Thứ Hai, 21 tháng 1, 2013

CANA... dấu ấn tình yêu.


CANA... dấu ấn tình yêu.



Một trong những thách đố lớn nhất suốt chiều dài lịch sử của nhân loại, đó là con người vẫn luôn tự hỏi rằng, có Thiên Chúa hay không và thực sự Ngài có là Đấng quyền năng?


Sự thật là có Thiên Chúa. Người không chỉ vẫn tồn tại mà còn đã sai Con Một của Người đến thế gian, để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ.


Hơn hai ngàn năm trước, tai Belem miền Giuđê, một Hài Nhi đã sinh ra và được đặt tên là Giêsu và qua Đức Giêsu, quyền năng của Thiên Chúa đã được biểu lộ bởi những phép lạ cũng như dấu lạ Đức Giêsu đã làm.



**

Thật vậy, sau ba mươi năm sống ẩn dật tại quê nhà Nadarét, Đức Giêsu bắt đầu ra đi loan báo tin mừng, và ngay lập tức, tiếng tăm của Ngài được: “đồn ra khắp toàn vùng lân cận” (Lc 4, 14). Người ta không chỉ đồn đãi về những bài thuyết giảng của Ngài đầy những: “lời hay ý đẹp” nhưng còn loan tin rằng, Ngài đã làm nhiều phép lạ cũng như dấu lạ, vô tiền khoáng hậu, mang đậm dấu ấn tình người.


Một trong những dấu lạ đó đã xảy ra trong một buổi tiệc cưới tại Cana miền Galilê.


Chuyện được kể lại rằng, trong buổi tiệc cưới đó, ngoài “Đức Giêsu và các môn đệ được mời tham dự”, người ta còn thấy “có thân mẫu Đức Giêsu” (Ga 2, 1-2).


Trong khi đôi tân hôn đang ngất ngây “hứa yêu nhau trao câu thề chung sống trọn đời”. Còn toàn thể quan khách, nhóm thì “nhấp chén đầy vơi, chúc người người vui”, nhóm thì vây quanh đôi tân hôn “mừng đôi uyên ương, xây tổ ấm trên cành yêu đương” (*)… thì hỡi ơi! nhà đám bỗng dưng nhốn nháo…



Hóa ra là: “Họ hết rượu”. Ôi! tệ thật!



Vâng, tưởng chúng ta nên biết, đối với người Do Thái, trong việc sinh hoạt ăn uống hàng ngày, họ không uống trà, nước ngọt, hoặc là bia. Họ uống rượu, một loại rượu được ép từ trái nho.



Ngày thường còn như thế, huống chi hôm nay là tiệc cưới, mọi người đang hò hét “nhấc cao ly này… hãy chúc ngày mai sáng trời tự do” mà lại hết rượu thì đúng là “vô tửu bất thành lễ” rồi!!!



Không thấy nói đôi uyên ương có biết việc hết rượu không, nhưng Đức Maria biết.Và khi Đức Giêsu được thân mẫu Người báo tin “Họ hết rượu rồi”, Người đã bảo các gia nhân đổ đầy nước vào sáu chum đá, một vật dụng dùng để thanh tẩy theo thói tục người Do Thái



Cuối cùng thì buổi tiệc cũng được tiếp tục trong niềm vui với một kết thúc có hậu.



Câu chuyện kể rằng, những người gia nhân đã nghe theo lời Đức Giêsu “đổ đầy nước vào chum”. Và “Khi người quản tiệc nếm thử”, kinh ngạc thay, “nước đã hóa thành rượu” (Ga 2,9)…


***
Ngày nay, có một số người thắc mắc, có đúng là Đức Giêsu làm cho “nước đã hóa thành rượu” hay Ngài sai các gia nhân lấy “cồn” bỏ vào nước rồi khuấy đều lên để thành rượu rồi phao tin đó là “dấu lạ” ?


Thưa không, bởi nếu Đức Giêsu dùng thủ thuật này, có phần chắc, vị quản tiệc đã không “gọi tân lang lại và nói: Ai ai cũng thết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà say mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon cho đến bây giờ” (Ga 2, 10). Hơn nữa, nếu đó là rượu được chế biến từ “cồn”, với sáu chum, tương đương với 720 lít, chắc chắn mọi người trong bữa tiệc đó, sau khi uống sẽ đứt ruột mà chết mất…


Có người khác lại thắc mắc, tại sao Đức Giêsu không làm một phép lạ nào khác, mà Ngài lại làm phép lạ nước-hóa-thành-rượu? Phải chăng, Ngài và các môn đệ của Ngài là một “con sâu rượu”?


Thưa không phải vậy. Với phong tục của người Do Thái, hết rượu trong tiệc cưới là một điềm gở, đôi tân hôn chắc chắn sẽ mất mặt với hàng xóm, láng giềng.


Còn dưới lăng kiếng thần học, hết rượu trong tiệc cưới là một điềm xấu, ý muốn nói ngay cả Giavê Thiên Chúa cũng không chúc lành cho đôi tân hôn.


Việc Đức Giêsu “hóa nước thành rượu” trước là để khẳng định rằng “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” và sau là để “bày tỏ vinh quang của Người”, và cuối cùng là để các môn đệ “tin vào Người” (Ga 2, …12)



****

Tiệc cưới của Bạn có hết rượu, hết bia giữa chừng không? Chắc hẳn là không hết bia, hết rượu mà chỉ sợ, sau tiệc cưới, hết “tiền” phải không thưa quý Bạn!


Nói vui vậy thôi. Trong đời sống hôn nhân, nếu có điều đáng sợ, đó là đôi tân hôn nên sợ, chỉ ít lâu sau đám cưới, anh và em “hết tình mặn nồng” không còn muốn “Góp hết tương lai vào tiếng. Yêu thương trao em một đời” (**)


Vâng, điều này rất dễ xảy ra khi “hai nửa của nhau” không còn là “của nhau” nữa, mà tự cao tự đại cho rằng “trời phú” cho mình “khôn ngoan” hơn, “hiểu biết” hơn, “thành công” hơn “nửa còn lại”, để rồi, khi nghĩ đến nửa-còn-lại chỉ còn là những tiếng thở dài “…oán trách nhau”!


Về những điều “trời phú”, thánh Phaolô nói “chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tùy theo ý của Người” (1Cor 12, 11). Ngài nói tiếp rằng, “Là vì ích chung”.


Thật ra, trong đời sống hôn nhân, không ai mà không gặp phải những vấn đề nan giải. Thế nhưng, nếu hôn nhân của chúng ta được liên kết bởi tình yêu trong niềm tin “thật sự” vào Thiên Chúa, chắc chắn, như đôi tân hôn ở Cana, chúng ta sẽ được Đức Giêsu ban cho một thứ rượu, nhưng không phải thứ rượu được hóa từ nước lã mà từ “Máu Thánh” của Ngài. Đó chính là “Mình-Máu-Thánh-Chúa” qua Bí-tích-Thánh-Thể. Một thứ rượu-yêu-thương, rượu-tha-thứ, rượu-chia-sẻ-và-quên-mình, rượu-xây-dựng-và-phục-tùng, hơn thế nữa, một thứ rượu-hy-sinh-liều-mạng-sống-mình-vì-người-mình-yêu…

Được uống loại rượu như thế, có phần chắc, gia đình của chúng ta sẽ là một Cana-mới, một Cana tràn đầy “dấu ấn tình yêu”.

Petrus.tran



*****

(*) Ly rượu mừng – tác giả Phạm Đình Chương.

(**)Bài không tên số 5 – tác giả Vũ Thành An.







Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

Con là Con của Cha...

Con là Con của Cha…



Cứ sự thường, sau lễ Hiển Linh, là lúc kết thúc một mùa Giáng Sinh. Máng cỏ được tháo dỡ, những chú mục đồng và các nhà chiêm tinh được cất đi, chờ năm sau sẽ đem ra sử dụng. Thế nhưng, những nhân vật như Đức Maria, thánh Giuse và nhất là Hài Nhi Giêsu thì vẫn tiếp tục được nhắc đến.

Với Hài Nhi Giêsu, chuyện được kể rằng, sau ba mươi năm sống ẩn dật tại quê nhà, Ngài đã khởi đầu cho sứ vụ rao giảng Tin Mừng bằng việc đến đến sông Giodan và xin ông Gioan làm phép rửa.

