Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2020

Thưa Chúa, xin cứu chúng con...

 

CHÚA NHẬT XIX – TN – 

 

Thưa Chúa, xin cứu chúng con...


Nước, đó là một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Con người có thể sống sót trong một khoảng thời gian dài mà không cần thức ăn, nhưng nếu không có nước uống thì con người sẽ bị đánh gục nhanh chóng. Thế nhưng, đôi lúc nước lại gây ra cái chết cho con người.


Trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, con người không ít lần phải đối diện  thảm họa do nước gây ra. Mới chiều hôm 06/08/2020 vừa qua, chỉ là một trận mưa kéo dài ba giờ đồng hồ, thế mà cả thành phố Saigon như phải hứng chịu một trận hồng thủy.


Và theo báo chí đưa tin, thì: “Tại quốc lộ 13, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, xảy ra sự cố xe ôtô bốc cháy. Một người dân chứng kiến sự việc thông tin cho DKN, sự cố xảy vào khoảng 0h30′ đến 1h đêm ngày 7/8. Người này nói, chiếc xe lưu thông từ đường số 2, bị ngập nước chết máy, khi ra quốc lộ 13 đề máy lại thì bị chập điện bốc cháy trước cửa hàng 115 quốc lộ 13, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức. Khoảng 1 giờ sau thì đám cháy được khống chế nhờ cảnh sát PCCC. Sự cố khiến một cửa hàng liên quan bị cháy xém bảng hiệu là tiệm photocopy Thanh Đạt và tiệm bánh mỳ. Thiệt hại chưa thống kê chi tiết”.


Nói tới nước, chúng ta không thể không nhớ tới mười hai vị tông đồ của Đức Giê-su. Trong nhóm các ông, có một số người là dân chài lưới. Vì thế, nước như là nguồn sống của các ông, và sông nước như là ngôi nhà thứ hai của các ông.  Thế mà, đã có lần, khi đối diện với sự hung hãn của nước, các ông đã phải cuống cuồng lên cầu cứu Đức Giê-su, bởi các ông biết, sự hung hãn của nước đồng nghĩa với cái chết.


Vâng, lần đó “Một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước”.  Đầy nước đến độ các ông nghĩ rằng  thuyền sẽ chìm, Thầy và trò “chết đến nơi rồi…”.  Và các ông đã cầu cứu Đức Giê-su. Hôm ấy, Đức Giêsu đã  “ngăm đe gió và biển: biển liền lặng như tờ”. Lúc đó các ông mới cảm thấy “nhột nhạt” trước lời trách cứ của Thầy mình: “Sao nhát thế, hỡi những người kém lòng tin” (x.Mt 8, 26)


Đức Giê-su, trong những ngày còn tại thế, Ngài đã cho các môn đệ thấy quyền năng của mình, không chỉ có thể dẹp tan cuồng phong bão tố, nhưng còn có thể bước đi khoan thai trên mặt đại dương như thể đang bước đi trên con đường làng quê Nazareth của mình. Vâng, sự kiện này đã được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mát-thêu.


 ** 


Câu chuyện được kể rằng: hôm ấy, sau biến cố làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho hơn năm ngàn người ăn, các môn đệ, theo lệnh truyền của Đức Giêsu, “xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng”. Hôm đó, sau khi giải tán đám đông xong, “Người lên núi một mình mà cầu nguyện”.


Tối đến, đang khi Đức Giê-su “vẫn ở đó một mình”, thì ngoài kia, ngoài biển khơi “xa bờ đến cả mấy cây số” chiếc thuyền của các môn đệ “bị sóng đánh vì ngược gió”.


Sóng và gió… vâng, đó là điều không hay chút nào cho một cuộc hải hành. Tuy không thấy thánh sử Mát-thêu nói gì, nhưng chúng ta có thể nghĩ rằng sự bối rối, sự căng thẳng đã xuất hiện trên khuôn mặt các ông.


Thật vậy,  làm sao không bối rối cho được, khi  “Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ”.


Đi trên mặt biển, với một con người bình thường như bao người bình thường, có thật không! Và, đó là nguyên nhân làm cho các ông hoảng hốt, hoảng hốt đến độ các ông bảo nhau “Ma đấy!”.


Nghe thế, nhưng Đức Giê-su không trách móc các ông. Có lẽ, Ngài thấu hiểu nỗi lòng của các ông. Nỗi lòng của những con người đang phải sống trong một xứ sở đầy dẫy những tên biệt phái “ma đầu giáo chủ” luôn rình rập, chực chờ hãm hại Ngài cũng như các môn đệ của Ngài.


Hôm ấy, Đức Giêsu  xóa tan sự  hoảng hốt nơi các môn đệ bằng một lời nói rất rõ ràng: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”.


