Thứ Hai, 12 tháng 3, 2018

Hãy tin vào Đức Ki-tô Giê-su…


Chúa Nhật IV – MC – B

Hãy tin vào Đức Ki-tô Giê-su…

Có một nhà truyền giáo đã tuyên bố rằng: “Nếu chẳng may toàn bộ các sách Kinh Thánh thất lạc (hoặc bị đốt bỏ, như kiểu Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn nho), mà còn giữ lại được đoạn 3 câu 16 trong Tin Mừng thánh Gio-an,  với câu đó cũng đủ để mọi người nhận biết tình yêu của Thiên Chúa đối với con người như thế nào.”

Đoạn 3 câu 16 của Tin Mừng thánh Gio-an, đã nói gì? Thưa, nói  rằng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”.

Chính Đức Giê-su, chứ không là ai khác, Ngài đã nói điều đó trong một cuộc đàm đạo với một thủ lãnh của người Do Thái, tên là Ni-cô-đê-mô.

Chi tiết về cuộc đàm đạo đó đã được thánh sử Gio-an ghi lại như sau: Hồi ấy, “trong nhóm Pha-ri-sêu, có một người tên là Ni-cô-đê-mô, một thủ lãnh của người Do Thái. Ông đến gặp Đức Giê-su ban đêm”.

Gặp Đức Giê-su, ông ta đã nói với Ngài như thể nói với một người mình từng quen biết, rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi biết, Thầy là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến”.

Dựa vào đâu mà ông ta nói về Đức Giê-su như thế? Thưa, ông ta đã dựa vào “những dấu lạ” mà ông ta cho rằng Đức Giê-su đã làm, vì như ông ta nói: “chẳng ai làm được những dấu lạ Thầy đã làm, nếu Thiên Chúa không ở cùng người ấy”.

Đúng vậy, Đức Giê-su, ngay khi bắt đầu ra đi loan báo Tin Mừng, Ngài đã làm rất nhiều dấu lạ, dấu lạ hóa nước thành rượu trong một bữa tiệc cưới tại Cana như là một điển hình.

 Còn chuyện Ngài  “được Thiên Chúa sai đến” ư! Thưa, cũng đúng . Thế nhưng, Đức Giê-su được sai đến không chỉ để người ta coi như là “một tôn sư”, nhưng là để khôi phục cho con người “quyền trở nên con Thiên Chúa”.

Hôm đó, sau những lời tranh luận với ông Ni-cô-đê-mô về sự tái sinh, Đức Giê-su đã khẳng định điều đó khi Ngài công bố một thông điệp, thông điệp rằng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16).

“Con của Người” sẽ làm gì để đem lại sự sống muôn đời cho nhân loại? Thưa, hôm đó Đức Giê-su cho biết: “như ông Mô-sê đã gương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được gương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời”. (Ga 3, 14-15)

Đối với người Do Thái, nói tới chuyện Mô-se gương cao con rắn đồng, có phần chắc ai cũng hiểu, nhưng khi nói “Con Người cũng sẽ phải được gương cao như vậy”, không biết, hồi đó,  ông Ni-cô-đê-mô có hiểu câu nói đó của Đức Giê-su không!

Tuy nhiên, có phần chắc, ông ta sẽ hiểu, hiểu Đức Giê-su nói gì, khi Ngài nói tiếp rằng “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ”.

Sau này, quả đúng như lời Đức Giê-su nói, vào một buổi chiều ngày thứ sáu, trên đồi Golgotha, “Con của Người”, chính là Ngài, đã bị giương cao, giương cao trên cây thập giá. Cây thập giá đó, trở thành cây thánh giá, một cây thánh giá, để ai tin, thì người ấy “được cứu độ”.

**
“Được Cứu Độ - Được Sống Muôn Đời”. Vâng, đó chính là kết quả từ cây Thánh Giá của  Chúa Giêsu Kitô. Cây Thánh Giá Chúa Giêsu Kitô như là cây trường sinh mới, một cây-trường-sinh-mới đã được tác tạo bằng chính thân xác của Ngài. Nó đã được gieo hạt tại miền đất Belem và đã trổ sinh hoa trái khi được “trồng xuống” tại đồi Golgotha.

Nói tắt một lời, nó chính là Tình yêu của Thiên Chúa qua Đức Giê-su Ki-tô, mà chúng ta được hưởng “ơn cứu độ”.  

Thánh Phao-lô, đã cảm nghiệm được điều này, nên đã có lời chia sẻ: “Chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ”.

“Ơn Cứu Độ và Sự Sống Muôn Đời” đã có, và ân huệ mà Thiên Chúa ban cho con người không bao giờ bị giới hạn bởi không gian lẫn thời gian. Vấn đề còn lại là “lòng tin”,  lòng tin của chúng ta. Chúng ta có tin và đón nhận tình yêu của Người?

Mà, cớ gì chúng ta không đón nhận nhỉ!

***
Nói tới lòng tin, có thể nói, đó là một thách đố lớn đối với chúng ta, khi mà chúng ta đang phải sống trong một xã hội vô thần, một xã hội cổ võ cho một nền văn hóa sự chết, một nền văn hóa “tiền là tiên là phật”, một nền văn hóa dạy dỗ con người rằng: Thiên Chúa đã chết rồi, một nền văn hóa ngạo mạn rêu rao rằng: “Thằng trời đi chỗ khác chơi; Để cho nông hội tiến lên làm mùa” v.v…

Ở một xã hội như thế, một xã hội nhồi nhét chúng ta (cũng như con em chúng ta) một nền văn hóa như thế, rất có thể, chỉ vì một phút yếu lòng, chúng ta gục ngã trước những mưu ma chước quỷ của Sa-tan và bè lũ của chúng.

Rất có thể, chỉ vì một phút yếu lòng, chúng ta yêu thế gian đến nỗi “bán” Con Một của Người là chính Đức Giê-su, bằng cách này hay cách khác.

Thế nên, hãy để một phút hồi tâm và tự hỏi, tôi có “bán đứng” lương tâm mình chỉ vì một chút lợi lộc, của cải, tiền bạc mà thế gian ban cho? Tôi có “bán đứng” đồng nghiệp mình chỉ vì một chút danh vọng,    thế gian ban cho? Tôi có bán đứng đồng môn mình chỉ vì một chút quyền lực mà thế gian ban cho?

Đối với gia đình, tôi có bán đứng người bạn trăm năm của mình chỉ vì một phút yếu lòng để cho “hồn lỡ sa vào đôi mắt em”,  một em chân dài nào đó? v.v…

Nếu … nếu chúng ta có một phút yếu lòng! Hãy nhớ đến dụ ngôn “người cha nhân hậu”. (x.Lc 15, 11-32).
 Hãy tin vào lòng nhân hậu và sự bao dung của Thiên Chúa, như người con thứ trong dụ ngôn đã tin.

Hãy đứng lên và đi về với Thiên Chúa, như người con thứ  đã “tin” rằng, người cha sẽ tha thứ và anh ta đã “đứng lên, đi về cùng cha”.

Còn nữa, hãy nhớ lời Chúa, qua miệng lưỡi ngôn sứ Isaia, đã phán rằng “Hãy đến đây, ta cùng nhau tranh luận. Tội các ngươi, dẫu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết; có thẫm tựa vải điều, cũng hóa trắng như bông” (x.Is 1, 18)

Cuối cùng, hãy mở cuốn Kinh Thánh ra, mở ra và xem Kinh Thánh đã nói gì về Thiên Chúa, một Thiên Chúa là tình yêu.

