chẳng thể làm ngơ, đúng như lời thánh Phaolô nói “Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: Apba, Cha ơi!”


Được gọi Thiên Chúa là “Apba, Cha ơi”… Vâng, có điều gì ngăn cản chúng ta cất tiếng lên thưa với Người “Lạy Cha chúng con ở trên trời”.

Petrus. tran






Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012

Ai là người “thuộc về Chúa?”


Chỉ còn hơn một tháng nữa, chính xác là vào ngày 06/11/2012, cuộc bầu chọn tổng thống Hoa Kỳ cho nhiệm kỳ mới sẽ bắt đầu. Nhiệm kỳ này, về phía đảng Dân Chủ, đương kim tổng thống Barack Obama tái tranh cử. Về phía đảng Cộng Hòa, người ra tranh cử là cựu thống đốc bang Massachusetts, ông Mitt Romney.

Với Mitt Romney, trong bài phát biểu tiếp nhận đề cử của đảng Cộng hòa tại đại hội của đảng này ở Florida, Ông ta đã cam kết sẽ “khôi phục ước nguyện Mỹ”, nhiều lời hứa hẹn được đưa ra, đáng chú ý là lời hứa hẹn sẽ tạo ra 12 triệu công ăn việc làm trong vòng bốn năm tới và phục hồi nền kinh tế với tỷ lệ thất nghiệp lên tới 8,3%.


Còn ông Obama! Trong bài phát biểu ngày 6/9, đương kim tổng thống Barack Obama kêu gọi ở người dân Mỹ lòng kiên nhẫn khi xây dựng lại nền kinh tế suy yếu. Ông nói rằng, con đường mà ông chọn có thể sẽ gian khó, nhưng sẽ đem tới sự đổi mới về kinh tế, đồng thời cảnh báo rằng, có thể sẽ mất thời gian nhiều hơn vài năm mà ông ở trong Nhà Trắng để giải quyết những thách thức mà nước Mỹ đã tích tụ trong suốt nhiều thập kỷ. (nguồn: internet).


Ai xứng đáng là tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ? Khách quan mà nói, hai ứng viên đều xứng đáng là người lãnh đạo nước Mỹ . Vâng, không ông tổng thống nào muốn dân Mỹ nghèo đói, không ông tổng thống nào muốn nước Mỹ mất đi danh hiệu cường quốc số một thế giới.
Thế nhưng, tại sao vẫn có người chọn ông này mà chống ông kia, hoặc chọn ông kia mà bỏ ông này? Xin thưa, với cử tri theo đảng dân chủ thì ngài Romney là người “không theo phe ta”. Và ngược lại, cử tri theo đảng cộng hòa không chọn ông Obama vì ngài ấy “không theo chúng ta”.

Không theo phe ta hay không theo chúng ta luôn là cớ để con người hành xử chống lại một ai đó, dẫu cho ai đó có là một con người hữu dụng, hữu ích cho xã hội. Và kỳ lạ thay! Các môn đệ của Đức Giêsu xưa kia cũng đã có lần hành xử như thế.


********

Câu chuyện được kể rằng: Sau khi chịu phép rửa tại sông Giodan và sau bốn mươi ngày chay tịnh trong hoang địa, Đức Giêsu bắt đầu thực thi sứ vụ rao giảng Tin Mừng.

Công việc đầu tiên của Đức Giêsu là tuyển chọn một số môn đệ. Theo thánh sử Máccô kể lại thì Đức Giêsu đã “lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và Người sai các ông đi rao giảng với quyền trừ quỷ” (Mc 3, 14-15).

Không chỉ tuyển chọn mười hai môn đệ, Đức Giêsu còn “chỉ định bảy mươi hai người khác” với mục đích “sai các ông từng hai người một vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến” và nói với mọi người rằng “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”.

Nhóm bảy mươi hai người này khi trở về đã hớn hở nói với Đức Giêsu rằng “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con” (Lc 10, 17).

Có thể nói, đây là niềm hãnh diện và cũng là niềm tự hào của các môn đệ sau những năm tháng theo Đức Giêsu.