Phê-rô… vâng, lại là tông đồ Phê-rô, với tính khí bốc đồng, ông ta đưa ra một lời cầu xin, lời cầu xin như là một phần để xác thực người đang đi trên mặt biển chính là Thầy Giê-su, ông cầu xin Đức Giê-su, rằng: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài”.


Lời cầu xin của ông Phê-rô được Đức Giê-su chấp nhận, Ngài nói: “Cứ đến!”. Nghe thế, ông Phê-rô “từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giê-su”.


Thế nhưng, “thấy gió thổi thì ông đâm sợ”.  Rồi, khi cảm thấy mình “bắt đầu chìm”, ông Phêrô la lên “Thưa Ngài, xin cứu con với”.


Ơ hay, là dân chài, tất nhiên ông Phê-rô phải biết bơi chứ! Sao ông ta lại phải cầu cứu nhỉ! Thật là khó hiểu, phải không thưa quý vị!

 

Với Đức Giê-su, Ngài hiểu vì sao ông cầu cứu. Thế nên, Ngài  “liền đưa tay nắm lấy ông và nói: Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi”. Ô! vậy ra chỉ vì kém tin và hoài nghi…


Và khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng ngay. Trước sự kiện vô tiền khoáng hậu này, chuyện kể tiếp rằng, những kẻ ở trong thuyền  bái lạy Người và nói: “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa”.


***


Kém tin và hoài nghi chính là nguyên nhân làm cho ông Phê-rô “đâm sợ”.  Có lẽ, ông Phê-rô quên... quên rằng, Lời Chúa, qua Thánh Vịnh  118, 5-6, có chép: “Giữa cảnh gian truân, tôi đã kêu cầu Chúa. Chúa đáp lời và giải thoát tôi. Có Chúa ở cùng tôi, tôi chẳng sợ gì”


Chưa “kêu cầu Chúa”, ông  Phêrô “bắt đầu chìm”. Và khi ông la lên “Thưa Ngài, xin cứu con với”, Đức Giê-su, liền thực hiện lời hứa “đưa tay nắm lấy ông”.


Hôm đó, quyền năng của Đức Giê-su đã được thể hiện, nhờ thế ông  Phê-rô đã cùng Đức Giê-su tay-trong-tay cùng bước “lên thuyền”.


Vâng,  đó là những gì đã xảy ra hơn hai ngàn năm xa trước đó. Còn hôm nay… hôm nay thì sao nhỉ! Thưa, Thiên Chúa, qua Đức Giê-su, Ngài cũng sẽ thực hiện cho chúng ta y như Ngài đã thực hiện cho ông Phê-rô. Chúa cũng sẽ “đưa tay nắm lấy chúng ta”, nếu chúng ta kêu-cầu-Chúa.


Mà, sống trên đời này, có ai trong chúng ta lại không hơn một lần gặp-cảnh-gian-truân, nhỉ! Gian truân bởi thiên tai. Gian truân bởi nhân tai v.v…


Chúng ta sẽ làm gì khi gặp hạn hán mất mùa! Kêu cầu Thượng Đế: “Lạy trời mưa xuống. Lấy nước tôi uống. Lấy ruộng tôi cày. Lấy đầy bát cơm. Lấy rơm đun bếp”!


Hay chúng ta lại ngạo mạn gân cổ lên nói, đại loại như: “Thằng Giời đứng sang một bên. Để cho nông hội đứng lên làm Giời!”, hoặc là: “Ấm no không đợi trời cho. Người làm ra nước, người to hơn trời!”.


Chúng ta sẽ làm gì khi đại dịch Corona virus đang hoành hành khủng khiếp, như hôm nay! Nên chăng ngước mắt lên trời cao và khẩn nguyện, nguyện rằng: “Lạy Trời ban xuống. Những điều con muốn. Dịch lệ tiêu trừ. Ngài không chần chừ. Cho con khỏi bệnh... Trời cho không thấy. Trời lấy không hay...Nếu biết lạy Trời và thờ Trời thì Trời sẽ cho và được thấy!” (nguồn internet)


Tất nhiên, câu trả lời là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, đừng quên, với kinh nghiệm sống đức tin của mình, thánh Phao-lô có lời khẳng định: “Điều gì Người đã hứa thì Người cũng có đủ quyền năng thực hiện” (Rm 4, …21).


 Mà, Đức GIÊ-SU đã hứa gì nhỉ! Thưa, Ngài đã hứa rằng: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng." (x.Mt 11,28)


Vâng, hôm nay, một thế giới của hôm nay đầy hỗn loạn và bạo lực. Hỗn loạn vì con người đang bị lôi kéo bởi những tà thuyết mị dân, bởi  một nền văn hóa hưởng thụ. Bạo lực vì con người chối bỏ Thiên Chúa. Chối bỏ Mười Điều Răn Đức Chúa Trời.