Phải chăng, Kinh Thánh cho chúng ta biết Thiên Chúa, qua Đức Giê-su Ki-tô, đã làm cho “năm chiếc bánh và hai con cá” hóa ra nhiều để cho con người có cái ăn, khi con người đói!

Phải chăng, Kinh Thánh cho chúng ta biết Thiên Chúa, qua Đức Giê-su Ki-tô, đã chữa lành bệnh tật cho những người đau yếu tật nguyền!
Phải chăng, Kinh Thánh cho chúng ta biết Thiên Chúa, qua Đức Giê-su Ki-tô, đã làm cho Lazaro đã chết và “chôn trong mồ được bốn ngày”, được sống lại!

Có phần chắc, (riêng tôi, tôi nghĩ như vậy), rằng: không ai trong chúng ta lại không nói: “đúng vậy”.

Nếu chúng ta đồng thanh nói: “đúng vậy…”  Vậy thì, chớ có dại mà đặt niềm tin vào Satan cũng như vào sự gian trá của thế gian, nơi chỉ dẫn chúng ta đi về cõi thung lũng của nghi ngờ, của sự chết đời đời.

Nếu chúng ta đồng thanh nói: “đúng vậy…”  Vậy thì, không gì tốt hơn là chúng ta hãy để cho tâm hồn trở về trong thinh lặng và tự hỏi rằng: tôi đã thật sự: “phó thác đời tôi vào Chúa”

Câu trả lời là của mỗi chúng ta. Tuy nhiên, đừng quên rằng, khi đã là Ki-tô hữu, con người của chúng ta chính là “tác phẩm của Thiên Chúa, chúng ta được dựng nên trong Đức Ki-tô Giê-su”(x.Ep 2, 10).

Thưa quý bạn, khi chúng ta sống trong Đức Ki-tô Giê-su, đó chính là lúc chúng ta đã đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, lời mời gọi “tin vào Con của Người”.

Thưa quý Bạn, thánh Phao-lô nói: “Bộ mặt thế gian này đang biến đi”. Và, như lời thánh vịnh 90, cho biết: “Tính tuổi thọ trong ngoài bảy chục, mạnh giỏi chăng là được tám mươi. Mà phần lớn chỉ là những gian lao khốn khổ, cuộc đời thấm thoát chúng con đã khuất rồi”  (Tv 90, 10).

Và, thưa quý Bạn, cái gì sẽ tồn tại, nếu không là sự sống đời đời trong Đức Giê-su Ki-tô! Cái gì sẽ tồn tại, nếu không là niềm tin, “tin vào Con của Người” để được “sự sống muôn đời”!

Thế nên, đừng để quá muộn. Hãy đến và hãy nói với Thiên Chúa, rằng: Lạy Chúa, con “Tin vào Con của Người”.

Vâng, ngay bây giờ, tôi và bạn, chúng ta “Hãy tin vào Đức Ki-tô Giê-su”.

Petrus.tran


Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2018


Chúa Nhật V – TN – B

Hãy sống và làm theo gương Đức Giê-su.

Chúng ta đang sống trong một thế giới  văn minh hiện đại.  Chúng ta đang sống trong một thời đại chỉ cần một cái chạm, con người đã có thể biết điều gì đang xảy ra trên thế giới. Sự tiến bộ của khoa học không chỉ tạo ra một cuộc sống đầy đủ tiện nghi, mà còn giúp con người sống thọ hơn trước kia.

Thế nhưng, càng văn minh hiện đại, khoa học càng tiến bộ, con người lại càng thấy cái chết luôn chờ chực bên cuộc sống của mình. Con người đã sản xuất được vũ khí giết người hàng loạt. Con người đã chế tạo ra bom nguyên tử, bom hạt nhân v.v…Thử hỏi xem, nếu Kim Jong Un nổi khùng lên với một cú nhấn nút, và  Donald Trump trả đũa, thế giới này sẽ đi về đâu! Nổ tung lên thôi.

Trước mối hiểm họa này, có bao giờ chúng ta tự nhủ mình rằng: Phải chăng, hôm nay, tôi chỉ còn một ngày để sống? Vâng, nếu quả thật chỉ còn một ngày để sống… vậy thì tôi sẽ làm gì?

Với câu hỏi này, đã có rất nhiều câu trả lời, bi quan lẫn lạc quan. Hoài An, tác giả ca khúc “nếu chỉ còn một ngày để sống”, khắc khoải thốt lên rằng: “Nếu chỉ còn một ngày để sống. Người đưa tôi về đến quê nhà. Để tôi thăm làng xưa nguồn cội. Cho tôi mơ, mơ tiếng mẹ cha… Nếu chỉ còn một ngày để sống. Làm sao ta trả ơn cuộc đời. Làm sao ta đền đáp bao người. Nâng ta lên qua bước đời chênh vênh…”

Thế còn chúng ta, là một Ki-tô hữu, nếu chỉ còn một ngày để sống… tôi sẽ làm gì? Tôi sẽ thổn thức: “…Làm sao ta chuộc hết lỗi lầm. Làm sao ta thanh thản tâm hồn. Xuôi đôi thay đi giữa hừng đông…” như Hoài An đã thổn thức!!

Thổn thức như thế, cũng tốt thôi. nhưng mới chỉ là thổn thức hướng về thân phận của ta. Là một Ki-tô hữu,  chúng ta phải làm hơn thế nữa. Phải làm một cái gì đó hướng đến tha nhân, và nhất là quy hướng về Thiên Chúa.

Hướng đến tha nhân và hướng về Thiên Chúa, đó là điều Đức Giê-su thực hiện thường  ngày. Nói cách khác, một ngày trong đời của Ngài, là một ngày hướng về Thiên Chúa và tha nhân.

Một ngày trong đời của Đức Giê-su được khởi đầu như thế nào? Thưa, Ngài “cầu nguyện”. Thật vậy, hãy nghe thánh sử Mác-cô thuật lại rằng: “Sáng sớm lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng,và cầu nguyện ở đó”.

Là một Ki-tô hữu, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng biết, cầu nguyện quan trọng như thế nào. Thánh nữ Tê-rê-xa Hài Đồng Giê su có nói: “Đối với  tôi, cầu nguyện là một sự hướng lòng lên, một cái nhìn đơn sơ hướng lên trời. Đó là tiếng kêu của lòng tri ân và của tình yêu trong cơn thử thách cũng như trong lúc hưởng niềm vui.”
Trở lại câu chuyện của Đức Giê-su. Khởi đầu cho một ngày, Đức Giê-su  hướng về Thiên Chúa, qua việc cầu nguyện, tiếp đến Ngài không quên hướng đến tha nhân.

Hướng tới tha nhân như thế nào? Thưa, Đức Giê-su “viếng kẻ liệt”. Thật vậy, Tin Mừng thánh Mác-cô kể: Một hôm, Đức Giê-su đi đến nhà hai ông Si-môn và An-rê. Lúc đó, bà mẹ vợ ông Si-môn đang lên cơn sốt, nằm trên giường. Thấy Đức Giêsu, thân nhân của ông Simôn không bỏ lỡ cơ hội, họ “nói cho Người biết tình trạng của bà”. Nghe thế, Đức Giê-su, “…lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy; cơn sốt dứt ngay…”. (Mc 1, 31).

Chỉ một “cái chạm” của Đức Giêsu, người ta thấy “bà mẹ vợ ông Simon” đi lại như chưa hề bị cơn sốt hành hạ. Bà ta lại còn lăng xăng lui tới “phục vụ các ngài”.

