Thứ Năm, 9 tháng 8, 2018

Bảo người ta ngồi xuống đi…


Chúa Nhật XVII – TN – B

Bảo người ta ngồi xuống đi…

“Thiên Chúa là tình yêu”, tông đồ Gio-an nói: “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta  được biểu lộ như thế này… không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta”.

Kinh Thánh nói rất nhiều về tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Và, khi Đức Giê-su xuống thế làm người, tình yêu của Thiên Chúa qua những dấu lạ hay phép lạ do chính Ngài thể hiện, luôn là một tình yêu “đi bước trước”.

Câu chuyện “Đức Giê-su hóa bánh ra nhiều” được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an, như một điển hình.
**
Theo tông đồ Gio-an, chuyện được kể lại rằng: Sau sự kiện nói về công việc của mình sẽ phải làm cho một số người tại Ga-li-lê nghe, “Đức Giê-su sang bên kia Biển Hồ Galilê, cũng gọi là Biển Hồ Ti-bê-ri-a”.

Đến nơi, “Đức Giêsu lên núi và ngồi đó với các môn đệ”. Và, từ trên núi cao: “Ngước mắt lên, Đức Giê-su nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình”.

Vâng, hôm ấy, có cả một rừng người trùng trùng điệp điệp đi theo Người. Đi theo Đức Giê-su, bởi vì “họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm” (x.Ga 6, 2).

Trước cảnh tượng đó, mười hai người môn đệ không thể không ngỡ ngàng, ngỡ ngàng là bởi, việc Thầy và trò “lên núi” rất âm thầm và kín đáo… thế mà không hiểu vì sao nhóm người đông đảo này lại biết và lại kéo đến vây quanh.

Có lẽ, có lẽ… một ai đó trong các ông đã phải cất tiếng “than ôi!”.

Vâng, phải than ôi thật. Than ôi là bởi khi Đức Giê-su nhìn thấy hình ảnh “đông đảo dân chúng đến với mình”,  Ngài chạnh lòng thương xót, thương xót vì họ “như đàn chiên không người chăn dắt”.

Thế nên, hôm ấy, là một con người luôn động lòng trắc ẩn, không chần chờ, Đức Giê-su hỏi ông Phi-lip-phê “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” (Ga 6, ...5)

Mua đâu ư, Thầy ơi! Phi-lip-phê khổ sở trả lời: “Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút”.
Và hơn nữa, hai trăm quan… một số tiền không nhỏ, các ông lại là những kẻ  đã “bỏ hết mọi sự mà đi theo Thầy”, thì lấy đâu ra tiền, dù chỉ là một quan!

Không thấy thánh sử Gio-an, cũng là một nhân vật hiện diện hôm đó,  nói gì, nhưng có lẽ trong số các môn đệ, có người sẽ lẩm bẩm rằng: Thầy sao vậy! Thầy từng chỉ thị cho chúng con “ra đi” không được mang gì… không mang bao bị, lương thực, tiền bạc v.v… nay lại bảo “mua đâu ra bánh cho họ ăn”… tiền đâu chúng con mua!

Vâng, có lẽ cũng có người rất mong đợi một lệnh truyền mới của Thầy Giêsu, rằng Ngài sẽ truyền cho họ “hãy xuống thuyền đi nơi khác”.

Thế nhưng, Đức Giêsu đã không nghĩ như thế. Bởi vì đó là “tư tưởng của loài người”. Với Ngài, bản chất của Con Một Thiên Chúa, là lòng trắc ẩn, là “Agape”, là tình yêu thương vô điều kiện.

Hôm đó, với một tâm tình yêu thương, với một tấm lòng luôn bày tỏ lòng trắc ẩn, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng, “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi” (Ga 6, 10)

***
Bảo người ta ngồi xuống đi ư! Vâng, hôm ấy, đối với các môn đệ, có phần chắc, các ông nghĩ đây là một lệnh… “lạc”. Lạc là bởi như ông An-rê đã cho biết rằng “ở đây… có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu” (Ga 6, 9).

Với sự kiện này, cả ba thánh sử Matthêu, Máccô và Luca đều cho biết các môn đệ đã gợi ý với Đức Giêsu rằng “xin Thầy cho dân chúng về…”

Ôi! Tệ thật. Chắc hẳn các môn đệ đã quên rằng, đối với Thiên Chúa, “trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối của Ta cao hơn của các ngươi và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi chừng ấy” (Is 55, 9)

Đúng vậy, khi Đức Giê-su “nói như thế…” là muốn “để thử… chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi” (Ga 6, 6).

Với quyền năng của mình, hôm đó, Đức Giêsu “cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó”. (Ga 6, 11)

Và, thật kỳ diệu, phép “thử” của Đức Giê-su đã cho một kết quả, một kết quả mà không ai ngờ tới. Theo thống kê được biết: “nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn”, chưa tính đàn bà và trẻ em.

Theo thánh Mát-thêu, cũng là người có sự hiện diện hôm đó, cho biết: “ai nấy đều ăn và được no nê”.
Chưa hết, chuyện được kể rằng: “Khi họ đã no nê rồi… (người ta) đã thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch ăn còn lại và chất đầy được mười hai thúng”.

Trước phép lạ này, mọi người đều nghĩ rằng, Đức Giê-su “hẳn… là vị ngôn sứ”. Phần Đức Giê-su, tông đồ Gio-an cho biết: “Người lánh mặt, đi lên núi một mình”.

****
Chúng ta vừa được nghe lại câu chuyện “Đức Giê-su hóa bánh ra nhiều”. Có bao giờ chúng ta tự hỏi, qua câu chuyện này, lời khuyên nào sẽ được gửi đến mỗi chúng ta?

Phải chăng, đó là hãy biết chia sẻ tình yêu thương? Phải chăng, đó là hãy biết tỏ bày lòng trắc ẩn? Phải chăng, đó là hãy biết đóng góp một-chút-gì-đó (giống như một chút gì đó của năm con cá và  hai chiếc bánh), cho một thế giới đói khát, hôm nay?