Và, những gì mà chúng ta đã và đang chứng kiến trên khắp thế giới, như: đốt nhà thờ, đập phá tượng Chúa, tượng các thánh, cũng như các cuộc cướp bóc, hãm hiếp của nhóm người da đen… bên cạnh đó là dịch bệnh ngày một lây lan, chẳng phải là những cơn-sóng-dữ đang hoành hành trên con thuyền cuộc đời của chúng ta sao! Chẳng phải đó là những nan đề mà chúng ta cần mang đến với Chúa sao!


Xưa,  Đức Giê-su đã cất tiếng bảo với ông Phê-rô rằng: “Cứ đến”, thì nay, Ngài cũng vẫn nói như thế với chúng ta, rằng “Hãy đến”.


Chỉ cần… chỉ cần một cử động của tâm hồn, một tâm hồn phó thác và cất tiếng thưa với Đức Giê-su rằng:  “Lạy Chúa, nếu quả là Chúa nói vậy… Thưa Chúa, xin cứu con với!”

Vâng, hãy ngước mắt nhìn lên thánh giá Chúa Ki-tô và thưa với Ngài rằng: “Thưa Chúa, xin cứu chúng con”.


Petrus.tran

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2020

Lời Chúa - Ai có tai thì nghe…


CHÚA NHẬT XV – TN – A

Lời Chúa -  Ai có tai thì nghe…

Trong Kinh Thánh có ghi một câu chuyện, một câu chuyện nói về việc Thiên Chúa hủy diệt Sô-đô-ma và Gô-mô-ra. Chuyện kể rằng, Thiên Chúa đã không dấu diếm ông  Áp-ra-ham về sự hủy diệt của Người.

Biết được điều này, ông Áp-ra-ham  đã đến gần và thưa với Chúa rằng: “Chẳng lẽ Ngài tiêu diệt người lành một trật với người dữ sao? Giả như trong thành đó có năm mươi người lành, chẳng lẽ Ngài tiêu diệt  họ thật sao? Chẳng lẽ Ngài không dung thứ cho thành đó, vì năm mươi người lành trong đó sao? Ngài làm như vậy, chắc không được đâu? Giết chết người lành một trật với kẻ dữ, coi người lành cũng như kẻ dữ, chắc không được đâu! Đấng xét xử  cả trần gian lại không xét xử công minh sao?”. (x.St 18, 23-25)

Không thấy Kinh Thánh cho biết dân số của hai thành ấy vào lúc đó là bao nhiêu. Nhưng, trước con số là năm mươi, Thiên Chúa đã chấp nhận.

Kinh Thánh ghi lại như sau: ĐỨC CHÚA đáp: “Nếu Ta tìm được trong thành Sô-đô-ma năm mươi người lành, thì vì họ,Ta sẽ dung thứ cho tất cả thành đó”.

Thế nhưng, thật đáng tiếc, con số năm mươi người vẫn là con số khó kiếm,  ông Ap-ra-ham đành phải năn nỉ với Chúa để giảm dần, giảm dần. Từ năm mươi người, ông xin xuống bốn lăm. Rồi từ bốn lăm ông xin xuống bốn mươi. Để ‘chắc ăn’, ông xin thêm một lần nữa, từ bốn mươi xuống còn ba mươi. Chưa vững dạ, từ ba mươi, ông xin xuống hai mươi. Và cuối cùng từ hai mươi, ông nói với Chúa rằng: “Xin Chúa đừng giận, cho con nói một lần nữa thôi, giả như tìm được mười người thì sao?”.

Thì sao nhỉ? Thưa, lòng từ bi của Thiên Chúa rất tuyệt vời. Ngài sẵn sàng vì số ít người công chính mà tha cho cả dân thành: “Vì mười người đó, Ta sẽ không phá hủy Sôđôma” Nhưng rồi… rồi dù chỉ là mười người, ông Apraham cũng tìm không ra.

Cuối cùng, Kinh Thánh kết luận: “Sau khi phán với ông Apraham, Đức Chúa đi, còn ông Apraham thì trở về nhà” (c.33). Và chuyện gì xảy ra đã xảy ra. Thành Sô-đô-ma bị hủy diệt.

Nhắc lại chuyện Sô-đô-ma để làm gì ? Thưa, để nhìn vào thế giới mà chúng ta đang sống, hôm nay.  Vâng, hãy nhìn xem, nhân loại, sau một thời gian ngắn không xảy ra cuộc đại chiến thế giới nào, bây giờ sóng gió lại nổi lên.