Cho đến một hôm, niềm hãnh diện và tự hào của các ông như bị tổn thương khi các ông khám phá ra rằng, ngoài các ông ra, cũng có người có khả năng “trừ quỷ” như các ông.

Trước vấn nạn trên, các môn đệ đã phản ứng hết sức gay gắt bằng cách “đã cố gắng ngăn cản” họ. Họ “không-theo-chúng-ta, biết đâu họ …dùng danh Đức Chúa…một cách bất xứng!

Có vẻ như, các môn đệ coi đó như là một luận cứ vững chắc nên đã chạy đến “Thưa Thầy” của mình về việc “chúng con thấy có người lấy danh Thầy”.

Đức Giêsu không phái người đi điều tra xem những “người ấy” – người lấy danh Thầy - là kẻ-bất-chính hay người-công-chính. Ngài phân tích cho các môn đệ thấy rằng, không thể có ai đó “lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy” (Mc 9, 39).

Các môn đệ được ban phép trừ quỷ, những người kia dùng danh Thầy cũng để trừ quỷ thì đúng là họ “không chống lại chúng ta” rồi.

Vậy thì, Đức Giêsu kết luận “Đừng ngăn cản người ta”.

Một phút tâm tình và suy tư…

Kinh Thánh có chép rằng, Thiên Chúa “Người không về phe với hàng thủ lãnh, không trọng người giàu, khinh kẻ nghèo; vì tất cả đều là công trình do tay Người tạo ra” (Gióp 34, 19).

Cho nên, Đức Giêsu không đặt nặng vần đề những người lấy-danh-Thầy “theo chúng ta” hay chưa, nhưng Ngài lại nhắc khéo các môn đệ về cách hành xử của các ông khi đã trở thành người của “chúng ta”.

Vâng, đã là người “thuộc chúng ta”, đừng làm cớ cho người khác và ngay cả cho chính mình sa ngã.

Phải nói rằng, Đức Giêsu đã để lại cho các môn đệ cũng như cho chúng ta hôm nay một lời khuyên hết sức chân tình. Và phải hiểu những lời khuyên của Đức Giêsu là nói theo cách nói “nhấn mạnh”.

Nếu tay “trái” anh làm cớ cho anh sa ngã… hãy chủ động dùng tay “phải” của anh đấm ngực ăn năn hơn là thụ động chặt nó đi.

Cũng vậy, nếu chân “trái” anh tiến bước tới những nơi có nguy cơ sa ngã… hãy dùng chân “phải” của anh như một bộ phận “hãm phanh” và hãy chạy xa những nơi chốn đó.

Còn đôi mắt ư! Khi bàn tay và đôi chân đã thực hiện những điều nêu trên, vâng, đôi mắt đâu còn không gian và thời gian để sa ngã.

Khi bàn tay của chúng ta được “kiểm soát” bởi đức tin, sẽ chẳng bao giờ chúng ta mở những trang web đen hay những trang sách báo khiêu dâm. Khi đôi chân của chúng ta được “kiểm soát” bởi đức tin, sẽ chẳng bao giờ chúng ta bước tới những vũ trường, những quán bia với những em chân dài lẳng lơ. Và kết quả là đôi mằt chúng ta không phải chứng kiến những điều dẫn tới sự sa ngã.

Vâng. Thật tuyệt diệu khi chúng ta kiểm soát vẹn toàn những hành vi trên cơ thể của mình, bởi đó chính là lúc chúng ta đã trừ được những loại “quỷ xảo trá, quỷ lừa bịp, quỷ dâm ô” những loại quỷ chỉ gây bất hòa và chia rẽ.

Là một Kitô hữu, hãy tin rằng, tất cả chúng ta đều làm được những điều nêu trên bởi đó là điều Đức Giêsu đã hứa ban. Thật vậy, trước khi về trời, Ngài đã nói “Những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ”.