Thưa, đúng vậy. Thế giới chúng ta đang sống, là một thế giới còn rất nhiều người đói: không chỉ đói ăn, đói mặc, (thuộc thể), mà còn đói công bằng, đói chân lý, đói sự thật, đói tình thương,  đói Lời Chúa (thuộc linh).

Là một Ki-tô hữu, chúng ta phải tiếp tục công việc của các môn đệ xưa, đó là, hãy thực thi lệnh truyền của Đức Giê-su: “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi”.
Bảo người ta ngồi xuống, tất nhiên, chúng ta phải cho họ ăn. Không chỉ cho họ ăn  phần “thuộc thể” mà, quan trọng hơn, còn cả phần “thuộc linh”  nữa.

Làm sao để có cái gì đó để xóa tan cơn đói thuộc thể? Thưa, chỉ cần một chút hy sinh, một chút tiết kiệm, là chúng ta có thể làm được.

Thế còn để xóa tan cơn đói thuộc linh, những cơn đói sẽ làm cho chúng ta “chết linh hồn”! Thưa, chúng ta chỉ cần:  biết chia sẻ tình yêu thương, biết tỏ bày lòng trắc ẩn, nói cách khác, biết chia sẻ một-ít-gì-đó, để tạo nên một tấm bánh, một tấm bánh có thể xóa tan những cơn đói: bạo lực, hận thù, dâm bôn, nóng giận, ganh tỵ, say sưa chè chén v.v…

Vâng, chỉ cần chia sẻ một ít miếng bánh của “hiền hòa và khiêm nhường”, là những chiếc bánh  mang tên “Chúa Thánh Thần”, chúng ta sẽ có thể xóa tan “cơn đói bạo lực, cơn đói nóng giận”, một loại đói mãn tính của nhân loại, hôm nay.  

Chỉ cần chia sẻ một ít miếng bánh của “trung tín và tiết độ”, cũng là những chiếc bánh  mang tên “Chúa Thánh Thần”

chúng ta sẽ có thể xóa tan “cơn đói dâm bôn, cơn khát say sưa chè chén”, những cơn đói, cơn khát rất có thể, mỗi chúng ta đã hơn một lần gặp phải.

Thế nên, hãy tự hỏi: chúng ta có “năm con cá và hai chiếc bánh?” Nói rõ hơn,  chúng ta đã có những chiếc bánh mang tên “Chúa Thánh Thần”?

Nếu chưa, hãy đến một ngôi nhà, ngôi nhà đó chính là ngôi “Nhà Thờ”. Nơi đó có Thánh Lễ. Trong Thánh Lễ chúng ta sẽ được lãnh nhận một loại men, loại men mang tên “Thánh Thể và Thánh Kinh”. Chính loại men này giúp chúng ta sản xuất ra những loại bánh mang tên Chúa Thánh Thần.

Hãy nhớ, chỉ có loại bánh mang tên Chúa Thánh Thần, mới có thể xua tan những cơn đói khát nêu trên. Chỉ có loại bánh này, chúng ta mới đủ thực lực để thực hiện lệnh truyền của Đức Giê-su: “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi”.

Là một Ki-tô hữu,  chúng ta phải tích trữ loại bánh này. Chúng ta phải tiếp tục thực hiện lời truyền của Đức Giê-su.

Vâng, chúng ta chính là người “…bảo người ta ngồi xuống đi” .

Petrus.tran















Xin cho con thứ bánh ấy…


Chúa Nhật XVIII – TN – B

Xin cho con thứ bánh ấy…

Sinh-lão-bệnh-tử… một vòng tuần hoàn, không ai trong chúng ta lại không phải đối diện. Khi nói tới “sinh tử”, có thể nói rằng, đó là nỗi băn khoăn, trăn trở suốt chiều dài lịch sử con người.

Đã có không ít người, (nhất là các vị vua chúa ngày xưa và những quan  tham ngày nay), đau đáu với những ước mơ làm thế nào để có thể trường sinh bất tử. Không… Không bao giờ ước  mơ đó có thể thành hiện thực. 

Niềm tin Ki-tô giáo cho chúng ta biết rằng: vì nguyên tổ là Adam và Eva phạm tội bất trung, cho nên hai ông bà đã bị Thiên Chúa đoán phạt. Hình phạt đó, chính là sự chết. Vì tội nguyên tổ, cho nên con người, ai ai cũng đều phải chết.

Tuy nhiên, như lời Kinh Thánh nói, Thiên Chúa “ không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối để được sống” (x.Ed 18, 23).

Và rồi, để thể hiện lòng thương xót, Thiên Chúa  “…đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”. “Con của Người”, chính là Đức Giê-su Ki-tô, hơn hai mươi thế kỷ trước, đã đến thế gian.

Đến thế gian, Đức Giê-su đã loan báo cho thế gian biết về một Tin Mừng cứu độ, một Tin Mừng cứu độ đem đến cho thế gian “phúc trường sinh”.

Ca-phác-na-um,  chính là nơi đã được Ngài loan báo Tin Mừng này.  và thánh sử Gio-an, đã ghi lại như sau:

**

Vâng, chuyện được ghi lại, rằng: Hôm đó, sau biến cố hóa bánh ra cho năm ngàn người ăn, Đức Giê-su đã lánh mặt, đi lên núi một mình. Lên núi, vì Ngài “biết họ sắp bắt mình đem đi mà tôn làm vua”. 

Riêng nhóm môn đệ thì họ xuống bờ Biển Hồ, rồi xuống thuyền đi về phía Ca-phác-na-um, bên kia Biển Hồ. Và rồi một đêm trôi qua. Một đêm trôi qua, Thầy và trò cứ tưởng rằng không còn ai đến quấy rầy nữa.

Thực tế thì không phải vậy. Hôm ấy, (tức là hôm sau của biến cố phép lạ), bờ Biển Hồ lại nhốn nháo một rừng người. Một rừng người nháo nhác tìm kiếm Đức Giê-su.

Than ôi! Ngài đã đi rồi… Trong niềm nuối tiếc đó, họ lập tức cùng nhau “xuống thuyền đi Ca-phác-na-um tìm Người”.

Đi tìm Đức Giê-su ư! Để làm gì? Không thấy thánh sử Gio-an cho biết, chỉ thấy ngài ghi rằng: Khi gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?”