Nói tới sông Giodan, đó là một con sông, không chỉ của biết bao điều huyền diệu từ nơi Thiên Chúa, mà còn là nơi con người nhận lãnh những ơn phúc Thiên Chúa ban.

Thật vậy, xưa kia, trong cuộc hành trình về miền đất hứa, khi đến bên sông Giodan, mười hai chi tộc Israel đã phải sững sờ chứng kiến điều huyền diệu “Hòm-Bia-Giao-Ước” đã biến sông Giodan thành “đất khô cạn cho đến khi toàn dân đã qua hết”. (Gs 4, 17).

Còn ơn phúc Thiên Chúa ban ư! Đó chính là trường hợp của “Na-a-man, tướng chỉ huy quân đội của Vua Aram”. Ông ta bị bệnh phong. Và khi nghe người ta mách bảo ở Samari có một ngôn sứ tên là Êlia, ông ta có thể chữa ông khỏi bệnh. Ông Na-a-man đã tìm đến. Sau một chút nghi ngờ về những lời chỉ dẫn của ngôn sứ Ê-li-a. Ông đã thực hiện lời chỉ dẫn đó. Để rồi ông đã phải kinh ngạc khi ông ta chỉ cần: “Dìm mình bảy lần trong sông Giodan”… thế mà nhờ đó : “Da thịt ông lại trở nên như da thịt một trẻ nhỏ”. Chuyện kể rằng : “Ông đã được sạch” (2V 5, 14).

Hôm ấy, hôm Đức Giêsu đến sông Giodan, dòng sông lại một lần nữa, cho mọi người thấy thêm một sự huyền diệu từ nơi Thiên Chúa.

Vâng, sau khi Đức Giêsu chịu phép rửa và “đang khi Người cầu nguyện thì trời mở ra”. Và liền đó : “Thần Khí Chúa đáp xuống như hình chim bồ câu và ngự trên Ngài”.

Nhưng đó chưa phải là điều kinh ngạc. Điều làm cho mọi người kinh ngạc chính là “có tiếng từ trời phán rằng; Con là Con Cha; ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con” (Lc 3, 22).

**

Hôm nay, Chúa Nhật 13/01/2013, lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa. Đã có nhiều ý nghĩ cho rằng, Chúa Giêsu có tội gì mà phải chịu phép rửa?

Vâng, xin thưa, sự kiện Đức Giêsu “xin-làm-phép-rửa-cho-mình”, một phép rửa “tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” đã làm nổi bật vai trò cứu chuộc của Ngài. Vai trò đó đã được sứ thần Chúa loan báo khi xưa rằng: “Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). Và Gioan Tiền Hô, chính ông cũng đã nói về Đức Giêsu rằng : “Đây! Chiên con của Đức Chúa Trời. Là Đấng xóa bỏ tội trần gian”.

Và tiếng nói từ trời cao “Con là Con Cha; ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con” như là sự tái khẳng định tình yêu thương của Thiên Chúa đối với con người, một tình yêu mà sau này Đức Giêsu đã bày tỏ rằng “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16).

***

Nhắc lại biến cố Đức Giêsu chịu phép rửa, không thể không nghĩ tới Bí Tích Rửa Tội mà chính chúng ta đã lãnh nhận. Vâng, khi nói tới Bí Tích Rửa Tội, thật đáng tiếc rằng, nhiều người trong chúng ta, như lời Lm Jude Siciliano trong một bài giảng, Ngài có nói vui rằng : “Tôi chắc rằng một số đông trong chúng ta không ai nhớ được ngày rửa tội của mình!...”

Điều này lỗi tại ai? Phải chăng là lỗi nơi các bậc cha mẹ?

Vâng, chúng ta thường tổ chức tiệc sinh nhật cho con chúng ta, nhưng dường như cả đời, từ lúc con chúng ta lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội khi còn nhỏ, cho tới lúc trưởng thành, có lẽ chẳng ai trong chúng ta tổ chức, dù chỉ một lần, ngày kỷ niệm trọng đại đó!

Thế nhưng, đó chưa phải là điều nghiêm trọng. Điều nghiêm trọng, chính là đôi khi chúng ta nghĩ rằng, Bí Tích Rửa Tội chỉ là thủ-tục-hành-chánh để gia nhập đạo Công Giáo, hoặc tệ hơn là để “kết hôn”, rồi sau đó là “tôi lấy được vợ (chồng) tôi thôi nhà thờ”.

Thánh Phaolô nói: “Lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô” (Ep 1,5).

Như vậy, Bí Tích Rửa Tội chính là ân sủng Thiên Chúa ban cho chúng ta để chúng ta được trở nên “con Thiên Chúa”, một khởi đầu trong cuộc hành trình về “Giêrusalem mới – Trời mới đất mới” trên Thiên Đàng.

Vâng, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng biết đến sự kiện “D-Day”, ngày quân đội đồng minh đổ bộ lên Normandy-Pháp quốc. Trong tổng số 156.000 quân nhân được đổ bộ trong D-Day, đã có 4.000 binh sĩ đồng minh thiệt mạng và khoảng 8.000 người bị thương.

Nơi được cho là ít tổn thất là bờ biển phía tây Utah, và nơi tổn thất nặng nề nhất là bãi Omaha. Vâng, Omaha đã được dựng thành phim với tựa đề “Surviving D-Day”.

Trong phim, nhiều nhân chứng đã nói rằng, chỉ có tiến lên mới mong sống sót.

Đúng vậy, xem phim, chúng ta có thể nhận thấy điều đó. Các chiến binh chỉ có một con đường tiến lên phía trước, bất chấp những bãi mìn, những làn đạn của những tay thiện xạ Đức Quốc Xã, để chiếm Omaha.

Nhắc tới “Surviving D-Day” để làm gì?

Xin thưa, là để chúng ta biết rằng, một khi đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, chúng ta cũng là một người chiến binh, chiến binh tiến về Nước Trời. Và cũng giống như những người chiến binh tiến chiếm Omaha năm xưa, chúng ta cũng phải vượt qua những bãi-mìn-cám-dỗ, những làn-đạn-ru-ngủ rằng thì, là, mà “tôn giáo là thuốc phiện… thượng đế đã chết rồi” v.v…

Những người chiến binh tiến chiếm Omaha năm xưa vượt qua được những làn đạn là nhờ áo giáp, cùng với sự yểm trợ của không quân, hải pháo.

Còn chúng ta thì sao? Trong “cẩm-nang-hành-quân” gửi cho tín hữu Êphêsô, thánh Phaolô đã có lời chỉ bảo rằng “Anh em hãy nhận lấy toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa; như thế, anh em có thể vận dụng toàn lực để đối phó và đứng vũng trong ngày đen tối” (Ep 6, 13).

Vũ khí của Thiên Chúa, vâng, đó chính là “lưng thắt đai là chân lý, mình mặc áo giáp là sự công chính, chân đi giày là lòng hăng say loan báo tin mừng bình an, hãy luôn cầm khiên mộc là đức tin…” thánh nhân khẳng định rằng, “nhờ đó anh em sẽ có thể dập tắt mọi tên lửa của ác thần”.

Vâng, với sự “yểm trợ” như thế của Thiên Chúa, tên-lửa-của-ác-thần nào dám ngăn cản chúng ta tiến lên đỉnh đồi của tình yêu thương, của niềm hy vọng, của sự sống đời đời!

Một khi chúng ta hiện diện nơi đó, nơi đỉnh đồi của yêu thương, của niềm hy vọng và của sự sống đời đời, đó chính là lúc chúng ta hoàn tất vai trò một chiến binh của Nước Trời.

Và một khi chúng ta hoàn tất vai trò một chiến binh của Nước Trời, hãy tin… Vâng, hãy tin, trong ngày Thiên Chúa phán xét kẻ sống và kẻ chết, chúng ta sẽ được nghe tiếng Người nói với chúng ta rằng, “Con là con của Cha”.

Petrus.tran



Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2013

CHÚNG TÔI ĐÃ THẤY...

Thân Chào các bạn,


Tuần này, petrus.tran mời các bạn theo bước chân các nhà chiêm tinh đến Belem gặp Hài Nhi Giêsu để chúng ta cùng thờ phượng Người.

Kính chúc các bạn cùng toàn thể gia quyến bình an và khỏe mạnh.

…….

Chúng tôi đã thấy…


… nên chúng tôi đến bái lạy Người.