Hãy thinh lặng trong một phút và tự hỏi “tôi đã có lòng tin”? Hãy nhớ, chỉ những ai có lòng tin người đó mới thực thụ là “người thuộc về Chúa”

Petrus.tran































































Thứ Tư, 26 tháng 9, 2012

Ai là người, lớn hơn hết?


Ai là người lớn hơn hết!
Đã sinh ra trên cõi đời này, ai trong chúng ta lại không có đôi điều ước muốn! Thuở nhỏ  ước muốn nhỏ, đến tuổi trưởng thành ước muốn cao hơn. Và có lẽ không có ước muốn nào thực tế cho bằng ước muốn được có địa vị, có danh vọng, có chức tước cao trong xã hội. 
Chẳng có gì xấu khi có những ước muốn đó. Nguyễn Công Trứ, một nhà quân sự và cũng là một nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử cận đại của Việt Nam, đã có thơ rằng: “Làm trai đứng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông”.
Tuy nhiên, điều đáng tiếc là con người luôn có tham vọng, luôn muốn trội hơn người khác. Và đó cũng chính là mần mống dẫn đến hận thù, chia rẽ, bè phái.
Khi xưa, các môn đệ  của Đức Giêsu cũng đã bị rơi vào loại cám dỗ này. Và Ngài đã dạy cho các ông một bài học “muốn trội hơn người khác” thì phải làm gì?
******
Câu chuyện đã được kể lại rằng: Sau biến cố Đức Giêsu biến hình trên núi Tabor dưới sự chứng kiến của Phêrô, Giacôbê và Gioan, và sau khi chữa lành một người bị quỷ ám, các môn đệ đã cùng với Thầy của mình rời khỏi đó và đi băng qua miền Galilê.
Nhắc tới Galilê! Vâng, linh mục Thành Tâm đã cảm xúc rằng “Galilê! Nhắc ta nhớ ngày xưa. Ngày Chúa ta sống thân phận chúng ta. Vì thương ta bao năm trời đây đó. Làm chứng nhân: Tình thương của Cha”...
Những cảm xúc đó, chắc hẳn các môn đệ là những người thấu hiểu hơn chúng ta hôm nay, nhưng hôm đó, hôm ở Galilê, có một điều các ông không thể hiểu được, đó là lời tiên báo của Đức Giêsu.
Ôi! một Thầy Giêsu quyền uy, vừa mới “biến đổi hình dạng trước mắt các ông”, một Thầy Giêsu đã “quát mắng tên quỷ…” để rồi “quỷ thét lên” trước quyền phép của Ngài… thế mà không thể hiểu vì sao Thầy lại tiên báo rằng, “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại” (Mc 9, 31)  
Chính lời tiên báo này đã tác động rất lớn lên tâm tư của các môn đệ. Nó đã làm cho đoạn đường từ Galilê đến Caphacnaum trở nên dài lê thê và buồn nản!
Sự buồn nản đó đã làm cho Caphacnaum, hôm đó, trong tâm tư  các ông, không còn là một thành phố của náo nhiệt. Tiếng cãi vã của các ông đã át hẳn tiếng chào mời của các thương gia.
Thầy sẽ “đi chết” ư! Và khi Thầy đã chết rồi… ai… “ai là người lớn hơn cả?”
Ôi! Thật đáng tiếc! Không hiểu lời tiên báo của Đức Giêsu, nhưng các môn đệ  “sợ không dám hỏi lại Người” (Mc 9, 32).
Cho đến khi về tới nhà, Đức Giêsu phá tan bầu không khí chết chóc bằng một câu hỏi bâng quơ: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?” (Mc 9, 33). Mười hai môn đệ với hai mươi bốn con mắt nhìn nhau trong thinh lặng.
Chuyện kể tiếp rằng : “Các ông làm thinh”. (Mc 9, 34).
Một phút tâm tình và suy tư…
“Các ông làm thinh”, có phần chắc là vì các ông quên lời giảng dạy của Đức Giêsu, hoặc giả, các ông chưa thuộc bài, những bài học mà Đức Giêsu đã truyền dạy cho các ông trong suốt những ngày tháng Thầy và trò chung vai sát cánh bên nhau.
“Các ông làm thinh”. Nhưng Đức Giêsu không làm thinh.
“Ai muốn theo tôi”, Đức Giêsu đã nói rất rõ, rằng, “phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mc 8, 34).
Các ông đã bỏ mọi sự, bỏ gia tài, bỏ gia đình mà theo Ngài.