Hướng tới tha nhân, Đức Giê-su không chỉ hướng đến thân nhân của các môn đệ, nhưng còn hướng đến tất cả mọi người. Chuyện kể tiếp rằng: “Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ đau ốm và những ai bị quỷ ám đến cho Người”. Hôm đó, dù mặt trời đã lặn, Đức Giê-su vẫn tiếp tục “chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật, và trừ nhiều quỷ..”(x.Mc 1, 34)

Đừng quên, Ngài còn làm một việc rất quan trọng, đó là: rao giảng Tin Mừng. Thánh sử Mác-cô cho biết: Sau khi làm phép lạ chữa lành và trừ quỷ, Đức Giê-su đã nói với các môn đệ mình rằng: “Chúng ta hãy đi… đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó”.

**
Vâng, một ngày trong đời của Đức Giê-su là thế đó. Thế còn, với chúng ta thì sao? Nếu ta chỉ còn một ngày để sống… Nói cách khác, một ngày trong đời của tôi, tôi sẽ làm gì? Chúng ta sẽ làm gì cho một ngày trong đời của ta?

Chúng ta sẽ sống và làm như Đức Giê-su! Thưa, đúng vậy. Là một Ki-tô hữu, chúng ta cũng được gọi là môn đệ của Đức Giê-su, thế nên, việc sống và làm như Ngài đã sống và làm, là điều phải đạo.

Chính vì thế, hãy để một phút hồi tâm và tự hỏi: khởi đầu cho một ngày trong đời của tôi, tôi có hướng-về-Thiên-Chúa, qua việc nguyện cầu?

Hãy nhớ rằng, việc cầu nguyện của ta không đem lại cho Thiên Chúa điều gì cả, trái lại, nó đem lại cho ta nhiều ơn ích.  Ơn ích đầu tiên, đó chính là “sự bình an”.

Thánh Phao-lô có sự trải nghiệm này, và ngài đã chia sẻ cho cộng đoàn Phi-lip-phê: “Anh em đừng lo lắng gì cả, nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giải bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh  em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa là bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh  em được kết hợp với Đức Giê-su Ki-tô”(x.Pl 4, 6-7) 

“Được kết hợp với Đức Giê-su Ki-tô” thì, có khó khăn nào xảy ra trong cuộc đời ta, mà ta không vượt qua được, phải không, thưa quý vị!

Hướng về Thiên Chúa mà không hướng về tha nhân thì coi như chúng ta chưa sống và làm như Đức Giê-su,chưa thực thi lệnh truyền của Ngài: “Anh  em phải yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em”.

Hướng về tha nhân, nếu là những tha nhân đau yếu bệnh tật, không nhất thiết chúng ta phải là một bác sĩ để chữa trị họ, chỉ cần  một tâm hồn yêu thương, đến viếng thăm, tỏ lòng biết “yếu với những người yếu” để chia sẻ nỗi yếu đau, để an ủi và cuối cùng là để cảm thông.

Hướng về tha nhân, nói chung, hướng về bất cứ ai, không nhất thiết chúng ta phải cho họ tiền bạc, của cải v.v… nhưng là chỉ cần một cử chỉ, cử chỉ khiêm nhường, hiền lành, một nụ cười, một lời cảm ơn khi cần phải cảm ơn, một lời xin lỗi khi cần phải xin lỗi v.v…

Cuối cùng, một ngày trong đời của chúng ta sẽ vô nghĩa, nếu ta không theo gương Thầy Đức Giê-su “đến các làng xã chung quanh… để rao giảng tại đó”.

Khi chúng ta nghe, phải đi đến “các làng xã chung quanh”, đừng nghĩ rằng chúng ta phải đi xuống Hốc Môn, Bà Điểm, Bình Chánh hay một nơi xa xôi nào đó. Làng-xã-xung-quanh chính là gia đình, là hàng xóm láng giềng, là nơi ta làm việc, là những người mà ta gặp gỡ hàng ngày.  

Đừng nghĩ rằng chúng ta phải “rao giảng” bằng những lời lẽ cao siêu, những lời lẽ mà chỉ có những thần học gia, những lý luận gia mới có thể thực hiện được.

Chỉ cần… chỉ cần sống tốt lành để làm gương sáng trước bàn dân thiên hạ.  Bởi, như người ta thường nói: “Lời nói như gió lung lay, gương bày như tay lôi kéo”.
Hãy nhớ, với sứ vụ “rao giảng Tin Mừng”, thánh Phao-lô nói: “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng…”. và, Lm Đa minh Nguyễn Đức Thông DCCT nói: “Không rao giảng Tin Mừng, chúng ta chỉ là một Ki-tô hữu bại liệt”.

Có phần chắc, không ai trong chúng ta, muốn mình là kẻ bại liệt, dù chỉ là  bại liệt trong một ngày. Không muốn bại liệt ư! Vậy thì, không gì tốt hơn là hãy xem một ngày trong đời của Đức Giê-su như là mẫu mực cho một ngày trong đời của chính mình.

Nói tắt một lời, hãy sống và làm theo gương Đức Giê-su.

Petrus.tran





Thứ Ba, 30 tháng 1, 2018


Chúa Nhật – II – TN – B

Tôi đã gặp Đức Ki-tô…

Vatican – Theo hồ sơ thống kê được hãng tin Fides loan báo nhân Ngày Thế giới truyền giáo năm 2017, số tín hữu Công giáo trên thế giới năm 2015 gia tăng, chiếm khoảng 17,7% dân số thế giới, với gần 1,3 tỉ tín hữu.(nguồn: internet)

Nếu có ai hỏi, nguyên do vì đâu mà nhiều người theo Đạo (theo Chúa)? Vâng, có phần chắc chúng ta sẽ nhận được vô vàn câu trả lời.

Sẽ có người trả lời: tôi tin vào Chúa do truyền thống gia đình. Sẽ có người trả lời: tôi tin vào Chúa do một cuộc hôn nhân. Sẽ có người nói: tôi tin vào Chúa do sự giới thiệu của một người quen. Cũng sẽ có người trả lời rằng, cảm động trước những việc làm phúc đức vô vị lợi của những “ma soeur”, hoặc những gương nhân đức của người Công Giáo, hoặc những phép lạ chữa lành bệnh nhân, tôi tin vào Chúa v.v…

Theo đạo hay tin vào Chúa là một sự tự nguyện và mỗi người khi theo Chúa, nguyên do chẳng ai giống ai. Mười hai vị tông đồ xưa, là những người được Đức Giê-su tuyển chọn, cũng vậy. Mỗi người, là một trường hợp khác biệt.

Có trường hợp, chỉ một lời mời gọi của Đức Giê-su, rằng “Hãy theo Ta”. Lập tức họ “bỏ mọi sự mà theo Ngài”. Có trường hợp, qua một lời giới thiệu, họ “liền đi theo Đức Giê-su”. Vâng, đây là trường hợp của ông An-rê và ông Gio-an. Câu chuyện của hai ông được ghi lại như sau:
  • Hôm ấy, khi ông Gioan (tẩy giả) đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông. Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói “Đây là Chiên Thiên Chúa”. Hai môn đệ nghe ông nói liền đi theo Đức Giêsu. (x.Ga 1, 37).
Kể cũng lạ nhỉ! Chỉ có năm chữ “Đây là Chiên Thiên Chúa”, do ông thầy mình giới thiệu, vậy mà hai vị cũng đi theo sao!