Cách nay hơn bốn mươi năm, chính xác là ngày 16/07/1969, qua hệ thống truyền hình, hàng trăm triệu người đã theo dõi chiếc phi thuyền Apollo 11 rời bệ phóng tại trung tâm vũ trụ John F. Kennedy. Chiếc phi thuyền này đã mang theo ba phi hành gia là Neil Armstrong, Michael Collins và Buzz Aldrin với sứ mệnh thám hiểm mặt trăng.



Vượt qua hàng trăm ngàn cây số, ngày 20/07/1969, phi thuyền Apollo 11 đã tới đích, cả thế giới được chứng kiến thời khắc lịch sử, Neil Armstrong và sau đó là Buzz Aldrin đặt chân lên bề mặt Mặt Trăng và thám hiểm hai tiếng rưỡi đồng hồ trên đó, trong khi Michael Collins ở lại trên quỹ đạo trong module Command.


Không thể tưởng tượng rằng, các nhà du hành vũ trụ đã chấp nhận những rủi ro. Trước khi tàu Apollo 11 cất cánh, nhiều người đã nghĩ tới tình huống xấu nhất trong chuyến đi của ba nhà du hành. Người ta đã chuẩn bị bài phát biểu cho Tổng thống Richard Nixon với tựa đề: “Thảm họa mặt trăng”. Bài phát biểu bắt đầu bằng câu: “Số phận đã quyết định rằng, những người thám hiểm mặt trăng yên nghỉ vĩnh viễn trên đó trong thanh bình”.


Thật vậy, một trong nhiều câu chuyện về tình huống xấu được kể lại rằng, sau khi các nhà du hành kết thúc cuộc đi bộ trên mặt trăng hai tiếng rưỡi đồng hồ, họ phát hiện ra nút công tắc điện trên khoang đổ bộ mặt trăng bị hỏng. Họ rất có thể phải ở lại trên mặt trăng mãi mãi. Trong giây phút nguy khốn đó, Aldrin đã tìm được một cây bút bi trong khoang đổ bộ và thành công trong việc nối đường điện bằng chính cây bút đó, khoang đổ bộ đã có thể rời khỏi mặt trăng.


Cả ba phi hành gia đã trở về trái đất an toàn, mở ra kỷ nguyên mới cho nhân loại về con người chinh phục vũ trụ.” (nguồn:Wikipedia)


**


Giống như cuộc hành trình của ba nhà du hành vũ trụ, Neil Armstrong, Michael Collins và Buzz Aldrin, đầy rủi ro và chết chóc. Cách nay hơn hai ngàn năm, cuộc hành trình của mấy nhà chiêm tinh đi tìm “Đức Vua dân Do Thái mới sinh” cũng là một cuộc hành trình đầy gian nan, trắc trở và không kém phần nguy hiểm đến tính mạng.


Câu chuyện xảy ra vào thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông, sau khi đã nhìn thấy một ngôi sao lạ và tin rằng “ngôi sao lạ” mà họ đã nhìn thấy chính là “điềm chỉ” về một “Đức Vua dân Do Thái mới sinh”, thế là họ lập tức tiến hành một cuộc hành trình đi tìm nơi Đức Vua sinh ra.


Không phải là người Do Thái, thế nhưng họ vẫn rời bỏ quê hương, cùng nhau dong duổi đường gió bụi, lần theo dấu vết “ngôi sao lạ” tìm cho được Đức Vua để mà “bái lạy người”.


Vâng, rất có thể họ là con cháu Apraham thuộc dòng dõi của Itmaen và những người con của Apraham với Cơtura mà khi còn sống “ông Apraham đã cho họ đi xa ông Isaac, con ông, về hướng đông, về đất Phương Đông”(St 25, …6).


Cũng rất có thể họ đã nghe lời Bi-lơ-am, một người thuộc dân tộc Madian, cũng là một dân tộc thuộc dòng dõi Itmaen, đã nói “Tôi thấy nó, nhưng bây giờ chưa phải lúc, tôi nhìn, nhưng chưa thấy nó kề bên; một vì sao xuất hiện từ Giacop, một vương trượng trổi dậy từ Israel”. (Ds 24, 17).


Vì thế, hôm đó, khi mà “vì sao” đó đã được các nhà chiêm tinh thấy “kề bên”, họ liền tức tốc lên đường “đến Giêrusalem”. Sự xuất hiện của các nhà chiêm tinh với những lời loan báo rằng “Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”… đã trở thành trái boom tấn đánh thức cả kinh thành.


Quả thật, cả thành Giêrusalem đã xôn xao, còn vua Hêrôđê thì “bối rối” về việc “Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu”. Các thượng tế và các kinh sư thì… hỡi ơi! quý ông ấy vẫn điềm nhiên với lời phát ngôn rằng,“Tại Belem, miền Giuđê”.


Với các nhà chiêm tinh, vâng, lại là “cây bút”… cây bút của các ngôn sứ xưa, đã vẽ đường chỉ lối cho cuộc hành trình của các nhà chiêm tinh. Cây bút của các ngôn sứ đã chép rằng, “Phần ngươi, hỡi Belem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì nơi ngươi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2, 6).


Nhờ lời ngôn sứ, cuộc hành trình tìm kiếm “Ấu Chúa” của các ông được tiếp tục. Cùng đồng hành với các ông không phải là những nhà kinh sư, mà là “ngôi sao lạ”. Ngôi sao lạ như một người bạn chung thủy đồng hành với các nhà chiêm tinh. Ngôi sao đó tiếp tục “dẫn đường cho họ”. Từ phương Đông, ngôi sao lạ dẫn dắt họ băng qua Giêrusalem, rồi đến Belem, và cuối cùng là “đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại”(Mt 2, 10).


Không ai có thể phủ nhận, cùng thời điểm trên, tại Belem, cũng đã có nhiều hài nhi được sinh ra. Nhưng… lạ lùng thay! Ngôi-sao-lạ lại chỉ dừng nơi chính “Đức Vua sinh ra” để các nhà chiêm tinh vào “sấp mình thờ lạy Người” (Mt 2,10).


***


Ba phi hành gia Neil Armstrong, Michael Collins và Buzz Aldrin không giản dị là lên mặt trăng, ôm một mớ đá thô, rồi trở về trái đất. Chuyện được kể lại rằng, “Theo dự kiến, hệ thống máy tính sẽ tự điều khiển việc tiếp đất. Thế nhưng, khi bước vào giai đoạn hạ cánh cuối cùng, hệ thống chợt bị quá tải. Đèn báo động chớp liên hồi, nhiên liệu trên tàu hầu như đã cạn. Rất bình tĩnh, Armstrong tắt hệ thống lái tự động và tự điều khiển hạ cánh bằng tay. Cú hạ cánh thành công mỹ mãn, nhưng ít ai biết rằng, chỉ chậm 30 giây, phi thuyền đã có thể hoàn toàn mất điều khiển và rơi tự do xuống đất”. (nguồn: internet).


Cũng vậy đối với cuộc hành trình của các nhà chiêm tinh xưa. Sẽ thật ngây thơ khi nghĩ rằng cuộc hành trình đi tìm “Hài Nhi Giêsu” của mấy nhà chiêm tinh như là một cuộc trẩy hội cưỡi-lạc-đà-xem-hoa!


Thực tế thì các ông đã phải đối diện với thần chết mà các ông không ngờ. Trước khi các ông chuẩn bị trở về, đã có những cạm bẫy được giăng ra, đã có những âm mưu xấu của Hêrôđê chờ chực phía trước. Con “cáo già” Herode đầy tham vọng, dễ gì cam chịu bỏ ngai vàng “để… cũng đến bái lạy Người”!


Kinh Thánh có chép rằng: “Kẻ gian ác mưu hại người công chính, và hậm hực nghiến răng. Nhưng Chúa cười nhạo nó” (Tv 37(36), 12-13).


Và, quả đúng như vậy. Thiên Chúa đã “cười nhạo” cáo già Hêrôđê bằng việc báo mộng cho các nhà chiêm tinh “đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa”.


Còn các nhà chiêm tinh, có thể nói, nhờ đức tin, tin vào lời Chúa qua ngôn sứ và sự vâng lời, nó như là một “cây bút” vẽ ra một lộ trình, một lộ trình để các nhà chiêm tinh đi “đến bái lạy Người”, và một lộ trình để họ đi “về xứ của mình” bình an.


****


Chúa Nhật hôm nay (06/01/2013) Phụng Vụ Lời Chúa được trích thuật trong Tin Mừng Matthêu (Mt 2, 1-12).