Gần một trăm năm trôi qua, con người đã không tận dụng thời giờ, tài năng, và tài nguyên Chúa ban để xây dựng hòa bình,  đem lại hạnh phúc cho thế giới hôm nay. Trái lại, những vị lãnh đạo quốc gia, nhất là những vị lãnh đạo độc tài, họ lại xây dựng một guồng máy cai trị hà khắc, họ đã chế tạo các loại vũ khí tối tân, tiêu diệt hàng loạt  để thống trị thế giới.  

Đã có một tên lãnh tụ độc tài tuyên bố sẽ dùng vũ khí hạt nhân để chống lại vũ khí hạt nhân. Y rất ngạo mạn và muốn đặt mình là chúa tể thế giới này.  

Ngoài vũ khí nguyên tử, những con virus, đại loại như virus corona cũng đã được xem là một hình thức tạo ra chiến tranh thế giới.

Về mặt tâm linh, ngày nay có vẻ như cả thế giới đang ngang nhiên chống lại Thiên Chúa. Nhiều quốc gia đã phạm thượng và ngạo nghễ  đốt phá nhà thờ, giật đổ thánh giá, phá hủy mười điều răn v.v...

Vâng, thế giới hôm nay là thế đó, và nếu ngày nay, Thiên Chúa tiêu diệt con người bằng một đại chiến nguyên tử, san bằng trái đất như đại hồng thủy thời Noe! Nếu Người sẽ tiêu hủy các quốc gia, các thành phố, như Người đã làm đối với Sôđôma và Gômôra, xưa kia!  

Nếu Người làm thế, có một Apraham mới, đứng ra ‘thương lượng’ với Thiên Chúa, không? Và, quan trọng hơn, liệu chúng ta có đủ “năm mươi người lành”, một con số để Thiên Chúa dừng cơn giận của Người?

Vâng, chẳng phải là năm xưa, mà ngày tại thời điểm này, năm-mươi-người-lành rất quan trọng. Và, đó là lý do mà chúng ta nên tự hỏi mình, làm thế nào để chúng ta được gọi là những ‘người lành’?

Vâng, có lẽ chúng ta sẽ bảo với nhau rằng, những ‘người lành’ của thời điểm hôm nay, chính là những người siêng năng tham dự thánh lễ, đọc kinh và cầu nguyện.

Thế còn với Đức Giê-su thì sao? Thưa, Ngài đã phán rằng  ‘‘Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa! " là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi’’.

Những người lành, theo như lời Đức Giê-su đã  truyền dạy, đó là ‘kẻ nghe Lời và hiểu’. Nghe Lời Chúa và hiểu… Vâng, lời truyền dạy này được Ngài diễn giải qua ‘dụ ngôn người gieo giống’ và được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mát-thêu.

**  
Dụ ngôn mang tên “người gieo giống” đã được thánh Mát-thêu ghi lại như sau: “Hôm ấy, Đức Giêsu từ trong nhà đi ra ngồi ở ven Biển Hồ”. Ngay lập tức : “dân chúng tụ họp bên Người rất đông”. Và không bỏ lỡ cơ hội: “Ngài dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều”.


Hôm đó, dựa vào đời sống của một nhà nông, Đức Giê-su nói chuyện liên quan đến “Người gieo giống đi ra gieo giống”.

Thưa bạn, bạn có phải là một nông dân? Nếu phải, chắc hẳn bạn sẽ ngạc nhiên về “người nông dân” đã được Đức Giê-su mô tả trong dụ ngôn này.

Theo lời kể của Đức Giê-su, anh nông dân này quá ư là phí phạm hạt giống của mình. Thì đây, chuyện kể rằng: “Trong khi người ấy gieo, thì có những hạt rơi xuống vệ đường… Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ đất không có nhiều… Có những hạt rơi vào bụi gai… Có những hạt lại rơi nhằm vào đất tốt…”.

Vâng, gieo như thế, nói theo ngôn ngữ bình dân, đó là “gieo từa lưa”, bạ đâu gieo đó, gieo như thế, không gọi là gieo phí phạm thì gọi bằng gì đây!

Thật ra, nếu nghĩ như thế, chúng ta chưa hiểu gì về ruộng đất của nước Israel. Ruộng ở Do Thái thời đó khác ruộng ở Việt Nam. 