Vâng, một câu hỏi xem ra rất tự nhiên. Thế nhưng, với Đức Giê-su thì khác. Cái khác đó là, họ hỏi là thế, thế nhưng tâm can của họ, là một tâm can nặng phần thế gian. Thế nên, hôm ấy, Đức Giê-su đã trách họ rằng: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê”.

Mặc cho đám đông đang còn kinh ngạc về lời nhận xét đó, Đức Giê-su tiếp lời truyền dạy, rằng: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực hay hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận” (x Ga 6, 27).

Hôm ấy, sau khi nghe những điều Đức Giê-su nói, đám đông dân chúng nhao nhao lên chất vấn Ngài. Họ chất vấn đủ điều, nào là: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?”. Nặng nề nhất, là lời chất vấn, rằng: “Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây?”

Vâng, không thể tin được về những lời chất vấn đó. Thế là, cuộc gặp gỡ giữa họ với Đức Giêsu, đã không có tiếng nói chung. Đức Giê-su đã không thể thỏa lòng họ, là những kẻ, chỉ nghĩ đến những chuyện liên quan tới  “bánh trần gian”.

Theo như điều họ mong đợi, đó là, phải chi Đức Giê-su là Mô-sê tái thế, một Mô-sê đã xin Thiên Chúa cho họ ăn man-na trong sa mạc, (một thứ bánh ăn rồi cũng phải chết).  

Đó là một sự mong đợi sai lầm. Sứ điệp Đức Giê-su muốn gửi đến họ, (cũng như cho chúng ta hôm nay), đó là sự nhận biết về một sự sống “trên trời”. Sự sống đó phải được nuôi dưỡng bởi “bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian”.
Bánh đó, không phải là loại bánh được cung cấp bởi một “lò bánh” nào đó ở thế gian này. Nó được cung cấp từ chính Đức Giêsu. 

Vâng, hôm ấy, chính Đức Giê-su đã dõng dạc tuyên bố trước cử tọa rằng: “Chính tôi là bánh trường sinh” (x.Ga 6, 35).

***
“Chính tôi là bánh trường sinh”. Đức Giê-su đã tuyên bố như thế.

Thưa bạn, bạn muốn được “nếm và biết” loại bánh này, chứ? 

Hay, chúng ta lại thích những loại bánh do những “lò bánh” của thế gian sản xuất, những loại bánh được nhồi bởi những loại bột-dâm-bôn, bột-phóng-đãng, bột-hận-thù, bột-bất-hòa, bột-chia-rẽ, bột-bè-phái, bột-ganh-tỵ, bột-say-sưa-chè-chén v.v…?

Hay chúng ta lại thích thưởng thức những loại “bánh vẽ”, những loại bánh dán mác chủ nghĩa duy vật – vô thần,  trông thì đẹp nhưng ăn thì chát đắng, những chát đắng của bất công và bạo lực, của thờ ơ và lãnh đạm, của dối trá và lừa bịp v.v…

Câu trả lời là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, hãy nhớ rằng, những kẻ    “ăn” bánh được nhồi bởi những loại bột (nêu trên), thánh Phao-lô nói: “sẽ không được thừa hưởng Nước Trời”. 

Chúng ta là những con người có hồn có xác. Để nuôi dưỡng thể xác, chúng ta phải ăn, nếu không ăn, chúng ta sẽ chết. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng: “Ăn để sống, chứ không phải sống để ăn”. Và, đừng quên lời Kinh Thánh đã dạy: “Người ta sống không chỉ bởi cơm bánh, nhưng còn nhờ vào lời miệng Thiên Chúa phán ra”.

Và, như lời thánh Augustino nói: "Thiên Chúa dựng nên con người không cần con người, nhưng để cứu chuộc con người, thì Ngài cần đến sự cộng tác của con người"

Thì, hôm nay, cũng vậy trước lời mời gọi của Đức Giê-su: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi…không hề phải đói” , chúng ta cũng cần “phải đến” với Ngài…

Muốn “không hề phải đói”, phải đến với Đức Giê-su, và nói với Ngài: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy”.

Nói rõ hơn, nếu chúng ta muốn được hưởng phúc-trường-sinh, phải đến trước bàn Tiệc Thánh Thể và nói: Lạy Chúa, “xin cho con thứ bánh ấy”.

Petrus.tran





Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2018

Bạn có là “người chứng nhân không cô đơn”!.


Chúa Nhật III – Ps – B

Bạn có là “người chứng nhân không cô đơn”!.

Đức Giê-su Ki-tô Phục Sinh, đó là trung tâm điểm niềm tin Công Giáo. Hơn hai ngàn năm qua, Giáo Hội vẫn trung thành tuyên xưng và loan báo niềm tin này.

Nếu Đức Giê-su không Phục Sinh? Vâng, thánh Phao-lô nói: “…chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người”. Riêng tôi, tôi cho rằng: nếu Chúa Giê-su không sống lại, niềm tin của chúng ta, chỉ là một “niềm tin cô đơn”, cô đơn và buồn bã. (Mà, nếu chúng ta có làm chứng về Chúa, chúng ta chỉ là người chứng nhân cô đơn).

Vâng, cô đơn và buồn bã chính là tâm trạng của “nhóm mười một”, nhóm các môn đệ của Đức Giê-su, khi các ông chưa thật sự tin Người  “trỗi dậy từ cõi chết”.

Thì đây, hãy trở lại Giê-ru-sa-lem của hơn hai ngàn năm trước, ta sẽ thấy. Vâng,  tính từ thứ sáu, ngày Thầy Giê-su bị bắt và bị đóng đinh trên thập giá tại  đồi Golgotha, các môn đệ của Ngài tuy sống nhưng cũng như đã chết, các ông mất phương hướng, cuộc sống của các ông chỉ là sợ hãi và âu lo, cô đơn và buồn nản.

Chung quanh các ông, lúc đó, toàn là những tin đồn bất lợi. Nhóm thượng tế và kỳ mục đã có một hành động hết sức ma mãnh. Họ chi một một số tiền lớn cho bọn lính canh mộ và bảo nhóm lính đó hãy  tung tin đồn rằng, vào ban đêm “các môn đệ của ông Giêsu đã đến lấy trộm xác”, và đó chính là nguyên nhân khiến các ông bất an.