Với những nhân vật và sự vật trong đoạn Tin Mừng này, chúng ta sẽ phải suy nghĩ tới nhân vật hay sự vật nào đây?


Các nhà chiêm tinh ư! Đúng, đó là điều chúng ta vừa mới suy nghĩ ở phần trên. Còn vua Hêrôđê và các kinh sư ư!.. Ôi! Con cáo già và mấy ông kẹ này, suốt trong năm phụng vụ, chúng ta đã nói quá nhiều về những vị này rồi.


Vâng, có lẽ chỉ còn một sự vật mà chúng ta ít có dịp nói tới, đó là “ngôi sao”.


Nói tới ngôi sao, ai trong chúng ta lại không thích mình cũng như con em mình trở thành “sao”!


Thế nhưng, sẽ là nguy hiểm thay, nếu những sao-ăn-nhậu, sao-chè-chén-say-sưa, sao-trụy-lạc, sao-hận-thù, sao-bất-hòa, sao-ghen-tuông, sao-tranh-chấp, sao-chia-rẽ-bè-phái v.v... lại là “ngôi sao của đời ta”…


Và chúng ta sẽ nghĩ gì khi con em chúng ta coi những “sao”, đại loại như sao-hàn, sao-đài, sao-holywood v.v… là “ngôi sao của đời mình”!


Vâng, trong cuộc họp của Liên đoàn các Hội đồng Giám mục Á Châu tại Việt Nam vừa qua, Lm. Tanila Hoàng Đắc Ánh tham dự với tư cách thông dịch, Ngài đã kể lại rằng, có một vị Giám mục (xin dấu tên) than phiền rằng, tại nước ông, trung bình mỗi ngày có 8.000 người bỏ Giáo Hội.


Tại sao? Tại sao họ lại bỏ Giáo Hội?


Phải chăng họ bị lôi cuốn bởi chủ nghĩa thế tục? Phải chăng họ bị hớp hồn bởi chủ nghĩa duy vật chất?


Hay, phải chăng vì Giáo Hội hôm nay thiếu vắng “những ngôi sao” như: ngôi-sao-Phêrô-Phaolô, ngôi-sao-Augustinô, ngôi-sao-Thomas Aquino, ngôi-sao-Bênađô, ngôi sao Phanxicô, ngôi-sao-Dominico v.v… để dẫn dắt đoàn con của Chúa… để hướng dẫn mọi người tìm đến Thiên Chúa?


Cho nên, là một Kitô hữu, chúng ta hãy tự hỏi lòng mình rằng, đã qua bao “mùa sao sáng đêm Noel Chúa sinh ra đời”, thế nhưng, chúng ta đã như các nhà chiêm tinh “đến tận nơi Hài Nhi ở (và) sấp mình thờ lạy Người”! Và hơn thế nữa, chúng ta đã trở nên “vì sao của Người” để dẫn dắt những ai muốn đến “bái lạy Người”?


Chúng ta đừng bi quan mà nghĩ rằng, “vì sao của Người”, sau hơn hai ngàn năm, giờ đây không còn ‘xuất hiện bên phương Đông” nữa.


Không! Vì sao đó vẫn xuất hiện… nếu chúng ta, như lời thánh Phaolô nói, tìm đến “Đức-Giêsu-Kitô-và-nhờ-Tin-Mừng” (Ep 3, 6). Đó… đó chính là “cây bút” - lại là cây bút - vẽ nên “vì sao của Người – vì sao của Chúa”.


Có “vì sao của Người – vì sao của Chúa” trong chúng ta… Vâng, hãy tin… hãy tin rằng, với ơn Chúa, chúng ta đủ sức làm cho “đất nước này đây sáng đức tin Chúa trên trời cao”(*).


Và một khi, ở nơi đâu “sáng đức tin Chúa trên trời cao” có phần chắc, ở nơi đó, chúng ta sẽ được nghe nhiều tiếng nói cất lên “Chúng tôi đã thấy… nên chúng tôi đến bái lạy Người”.


Petrus.tran


****


(*) Mùa sao sáng – tác giả: Nguyễn văn Đông.
















Thứ Năm, 27 tháng 12, 2012

Gia đình... Ôi! hai tiếng yêu thương.

Gia đình… Ôi! hai tiếng yêu thương.

Xóm tôi là một xóm lao động nghèo. Trước kia, nơi đây là những cánh đồng ruộng, nhà cửa thưa thớt. Thế nhưng, kể từ khi có chính sách mở cửa, nhiều nhà đầu tư đến biến đồng ruộng thành khu chế xuất, khu công nghiệp, thế là cư dân địa phương đua nhau cất nhà trọ.

Những người thuê nhà trọ đa số là công nhân, cũng có một số ít, họ làm nghề tự do như: thợ hồ, bán vé số, bán băng dĩa (dĩ nhiên là băng dĩa lậu).

Tập tục của người Việt Nam là “buôn có bạn, bán có phường”, vì thế, những người làm nghề tự do, họ quy tụ lại với nhau mướn những căn phòng trọ gần nhà tôi. Hơi dài dòng, nhưng đó là mấu chốt vấn đề mà tôi sẽ kể sau đây.

Vâng, sống gần họ, có nhiều điều hết sức bực bội, nhất là những khi họ đi bán về, nào là tiếng hò hét bởi nhóm người ăn nhậu, tiếng chồng chửi vợ, tiếng vợ cãi chồng, tiếng karaoke ầm ĩ. Đó là chưa nói tới lâu lâu lại xảy ra một vụ “đánh ghen”. Nói chung là rất mất trật tự.

Thế nhưng, hôm giữa tuần vừa qua, khoảng từ ngày 17 đến ngày 19/12/2012, tự nhiên, xóm tôi yên ắng hẳn. Theo nguồn tin của thông tấn xã “bà tám” cho biết, họ, những người ở trọ, lần lượt rủ nhau về quê.

Về quê làm gì! Đã tết đâu mà về quê! Xin thưa, cũng với nguồn tin trên, thì ra, vì họ sợ, sợ ngày 21/12/2012 sắp tới sẽ là “ngày tận thế”. Họ nói với nhau rằng, về quê, nếu có chết thì cùng chết chung với gia đình.

Cùng-chết-chung-với-gia-đình!... Gia đình… Ôi! hai tiếng yêu thương. Nhớ về biến cố 30/04/1975, nhiều người đã từ bỏ cơ hội di tản cũng chỉ vì: Ôi! yêu thương hai tiếng “Gia đình”.

**

“Gia đình”. Vâng, Thiên Chúa, trong chương trình sáng tạo, Người đã tạo dựng một gia đình hoàn thiện , gia đình Adam-Eva. Người đã đặt gia đình Adam-Eva vào một nơi gọi là vườn Eden. Tại đây, Thiên Chúa đã cho họ làm bá chủ “cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất”.

Nhưng than ôi! Gia đình Adam-Eva đã phạm tội bất tuân lệnh truyền của Thiên Chúa. Sự phạm tội của Adam-Eva không chỉ dẫn đến sự chìa lìa với Thiên Chúa mà còn xảy ra biết bao sự khủng hoảng trong gia đình.

Sự khủng hoảng đầu tiên, đó là, Adam và Eva mất đi sự gắn bó “xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi”. Mất đi sự gắn bó, gia đình Adam-Eva mất đi “hai tiếng yêu thương”. Mất đi hai tiếng yêu thương, “gia đình Adam-Eva” trở thành “chiến trường Cain-Abel”… để rồi kết thúc là một án mạng.

Kể từ đó, khi nói tới hai tiếng “gia đình”, người ta thường tự hỏi. “… là đường đưa ta tới thiên đàng hay đưa tới địa ngục” (Honoré de Balzac)

***

Không! Thiên Chúa, như lời Kinh Thánh chép, Người “là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới dất” (Ep 3, 14). Cho nên, gia đình vẫn là nơi được Thiên Chúa chúc phúc, như xưa kia Người đã chúc phúc cho Adam, rằng “Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó”. Gia đình vẫn là nơi được Thiên Chúa ban phúc lành, như xưa kia Người đã “ban phúc lành cho ông Noe và các con ông” (St 9, 1)

Chính vì thế, “gia đình… hai tiếng yêu thương” vẫn nằm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Để thực hiện chương trình cứu độ, Thiên Chúa đã sai Con của Người đến thế gian, không như một “Ngộ Không huyền thoại” với bảy mươi hai phép thần thông biến hóa, nhưng bằng hình hài một hài nhi được sinh ra tại Belem bởi một Trinh Nữ tên là Maria và người cha là Giuse.