Theo lời kể, ruộng đất ở Do Thái, điển hình là “ở phía tây ngạn của Biển Hồ. đồng bằng này có nhiều lối mòn chằng chịt, rải rác những giải đất sỏi đá, đá nằm ngay dưới mặt đất, và có cả những bụi gai. Khi người nông dân gieo giống, họ cứ thế mà gieo, có cày lên cũng không làm vỡ đất. Với loại đất như thế, những loại đất xen cả sỏi đá, gai góc v.v... thì có những hạt sẽ sinh hoa kết quả nhiều, có hạt ít, và có hạt không sinh hoa quả gì hết”.(nguồn: internet)

Với Lm Charles E.Miller, dưới cái nhìn theo chiều hướng tâm linh, ngài nói: “Một nông dân thận trọng luôn cân nhắc cặn kẽ để chỉ gieo ở những nơi bảo đảm sẽ mang lại kết quả tốt. Song người gieo giống trong bài Tin Mừng đã không tiếc các hạt giống của mình vì ông tượng trưng cho Thiên Chúa là Đấng luôn quảng đại với các ân sủng của Người”.
Thiên Chúa là Đấng quảng đại ư! Thưa, đúng vậy. Thế nhưng, trước hết chúng ta hãy nhìn xem chuyện gì đã xảy ra cho những hạt giống đã được người nông dân gieo.

Vâng, theo câu chuyện được kể, có bốn loại đất đã tiếp nhận những hạt giống. Loại đất vệ đường: “chim chóc đến ăn hết”. Loại đất toàn sỏi đá: “nó mọc ngay, vì đất không sâu, nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô”. Loại đất đầy gai góc: “gai mọc lên làm nó chết ngạt”. Và loại đất cuối cùng, đất tốt: “nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục” (x.Mt 13, 4-8).

Và đây, lòng quảng đại của Thiên Chúa đã được bày tỏ qua việc: “Thăm trái đất, Ngài tuôn mưa móc… Tưới từng luống, sang từng mô đất, khiến dầm mưa, cho hạt nảy mầm, bốn mùa Chúa đổ hồng ân, Ngài gieo mầu mỡ ngập tràn lối đi” (x.Tv 65, 10-12).

Hôm đó, Đức Giêsu kết thúc dụ ngôn bằng một lời khuyến cáo mạnh mẽ, rằng: “Ai có tai thì nghe”. (Mt 13, 8).


***
“Ai có tai thì nghe”. Phải chăng, lời khuyến cáo này cũng là lời khuyến cáo dành cho chúng ta, hôm nay ! Thưa, đúng vậy. Thế nên, hãy tự hỏi lòng mình rằng: tôi đã nghe dụ ngôn này được bao nhiêu lần? Mới lần đầu? Mười lần? Hai mươi lần? Hay năm mươi lần?

Thật ra, dù chúng ta đã nghe bao nhiêu lần đi chăng nữa, nhưng sẽ chẳng ích lợi gì, nếu chúng ta “nghe mà không nghe không hiểu”. Nghe mà không nghe không hiểu, sẽ là một thảm họa cho đời sống đức tin của chúng ta. Thảm họa đó đã được Đức Giê-su cho biết, rằng: “quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo vào lòng người ấy”.

Thật ra, qua dụ ngôn này, với những lời giải thích, quá rõ ràng  của Đức Giê-su, nếu ta nói rằng ta không hiểu, thì đó là ta làm bộ không hiểu. Ta làm bộ không hiểu, không phải vì ta không hiểu, nhưng  ta cố tình không muốn hiểu, mà thôi.

Đức Giê-su đã giải thích rất rõ ràng, rằng: “Còn kẻ được gieo nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận. Nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời”… Vâng, Ngài nói tiếp: “khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay”. Điều này rất đúng với một số người Công giáo ở miền nam Việt Nam sau biến cố 30/04/1975. Hồi đó, có một số người, dù đã là Ki-tô hữu, nhưng họ không dám kê khai vào sơ yếu lý lịch hoặc chứng minh nhân dân…
   
Xã hội chúng ta đang sống hôm nay, là một xã hội cổ súy cho một lối sống vô thần, một xã hội tôn thờ nền văn hóa sự chết. Bả vinh hoa phú quý, đại loại như: tiền bạc, danh vọng, quyền lực  v.v... Đó chính là những cạm bẫy, những cám dỗ mà không ít người Ki-tô hữu chúng ta, vấp ngã. 

Với những ai vấp ngã vì lý do này, Đức Giê-su nói, họ là  “kẻ được gieo vào bụi gai”.
Còn một loại người nữa, Đức Giê-su nói, đó là: “Kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ đã nghe Lời và hiểu”. Những người “nghe Lời và hiểu” thì sao? Thưa, nghe Lời và hiểu, Đức Giê-su gọi đó là điều thật có phúc, “còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe”.

Đúng là thật có phúc, hồng phúc đó được chính Đức Giê-su chúc phúc, rằng: “kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục”.

****   Vâng, câu chuyện đã được Đức Giêsu giải thích quá rõ ràng. Đừng nói là khó hiểu, nhưng hãy tự hỏi lòng mình rằng, mảnh-đất-tâm-hồn-của-tôi thuộc loại nào trong bốn loại đất đã được Đức Giêsu nêu trong dụ ngôn?