Sự bất an đó đã làm cho các ông, dù nhận được nguồn tin từ bà Maria Macdala, rằng bà ta “đã thấy Chúa”,  vẫn cho là “tin vớ vẫn”. Ngay cả một nguồn tin thân cận, do hai người môn đệ trong lúc “nhọc nhằn lê gót chân buồn” trở về làng Emmau, cho biết, họ đã gặp Thầy Giêsu và họ “nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh”, vẫn chưa đem đến cho các môn đệ niềm xác tín rằng Thầy Giê-su Phục Sinh.

Trong tâm trạng rối bời đó, Chúa Giê-su hiện ra. Thánh Luca kể lại rằng: “Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo: Bình an cho anh em”.

Là một lời chúc bình an, ấy thế mà các ông lại bất an, bất an đến nỗi Phêrô cũng như toàn thể đồng môn “kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma”. Không thể tin được, mới chỉ có chưa đầy ba ngày mà các ông đã không nhận ra  dung nhan Thầy mình.

Phải chăng vì các ông quá sợ, sợ rằng: nếu đúng là Thầy Giê-su, chắc hẳn Ngài sẽ quở trách về việc “chối Thầy… bỏ Thầy”! Thưa, không phải thế. Trái lại, hôm ấy,  Đức Giêsu tiến về phía các ông và nói: “Sao lại hoảng hốt. Sao lòng anh em còn ngờ vực. Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà. Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây ?” 

Như người mục tử xót xa nhìn đàn chiên bơ vơ không người chăn dắt, Đức Giêsu nói với các ông rằng: “Tất cả những gì sách luật Môse, các sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm”.  Và cuối cùng Người “mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh”.

Sách xưa có câu: “Kẻ thù của niềm tin là sự sợ hãi chứ không phải sự nghi ngờ”. Hôm đó, Đức Giêsu quả đúng là một bậc thầy về tâm lý. Ngài đã không trách cứ các môn đệ về sự nghi ngờ của các ông. Đức Giê-su, trái lại, chỉ gửi đến các môn đệ  một lời truyền dạy, như để các ông xác tín về niềm tin của mình, lời truyền dạy, rằng: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại…”
Cuối cùng, Ngài nói:  “Chính anh em là chứng nhân về những điều này”.

**
Các môn đệ, sau những ngày sống mà như đã chết, nay như được “phục sinh” theo Thầy Giê-su. Nay, các ông sẵn sàng làm chứng về sự Phục Sinh của Thầy mình.

Thật vậy, sau này, khi phải đối mặt với các tư tế, các kỳ mục, các kinh sư,  và dù các Tông Đồ bị đánh đòn và cấm rao giảng Đức Giêsu Phục Sinh, nhưng những hình phạt đó vẫn không làm cho các ông “hoảng hốt”. Ông Phêrô và các Tông Đồ khác vẫn hiên ngang làm chứng rằng “Đấng mà chính anh em đã nộp và chối bỏ… đã giết… nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết, về điều này chúng tôi xin làm chứng” (Cv 3, …13-14).

Một điều chúng ta cũng nên biết, hầu hết tất cả các tông đồ  đều đã “tử đạo” để làm chứng cho niềm tin cứu độ, niềm tin Đức Giêsu Phục Sinh. Máu tử đạo của các tông đồ đã chứng minh rằng, các ông quả thật đã làm trọn lời truyền dạy của Đức Giê-su, rằng: “Chính anh em là chứng nhân về những điều này”.

***
“Chính anh em là chứng nhân về những điều này”. Phải chăng, đây cũng là lời Đức Giê-su truyền dạy chúng ta, hôm nay? Thưa, đúng vậy. Và, trong một thế giới tục hóa như hôm nay, việc làm chứng của chúng ta lại càng khẩn thiết hơn.

Chúng ta làm chứng như thế nào? Phải chăng là tuân theo lời truyền dạy của Đức Giê-su “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa  cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần?” Phải chăng là noi gương thánh Phê-rô kêu gọi mọi người: “sám hối và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Ki-tô, để được ơn tha tội?”

Vâng, làm chứng như thế là một cách làm chứng đúng truyền thống. Thế nhưng, không phải ai cũng làm được. Phương cách dễ dàng nhất, và ai cũng có thể làm được, đó là hãy sống đức tin, sống Lời Chúa, bởi, nó chính là lời chứng sống động nhất.

Lời chứng sống động nhất, đó là hãy sống như Đức Giê-su đã sống. Lời chứng sống động nhất, đó là Đức Giê-su làm gì ta hãy làm như Ngài. Lời chứng sống động nhất, đó là Đức Giê-su đã nói gì ta hãy nói như Ngài. Lời chứng sống động nhất, đó là Đức Giê-su nghĩ gì ta hãy nghĩ như Ngài.

Mà, Đức Ki-tô Phục Sinh đã nói gì, phải chăng Ngài nói: “Bình an cho anh em”! Nếu Ngài nói như thế, cớ gì chúng ta không trở thành “khí cụ bình an của Chúa”!  

Đức Ki-tô Phục Sinh đã nói gì, phải chăng Ngài nói: “Thầy ban cho anh  em một điều răn mới, là anh  em hãy yêu thương nhau”! Nếu Ngài nói như thế, cớ gì chúng ta không “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm”!

Giờ đây, chúng ta hãy nghe một lần nữa lời Đức Giê-su truyền dạy: “Chính anh em là chứng nhân về những điều này”.

Nghe rồi, chúng ta hãy tự hỏi: đã qua bao nhiêu mùa Phục Sinh, tôi đã thực sự là “chứng nhân” cho Chúa?  Câu trả lời là của mỗi chúng ta.

Thế nhưng, theo lời chia sẻ của Lm. Charles E. Miller, thì: “Mùa Phục Sinh là thời gian để ta nhìn lại quá khứ, đồng thời cũng hướng tới tương lai”.
Nhìn lại quá khứ, ngài Lm cho biết, đó chính là “các biến cố trọng đại về ơn cứu độ của chúng ta nhờ Mầu Nhiệm Vượt Qua: cái chết và sự sống lại của Đức Ki-tô”.