Vâng, sự vâng lời của Đức Maria “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” và sự vâng phục của Thánh Giuse, sẵn sàng “làm như sứ thần Chúa dạy” đã gây chấn động toàn cõi Giêrusalem, chấn động bởi, Nazareth, nơi được cho là “làm sao có cái gì hay được” lại có một “Gia Đình Thánh – Thánh Giuse, Thánh Maria và Thánh Tử Giêsu”.

Gia-Đình-Thánh – không “thánh” bởi những “vần hào quang” mà các vị họa sĩ, khi vẽ, thường tô điểm trên khuôn mặt các Ngài. Gia-Đình-Thánh – không “thánh” do những lời đồn đãi bởi những “ngụy thư” mang tính chất “huyền thoại”.

Gia-Đình-Thánh – “thánh” bởi chính đời sống đức tin, đức cậy và đức mến.

Vâng, hãy trở về làng Nazareth cổ kính năm xưa mà xem, có gia đình nào “sống đức tin” như gia đình Giuse-Maria-Giêsu!

Thật vậy, dẫu biết rằng Giêsu, “Người sẽ nên cao cả và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao”, nhưng không vì thế mà Maria-Giuse lại có thái độ “gần chùa gọi bụt bằng anh”. Trái lại, các Ngài vẫn trung thành với lề luật do “Đấng Tối Cao”, qua Apraham hoặc Mosê, đã công bố.

Luật Đấng-Tối-Cao dạy rằng “mọi đàn ông con trai… sẽ phải chịu cắt bì”, Hài Nhi Giêsu-Con Đấng Tối Cao, khi đủ tám ngày, đã “làm lễ cắt bì” (Lc 2, 21).

Luật Đấng-Tối-Cao dạy “Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa”, ông bà Giuse-Maria đã giữ đúng luật “đem con lên Giêrusalem, để tiến dâng cho Chúa”

Thế nhưng, chính hôm cả gia đình Giuse-Maria-Giêsu “trẩy hội đền Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua” người ta mới có thể thấy đức tin, đức cậy và đức mến nơi Gia-Đình-Thánh vững mạnh như thế nào.

Chuyện kể lại rằng, hôm đó, sau khi “xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giêsu thì ở lại Giêsusalem, mà cha mẹ chẳng hay biết”. (Lc 2, 43).

Ôi! Phải chăng cha mẹ Đức Giêsu vô tâm, thiếu trách nhiệm với con cái?

Thưa không. Chuyện là thế này, Đền thờ Giêrusalem có bốn cổng, hai cổng dành cho nữ và hai cổng dành cho nam. Khi vào, nam và nữ phải đi đúng cổng quy định. Riêng trẻ em, có thể đi bên nào tùy thích. Cho nên, việc ông bà Giuse-Maria “cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành” là điều không có gì đáng trách.

Mà có gì phải đáng trách chứ! Hãy nhìn xem, sau khi tìm kiếm con giữa đám bà con và người thân thuộc… “Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại Giêrusalem mà tìm” (Lc 2, 45). Hãy nhìn xem, cha mẹ Đức Giêsu đã phải “cực lòng tìm con” như thế nào!

Nếu… nếu cần trách… Vâng, thưa quý vị, hãy trách những “ai đó” đã dùng lời con trẻ Giêsu nói với Mẹ Maria rằng, “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?”, để lấy đó như là lý lẽ biện minh cho việc “không cần coi ‘bà Mari và ông Giôsép’ như là mẫu mực của đức tin, đức cậy và đức mến”.

Đúng… đúng là “bà Mari và ông Giôsép” đã “không hiểu lời Người vừa nói”, nhưng, liệu điều đó có tác động xấu đến đức tin của hai ông bà? Thưa không, hãy nhìn xem, Đức Maria và Thánh Giuse tuy không hiểu, nhưng các Ngài vẫn đặt niềm tin vào lời “Con Đấng Tối Cao”… Bởi tin, nên các Ngài đã “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2, …51).

Khép lại câu chuyện gia đình Giuse-Maria-Giêsu “trẩy hội đền Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua”, thánh sử Luca ghi lại rằng, Đức Giêsu đã “cùng với cha mẹ, trở về Nazareth và hằng vâng phục các ngài”. Người “càng ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta”…

Vâng, một gia đình như thế, quả là một gia-đình-thánh, một gia đình gói ghém trong “hai tiếng yêu thương”.

****

Là một Kitô hữu, một người môn đệ của Đức Giêsu, chúng ta đã nhìn, đã lấy gia đình Giuse-Maria-Giêsu như là mẫu mực cho cuộc sống gia đình của chúng ta?

Hay chúng ta cho rằng, mô hình “gia đình Giuse-Maria-Giêsu” thật khó thích hợp với chúng ta, chỉ là những phàm nhân, đầy yếu đuối và tội lỗi, làm sao có thể so sánh với một gia đình có hai “vị thánh Maria-Giuse” và một vị là “Con Đấng Tối Cao”!

Ôi! Nghĩ như thế có quá thiển cận không? Có đấy. Chữ “thánh” được đứng trước tên Maria và Giuse là do chúng ta “nhét” vào, sau khi các Ngài không còn ở trần thế. Đối với các tông đồ, Đức Maria và thánh Giuse chỉ là cha mẹ Đức Giêsu, là ông bà Giuse-Maria.

Bàn tới, bàn lui cho vui vậy thôi. Chứ các Ngài quả là “thánh” nhưng cách trở nên “thánh” của các Ngài, chúng ta không thể nói là không noi theo được. Vâng, rất giản dị, chỉ hai chữ “vâng lời” đối với Đức Maria và “vâng phục” đối với Thánh Giuse.

Đừng nghĩ rằng, Thiên Chúa cũng sẽ bắt chúng ta “vâng lời và vâng phục” Người giống như cách Đức Maria và thánh Giuse xưa kia đã “vâng lời và vâng phục” .

Hôm nay, điều chúng ta cần vâng lời và vâng phục, chính là “tuân giữ các điều răn của (Thiên Chúa) và làm những gì đẹp ý Người” (1Ga 3, …22).

Thế nào là làm đẹp ý Người? Vâng, tác giả sách Huấn Ca cho biết rằng, đẹp-lòng-Đức-Chúa, đó là, đừng bao giờ làm cho gia đình mất đi bầu không khí yêu thương “anh em hòa thuận, láng giềng thân thiết, vợ chồng ý hợp tâm đầu” (Hc 25, 1).

Chúng ta ước ao có được cả ba điều đó trong gia đình chúng ta? Nếu chúng ta thật sự ước ao, chắc chắn khi nói tới “Gia đình”, chúng ta sẽ không ngần ngại mà thốt lên rằng, “Gia đình… Ôi! Hai tiếng yêu thương”.

Petrus.tran





































Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012

Ai là người "thật có phúc"!

Ai là người “thật có phúc”!


Chỉ còn đúng một ngày, tính từ Chúa Nhật 23/12/2012, sẽ là ngày đại lễ Giáng Sinh. Có thể nói, đây là một ngày lễ làm bận rộn tâm trí của không biết bao nhiêu con người.


Có người hối hả, vội vã cho việc mua sắm, tiêu xài. Có người lo tìm kiếm những món quà đắc ý. Có người dồn hết tâm trí cho việc tổ chức những buổi tiệc linh đình, hầu để chứng tỏ đẳng cấp của mình trong xã hội. Lại có người hối hả chọn lựa cho mình những tour du lịch giải trí cho một tuần lễ cuối cùng của năm cũ.


Tâm lý chung là mọi người chỉ nghĩ đến ăn uống, tiệc tùng, sắm sửa, quà cáp v.v… chỉ quan tâm đến những thú vui thuộc trần gian mà quên đi ý nghĩa đích thực của lễ Giáng Sinh.


Với người Công Giáo thì khác hẳn. Lễ Giáng Sinh là ngày “Vinh Danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”. Sự vinh danh đó không thể và không cho phép bị cuốn hút vào những thú vui trần gian chóng qua, và sự bình an đó phải được thực hiện bằng chính tình yêu thương qua việc phục vụ tha nhân.