Thật ra, không có gì là lạ đối với hai ông ấy. Là người Do Thái, hai ông rất thấu hiểu khi ông thầy mình nhắc tới “chiên”. Chiên là một con vật gắn liền với đời sống Do Thái giáo. Nói tới chiên, làm sao họ quên được ngày lễ vượt qua đầu tiên, ngày mà toàn dân Israel thoát khỏi cảnh nô lệ bên Ai Cập.

Nhớ, ngày đó, cha ông họ được dạy bảo rằng, hãy giết một con chiên và lấy máu của con chiên đó bôi lên cửa nhà mình và nhờ dấu hiệu đó, thiên sứ Chúa vượt qua mà không giết hại con đầu lòng của họ.
Chính vì thế, đối với người Do Thái, “chiên” đồng nghĩa với “chết thay”, đồng nghĩa với “giải thoát” và cuối cùng đồng nghĩa với “cứu chuộc”.

Bởi vậy, khi nghe thầy Gioan nói Đức Giêsu là “Chiên con của Đức Chúa Trời” hai người môn đệ không khỏi băn khoăn về “thần tính” của Đức Giêsu cũng như sứ mạng của Ngài.

Băn khoăn thì làm được gì! Phải đi theo “Con Người” này thôi. Đi theo để xem vị này có thật là “Đấng Thiên Chúa tuyển chọn”, đúng như lời thầy Gio-an đã tuyên bố, hay không. Hai ông đã đi theo và lòng mong ước của hai người môn đệ đã được toại nguyện.

Hôm ấy, chuyện kể rằng: Thấy hai ông đi theo mình, Đức Giê-su quay lại, và hỏi: “Các anh tìm gì thế?”. Đáp lại câu hỏi, hai ông trả lời: “Thưa Rappi. Thầy ở đâu?”.

Phải, phải nói rằng, đây là một câu trả lời rất độc đáo, độc đáo ở chỗ nó không phải là một câu “hỏi thăm” nhưng là một câu nói đầy “tôn kính”, tôn kính Đức Giêsu như là bậc thầy của họ.

“Thầy ở đâu ư?”. Hôm đó, để đáp lại lòng tôn kính của hai ông, Đức Giê-su đã nói với hai ông rằng “Đến mà xem”. Nghe thế, hai môn đệ “đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy”.

Có bao giờ chúng ta tự hỏi: chuyện gì đã xảy ra khi hai người môn đệ đến chỗ Chúa Giê-su ở! Liệu, khi mà “lúc đó vào khoảng giờ thứ mười” là giờ của buổi chiều tà, Chúa có mời các ông dùng cơm tối không? Và nếu có, trong bữa ăn, liệu Ngài có tỏ cho các ông biết “sứ vụ” của Ngài?

Thưa, Tin Mừng không cho biết, nhưng có một chuyện, chúng ta có thể đoan chắc rằng, ông An-rê đã cảm nhận rằng Đức Giê-su đúng là “Chiên Thiên Chúa”.

Thì đây, sau khi đã “đến và xem”” về “ông Giê-su”, ông An-rê đã trở về nhà, “gặp em mình là ông Si-mon và nói: ‘Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a’. Rồi ông dẫn em mình đến gặp Đức Giê-su”.

** “Đến mà xem”. Phải chăng, đây cũng là lời Đức Giê-su mời gọi chúng ta, hôm nay? Thưa, đúng vậy.
Và, như đã nói ở trên, nguyên do chúng ta đến với Chúa, mỗi người là một trường hợp khác nhau.

Thế nên, đừng “bận tâm” vì chúng ta đã đến với Đức Giê-su do bởi nguyên nhân nào. Điều quan trọng là chúng ta có “thành tâm” thiện chí khi đến với Ngài, hay không!

Tại sao? Thưa, bởi vì, có sự thành tâm và thiện chí, ta mới có thể nhận ra Ngài là ai, là ai trong cuộc đời của ta. Hãy nhìn cuộc hành trình “đến mà xem” của ba nhà đạo sĩ. Họ quả là rất xứng đáng là những người mẫu mực cho sự thành tâm thiệt chí.

Thì đây, hãy xem… Dù đang theo một tín ngưỡng khác, nhưng khi nhận ra “Đức Vua dân Do Thái mới sinh” qua dấu lạ “vì sao xuất hiện ở phương Đông”, các ông đã không ngần ngại lên đường tìm kiếm. Đến Giê-ru-sa-lem trong tâm trạng rối bời, các ông vẫn không nản chí. Các ông dò hỏi, các ông kiên trì, cuối cùng với sự thành tâm thiện chí, các ông đã gặp Giê-su Hài Nhi.

Vâng, sự thành tâm thiện chí rất cần thiết cho đời sống, nhất là đời sống đức tin.

Hãy nhìn vào cái xã hội, mà chúng ta đang sống. Có thể nói, đó là một xã hội đầy sự hỗn loạn, tràn ngập sự dối trá, tràn lan sự lừa bịp. Nguyên nhân vì đâu? Phải chăng là con người đánh mất sự thành tâm, thiện chí…một sự thành tâm thiện chí để nhận ra “lẽ thật”, lẽ thật mà Đức Chúa Trời đã ban cho nhân loại qua “Mười Giới Răn”! Thưa, đúng vậy.

Không đón nhận “Mười điều răn Đức Chúa Trời”, con người không còn xem việc “Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự” như là ưu tiên số một. Con người quay ra lớn tiếng gào thét “Thiên Chúa đã chết rồi”
Con người cổ vũ cho một lối sống mới. Một lối sống loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi đời sống của mình. Một lối sống không cần có lương tâm, bởi vì “lương tâm bán rẻ hơn lương thực”. Một lối sống phớt lờ chân lý, bởi vì “chân lý chân giò một giá thôi”. Một lối sống mà giá trị con người chỉ được nhìn nhận qua tiền bạc, chức tước, quyền lực v.v...

Là một Ki-tô hữu, chúng ta không được sống một lối sống như thế. Đó chỉ là lối sống của Satan và con cái của nó. Một lối sống chỉ dẫn chúng ta đến “thung lũng âm u, nghi ngờ và chết chóc”.

*** “Hãy đến mà xem”.  Chúng ta sẽ đến! Đến đâu để xem!

Đến với Satan để được “vinh hoa lợi lộc của thế gian” mà Satan đã hứa rằng: “Tôi sẽ cho (ông, bà) tất cả những thứ đó, nếu (ông, bà) sấp mình thờ lạy tôi” ư?
Hay, chúng ta sẽ đến với Đức Giê-su… đến với Ngài và “Bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của (tôi) và (chỉ) thờ phường một mình Người mà thôi”?

Tất nhiên, sự lựa chọn là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, đừng quên, Đức Giê-su đã nói: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì ích lợi gì”. Và, hãy nhớ, Ngài đã phán rằng: “Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho”.

Vâng, tạ ơn Chúa. Lời ông Gio-an xưa kia nói với hai môn đệ mình, nay vẫn được công bố, qua môi miệng các vị linh mục, trong phần hiệp lễ, rằng: “Đây Chiên Thiên Chúa. Đấng xóa tội trần gian. Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa”. Tiệc Chiên Thiên Chúa, hôm nay, ở đâu? Thưa, đó chính là Bí Tích Thánh Thể.

Xưa, các môn đệ đã ở lại với Chúa Giê-su nên họ mới có thể nhận ra Ngài chính là “Đấng Mê-si-a”. Cũng vậy, với chúng ta hôm nay, chỉ khi chúng ta ở lại với Ngài qua Bí Tích Thánh Thể, chúng ta mới sống trọn vẹn “ơn cứu chuộc” – ơn “cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Ki-tô” (x. 1Pr 1, 19)

Chính vì thế, hãy để một phút hồi tâm và tự hỏi mình rằng: tôi đã nghe lời Chúa mời gọi, đã đến “ngôi nhà tạm” thân yêu và đã ở lại với Ngài trong Bí Tích Thánh Thể?