Còn, hướng tới tương lai ư! Thưa, ngài Lm cho biết, đó là: “được sống lại muôn đời vinh hiển nơi quê Cha trên trời, cùng với Đức Ki-tô nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần”.

“Đó là tương lai vinh phúc của chúng ta”. Lm. Charles E. Miller kết luận như thế.

Nhắc đến những điều này để làm gì? Thưa, là để chúng ta biết, biết để mà tái xác tín lại niềm tin vào sự Phục Sinh của Đức Giê-su Ki-tô. Bởi vì, chỉ khi chúng ta có sự “xác tín”, chỉ khi đó, chúng ta mới có thể là “chứng nhân về những điều này”.

Nói cách khác, chỉ khi có sự xác tín, chúng ta mới có thể là “người chứng nhân không cô đơn”.

Petrus.tran





Chủ Nhật, 25 tháng 3, 2018

Chỉ cần ta “quyết từ nay thờ Chúa…”.


Chúa Nhật Lễ Lá.   

Chỉ cần ta “quyết từ nay thờ Chúa…”.

Mùa Chay đã khép lại. Và hôm nay, chúng ta bước vào một tuần được gọi là Tuần Thánh. Tuần Thánh, bắt đầu bằng việc Giáo hội cử hành Lễ Lá, một ngày lễ nhớ tới việc Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem, được dân chúng đón rước và tôn vinh như một vị quân vương.

Về sự kiện này, thánh Luca đã tường thuật lại như sau: “Người đi tới đâu, dân chúng cũng lấy áo choàng trải xuống mặt đường”. Và “Khi Người đến gần chỗ dốc xuống núi Ô-liu, tất cả đoàn môn đệ vui mừng bắt đầu lớn tiếng ca tụng Thiên Chúa, vì các phép lạ họ đã được thấy. Họ hô lên: Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời!”... Sau lễ lá, Giáo hội dành riêng ba ngày được gọi là “Tam Nhật Thánh”.

Tam Nhật Thánh được bắt đầu vào thứ Năm, với ngày này, Giáo hội cử hành nghi thức rửa chân và nhắc lại việc Chúa Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể. Kế đến là thứ sáu, với ngày này, Giáo Hội tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa Giê-su. Sau đó, vươn tới cao điểm là một thánh lễ long trọng vào chiều tối thứ bảy, chúng ta quen gọi là Lễ  Vọng Phục Sinh. Cuối cùng được kết thúc với một thánh lễ Mừng Chúa Phục Sinh. Thánh Lễ cử hành chính ngày Chúa Nhật Phục Sinh.

Chúa Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể. Tưởng niệm cuộc thương khó của Ngài. Mừng Chúa Phục Sinh. Đó là điều người tín hữu Công Giáo tin và tôn vinh. Điều này không tự Giáo Hội đặt ra, nhưng đó là niềm tin tông truyền và được ghi chép đầy đủ trong các sách Tin Mừng.

Việc Chúa Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể, thánh sử Mác-cô đã kể lại rằng:  Hôm ấy,  là ngày lễ Vượt Qua. Đang khi dùng bữa, “Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra , trao cho các ông và nói: ‘Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy’. Và Người cầm chén rượu, dâng lời Tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này Người bảo các ông: ‘Đây là Máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người. Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Thiên Chúa”. (x.Mc 14, 22-25). 

Còn với việc tưởng niệm cuộc thương khó của Đức Giê-su ư! Vâng, đã có người biểu lộ ý tưởng của mình như sau:  “Có thể nói được rằng đây là lễ giỗ hằng năm Giáo Hội kính nhớ Thầy Chí Thánh của mình.”(trích nguồn: internet). Ví von như thế, e rằng có khập khiễng quá chăng!

Tưởng niệm cuộc thương khó của Đức Giê-su, mà lại xem đó như là “một lễ giỗ” ư! Sao mà kỳ vậy?  Cái chết của Ngài, có phải là một cái chết của phàm nhân, để rồi mỗi năm đến ngày đó, làm một đám giỗ ăn nhậu linh đình (như người không có đạo) hoặc xin một thánh lễ cầu cho linh hồn (như người có đạo)!!!  

Cái chết của Đức Giê-su là một cái chết “thánh thiêng”, một cái chết sinh “ơn cứu chuộc chứa chan nơi Ngài”

Tưởng niệm cuộc thương khó của Đức Giê-su là tưởng nhớ đến những bất công và bạo lực của thần quyền cũng như thế quyền (thời đó), là nhớ lại sự phản bội và nhát đảm của các môn đệ, mà Ngài đã phải gánh chịu trong thinh lặng và đớn đau, để coi đó như một bài học, một bài học về sự trung tín, cho chúng ta, hôm nay. 

Tưởng niệm cuộc thương khó của Đức Giê-su là hướng đến một Thiên Chúa là tình yêu, Người đã “…Yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”(x.Ga 3, 16)

**Giờ đây, chúng ta hãy trở lại Ghết-si-ma-ni, nơi được cho là đã xảy ra cuộc bố ráp, bắt bớ để rồi dẫn đến “cuộc thương khó” của Đức Giê-su, chúng ta sẽ thấy cái chết của  Ngài đúng là một cái chết thánh thiêng, một cái chết “vì người mình yêu”.

Vâng, vài hôm trước đó, nhóm thượng tế  đã sắp đặt một kế hoạch truy bắt Ngài. Kế hoạch đó được Giuđa Iscariot vạch ra. Trước đó, y đã lén lút đi gặp các thượng tế và lãnh binh Đền Thờ  để bàn về cách thức nộp Đức Giêsu cho họ.

Được các thượng tế hứa hẹn sẽ “cho ba mươi đồng bạc”, vì thế cho nên “từ lúc đó, hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Đức Giê-su.” .Và khi mọi sự đã được họ hoạch định. Một nhóm người được các thượng tế và kỳ mục sai đi tầm nã Đức Giêsu.

Trong lúc đó, tại Ghếtsimani, Đức Giê-su đang  nguyện cầu. Ngài cảm thấy “buồn đến chết được”. Vâng, làm sao không buồn, vì kẻ phản bội lại là một người trong nhóm mười hai.