Chính vì thế, Chúa Nhật thứ IV mùa vọng hôm nay, cũng là tuần lễ cuối cùng để chuẩn bị đại lễ Giáng Sinh, Giáo Hội, qua phần Phụng Vụ Lời Chúa, đã đưa ra một con người thật, thật chứ không là giả tưởng, như là mẫu mực cho tình yêu thương qua sự phục vụ. Con người đó chính là Đức Maria, một con người thật có phúc.


Sở dĩ, Đức Maria được coi như là mẫu mực cho tình yêu thương qua sự phục vụ một cách ưu việt là vì cuộc sống của Mẹ đã chứng minh điều đó. Cuộc sống đó đã được ghi chép lại trong Tin Mừng của Thánh Luca qua trình thuật: “Đức Maria viếng thăm bà Elizabeth” (Lc 1, 39-45).




**


Vâng, như chúng ta được biết, khi đó Đức Maria đã cưu mang Chúa Giêsu nhờ quyền phép Chúa Thánh Thần.


Thoạt tiên, khi được sứ thần Gabriel loan báo Mẹ đã được Thiên Chúa chọn để cưu mang Đấng Cứu Thế - Đấng “sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao”, Đức Maria không khỏi không “bối rối”.


Sự bối rối của Đức Maria cũng là sự bối rối thường tình, Thiên Chúa là Đấng vô hình, làm sao Người lại có thể mang thân xác hữu hình! Thiên Chúa là Đấng vô hạn, làm sao Người lại có thể đến cư ngụ với con người hữu hạn! Vả lại, như lời Đức Maria nói, “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!”…


Có thể nói, lời trần tình của Mẹ hợp lý. Thế nhưng, khi sứ thần nói với Đức Maria rằng “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”, đồng thời báo tin cho Mẹ biết “bà Êlisabeth tuy đã già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai, bà ấy vẫn mang tiếng là hiếm muộn mà nay đã có thai”, nhờ đó, Đức Maria như thấu hiểu và đã không còn băn khoăn về việc phải lãnh nhận trọng trách cưu mang Con Thiên Chúa. Cuối cùng Mẹ đã “xin vâng”.


Tuy không còn băn khoăn về chuyện của mình, nhưng tâm lòng Đức Maria lại dấy lên một niềm băn khoăn mới, một niềm băn khoăn mà chỉ có ai cùng chung cảnh ngộ mới có thể thấu hiểu, đó là việc “ốm nghén”…


Hãy nhìn xem, bà chị họ Elzabeth tuổi đã già lại đang trải qua cơn ốm nghén, hỏi sao Đức Maria không băn khoăn cho được! Cầu nguyện ư! Gửi đến bà một vài chai dầu gió hoặc vài thứ cần thiết cho trẻ sơ sinh ư! Tốt đấy nhưng như thế đã là đủ?


Kinh Thánh có lời khuyên “Đừng ngại thăm non người ốm” (Hc 7, 35).


Vâng, có thể tin, lời khuyên đó đã làm cho Đức Maria quên ngay chính hoàn cảnh của mình cũng vừa “ốm nghén” mà hướng về cảnh ngộ của bà Êlisabeth bằng một hành động thiết thực, đó là “vội vã lên đường” đi thăm bà ta.


Đi thăm bà chị họ, Đức Maria muốn nói rằng, tình yêu thương phải được biểu lộ cụ thể qua sự phục vụ, sự phục vụ mà sau này chính con của Mẹ đã đem ra làm bài học cho người môn đệ của Ngài, rằng “Con người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ” (Mc 10, 45).


Đến-là-để-phục-vụ. Vâng, Đức Maria đã không “nũng nịu”nói với bà chị họ của mình rằng “em…em cũng đang ốm nghén… cũng cần được phục vụ”. Trái lại, Đức Maria đã ở lại phục vụ bà Êlisabeth “độ ba tháng” rồi mới trở về nhà mình.


***


Chắc hẳn hôm nay, ai trong chúng ta cũng đã bài trí xong một hang đá Belem cho gia đình của mình. Và tất nhiên, trong hang đá đó, chúng ta sẽ không bao giờ quên trưng bày hình tượng những nhân vật đã viết lên lịch sử cứu độ như thánh Giuse, Chúa Hài Đồng Giêsu và Đức Maria.


Vâng, đó là một truyền thống đẹp. Thế nhưng, sẽ chẳng ý nghĩa gì nếu chúng ta chỉ đặt “tượng” những nhân vật đó vào hang-đá-giấy mà không đặt “tâm tình” những nhân vật đó vào hang-đá-tâm-hồn của chúng ta.


Hãy thử tưởng tượng!


Nếu… nếu chúng ta cùng có một tâm tình của Đức Maria, một tâm tình yêu thương và phục vụ, sẵn sàng vội vã lên đường, đến với những trẻ thơ bất hạnh, đến với những thai nhi vô thừa nhận… Vâng, có phần chắc, chúng ta sẽ lại được nghe tiếng thai nhi “trong bụng nhảy mừng”. Có phần chắc, chúng ta sẽ được nhìn thấy nhiều trẻ thơ “nhảy lên vui sướng”.


Hãy thử nghĩ xem…


Nếu… nếu chúng ta sẵn sàng vội vã lên đường, đến với những bà Êlisabeth-già-nua không nơi nương tựa… những Êlisabeth đang “ẩn-mình-chờ-chết” trên giường bệnh vì không có tiền thuốc thang… những Êlisabeth bị bỏ rơi với đàn con nhếch nhác v.v… Vâng, có phần chắc, chúng ta sẽ được nghe nhiều lời chúc phúc. Có phần chắc, chúng ta sẽ được những bà Elizabeth-của-thời-đại-hôm-nay lớn tiếng kêu lên “Bởi đâu tôi được (bạn) tôi đến với tôi thế này!”…




****


Viết tới đây, tôi xin phép gửi đến quý vị một câu chuyện có thật, thật 100%.


Cách nay vài năm, em tôi bị bịnh ung thư giai đoạn cuối và phải nhập viện trong tình trạng hết sức tồi tệ. Nhận được tin, thành thật mà nói, tôi không có được tâm tình như Đức Maria “vội vã lên đường” thăm viếng em tôi. Trái lại, trong tôi, nhiều lý do nảy sinh, nào là “lo gì đã có cô vợ của nó” nào là “đã có ông anh tôi ở đó rồi” v.v…


Chưa hết, khi đến thăm, tôi được biết em tôi cần một người ngồi túc trực bên cạnh trước là để theo dõi bịnh tình, sau là để xoa bóp cơ thể hầu cho máu huyết lưu thông dễ dàng. Tôi xung phong túc trực ca đêm và hứa rằng sẽ túc trực như thế cho đến khi em tôi xuất viện.


Than ôi! Chỉ mới một đêm, tôi đã cảm thấy mệt mỏi. Sang đêm thứ hai, tôi “đào ngũ” với lý do rất hợp lý “có vợ con nó lo”. Rạng sáng của ngày thứ ba, em tôi chết.


Em tôi chết rồi, tôi nghĩ, phải chi tôi “ở lại với em tôi” thêm một đêm nữa thì an ủi cho em tôi biết chừng nào! Vâng, một đêm thôi, có cần chi “độ ba tháng” như Đức Maria!


Có lẽ trong cuộc sống thường nhật, ai trong chúng ta cũng sẽ hơn một lần phải đối diện với trường hợp như của tôi.


Cho nên, thật phải đạo khi hôm nay, chúng ta hãy tự hỏi rằng, tôi đã “trang trí” hang-đá-tâm-hồn của tôi “tâm tình của Đức Maria”?


Hãy tự hỏi mình rằng, đã qua bao nhiêu “mùa đông giá hang Belem Chúa sinh ra đời”, thế nhưng, chúng ta đã thật sự có một tâm tình yêu thương qua sự phục vụ như Đức Maria? (Dẫu rằng chỉ là phục vụ cho người thân của mình)


Còn về vấn đề tâm linh thì sao! Hãy tự hỏi mình rằng, đã bao nhiêu lần “quỳ bên hang sâu nghe lời Kinh Thánh vang cầu”, thế nhưng, chúng ta có sẵn sàng vội vã lên đường “đem yêu thương vào nơi oán thù… đem thứ tha vào nơi lăng nhục… đem an hòa vào nơi tranh chấp… đem chân lý vào chốn lỗi lầm”?


Đừng nghĩ rằng, đó là những công việc khó thực hiện. Là một Kitô hữu, với ơn Chúa, cách này hay cách khác, chúng ta đủ sức để thực hiện những công việc nêu trên.