Hãy lắng nghe lời mời gọi và hãy đến. Hãy đến và hãy ở lại với Ngài. Bởi nhờ đó, chúng ta mới có thể nói, như tông đồ An-rê xưa đã nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Messia”. Vâng, chỉ nhờ đó, chúng ta mới có thể nói: “Tôi đã gặp Đức Ki-tô”

Petrus.tran



Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2018


Chúa Nhật  IV – TN – B

Đừng bao giờ nói: chuyện tôi can gì đến Chúa.

Thiên Chúa là Đấng quyền năng. Quyền năng của Thiên Chúa luôn được thể hiện trong suốt chiều dài lịch sử con người.

Nếu quyền năng của Thiên Chúa vào thời Cựu Ước thường được nhìn thấy qua  sự “trừng phạt”, như sự trừng phạt thành Sô-đô-ma. Hoặc như sự trừng phạt dân Ai Cập, vào thời ông Mô-sê,   thì vào thời Tân Ước, quyền năng của Thiên Chúa luôn được thể hiện qua những phép lạ “chữa lành”. Và, Đức Giê-su chính là người thể hiện những điều đó.

Thật vậy, Kinh Thánh cho chúng ta biết: trong những ngày ra đi rao giảng Tin Mừng, Đức Giê-su không chỉ “giảng dạy, loan báo Tin Mừng cứu độ”, nhưng Ngài còn dùng quyền năng mình “chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân” (x.Mt 4, 23-25).

Nếu những lời giảng dạy của Đức Giê-su luôn làm cho nhiều người “kinh ngạc”, thì quyền năng (phép lạ hay dấu lạ) mà Đức Giê-su đã làm, đã làm cho mọi người “sửng sốt”.  Có rất… rất nhiều người chứng kiến  và họ đã đồn ra mọi nơi. Sự kiện này được ghi lại trong Tin mừng thánh Mác-cô.
**
Theo thánh sử Mác-cô, một ngày nọ: “Đức Giê-su và các môn đệ đi vào thành Ca-phac-na-um”.  Đến Ca-phác-na-um,  Ngài cùng các môn đệ vào hội đường, bởi đó là ngày Sa-bát.

Tưởng chúng ta nên biết, ngày Sabat chính là “ngày thánh”.  ngày toàn dân Israel “kính ĐỨC CHÚA… không được làm công việc nào”. (x.Xh 20, 9). Thế nên, việc Đức Giê-su vào hội đường là điều phải đạo.

Còn “hội đường” ư! Vâng, theo lịch sử ghi chép, hội đường bắt đầu xuất hiện từ thời người Do Thái bị đi đày bên Babylon . Đó là nơi để duy trì niềm tin và hội họp cầu kinh trong lúc bị lưu đày nơi đất khách quê người. Truyền thống đó vẫn được duy trì khi người Do Thái trở về cố hương.

Trong buổi nhóm ở hội đường, ngoài việc cầu kinh còn có việc đọc Kinh Thánh. Người ta đọc Kinh Thánh bằng tiếng Do Thái và sau đó được dịch và giảng nghĩa bằng tiếng Aram . Kế tiếp là một vài lời khuyên dạy dựa theo bài Kinh Thánh được đọc hôm đó. Khách lạ trong hội đường thường được mời để thực hiện công việc danh dự này.

Trở lại câu chuyện của Đức Giêsu, theo lời thánh Mác-cô, thì : “Người vào hội đường giảng dạy”. Như vậy, Đức Giê-su, hôm ấy, Ngài chính là người thực hiện công việc danh dự này.


Không ai có thể ngờ được,  Đức Giê-su đã có một bài giảng khiến cho mọi người “phải sửng sốt”. Một sự so sánh đã được các cử tọa bàn tán xôn xao:  “Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư”.


Và, sửng sốt hơn nữa khi  “Đấng có thẩm quyền” đã thực hiện một phép lạ vô tiền khoáng hậu. Chuyện là, trong hội đường “có một người bị thần ô uế nhập”,  Bất ngờ thay! người này la lên, rằng: “Ông Giê-su Na-da-rét, chuyện chúng tôi can gì đến ông mà ông đến tiêu diệt chúng tôi?”.


 Chưa hết, thần ô uế, qua thân xác người nó nhập vào, đã la tiếp rằng “Tôi biết ông là ai rồi: ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa”.


Ơ hay! Sao “ông thần” này lại biết rõ về Đức Giê-su thế nhỉ? Phải chăng, y chính là ma quỷ? Vâng, không thấy thánh sử Mác-cô bình luận gì, chỉ biết rằng; sau những lời la hét lung tung đó, Đức Giêsu quát mắng nó: “Câm đi, hãy xuất khỏi người này!”. Chuyện kể rằng: “Thần ô uế lay mạnh người ấy, thét lên một tiếng và xuất ra khỏi anh ta” (x. Mc 1, 25-26)


Kinh ngạc… vâng, từ sửng sốt mọi người hiện diện nơi đó đã kinh ngạc và xầm xì bàn tán với nhau về Đức Giê-su, rằng: “Thế nghĩa là gì? Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền. Ông ấy ra lệnh cho cả thần ô uế và chúng phải tuân lệnh”.


Hôm ấy, quyền năng của Đức Giê-su, không chỉ được mọi người  ở Ca-phác-na-um biết đến, nhưng còn được đồn ra khắp nơi,  khắp cả vùng lân cận miền Ga-li-lê.


***

Thật ra, Thiên Chúa của bất cứ vào thời kỳ nào cũng đều là Thiên Chúa của tình yêu. Lời Chúa qua môi miệng tiên tri Ê-dê-ki-en cho biết: “Ta lấy mạng sống Ta mà thề… Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống”.(x.Ed 33, 11)

Quyền năng của Thiên Chúa, nếu có được thể hiện, thì không phải để tiêu diệt “kẻ ác” nhưng là tiêu diệt “cái ác”. Thì đây, qua câu chuyện Đức Giê-su “chữa lành một người bị quỷ ám”, Ngài đâu có “tiêu diệt” người bị ám, nhưng là “diệt trừ” con quỷ ám người, mà thôi.

Quyền năng của Thiên Chúa, nếu có được thể hiện, cũng chỉ là để đem lại cho con người được sống, một cuộc sống đời đời.

Vua David xưa kia, rất nhiều lần bị kẻ thù hãm hại. Thê thảm nhất là một người con ruột tên là Apsalon, làm phản.Thế nhưng, ông ta đã được quyền năng của Thiên Chúa giải thoát.  Chúng ta hãy nghe lời cảm nghiệm của ông ta: “Dù tôi đi trong trũng bóng chết, tôi vẫn không sợ gì, vì Chúa ở cùng tôi”.


****

Chúng ta thường nghĩ rằng, xã hội mà chúng ta đang sống là một xã hội vô thần. Thật ra, phải nói là một xã hội “đa thần”, mới đúng. Nói đa thần là bởi, con người hôm nay đang bị mê hoặc bởi một thứ chủ nghĩa duy vật. Con người xem vật chất như là thước đo cho sự thành công của mình.