Ánh đuốc bập bùng cộng tiếng vó ngựa vang rền đã phá tan sự thĩnh lặng của Giết-si-ma-ni. Tiếng gươm giáo và gậy gộc va chạm  đã khiến cho ai nấy phải rợn người. Vòng vây mỗi lúc một xiết chặt hơn. Ghếtsimani bỗng chốc phủ trùm bầu khí của bạo lực và chết chóc. Và  khi Giuda Iscariot xuất hiện. Như một con hổ đói, y xông đến Đức Giê-su, hôn Ngài.

Nụ hôn ư!…Đó là  một cử chỉ biểu lộ tình yêu thương, sao nay lại là một ám hiệu để bắt bớ! Thưa, đúng vậy. Đó là ám hiệu mà y đã nói với đồng bọn: “Tôi hôn ai thì chính là người đó. Các anh bắt lấy.” Ôi! nụ hôn của thần chết...

Ba năm công khai rao giảng Tin Mừng, không ít lần người ta tìm cách giết Ngài, đe dọa và ném đá Ngài. Đức Giêsu đều tìm cách lánh đi. (x.Ga 8,59). Nhưng hôm nay, tại vườn Ghếtsimani, Giêsu người Nazareth, Ngài đứng lặng… Ngài đứng lặng… lặng như “chiên bị dẫn đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng”.(Isaia)

 Toán quân và viên chỉ huy cùng đám thuộc hạ người Do Thái ập đến bắt Đức Giêsu. Họ trói Ngài rồi điệu đến dinh thượng tế Caipha. Toàn thể những thành viên Hội Đồng Công Tọa quá đỗi bất ngờ trước chiến tích của tên “phản thùng” Giuđa Iscariot.

Tại đây, Đức Giêsu đã phải hứng chịu suốt đêm màn tố khổ tại dinh thượng hội đồng, đầy bất công và tàn nhẫn. Thế nhưng, điều đó cũng chưa làm Hội Đồng Công Tọa mãn nguyện. Họ muốn Ngài phải chết.  Thế nên, không có  kế nào tốt hơn là “dẫn độ” Đức Giê-su đến Phi-la-tô, một quan tổng trấn La-mã, người có quyền tuyên án tử hình. Và họ đã làm.

Trên đường tới dinh tổng trấn, ngoài những sự đau đớn do bị đánh đập, Đức Giê-su còn đau đớn hơn khi “gà chưa kịp gáy” thì người môn đệ của mình “đã ba lần chối là không biết Thầy”.

Tại dinh tổng trấn, khi Philatô xuất hiện. Ông ta chết lặng nhìn thân thể tiều tụy rã rời của Đức Giêsu.  Hình hài của Đức Giêsu, thật đúng như những gì ngôn sứ Isaia đã mô tả: “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi người ta phỉ nhổ” (x.Is 50, 6).

Chỉ qua vài lời thẩm vấn, Phi-la-tô cho rằng, Đức Giê-su “chẳng can tội gì đáng chết” (Lc 23,14). Thế nhưng, dù có thẩm quyền, ông ta vẫn không đủ can đảm trả tự do cho Đức Giê-su, vì ông ta sợ, sợ trước những tiếng gào thét, ném về Đức Giê-su: “Giết! Giết nó đi! Đóng đinh nó vào thập giá”.

Sau một chút do dự, Philato “chữa cháy” bằng việc đem ra một tù nhân, một gã cướp khét tiếng, phạm nhiều tội ác và sa lưới pháp luật, tên là Baraba. 

Và, như một thông lệ, vào những ngày lễ lớn, quan tổng trấn đại diện cho Rôma, có thói quen ân xá cho một phạm nhân. Hôm đó, Philatô đã đưa Đức Giêsu và Baraba ra trước mặt dân chúng cho họ chọn lựa.Tiếc thay, kế hoạch của quan tổng trấn “phá sản”. Hôm đó, toàn dân đã la lớn: tha Baraba và đóng đinh Giêsu.

Phiên tòa chấm dứt, chấm dứt qua việc “rửa tay”,  phủi bỏ trách nhiệm của ngài tổng trấn Philato. Hôm ấy, mệt mỏi vì những tiếng gào thét cuồng nộ của đám đông, Philato  ngượng ngùng “trao Người cho họ đóng đinh vào thập giá”.

Con đường  thương khó bắt đầu trải ra cho Đức Giêsu. Mấy hôm trước, Ngài đã được đón tiếp như một quân vương. Nhưng hôm nay, ôi thật đúng là con đường của chết chóc! Lưỡi gươm và mũi đòng đã được thay cho những nhành thiên tuế.

Người ta thấy có một nhóm phụ nữ “vừa đấm ngực vừa than khóc Người”, thế nhưng, Đức Giêsu đã quay lại và cho họ một lời khuyên: “Đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu.”.  

Các bà quên rằng, Đức Giêsu, nếu muốn, Ngài đã có thể cầu xin Thiên Chúa Cha “cấp ngay cho (Ngài) hơn mười hai đạo binh thiên thần” để giải thoát Ngài. Nhưng! “như thế, thì lời Kinh Thánh ứng nghiệm sao được?”.

Đức Giê-su đã chấp nhận cuộc “thương khó” dẫu cho những điều xảy ra cho Ngài “khó thương”; cũng chỉ vì… “vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta”.

*** Chiều tối thư sáu, lúc màn đêm buông xuống cũng là lúc Đức Giê-su được mai táng trong mồ, phụng vụ không có thánh lễ. Suốt ngày thứ bảy, tất cả giáo đường đều thinh lặng, thinh lặng kính viếng thánh giá Chúa Ki-tô.

Nhắc tới điều này để làm gì? Thưa, để chúng ta cũng thinh lặng, không chỉ thinh lặng kính viếng thánh giá Chúa Ki-tô, nhưng còn thinh lặng để hỏi mình, rằng: tôi đã đến với Tuần Thánh như thế nào? Tôi có xem Tuần Tam Nhật như là một cơ hội để thẩm định lại niềm tin mình?