Tốt! các ông đã thuộc phần đầu bài. Tiếc thay! còn phần thân bài và phần kết bài các ông quên. Chính vì thế mà hôm nay, thay vì “từ-bỏ-chính-mình”, các ông lại “cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả” (Mc 9, 34).
Ôi! Ai cũng muốn làm quan, thì ai làm lính đây!
Muốn làm người lớn hơn cả ư! Muốn làm người đứng đầu ư! Vâng, Đức Giêsu đã đưa ra một quan điểm hết sức bất ngờ, ngược lại với tất cả những gì mà các ông đã nghĩ đến.
Người-đứng-đầu, theo quan điểm của Đức Giêsu, phải là người dùng-đôi-tay-để phục vụ. Người-đứng-đầu,  theo quan điểm của Đức Giêsu, phải là người dùng-con-tim để hành động.
Trước nhóm Mười Hai, Đức Giêsu dõng dạc tuyên bố: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”. (Mc 9, 35).
Tuy thánh sử Máccô không nói gì về phản ứng của các môn đệ sau lời tuyên bố của Đức Giêsu, nhưng chúng ta có thể tin rằng, các môn đệ đã hiểu và đã hối tiếc vì đã gây ra một cuộc tranh chấp quyền lực giữa các ông.
Thật vậy, nếu các ngài không hiểu và không hối tiếc thì, sau này, thánh Giacôbê, như là một đại diện cho nhóm mười hai, đã không lớn tiếng chỉ trích rằng: “Nếu trong lòng anh em có sự ghen tương, chua chát và tranh chấp, thì anh em đừng có tự cao tự đại…”.
Sau đó, thánh nhân nhấn mạnh: “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có đủ thứ xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa” (Gc 3, 16).
******
Giờ đây, chúng ta hãy nghe lại lời Đức Giêsu đã nói với Nhóm Mười Hai: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”.
“Nhóm mười Hai” xưa kia, nay không còn nữa và có phần chắc, họ, đã có người ngồi bên tả, có người ngồi bên hữu Đức Giêsu.  
Vậy, lời Đức Giêsu đã tuyên bố với Nhóm Mười Hai xưa kia, nay, không “ăn nhập” gì đối với chúng ta ư?
Ôi! Thật sai lầm khi để tư tưởng chúng ta suy nghĩ như thế!
Là một Kitô hữu, “Nhóm Mười Hai” hôm nay, có thể là một vị giám mục, một linh mục, một tu sĩ và tất nhiên cũng là mỗi người tín hữu chúng ta. 
Đừng bao giờ nghĩ rằng, nếu tôi là một giám mục, hay linh mục, hoặc tu sĩ, tôi mới có thể phục vụ tha nhân tốt hơn…
Trái lại, hãy tự hỏi rằng, là một Kitô hữu, là người môn đệ của Chúa Kitô, tôi đã được “Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hòa, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi…” chưa?
Đừng coi thường đức thanh khiết, bởi đức thanh khiết là chất xúc tác dẫn đến tình yêu thương. Và ở đâu có tình yêu thương là có sự vui mừng và bình an. Ở đâu có tình yêu thương ở đó không thể có thù oán, chém giết, xung đột, gây chiến.
Và sống thanh khiết là nền tảng để phát huy sự trung tín và tiết độ. Một khi có sự trung tín và tiết độ sẽ chẳng bao giờ xảy ra chuyện gian dâm, luông tuồng, sẽ chẳng bao giờ  say sưa chè chén, mê ăn uống và những điều khác giống như vậy. 
Hãy thử tưởng tượng, nếu mỗi người chúng ta được “Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hòa, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi…” thì điều gì sẽ xảy ra?  
Xin thưa, có phần chắc mỗi người chúng ta đủ khả năng làm cho “anh em hòa thuận, láng giềng thân thiết, vợ chồng ý hợp tâm đầu”. 
Đừng quên, ba điều này “đều đẹp lòng Chúa và người ta” (Hc 25, 1).
Nếu… nếu chúng ta có một cuộc sống đẹp-lòng-Chúa-và-người-ta, thì… Vâng, dẫu cho chúng ta có là một tên vô danh tiểu tốt nào đó và đang phải sống chui rúc nơi một xó xỉnh nào đó trên thế giới này, thì, hãy tin rằng, Chúa vẫn coi chúng ta như là “người lớn hơn hết” mọi người.
Petrus.tran













Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2012

Theo Đức Giêsu: một sự lựa chọn sáng suốt cho cả cuộc đời.

Cuộc đời của mỗi người là một cuộc hành trình của những sự lựa chọn. Ngay từ lúc thức giấc buổi sớm mai cho đến lúc chiều tàn có muôn vàn điều ta phải lựa chọn. Ta sẽ mặc bộ trang phục nào cho hôm nay, bữa cơm trưa sẽ có món gì, và tối nay mấy giờ ta sẽ đi ngủ?

Rồi khi tính đến chuyện trăm năm chẳng hạn, trong số những “ý trung nhân” đang vây quanh, ai sẽ là người chồng hoặc vợ của cuộc đời mình! Và ta sẽ phải đưa ra sự chọn lựa.

Vâng, chỉ một điều duy nhất mà ta không được quyền lựa chọn, đó là sự xuất thân của mình. Còn tất cả những điều khác, ta đều có quyền lựa chọn, vì đó là đặc ân mà Thiên Chúa đã ban cho con người ngay từ tạo thiên lập địa.

Chỉ tiếc rằng, tại vườn Eden, ngay khi nhận được đặc ân đó, nguyên tổ Adam và Eva đã có sự lựa chọn sai lầm để rồi hậu quả là dẫn đến sự chết.

Thế nhưng, Thiên Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu. Người chậm giận và giàu tình thương. Tình thương của Thiên Chúa được tỏ lộ qua việc Người đã “yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).

Người Con Một đó chính là Đức Giêsu Kitô.

*****

Sau ba mươi năm sống ẩn dật tại Nazareth, Đức Giêsu bắt đầu ra đi rao giảng Tin Mừng. Có rất nhiều điều đã được Đức Giêsu giảng dạy và một trong những điều quan trọng luôn được Ngài loan báo đó là “ơn cứu độ và sự sống đời đời”.

Về ơn cứu độ ư? Có thể nói rằng ông Nicôđêmô là điển hình cho những kẻ tin điều ấy. Ông ta đã nhận ra Đức Giêsu “là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến.” Ông ta tin rằng “chẳng ai làm được những dấu lạ” như Đức Giêsu đã làm “nếu Thiên Chúa không ở cùng người ấy.” Và ông ta đã không cất lên lời phản đối khi Đức Giêsu phán rằng: “Như ông Môse đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3,14).

Còn sự sống đời đời thì sao? Đối với người Israel, không phải là không có những người tin và muốn được sự sống đời đời. Câu chuyện chàng thanh niên giàu có chạy theo Đức Giêsu và xin Ngài cho biết “phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp” là một minh chứng điển hình.

Câu trả lời của Đức Giêsu, hôm đó, thiên về một hành động bác ái “hãy yêu người như mình ta vậy.”

Và cũng với câu hỏi đó, vào một hôm khác, tại một hội đường ở Caphanaum, Đức Giêsu nhấn mạnh đến yếu tố “mến Chúa” hay nói đúng hơn là “tin vào Ngài”.

Thật vậy, trước hết là “phải tin,” tin lời Đức Giêsu đã tuyên bố “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời…”(Ga 6,54).

Một phút tâm tình và suy tư…

Có đáng ngạc nhiên khi nhiều môn đệ cho rằng lời nói của Đức Giêsu “Chói tai quá! Ai mà nghe nổi?”