Và, khi coi vật chất như là cứu cánh cho cuộc sống. Điều chúng ta sẽ thấy, đó là rất nhiều loại “quỷ thần” xuất hiện. Đó là những loại quỷ thần, đại loại như:  “thần danh vọng… thần quyền lực… thần ma men… thần tiền bạc… thần ganh tỵ… thần bè phái… thần dâm bôn…thần tranh chấp… thần chia rẽ” v.v…


Thế nên, biết đâu chúng đang “ám” chúng ta, và tìm đủ mọi cách “nhập” vào đời sống của chúng ta?


Làm sao để những loại “quỷ thần” này không thể ám, không thể nhập vào chúng ta?  Thưa,  hãy nhìn Đức Giê-su, và hãy học theo Ngài.


Thật vậy, Xưa, trong bốn mươi ngày ở hoang địa, để chiến thắng việc bị “quỷ ám” , Đức Giê-su đã dùng một thứ vũ khí tối thượng , đó chính là “Lời Chúa”. Thì nay, cũng vậy đối với chúng ta, phải có Lời Chúa, nếu không,  chúng ta không thể thoát khỏi sự cám dỗ của Satan và thế lực của nó là thế gian này.


Đừng bao giờ xem nhẹ  Lời Chúa. Nếu chúng ta ghi khắc Lời Chúa dạy rằng:  “Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân”, ai… ai dám bảo rằng, ta không thể trục xuất con “quỷ mamon-quỷ tiền bạc, quỷ quyền lực, quỷ danh vọng” ra khỏi tâm hồn ta!


Thế nên, hãy để một phút hồi tâm và tự hỏi: rằng,  tôi đã tiếp nhận Lời Chúa như thế nào và sống Lời Chúa ra sao? Tôi đã có quyển Kinh Thánh chưa?


Nếu bạn chưa có quyển Kinh Thánh, phải có ngay trong hôm nay. Bởi đó chính là “ngọn đèn soi ta bước, là ánh sáng chỉ đường ta đi”(Tv 119. 105). Bởi, đọc và sống Lời Chúa, như lời thánh Phao-lô nói, ta sẽ “được gắn bó cùng Chúa mà không bị giằng co”, tất nhiên là không bị giằng co giữa Thiên Chúa và những lũ quỷ thần, nêu trên.


Còn… còn nếu chúng ta lỡ “sa vào chước cám dỗ” của những loại quỷ thần nêu trên! Thưa, đừng sợ. Hãy can đảm đi đến “nhà thờ”, đến nhà thờ và hãy bước vào tòa cáo giải. Nói rõ hơn, chúng ta hãy đến với Bí Tích giải tội.


Ở đó, chúng ta sẽ được Đức Giê-su, qua vị linh mục, trục những loại quỷ thần nêu trên, bằng việc ban phép giải tội, cho ta. Và, phần còn lại của chúng ta, đó là; “sám hối và tin vào sự tha thứ của Thiên Chúa”. 


Cuối cùng, đừng bao giờ để cho cuộc hành trình về Thiên Quốc của chúng ta trong trạng thái cô đơn một mình, mà hãy ở trong trạng thái “một người đi với một người”.


Đi với người nào? Tất nhiên, không phải là đi với những loại        quỷ thần nêu trên,  mà, đó là “đi cùng Đức Ki-tô”.  Nói rõ hơn, đó chính là đi cùng “Mình Thánh Chúa Ki-tô”, đó chính là đi cùng “Bí Tích Thánh Thể” - bảo chứng của sự sống đời đời.


Sống trong một xã hội tràn ngập lũ quỷ thần nêu trên, hành trang mang trên vai của chúng ta phải là “Thánh Kinh và Thánh Thể” bởi chỉ có thế, ta mới có thể nói, rằng: “Dù tôi có phải sống chung với lũ quỷ (nêu trên), tôi vẫn không sợ gì, vì có Chúa ở cùng tôi”.  


Sống trong một xã hội tràn ngập lũ quỷ thần, đâu đâu cũng thấy “quuu…uỷ”, không gì tốt hơn là chúng ta hãy cất tiếng khẩn cầu với Đức Gê-su, như lời khẩn cầu khi xưa của hai môn đệ trên đường Emmau: “Mời ông ở lại với chúng tôi”. Đừng bao giờ nói: “Ông Giê-su Na-da-rét, chuyện chúng tôi can gì đến ông..”

Vâng, đừng bao giờ nói: chuyện tôi can gì đến Chúa.


Petrus.tran





Thứ Bảy, 9 tháng 9, 2017

Trước hết, hãy thú nhận tội lỗi mình…



Chúa Nhật XXIII – TN – A 

Trước hết, hãy thú nhận tội lỗi mình…

Niềm tin Ki-tô giáo không phải là niềm tin chỉ “nhìn lên” Thiên Chúa trên cao, nhưng còn phải “nhìn ngang” với mọi người chung quanh.  Niềm tin Ki-tô giáo không phải là niềm tin chỉ cất lên tiếng nói  “Chúc tụng danh Thiên Chúa”, nhưng còn phải cất lên những lời tốt đẹp đối với tất cả mọi người.

Mà, thật vậy, Đức Giê-su Ki-tô, trong những ngày ra đi loan báo Tin Mừng, Ngài không chỉ công bố về một “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”, nhưng còn truyền dạy những lời hay ý đẹp, những lời chỉ giáo về  cung cách đối nhân xử thế ở đời, hầu đem lại cho con người một cuộc sống bình an, chan hòa tình yêu thương.

Đức Giê-su đã truyền dạy những gì? Thưa, Ngài đã không ít lần nói lên những điều hay lẽ phải, những “nguyên tắc sống” ở đời. Một trong những nguyên tắc đã được Ngài truyền dạy, được xem là mẫu mực cho việc đối nhân xử thế, đó là nguyên tắc “sửa lỗi cho nhau”. 

Vâng, trong cuộc sống thường nhật, có ai mà không hơn một lần phạm sai lầm, có ai mà không trót phạm tội. Và, cứ sự thường, nói theo ngôn ngữ @ thời nay, chúng ta “ném đá”  những con người đó, ngay lập tức.

Với Đức Giê-su, hành xử như thế không phải là điều Ngài khuyến khích. Trong một dịp tâm tình riêng tư với các môn đệ, Ngài đã đề ra một cung cách “sửa lỗi” rất tế nhị, rằng: “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi” (x.Mt 18, 15). 

Tại sao lại “một mình anh với nó mà thôi”? Thưa, là bởi giữa ta và người phạm lỗi được ở trong trạng thái: “riêng tư, kín đáo”.  Nhờ riêng tư và kín đáo, ta  “giữ thể diện” người phạm lỗi.  

Lời khuyên của Đức Giê-su, quả là thấu tình đạt lý, phải không thưa quý vị?
Nếu “nó chịu nghe anh”… Đức Giê-su nói tiếp: “thì anh đã chinh phục được người anh em”. 

Thưa Bạn, trong một đời người của mình, bạn đã chinh phục (thuyết phục)  được ai nhận lỗi chưa! Vâng, thật khó trả lời, khó trả lời vì đôi khi chính chúng ta “phạm lỗi” nhưng “không nhận lỗi”.
Tại sao đa số người phạm lỗi nhưng không nhận lỗi! Thưa, là bởi sự sợ hãi và xấu hổ chính là tác nhân làm cho người phạm lỗi không đủ can đảm nhận lỗi.

Vậy, phải làm sao để “nó” nhận lỗi? Thưa, Dale Carnegie, tác giả  cuốn Đắc Nhân Tâm, một cuốn sách thuộc hàng bán chạy nhất và được biết đến nhiều nhất cho đến tận ngày nay, cho chúng ta phương cách, đó là hãy “dùng cách đặt câu hỏi để khuyên bảo người ta”.