Vâng, hãy tự hỏi,  như người Do Thái xưa, vào ngày này (Lễ Lá), họ đã không ngớt reo hò hoan hô Đức Giê-su: “Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa”, còn hôm nay, chúng ta…  chúng ta cũng hoan hô chúc tụng Ngài! Chúng ta cùng kính thờ Ngài!

Hay, chỉ vì muốn có một cuộc sống giàu sang phú quí, chúng ta quay sang hoan hô, chúc tụng: thần tiền bạc, thần danh vọng, thần quyền lực v.v…? Nếu có, thì đừng quên, Đức Giê-su có lời truyền dạy: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì ích gì”

Hoặc, chỉ vì một phút yếu lòng nghĩ rằng “chẳng chết chóc gì đâu”, chúng ta lại hoan hô, lại đón mời, lại lăn sả vào: “thần dâm bôn, thần phóng đãng, thần say sưa chè chén” v.v…Nếu có, hãy coi chừng, đi theo những vị thần này, thánh Phao-lô cảnh báo: “những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa” (x.Gl 5, 21)

Câu trả lời là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, đừng quên, tại Golgotha, một trong hai tên gian phi, nhờ đã nhận Đức Giê-su chính là “vị thần” của đời mình, y đã được cứu. Vâng,  y đã được cứu chỉ một lời khẩn khoản nài xin: “Ông Giê-su ơi! Khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”.

Thế nên, đừng để Tuần Thánh đi qua mà chúng ta vẫn chưa có sự lựa chọn. Thế nên, hãy tự hỏi mình: “Tôi chọn Đức Giê-su, hay chọn Baraba - một biểu tượng của gian ác, của bạo lực”!

Nếu chọn Giê-su! Vậy thì, hãy đến với Tuần Thánh trong tâm tình cầu nguyện, nguyện rằng: “Xin giúp con đường thiêng liêng theo lối. Quyết từ nay thờ Chúa hết tâm tình”.

Nói cách khác, để được “vào Nước của Chúa”, để được “ông Giê-su nhớ đến” chỉ cần…chỉ cần chúng ta quyết-từ-nay-thờ-Chúa-hết-tâm-tình.

Vâng,  chỉ cần ta “quyết từ nay thờ Chúa hết tâm tình”.

Petrus.tran

Thứ Ba, 20 tháng 3, 2018

Hãy dám chết ở trong lòng một ít…


Chúa Nhật V – MC – B 

Hãy dám chết ở trong lòng một ít…


Chỉ còn một tuần nữa, Mùa Chay sẽ khép lại. Theo truyền thống, tuần kế tiếp được gọi là tuần thánh. Trong tuần này, cao điểm là “Tam Nhật Thánh” (thứ năm, thứ sáu và thứ bảy), Giáo Hội cử hành mầu nhiệm chính Đức Giê-su đã hoàn tất vào buổi chiều của bữa tiệc Vượt Qua, đó là Mầu nhiệm Thánh Thể. Long trọng hơn nữa, là lễ tưởng niệm cuộc thương khó và tử nạn của Ngài.  

Nói về cuộc thương khó và tử nạn của Ngài, chúng ta có thể xem đó như là một bản tuyên ngôn, bản tuyên ngôn về “ơn cứu chuộc chứa chan nơi Đức Giê-su Ki-tô” .

Mà đúng vậy, khi nói về sự cứu chuộc, trong một cuộc đàm đạo với ông Ni-cô-đê-mô, một thủ lãnh của người Do Thái, Đức Giê-su đã tuyên bố, rằng: “như ông Mô-sê đã gương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được gương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời”. (Ga 3, 14-15)

Về sự việc “phải được gương cao”, Đức Giê-su đã nói rất rõ ràng với các môn đệ, tới ba lần, rằng: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sẽ sống lại”. Với lần thứ hai, nội dung không khác là bao nhiêu. 

Và, lần thứ ba, Ngài đã tuyên bố “Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người…”(x…Mc 10, 33-34)

Hồi ấy, khi nói về “cuộc thương khó và tử nạn” của Đức Giê-su, các môn đệ, đặc biệt là tông đồ Phê-rô hết sức ngỡ ngàng, ông ta đã “kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người”. Ông ta nói: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy”.

Vâng, có thể nói, đó là một lời trách ngay lành. Nhưng, với Đức Giê-su thì không. Ngài đã nói với tông đồ Phê-rô, rằng: “Satan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người”. 

Tư tưởng của Thiên Chúa, đó là:  Đức Giê-su phải chịu chết. Điều này đã được Ngài dùng một hình ảnh rất đời thường, như một lời giải thích: “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (x.Ga 12, 24) 

Và, đúng như lời Đức Giê-su đã nói. Cái chết của Ngài không phải là cái chết “trơ trọi” tại đồi Golgotha, nhưng đã là một cái chết  sinh “ơn cứu chuộc chứa chan nơi Ngài” . 

Hôm ấy, hôm Đức Giê-su công bố chân lý này, thánh sử Gio-an cho biết, “bấy giờ có tiếng từ trời cao vọng xuống: “Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa”. Tiếng từ trời vọng xuống đó, đã được Đức Giê-su cho biết, đó là “vì các ngươi”.

Vâng, đúng là “vì các ngươi”,  “vì loài người chúng ta”, Đức Giê-su đã chịu chết, chết trên thập giá tại đồi Golgotha, một cái chết để “cứu chuộc mọi người”, đúng như lời Ngài đã phán hứa: “Phần tôi, khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”. 

**
Hơn hai ngàn năm đã trôi qua, Đức Giê-su vẫn mời gọi mỗi chúng ta đến, đến dưới chân cây thập giá, mà nay đã trở thành cây “thánh giá”, nơi đây, Ngài sẽ “kéo chúng ta lên với Ngài”. Mà, đã là một Ki-tô hữu, có ai trong chúng ta lại không được Ngài “kéo lên” nhỉ! 

Vâng, Đức Giê-su đã kéo chúng ta lên với Ngài. Được kéo lên với Đức Giê-su, chúng ta sẽ làm gì? Phải chăng là hãy tự hỏi mình rằng: tôi đã tiếp nhận “Mầu nhiệm Vượt Qua”, mầu nhiệm mà Đức Giê-su đã đón nhận? 