Mảnh đất bên vệ đường ư! Hay là mảnh đất chỉ toàn sỏi đá! Có phải là mảnh đất đầy gai góc! Hay mảnh đất tốt chính là mảnh đất tâm hồn của tôi?

Tất nhiên là không ai trong chúng ta lại mong muốn mảnh đất tâm hồn của mình thuộc ba mảnh đất “xấu” nêu trên.

Thế nhưng, chắc hẳn chúng ta sẽ băn khoăn và tự hỏi rằng: làm thế nào để mảnh đất tâm hồn mình thuộc loại “mảnh đất tốt”! Thưa, chỉ cần… chỉ cần tưới vào mảnh đất ấy một loại phân bón mang tên “Lời Chúa”.

Một sai lầm nghiêm trọng, không ít người trong chúng ta mắc phải, đó là, chúng ta cho rằng chỉ cần “tưới Lời Chúa”, một tuần một lần vào thánh lễ ngày Chúa Nhật, là đủ.
Không, như thế vẫn là chưa đủ. Hãy noi gương cộng đoàn dân Chúa ở Beroia năm xưa. Họ đã “đón nhận lời Chúa với tất cả nhiệt tâm, ngày ngày tra cứu Sách Thánh để xem có đúng như vậy không” (x.Cv 17,11).

“Ngày ngày tra cứu sách Thánh”. Vâng, tại sao lại không làm thế, nhỉ? Có ai mà không tưới cây mỗi ngày? Thế nên, chẳng có lý do gì để ta không “tưới Lời Chúa” mỗi ngày vào mảnh đất tâm hồn của ta.

“Tưới Lời Chúa” mỗi ngày vào mảnh đất tâm hồn của ta, đó chính là chúng ta đã làm cho mảnh  đất  tâm  hồn  ấy  mỗi ngày một màu mỡ hơn. Mà, một khi mảnh đất tâm hồn của chúng ta ‘màu mỡ’, có lẽ nào mảnh đất ấy không sinh nhiều hoa trái, hoa trái của “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ”!

Một khi mảnh đất tâm hồn của chúng ta sinh được những loại hoa trái nêu trên, có lẽ nào chúng ta không được công nhận là một người chồng hoặc một người vợ ‘lành’ trong gia đình!  Có lẽ nào chúng ta không được bạn bè thân hữu nhìn nhận rằng, anh ấy, chị ấy là một người bạn ‘lành’! Có lẽ nào chúng ta không được mọi người lớn tiếng nói… nói rằng “Chúa ơi, có rồi, có người lành rồi!”.

Không… không có gì phải bàn cãi về việc chúng ta phải “nghe Lời và hiểu”. Điều cần bàn, đó là chúng ta có “lắng nghe”! Hãy nhớ, Đức Gie-su đã phán truyền “Ai có tai thì nghe”.

Petrus.tran






Thứ Tư, 8 tháng 7, 2020

Chúa sẽ luôn luôn lo toan…


CHÚA NHẬT XIV – TN – A
Chúa sẽ luôn luôn lo toan…
Cuộc sống của con người là một cuộc hành trình với biết bao gian lao và thử thách. Và, dù chúng ta có là ai đi chăng nữa, những gian lao và thử thách đó vẫn như một con đỉa đói đè nặng trên cuộc sống của chúng ta.
Rồi, khi những gian lao thử thách liên lỉ xảy ra trong cuộc đời chúng ta, có phần chắc chúng ta sẽ rơi vào trạng thái mệt mỏi và chán chường. Cuối cùng, khi mệt mỏi và chán chường dâng cao, chúng ta sẽ nản chí và tuyệt vọng.
Điều này thật nguy hiểm, nguy hiểm vì nản chí và tuyệt vọng sẽ dẫn đến  những suy nghĩ  tiêu cực, và cuối cùng dẫn đến hành vi tiêu cực, đó là hành vi tự vẫn có nguy cơ xảy ra.
Là một Ki-tô hữu, chắc chắn chúng ta không có quyền tự vẫn. Vậy, chúng ta phải  làm gì khi cuộc sống của mình có quá nhiều gian lao thử thách? Thưa, HÃY ĐẾN CÙNG CHÚA GIÊ-SU.
**
Vâng, hãy đến cùng Đức Giê-su.  Bởi vì Đức Giê-su, trong những ngày ra đi rao giảng Tin Mừng,  ngoài những lời truyền dạy có tính cách bắt buộc, như lời truyền dạy: “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”, Ngài còn có những lời truyền dạy như là một lời mời gọi, một lời mời gọi hầu đem đến cho con người bớt âu lo, thêm sức mạnh, trước những gian lao thử thách giữa cuộc đời.  
Những lời mời gọi của Đức Giê-su, nếu được phép, có thể nói như là một điệp khúc của bản tình ca mang tên “lòng Chúa thương xót”.
Ta hãy nghe có thương xót không, khi Ngài mời gọi: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi…”. Đến-cùng-tôi rồi sao nữa nhỉ! Thưa: “tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng”.
Và, để minh chứng cho lòng thương xót của mình, Đức Giê-su đã có lời tuyên phán  rất chân tình, rằng:  “Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì  tôi  có lòng hiền hậu và khiêm nhường, Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi dễ chịu và gánh tôi nhẹ nhàng” (x.Mt 11, 28-30)
***  
Hãy-đến-cùng-Ta… Vâng, không chỉ là năm xưa, nhưng hôm nay, đó cũng là lời mời gọi dành cho mỗi chúng ta. Đó là một lời mời gọi của lòng thương xót, lòng thương xót cho tất cả mọi người, cho tất cả chúng ta, cho những ai đang phải đối mặt với gian lao thử thách.