Vì thế, một Giáng Sinh tốt đẹp phải là một Giáng Sinh của tình yêu thương qua sự phục vụ. Hãy nghe tác giả sách Huấn Ca nói “vì nhờ những việc như thế mà con sẽ được mến yêu” (Hc 7, 35).

Ai… ai sẽ mến yêu chúng ta, khi chúng ta thực thi trọn vẹn những việc như thế nếu không phải là chính Thiên Chúa! Vâng, một khi Thiên Chúa đã mến yêu chúng ta, như Đức Maria xưa kia, hãy tin, chúng ta cũng sẽ là những người “thật có phúc”.


Petrus.tran






















Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2012

Chúng ta phải làm gì đây?

Chúng ta phải làm gì đây?


Hai tuần của Mùa Vọng đã trôi qua, hôm nay (16/12/2012) toàn thể Giáo Hội bắt đầu bước vào Chúa Nhật thứ ba Mùa Vọng. Có thể nói, tuần thứ ba của Mùa Vọng là một tuần rất bận rộn đối với các vị linh mục chánh xứ. Ngoài việc đôn đốc các thành viên trong giáo xứ làm hang đá, trang trí nhà thờ hay tập dợt diễn nguyện thánh ca, các vị linh mục còn phải chuẩn bị cho những buổi tĩnh tâm giảng phòng và nhất là ngồi tòa giải tội cho tín hữu.


Với những buổi tĩnh tâm giảng phòng và giải tội, có lẽ nhiều người trong chúng ta ít đi vào chiều sâu của nó mà chỉ tham dự và thực hiện một cách chiếu lệ như là một sự bắt buộc phải làm.


Thế nhưng, nếu chúng ta tham dự những buổi tĩnh tâm giảng phòng và giải tội với một tâm hồn “sám hối trở về”, quả thật đó là lúc nó gợi cho ta nhớ đến cội nguồn của lịch sử cứu độ, nơi Chúa Giêsu đã giáng trần, nơi dân Israel xưa kia đã lũ lượt kéo đến để nghe về một Đấng cứu độ muôn dân, nơi từng đoàn người lũ lượt kéo về sông Giodan sám hối thú tội để được ơn tha tội.


**


Vâng, ngày đó, nếu được phép gọi đó là “Mùa Vọng thứ nhất” của lịch sử cứu độ. Bên bờ sông Giodan là một rừng người, họ từ Giêrusalem và khắp miền Giuđê, cùng khắp vùng ven sông Giodan tụ tập lại đó. Họ đến vì nghe nói rằng: “Có một người được Thiên Chúa sai đến tên là Gioan”.


Ông Gioan là ai? Thưa rằng, vào “năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Tiberio, thời Phongxio Philatô làm tổng trấn miền Giuđê, Hêrôđê làm tiểu vương miền Galilê, người em là Philipphê làm tiểu vương miền Iturê và Trakhônit, Lysania làm tiểu vương miền Abilên, Khanan và Caipha làm thượng tế…”, ông Gioan đã xuất hiện như một chứng nhân sau nhiều năm sống trong hoang địa, sống đời sống đơn sơ và giản dị: “mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn” (Mt 3, 4).


Người chứng nhân Gioan đã nói với mọi người rằng, “hãy chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” (Lc 3, 3).


Những cảnh báo thẳng thắn của ông như những “phát búa”, như những “nhát rìu” chém thẳng vào tận tâm can, tận đáy lòng, tận thâm tâm từng người. Nó đã đặt mỗi người trước một lựa chọn, hoặc là : “Hãy sinh những hoa quả xứng đáng với lòng sám hối”. hoặc phải đối diện với: “cơn thịnh nộ của Thiên Chúa” (Lc 3, 8).


***


Vâng, và họ đã chọn lựa.


Đã hằng bao ngàn năm, họ trông ngóng “Đấng Mesia” nay lại được ông Gioan công bố rằng “Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa” thì quả là một Tin Mừng cho họ.


Dòng sông Giodan dậy sóng nhưng không phải sóng nước mà là một làn sóng người “lũ lượt kéo đến xin ông Gioan làm phép rửa” hòa theo âm vang của những lởi hỏi han rằng “Chúng tôi phải làm gì đây?”


****


“Chúng tôi phải làm gì đây?”


Đối với chúng ta hôm nay, nên chăng, câu hỏi này phải được sửa là “Chúng ta phải làm gì đây?”


Xin thưa, đúng vậy. Chúng ta phải làm gì đây?


Vâng, hai tuần liền, Phụng Vụ Lời Chúa, đều nhắc đến Gioan Tiền Hô. Nhắc đến Gioan Tiền Hô, Giáo Hội muốn đưa ra câu trả lời cho chúng ta rằng, điều “chúng ta phải làm” chính là những điều Gioan Tiền Hô bảo làm.


Gioan Tiền Hô bảo làm gì ư!


Đây! Hãy tự hỏi lòng mình rằng, đã biết bao lần chúng ta cất tiếng reo vang “Nửa đêm mừng Chúa giáng sinh ra chốn nhân trần” và nói với bàn dân thiên hạ rằng “Người đem ân phúc xuống cho muôn dân lầm than” thế nhưng, đã được mấy lần chúng ta xóa kiếp lầm than, cho một người thật sự lầm than, bằng việc “có hai áo… chia cho người không có… có gì ăn thì cũng làm như vậy”?


Cho nên, thật phải đạo khi hôm nay chúng ta trở về dòng sông Giodan năm xưa, trở về dòng sông Giodan không phải để ngồi đó nhìn “thuyền ai lờ lững trôi suôi dòng” nhưng là để cùng Gioan Tiền Hô nhìn lại “con thuyền cuộc đời” của chúng ta.


Con thuyền cuộc đời của chúng ta, sau bao mùa NOEL, đã chất chứa những gì?


Phải chăng là sự vô cảm, sự lãnh đạm trước những nỗi khổ đau, trước sự nghèo túng, trước sự áp bức, trước nỗi bất công… những thứ mà ông Gioan xếp vào loại “nòi rắn độc” không thể tránh khỏi “cơn thịnh nộ của Thiên Chúa”?


Hay, con thuyền cuộc đời của chúng ta đang chuyên chở một tâm hồn độ lượng, một tấm lòng nhân ái, không “tham lam vơ vét…” không “đòi hỏi quá mức ấn định” không “hà hiếp ai” không “tống tiền người ta” và “an phận với số lương của mình”?


Vâng, chính chúng ta phải có câu trả lời.


Giờ đây, chúng ta hãy trở lại dòng sông Giodan năm xưa một lần nữa. Hãy nhìn xem, có rất nhiều người “lũ lượt kéo đến xin ông Gioan làm phép rửa”. Còn chúng ta hôm nay? Con thuyền cuộc đời của chúng ta đã “cập bến Giodan-Giáo Hội” bằng Bí Tích Thanh Tẩy?


Nếu chúng ta đã cập bến, đừng quên, trong bài “giảng phòng” ông Gioan đã nói: “Các anh hãy sinh hoa quả xứng với lòng sám hối”.


Vâng, hoa quả xứng với lòng sám hối, như lời thánh Phaolô nói, đó là, một đời sống “sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi”. Ngài nói tiếp rằng, là “những gì là chân thật cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh đáng khen, thì anh em hãy để ý… hãy đem ra thực hành” (Pl 4, 8-9).


Nếu…nếu chúng ta “để ý” đến những gì thánh Gioan Tiền Hô và thánh Phaolô đã khuyên răn và “đem ra thực hành”… Vâng, đó chính là câu trả lời cho câu hỏi “Chúng ta phải làm gì đây?”


Petrus.tran


































Thứ Hai, 10 tháng 12, 2012

Tôi đã thật sự tỏ lòng sám hối!

Tôi đã thực sự tỏ lòng sám hối…

Lịch Phụng Vụ hôm nay (09/12/2012) bước vào Chúa Nhật thứ hai Mùa Vọng. Bầu không khí của Lễ Giáng Sinh mỗi ngày một thêm rộn ràng. Thật vậy, nơi các xóm đạo, người ta bắt đầu tất bật giăng đèn, làm hang đá.

Nói tới việc làm hang đá, có thể nói, không nơi nào nhộp nhịp cho bằng nơi xóm đạo Bình An, Bình An Thượng v.v… Nơi đây, như một truyền thống đẹp, hễ đến lễ Giáng Sinh, nhà nhà, người người làm hang đá, làm hang đá trong tư thất chưa đủ, họ còn làm hang đá suốt dọc hai bên đường.