Nói cách khác, là một Ki-tô hữu, tôi đã tiếp nhận cuộc thương khó và tử nạn của Đức Giê-su, như là của tôi?
Tiếp nhận cuộc thương khó và tử nạn của Đức Giê-su, không nhất thiết chúng ta cũng phải “vác thập giá lên Golgotha và chịu chết nơi đó” như Đức Giê-su đã lãnh chịu. Bởi, nếu tất cả chúng ta thực hiện điều này, diện tích đồi Golgotha sẽ không đủ chỗ để chứa những cây thập giá của chúng ta. 

Tiếp nhận cuộc “thương khó” của Đức Giê-su, đó là hãy tiếp nhận những điều “khó thương” đã và đang xảy ra chung quanh chúng ta, ngay trong gia đình chúng ta. 

Thì đây, điều khó thương trong gia đình chúng ta, ngày nào mà không có! Nhìn ông chồng ngày nào cũng say xỉn, có “khó thương” không kia chứ! 

Vâng, rất nhiều… rất nhiều chuyện “khó thương” từ ông bố, từ người mẹ, từ đứa con, từ người hàng xóm đến người bạn đồng nghiệp v.v… đã đem đến cho chúng ta, mà không thể nêu hết ra đây…  Chúng ta sẽ ‘tiếp nhận”?

Còn… còn tiếp nhận cuộc “tử nạn” của Đức Giê-su thì sao? Thưa, , đó là hãy chết-đi-cho-tội-lỗi của mình, hãy chết đi cái bản ngã của mình. Đó là chết đi cho những dục vọng xấu xa: dâm bôn, phóng đãng. Đó là chết đi cho những cá tính: nóng giận, chia rẽ, hận thù. ghen tuông. Đó là chết đi cho những thái độ thờ  trước những bất công, bạo lực. Đó là chết đi sự vô cảm trước những hoàn cảnh bệnh tật, đói nghèo, của tha nhân.

Còn nữa, tiếp nhận cuộc “tử nạn” của Đức Giê-su không nhất thiết phải chết trên thập giá, như Đức Giê-su khi xưa. Với chúng ta hôm nay, chỉ cần… chỉ cần “chết ở trong lòng một ít”, là đủ.

“Chết ở trong lòng một ít” là chết như thế nào? Thưa, đó là, trong một thời đại người ta cổ võ cho chủ nghĩa vô thần, người ta lợi dụng sự độc quyền về truyền thanh, truyền hình, báo chí, sách vở v.v… để ra rả những lời bêu rếu, chửi bới, chê cười, nhạo báng “Đạo Chúa”, thế mà chúng ta không phẫn nộ, không oán giận, vẫn biểu lộ tình yêu thương, sự khoan dung… Vâng, đó chính là chúng ta đã “chết ở trong lòng một ít” vậy.

Trong vai trò là một bác sĩ, một y tá, trước một bệnh nhân, chúng ta không “làm tình làm tội” họ, không đòi hỏi “phong bì phong bao”, chúng ta điều trị họ, săn sóc họ với tất cả lương tâm nghề nghiệp của mình v.v… Đó… đó chính là chúng ta đã “chết ở trong lòng một ít” vậy. 

Nói chung, ở bất cứ vai trò gì trong xã hội, nếu chúng ta chịu thiệt thòi chút ít, thiệt thòi tiền bạc, chịu mất mát chút ít,  chút ít quyền lợi…vì đức tin. Đó… đó chính là chúng ta đã “chết ở trong lòng một ít” vậy.

Không dám “chết ở trong lòng một ít”, hy sinh cho tha nhân ở đời này, mà chỉ muốn có được một cuộc sống sung túc, một cuộc sống chỉ mình ta, cho mình ta… 

Vâng, kết quả, có phần chắc, đó là mất đi cuộc sống đời đời. Câu chuyện ông nhà giàu và anh Lazaro, như một điển hình.

Mà, cớ gì chúng ta, là những Ki-tô hữu, lại không “chết ở trong lòng một ít”, vì Danh Đức Giê-su! Đừng quên, Đức Giê-su đã nói: “ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời”.

Đây là một lệnh truyền, một lệnh truyền cho bất cứ ai muốn trở nên môn đệ của Đức Giê-su. Vâng, có quá khó để thực hiện chăng!

Nếu thấy khó, đừng quên, tại vườn Ghết-sê-ma-ni, Đức Giê-su cũng đã có chút “khó khăn” khi phải đối diện “Mầu Nhiệm Vượt Qua”. Chuyện được kể rằng: “Người bắt đầu cảm thấy buồn rầu xao xuyến”. Người đã thổ lộ với các môn đệ mình, rằng: “Tâm hồn Thầy buồn rầu đến chết được”. 

Trước thảm cảnh này, Đức Giê-su đã làm gì? Thưa, cầu nguyện, Ngài có lời truyền dạy, rằng: “Anh  em hãy canh thức và cầu nguyện… Vì tinh thần thì hăng say nhưng thể xác lại yếu hèn”. Và, quả thật, Đức Giê-su, trong những giây phút đen tối đó, Ngài cầu nguyện liên lỉ. Chúng ta hãy nghe lời nguyện cầu của Ngài: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi thì xin vâng ý Cha”(x.Mt 26, 42)

Chính vì thế, để có thể thực hiện lệnh truyền (nêu trên), không gì tốt hơn là hãy cầu nguyện. Hãy noi gương Đức Giê-su xưa kia “lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khấn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng”. 

Đấng-có-quyền-năng, hôm nay, chính là Đức Giêsu Kitô. Một Đức Ki-tô Giê-su “trở nên nguồn ơn cứu độ cho tất cả những ai tùng phục Người” (x.Dt 5, 9)

Cuối cùng, hãy nhớ lời  Đức Giê-su tuyên phán: “Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy, và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó”.

Thưa quý Bạn… quý bạn có muốn lời tuyên phán của Đức Giê-su ứng nghiệm nơi cuộc đời mình? Nếu muốn, hãy sống với tâm tình chết-ở-trong-lòng-một-ít. 

Vâng, chỉ cần ta dám “chết ở trong lòng một ít”.

Petrus.tran







Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...