Thưa không, không ngạc nhiên lắm, bởi vì đối với người Do Thái, huyết máu là thực phẩm cấm kỵ, luật Lêvi dạy rằng “bất cứ người nào thuộc nhà Israel… ăn bất cứ thứ huyết nào, thì Ta sẽ quay mặt lại phạt kẻ ăn huyết và sẽ khai trừ khỏi dân nó… Không một ai trong các ngươi được ăn huyết” (Lv 17,10…12).

Điều đáng ngạc nhiên là, hôm nay, còn rất nhiều người mang danh là môn đệ của Đức Giêsu thế mà vẫn không tin lời Ngài nói “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời…”(Ga 6,54).

Qua trình thuật Tin Mừng, chúng ta không thấy Đức Giêsu đính chính hay giải thích rằng-thì-là-mà lời Ta nói phải hiểu theo nghĩa bóng v.v…

Ngược lại Ngài khẳng định rằng “Lời Thầy nói với anh em là Thần Khí và sự sống.” (Ga 6,63).

Đừng quên, trước ngày chịu nạn, trong bữa tiệc ly, Đức Giêsu tái khẳng định lời tuyên bố đó bằng một nghi thức trang trọng. Ngài “Cầm lấy bánh , dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ” và long trọng tuyên bố rằng : “Anh em cầm lấy mà ăn, Đây là mình Thầy”. Cùng một thể thức đó - Đức Giêsu nói tiếp: “Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy”. (Mt 26,26-28).

Lịch sử cứu độ là một chuỗi những sự lựa chọn.

Mở đầu là sự lựa chọn của Maria. “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng”! Tại sao chuyện hoang đường như thế mà Maria vẫn chọn lời xin vâng? Xin thưa, thật giản dị, là bởi Maria tin rằng “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”

Rồi đến tông đồ Phêrô, thánh nhân cũng đã lựa chọn, bởi ngài nhận biết rằng “bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?”

“Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi sao?” Phải chăng đây cũng là câu hỏi dành cho mỗi chúng ta hôm nay? Và phải chăng, Đức Giêsu, khi đặt câu hỏi này, Ngài đã tôn trọng để cho mỗi chúng ta quyền tự do chọn lựa?

Vâng, chúng ta phải lựa chọn.

Chúng ta sẽ “bỏ Chúa” bởi vì chúng ta vẫn cảm thấy “chói tai” khi phải nghe những lời giáo huấn của Đức Giêsu rằng :”Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Và rằng :”Không ai có thể làm tôi hai chủ… Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được”.(Mt 6,24).

Chúng ta sẽ “bỏ Chúa” bởi những tiếng gọi đầy quyến rũ của trần gian, những tiếng gọi của quyền lực, của danh vọng, của tiền tài nghe “êm tai” hơn?

Hãy nhìn xem những biến động đã xảy ra trong những ngày tháng qua trên thế giới. Quyền lực. danh vọng, tiền tài như Bạc Hy Lai, như Cốc Khai Lai cũng đâu có mua được “sự sống đời đời”!

Nếu xưa kia, dân Israel đã phải đưa ra một lựa chọn “…không bằng lòng phụng thờ ĐỨC CHÚA…” hoặc “gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ ĐỨC CHÚA”(Gs 24, 15)…

… Thì cũng vậy đối với chúng ta hôm nay, chúng ta phải đưa ra một quyết định hoặc cho rằng những lời phán của Đức Giêsu “lấy làm chướng, không chấp nhận được” hoặc tin rằng Lời Chúa chính là “lời ban sự sống đời đời.”

Tưởng cũng nên nghe tiếp lời tông đồ Phêrô đã nói với Đức Giêsu hôm đó “Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,69).

“Phần chúng con”… phải chăng “chúng con” cũng có “chúng ta”?

Vâng, nếu có “chúng ta” thì quả thật chúng ta đã có “một sự lựa chọn sáng suốt cho cả cuộc đời.”

Petrus.tran

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...