Với phương cách này, ngôn sứ Na-than vào thời Cựu Ước, đã thành công.  Câu chuyện xảy ra “vào một buổi chiều”. Chiều hôm đó, “Vua Đa-vít từ trên giường trổi dậy và đi bách bộ trên sân thượng đền vua. Từ sân thượng, vua thấy một người đàn bà đang tắm. Nàng nhan sắc tuyệt vời” (x. 2Sm 11, 2).

Chỉ là một sự tình cờ, không chủ định. Nhưng chính sự tình cờ đó đã làm đảo lộn con người vua Đa-vít, người được mệnh danh là “người công chính”, vì một cái nhìn, ông ta “phạm lỗi”.

Ông phạm lỗi gì? Thưa, theo lời kinh Thánh ghi lại: “Vua Đa-vít sai người đi điều tra về người đàn bà, và người ta nói: đó chính là bà Bát Se-va, con gái ông Ê-li-am, vợ ông U-ri-gia người Khết”. 

Mặc cho người đàn bà đã có chồng, vua Đa-vít vẫn không buông tha. Rồi chuyện gì đến cũng đã đến. “Vua Đa-vít sai lính đến đón nàng. Nàng đến với vua và vua nằm với nàng”. Và kết quả là: “Nàng thụ thai”…

Kể từ khi để cho “hồn lỡ sa vào đôi mắt em”, vua Đa-vít ngày càng “sa lầy” vào vòng vây của tội lụy. Cao điểm của hành vi tội lụy, đó là, nhà vua đã gián tiếp gây ra cái chết của ông U-ri-gia – chồng nàng Bát Se-va.

Mọi hành vi của Đa-vít không qua khỏi đôi mắt của ngôn sứ Na-than. Ngôn sứ Na-than đã “một mình” đến “sửa lỗi” vua Đa-vít. Ngôn sứ Na-than đã có một “cuộc nói chuyện riêng tư, không hạ nhục người có lỗi nhưng là giúp người ấy nhận ra lỗi lầm của mình”.

Và bằng phương pháp “dùng cách đặt câu hỏi để khuyên bảo người ta”, ngôn sứ Na-than đã thành công trong việc “chinh phục được người anh em”.

Hôm đó, vua Đa-vít, sau khi nghe Na-than kể một câu chuyện ví von đầy bi ai, ông ta đã thốt lên rằng: “Tôi đã đắc tội với ĐỨC CHÚA”. (x. 2Sm 12, 1-13).

**
Giả sử  vua Đa-vít không nghe lời sửa lỗi của ngôn sứ Na-than, điều gì sẽ xảy ra? Rất may là đã không có sự “giả sử” đó.
Nhưng, nếu điều đó xảy ra! “Nếu nó không chịu nghe”? Thưa, Đức Giê-su dạy: “Nếu nó không chịu nghe, thì đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba nhân chứng” (x Mt 18, 16).

Đừng nghĩ rằng, đây là cách thức để “gây áp lực”. Luật Môsê dạy: ‘Một nhân chứng duy nhất không thể đứng lên buộc tội một người về bất cứ tội lỗi nào, phải căn cứ vào lời của hai hay ba nhân chứng, sự việc mới được cứu xét’ (Đnl 19,15). 

Lời truyền dạy của Chúa Giêsu, không phải là để đem nhiều nhân chứng buộc tội, nhưng họ là những người trợ lực có uy tín đến giúp tội nhân dễ dàng sữa lỗi. Chúng ta cần nhớ , với người cố chấp, không gì tốt hơn là kiên nhẫn.

“Đem theo một hay hai người nữa”, theo quan điểm của thánh Phao-lô, đó là cách thể hiện tinh thần “tương thân tương ái” (x. Rm 13, 8).
Trở lại với lời truyền dạy của Đức Giê-su. Hôm đó, Ngài còn đưa ra một nguyên tắc nữa, đó là: Nếu một hay hai người đến “sửa lỗi” với tinh thần tương thân tương ái mà người phạm lỗi không nghe, Đức Giê-su dạy rằng: “Hãy đi thưa Hội Thánh”.

“Hãy đi thưa Hội Thánh sao!”. Đúng vậy. Ở một vài thời điểm, một ai đó có thể từng bước, từng bước “trót phạm tội”, những tội vi phạm đến giới luật “một vợ một chồng”, hoặc những tội vi phạm đến giới luật “độc thân” trong đời tu v.v… Thưa ra Hội Thánh, Lm Nguyễn Hữu An nói: “không phải để bị xét xử nhưng để tỏ lòng sám hối và sẽ được ân xá”.

 “Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe” thì sao? Thưa, Đức Giê-su nói: “thì hãy kể nó như một người ngoại” (x Mt 18, 17).

Thật ra, theo dòng lịch sử của Hội Thánh, thì, với trường hợp này, nếu có thực thi thì cũng chỉ là “giọt nước tràn ly”, là một sự bất khả kháng, mà thôi…
***
Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật hôm nay kêu gọi chúng ta ý thức rằng, ta phải có trách nhiệm đối với nhau. Trách nhiệm đó chính là “sửa lỗi cho nhau”.

Vẫn biết rằng, sửa lỗi cho nhau, rằng, sửa lỗi một ai đó đang “sa lầy” vào một vũng lầy tội lỗi, không phải là một chuyện dễ dàng. Thế nhưng, như ngôn sứ Ê-dê-ki-en xưa, được ĐỨC CHÚA đặt “làm người canh gác cho nhà It-ra-en”, thì, hôm nay, cũng vậy đối với chúng ta. Chúng ta cũng được  Thiên Chúa đặt làm người canh gác những “người anh em của chúng ta”, chí ít, là những người cùng mái ấm gia đình của chúng ta.

Mỗi năm, cơ quan NASA của Hoa Kỳ chi hơn 1,8 tỉ dollar để nghiên cứu về trái đất. So với các nghiên cứu về các hành tinh khác, thì đây là một sự chi tiêu kỷ lục. Nhờ sự nghiên cứu này, người ta có thể dự đoán động đất, núi lửa, cháy rừng và bão,  để rồi, nhờ đó, họ có thể đưa ra những lời cảnh báo sớm, hầu con người có thể phòng tránh.

Với chúng ta, cũng vậy, mỗi ngày chúng ta cũng cần tiêu tốn một ít thời gian, chỉ cần một ít thời gian, để tìm xem có “cơn bão” nào đó xuất hiện, cơn bão mang tên “nghiện ngập thuốc lá, nghiện ngập rượu mạnh, nghiện ngập ma túy, nghiện-sex” v.v… đang chuẩn bị tàn phá mảnh đất tâm hồn lẫn thể xác  của con em chúng ta, để mà đưa ra những lời cảnh báo sớm, để mà  phòng tránh, để mà chế ngự nó.

Không thể viện dẫn lý do này khác, chẳng hạn như: “Ồ! Đã có nhà trường lo, đã có nhà thờ lo v.v…” Không thể viện dẫn lý do rằng: nước đổ là khoai, rằng, nó có thèm nghe đâu…

Tại sao nó không thèm nghe? Phải chăng là vì những thú vui của trần gian quá hấp dẫn? Hay, phải chăng là bởi, cách mà chúng ta  cảnh báo và sửa trị thiếu thuyết phục, nhưng lại đầy thô bạo, đầy độc đoán và thiếu công bằng?