Mà, hôm nay, có ai trong chúng ta lại không phải đối mặt với gian lao thử thách, nhỉ. Kìa , hãy nhìn xem thế giới hôm nay, một thế giới dù đã rất tiến bộ, dù đã rất văn minh, nhưng vẫn còn đó biết bao sự bất an và bất ổn.
Vâng, có bất an không, khi mà dịch bệnh ‘viêm phổi VUHAN’ vẫn đang hoành hành trên khắp thế giới! Có bất an không khi mà lũ lụt, động đất, hạn hán, nạn châu chấu phá hoại mùa màng v.v… vẫn là những tiềm ẩn đe dọa đời sống chúng ta!
Và, ai dám khẳng định là không có bất ổn, khi Tuần Dương Hạm, Thiết Giáp Hạm, Hàng Không Mẫu Hạm v.v… đang lượn lờ như lá thu rơi tại Biển Đông, chờ chực khai hỏa!
Tình hình như thế, ai dám nói rằng, cuộc sống của chúng ta hôm nay, không phải đối mặt với bát an và bất ổn, với gian lao và thử thách!
Còn gian lao và thử thách nào đè nặng trên cuộc sống của chúng ta nữa nhỉ! Phải chăng là một thất bại ề chề nơi thương trường! Phải chăng là sự đau khổ vì một mối tình tan vỡ! Phải chăng là nỗi buồn ‘người đi một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn tôi bỗng dại khờ’ v.v…!
Rồi khi  phải đối diện với bất công, với bạo lực, với sự tham lam và hung hãn, với thói ích kỷ, với sự kiêu căng của con người, thì sao… không  là những gian lao và thử thách ư! 
Và, còn đó là những gian lao của tương lai, một tương lai rằng: “khi ta không còn nữa, sẽ lấy được những gì, về bên kia thế giới..”.
Nói tới điều này để làm gì? Thưa, để chúng ta hãy nghĩ tới gánh nặng và thử thách của tội lỗi mà chúng ta phải đối mặt. Đừng quên, chính gánh nặng tội lỗi đã đưa chúng ta đến chỗ chết. Và, ai sẽ cất gánh nặng tội lỗi cho chúng ta, nếu không phải là ĐỨC KI-TÔ…
Hãy nghe thánh Phao-lô nói: “…nếu Đức Ki-tô ở trong anh em, thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng ban cho anh em được sống… .”
Thế nên, hãy tự hỏi mình  rằng, gian lao nào đang đè nặng trên cuộc đời tôi? Thử thách  nào đang làm mệt mỏi đôi vai tôi? Tôi sẽ làm gì để tháo bớt những gánh nặng sầu thương, những gánh nặng của tội lỗi,  trên cuộc đời mình?
Câu trả lời là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, đừng quên nhìn vào tấm gương vua David, một tấm gương mẫu mực về  lòng  phó  thác  trong tay Chúa .
Vâng, là một người đã từng mang những gánh nặng sầu thương trên con đường đời của mình. Là một người đã từng vất vưởng nặng lòng trong tội lỗi, gánh nặng trị quốc, gánh nặng gia đình, con cái phản nghịch. Nhưng, từ khi David trao cho Đức Chúa những gánh nặng sầu thương của mình, ông đã được sự nâng đỡ của Đức Chúa. Sự từng trải đó đã được ông chia sẻ rằng: “Hãy trút nhẹ gánh lo vào tay CHÚA. Người sẽ đỡ đần cho, chẳng để chính nhân phải nghiêng ngửa bao giờ” (Tv 55, 23).