Ngoài những hang đá, những gì có liên quan đến Giáng Sinh đều được họ đem ra trưng bày, như cây thông Noel, như hình nhân người tuyết và đặc biệt là hình ảnh “ông già Noel”.

Ông già Noel là ai? Xin thưa, theo truyền thống cho rằng, ông già Noel được nói đến trong dịp lễ Giáng Sinh chính là hiện thân của thánh Nicola một vị thánh được Giáo Hội Công Giáo kính nhớ vào ngày 6 tháng 12 hằng năm. Ngài là giám mục tại Myra, một hải cảng trong vùng Lycea của Tiểu Á (ngày nay là Demre, Thổ Nhĩ Kỳ).

Thánh Nicôla là một người biết thương người nghèo và dành cả đời mình để phục vụ Thiên Chúa. Chuyện kể rằng, một lần, gặp ba cô gái trẻ không có người cầu hôn vì cha họ quá nghèo, thánh Nicôla liền lấy ba túi vàng và bí mật bỏ vào phòng ba cô gái nọ. Nhờ đó, họ lấy được chồng và sống rất hạnh phúc.

Thánh Nicôla còn được ca tụng là người rất yêu thương trẻ em. Ngài là người luôn mang quà đến cho trẻ em vào các dịp lễ Giáng Sinh.

Là vậy, nhưng, thánh Nicola không thể chiếm chỗ của một người, trong dịp lễ Giáng Sinh, hay nói đúng hơn, trong Mùa Vọng, người đó chính là ông Gioan, người mà chúng ta, hôm nay, quen gọi là Gioan Tiền Hô.

Vâng, kể từ khi nguyên tổ Adam và Eva phạm tội, con người mất hết ơn lành. Thiên Chúa trục xuất con người ra khỏi vườn Eden kèm theo bản án đời đời kiếp kiếp “người là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3, …19)

Thế nhưng, dẫu cho con người đã phạm tội. Thiên Chúa không vì thế mà bỏ rơi con người. Thiên Chúa vẫn luôn là “Đấng từ bi và nhân hậu: Người đại lượng và chan chứa tình thương… Người không nỡ với ta như ta đáng tội và không trả cho ta theo lỗi của ta.” (Tv 102, 8-10).



Sự đại lượng và lòng chan chứa tình thương của Thiên Chúa được biết đến qua những lời giao ước với các tổ phụ, từ ông Ap-ra-ham cho đến ông Môse, cuối cùng với các ngôn sứ và đã được loan báo rằng : “Này đây, Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” (Mt 1, 23).

Và khi thời kỳ đã mãn, ông Gioan Tiền Hô, chính là người được Thiên Chúa sai đi loan báo lời giao ước đó cho muôn dân.

**Vâng, Gioan-Tiền-Hô có một vai trò nổi bật trong lịch sử cứu độ. Dưới sự quan phòng của Thiên Chúa, mặc dù mẹ của ông “tuy già rồi” quá tuổi sinh con, nhưng Thiên Chúa đã nhận lời cầu xin của cha ông là Dacaria, đã cho ông ra đời một cách đặc biệt.

Khi ông Gioan được tám ngày, chịu phép cắt bì và đặt tên, thì Dacaria, cha của ông, được tràn đầy Thánh Thần và nói : “Hài nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng tối cao, con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người” (Lc 1,76).

Quả đúng như lời Dacaria nói, ông Gioan, sau những ngày sống trong hoang địa, khi có lời Thiên Chúa phán, ông liền đi khắp vùng sông Giodan với lời rao giảng kêu gọi người ta “chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” (Lc 3, 3).

Nghe tiềng đồn về ông, người Do Thái từ Giêrusalem cử một số tư tế và mấy thầy Lêvi đến hỏi ông rằng “Ông là ai?” ông Gioan đã trả lời rõ, rằng “Tôi là tiếng người hô trong hoang địa…” và rằng “Có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người”. (Ga 1, …26-27).

Đúng, ông Gioan không phải là ngôn sứ, cũng không phải là Êlia. Sứ vụ Thiên Chúa giao cho ông chính là kêu gọi mọi người “Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng…”


Kết thúc lời kêu gọi, ông nhấn mạnh rằng “Hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (Lc 3, 6).

*** Thánh Nicôla, theo truyền thống được cho là “Ông già Noel”, ngoài ra ngài còn được gọi bằng một cái tên là “Thánh Ních vui vẻ”. Vâng, quả là thật vui vẻ khi chân dung Ngài được nhìn qua biểu tượng ông già Noel với trang phục đỏ thắm, dí dỏm với chùm râu bạc, ngồi chễm chệ trên chiếc xe trượt tuyết, có bảy con tuần lộc kéo, với một lô quà đem phát tặng cho trẻ em.

Thế nhưng, ngày nay, thật đáng tiếc “Ông già Noel” ngày càng bị xã hội thương mại hóa, “trần tục hóa” làm hoen ố tấm gương quảng đại của vị giám mục Nicola thánh thiện.

Nhắc tới chuyện này, bởi ngày nay, Lễ Giáng Sinh cũng đang dần bị con người “trần tục hóa”. Thật vậy, sự thật là thật sự có một “nhúm người” đang muốn đánh đồng lễ Giáng Sinh như một ngày “lễ hội… lễ hội dân gian”.

Nhưng điều đó cũng chưa phải là đáng ngại. Điều đáng ngại, đó là, chính chúng ta, chính cách chúng ta “dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi…” sẽ nói lên rằng, chúng ta có “trần tục hóa” lễ Giáng Sinh hay không?

Trở lại câu chuyện ông Gioan Tiền Hô.

Vâng, có bao giờ chúng ta tự hỏi, ông Gioan Tiền Hô sẽ nghĩ gì khi chúng ta “dọn sẵn… cho Đức Chúa” một cái hang đá thật vĩ đại, với một rừng ngôi sao, cờ phướn bay phất phới được điểm xuyết một dàn đèn nhấp nháy lên đến vài chục… chục triệu đồng!

Phải chăng, ngài “Tiền Hô” sẽ quay phim chụp hình rồi upload lên You Tube với lời “còm” theo điệu nhạc hip hop “good… good… good… very good”!

Hay phải chăng, ngài Gioan sẽ cho rằng, một hang đá đơn sơ, giản dị, cũng đủ để chúng ta biểu lộ “đức tin tông truyền”!

Đúng vậy, hang Belem xưa nghèo nàn tăm tối, thế nhưng vẫn chẳng có gì ngăn trở việc đem đến cho mọi người “ơn cứu độ của Thiên Chúa”.

Vì thế, đừng quên, trước hết và trên hết, hãy nghĩ đến “Hang đá Belem tâm hồn” của chúng ta.

Bởi, đó chính là nơi chúng ta phải “dọn sẵn con đường cho Đức Chúa… để Người đến”. Đó chính là nơi chúng ta phải sửa đổi những quanh-co-dối-trá trong tâm hồn. Đó chính là nơi chúng ta phải lấp những hố-sâu-tham-lam, những hố-sâu-hận-thù, những hố-sâu-chia-rẽ, những hố-sâu-đam-mê-dục-vọng.

Và cuối cùng, đó chính là nơi chúng ta phải “san cho phẳng” những-ngọn-núi-kiêu-ngạo, những đỉnh-đồi-kiêu căng…

Ngày xưa, hang Belem chỉ cần một ngôi sao lấp lánh, thế mà vẫn có thể “Vinh Danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”.

Cũng vậy, đối với chúng ta hôm nay. Nếu hôm nay, Hang đá Belem tâm hồn của chúng ta có một ngôi sao mang tên “sám hối”, nó sẽ không chỉ mang đến cho chúng ta “ơn tha tội (và) ơn cứu độ của Thiên Chúa” mà còn giúp chúng ta có thể “đứng vững trước mặt Con Người” trong ngày quang lâm.

Hãy nghe lại một lần nữa lời thánh Luca chép về những gì Gioan Tiền Hô đã thực hiện. Vâng, thánh Luca chép rằng “Ông liền đi khắp vùng ven sông Giodan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” (Lc 3, 3).

Vâng, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã “chịu phép rửa” nhưng, hãy tự hỏi lòng mình rằng, “tôi đã thực sự tỏ lòng sám hối?”

Petrus.tran



Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...