Hãy tự hỏi, mỗi khi cảnh báo hay sửa trị con em mình, chúng ta dùng lời lẽ  “khuyên bảo” hay “chửi bới đánh đập”? Chúng ta có công bằng trong sự khen thưởng hay sửa phạt? Chúng ta có vì giận vợ, giận chồng mà đánh con, “giận cá chém thớt” đánh con để “dằn mặt” hàng xóm? Chúng ta có đem lỗi lầm của con cái rêu rao khắp bàn dân thiên hạ?

Nếu có, thì đó không phải là cách “sửa trị” hay, trái lại nó chỉ làm cho con em chúng ta “tức giận”. Đừng quên thánh Phao-lô có lời khuyên rằng: “Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái tức giận…”

Cách sửa trị con em chúng ta tốt nhất, đó là “làm gương sáng”.  Cuối cùng, đừng quên, chính chúng ta phải biết nhận lỗi khi phạm lỗi. 

Chính chúng ta phải biết “Thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em. Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tuởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót: lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng…”

Để có thể là người canh gác, để có thể sửa lỗi anh em được kết quả mỹ mãn, trước tiên, phải biết “Thú nhận tội lỗi mình…”

Petrus.tran

Thứ Ba, 23 tháng 5, 2017

Chúa không để ta mồ côi…

CHÚA NHẬT VI – PS – A

Chúa không để ta mồ côi…

“Biệt ly nhớ nhung từ đây, chiếc lá rơi theo heo may, người về có hay. Biệt ly sóng trên dòng sông. Ôi còi tàu như xé đôi lòng. Và mây trôi nước trôi, ngày tháng trôi cùng lướt trôi…”. Vâng,  đó là tâm trạng thường tình với bất cứ ai, khi phải đối diện với sự biệt ly.

Nói tới sự biệt ly, Đức Giê-su, trong những ngày còn tại thế, Ngài đã không ít lần chứng kiến. Và, mỗi lần chứng kiến, Ngài không thể không có sự phản ứng nhất định của mình.

Với sự kiện con trai của một bà góa ở thành Nain “ra đi”,  Đức Giê-su hóa giải cảnh biệt ly đó bằng một phép lạ, cho anh ta sống lại. Với tâm trạng “như xé đôi lòng” của các môn đệ khi biết Thầy Giê-su chỉ còn ở với mình “ít lâu nữa thôi”, Đức Giê-su, qua một thông điệp, Ngài đã lấp đi khoảng trống cô đơn nơi các ông. Thông điệp đó đã được thánh Gio-an ghi lại như sau:

**  Hôm ấy, Thầy và trò cùng quây quần bên nhau trong một bữa tiệc, bữa tiệc nhân ngày lễ Vượt Qua. 
Trong bữa tiệc ấy,  Đức Giê-su đã bảy tỏ với các môn đệ rằng, “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”.

Hai lần nhấn mạnh với các môn đệ “hãy tin… và tin” là để giảm đi nỗi cô đơn nặng nề nơi các ông, một nỗi cô đơn theo kiểu cô đơn củaWalter Scott: “Khi nghĩ về những người bạn đồng hành đã rời ta, chúng ta cảm thấy cô đơn gấp đôi”.

Cho nên, trước hoàn cảnh đó, Đức Giê-su thấy rằng, Ngài cần phải đưa ra một thông điệp mạnh mẽ để xóa tan khoảng trống cô đơn trong tâm hồn của các ông. Và Ngài đã đưa ra thông điệp, rằng: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em”(x.Ga 14, 16-17)

Vâng,  chính thông điệp này  đã lấp đầy khoảng trống cô đơn nơi  các người môn đệ của Ngài. Một thông điệp thấm đậm tình yêu thương khi Đức Giê-su tiếp tục tuyên bố với các ông,  rằng: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi” (Ga 14, 18).

*** “Thầy sẽ không để anh em mồ côi”. Đúng vậy, bởi Đức Giê-su “đi”, nhưng không phải là Ngài “một đi không trở lại”.

Đức Giê-su đi,  rồi Ngài lại đến. Ngài đi là có lợi cho chúng ta, như Ngài đã phán hứa.

Cái lợi rõ nét nhất, Đức Giê-su nói, đó là: “Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em”. Cái lợi tiếp đến, đó là: “Thầy sống và anh em cũng được sống”.

Vâng, lịch sử hơn hai ngàn năm Ki-tô giáo. Mặc cho có biết bao cuộc bách hại, mặc cho có biết bao thăng trầm, Giáo Hội vẫn trường tồn và phát triển, một sự trường tồn và phát triển đủ để chứng minh những “cái lợi” (nêu trên),  đã thực sự tác động trên đời sống của Giáo Hội nói chung, và của từng người tín hữu nói riêng.

Thế nên, hãy để một phút hồi tâm và tự hỏi, sau nhiều năm là một Ki-tô hữu, “tôi có ở trong Chúa và Chúa có ở trong tôi”! Hỏi cách khác, Đấng Bảo Trợ có “ở giữa chúng ta và ở trong chúng ta”!?

Hãy nhớ rằng, Đấng Bảo Trợ là Đấng không thể thiếu cho đời sống đức tin của mỗi chúng ta.

Thật vậy, không có Chúa Thánh Thần ngự trị trong đời sống đức tin, thật quá khó để chúng ta có thể đương đầu với một thế giới ngày một cổ vũ cho một nền văn hóa sự chết, như hôm nay.

Nếu không có Chúa Thánh Thần. Đấng có thể “ban cho trí hồn (ta). Ơn biết khôn ngoan tìm theo chân lý”. Vâng, làm sao chúng ta có thể “xa điều gian dối” nhan nhản trên truyền thông đại chúng, một thứ truyền thông được điều hành bởi những kẻ độc tài đảng trị.

Không có Chúa Thánh Thần. Chúng ta không thể gặt hái hoa trái của Người.


Mà, nếu không có hoa trái Chúa Thánh Thần, hoa trái “bác ái, vui vẻ, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm”… Vâng, làm sao chúng ta có thể “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục. Đem an hòa vào nơi tranh chấp. Đem chân lý vào chốn lỗi lầm”!

Nếu không có hoa trái Chúa Thánh Thần, hoa trái “tiết độ và trong sạch”… Vâng, làm sao chúng ta có thể chế ngự những dục vọng, một trong nhiều nguyên nhân gây đổ vỡ hôn nhân gia đình!?

Nói tắt một lời, không có Đấng Bảo Trợ, chúng ta không có “Uy lực của Thần Khí”, và nói theo cách nói của Đức Giê-su, chúng ta chẳng khác nào là một kẻ “mồ côi”.

**** Đã là một Ki-tô hữu, chắc chắn không ai trong chúng ta muốn mình trở thành kẻ mồ côi trước mặt Thiên Chúa.
Thế nên, đừng để mất đi “Uy Lực của Thần Khí” trong đời sống đức tin của chúng ta. Muốn thế, không gì tốt hơn là hãy nghe lời truyền dạy của Đức Giê-su, lời truyền dạy rằng: “:Ai có và giữ các giới răn của Thầy, kẻ ấy mới là kẻ yêu Thầy. Và ai yêu Thầy sẽ được Cha Thầy yêu. Thầy sẽ yêu nó và tỏ mình ra cho nó”.

“Giới răn của Thầy” là giới răn nào? Thưa, đó là “Mến Chúa – Yêu Người”. Vâng, chỉ vậy thôi. Chỉ vậy thôi, Chúa sẽ “yêu ta và tỏ mình ra cho ta”. Ngài yêu ta như thế nào? Thưa, Đức Giê-su – Ngài sẽ không để ta mồ côi.

Chỉ cần Mến Chúa – Yêu Người. Chúa sẽ “không để ta mồ côi”.

Petrus.tran

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...