Sự trải nghiệm của vua David là thế đó. Chúng ta có tin không? Nếu tin, ‘Hãy đến cùng Chúa’.  Hãy đến, thưa quý vị.  Dù Chúa không làm cho gánh nặng biến mất, không cất bỏ những vấn đề nan giải trong đời sống chúng ta, nhưng Ngài đã khẳng định rằng: “Tâm hồn anh  em sẽ được yên nghỉ”. Ngài sẽ nâng đỡ chúng ta, làm cho gánh nặng của chúng ta trở nên “êm ái và nhẹ nhàng”.
Thánh Augustino có nói: “Chúa dựng nên ta không cần có ta nhưng để cứu chuộc ta, Chúa cần sự cộng tác của ta”. Nhắc đến điều này để làm gì? Thưa, để chúng ta nhìn lại bản thân mình, và tự hỏi rằng: “sự cộng tác của ta” với Chúa hiện ở mức độ nào?
Ở mức độ: “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là chính Ðức Kitô sống trong tôi”? Hay chỉ là mức độ ‘hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh’? Vâng, nếu chỉ ở  mức độ này, thưa quý vị, nguy hiểm lắm, Chúa sẽ ‘mửa’ chúng ta ‘ra khỏi miệng Ngài’.
Không thực sự ‘cộng tác’ với Chúa, dù chúng ta có  đi nhà thờ, dù chúng ta có cầu nguyện,  chúng ta vẫn cảm thấy bất an, chúng ta vẫn không bình an, vẫn không giải quyết được nhưng nan giải trong cuộc đời mình, vẫn cảm thấy cuộc đời mình như “sinh lầm thế kỷ”.
Tại sao? Thưa, là bởi, chúng ta đến nhà thờ theo tập quán, sợ lỗi luật giữ ngày Chúa Nhật mà không chịu “học cùng Chúa”, học sự “hiền lành và khiêm nhường” của Ngài, một cái học chứng tỏ đã cộng tác Ngài một cách thực sự.
Chỉ khi chúng ta thấm nhuần những bài học Đức Giê-su đã dạy, chúng ta mới có thể nói như  Ngài đã nói, làm như Ngài đã làm, sống như Ngài đã sống. Và, khi chúng ta  nói như Ngài đã nói, làm như Ngài đã làm, sống như Ngài đã sống, đó là lúc chúng ta đã ‘cộng tác’ với Đức Giê-su một cách tuyệt đối.
Cộng tác với Ngài tuyệt đối như thế, dù cuộc sống của chúng ta có phải đối diện với gian lao thử thách cỡ nào đi nữa, hãy tin, Đức Giê-su sẽ không ngoảnh mặt làm ngơ. Trái lại, Ngài sẽ luôn luôn lo toan, cho chúng ta.
Vâng, chúng ta hãy nghe thêm một lần nữa lời dạy của Thánh Augustino: “Chúa dựng nên ta không cần có ta nhưng để cứu chuộc ta, Chúa cần sự cộng tác của ta”.
Chúa cần, cần sự cộng tác của chúng ta, vì đó là điều cần thiết để chúng ta được : “Chúa lo toan”.
Petrus.tran




Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2020

Người sống lại như lời Thánh Kinh…


Chúa Nhật Lễ Phục Sinh.

Người sống lại như lời Thánh Kinh…

Đức tin Công Giáo dạy chúng ta rằng: Đức Giê-su, “Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng ta, thời quan Phongxiô Philatô,  Người chịu khổ hình và mai táng, ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh”.
 Trong niềm tin đó, Chúa Nhật hôm nay (12/04/2020), như một truyền thống đẹp,  toàn thể Giáo Hội long trọng cử hành Thánh Lễ “MỪNG CHÚA PHỤC SINH”.

Chúa Giê-su có thật sự phục sinh không? Thưa, điều này là có thật. Và, các thánh tông đồ chính là những nhân chứng sống động về sự kiện này.

Các ngài là những người đã được chứng kiến tận mắt, được chạm tận tay, được nghe tiếng nói của chính con người thật của Đức Giê-su, sau khi Ngài sống lại. Nói tắt một lời, các ngài đã được diện đối diện với Đức Giê-su Phục Sinh.

Hai vị tông đồ Phê-rô và Gioan, có thể nói, là những người đầu tiên cảm nghiệm được niềm vui này. Chính thánh Gio-an đã kể lại cảm nghiệm đầy cảm xúc của mình khi đến ngôi mộ chôn Chúa Giê-su vào ngày thứ nhất trong tuần.

Tại nơi đây, Ông đã thấy, thấy nơi đây chỉ còn là “ngôi mộ trống” và ông đã tin Đức Giê-su Phục Sinh. Ông đã ghi lại đầy đủ chi tiết về sự kiện này, như lời ông nói:  “để anh em tin”. Câu chuyện đã được thánh Gio-an ghi lại như sau.

** Sự kiện vô tiền khoáng hậu này đã xảy ra vào “sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần”. Đối với các môn đệ xưa, đó là một ngày đầy âu lo, thấp thỏm, hy vọng…
Các ngài âu lo điều gì vậy? Thưa, vì có tin rằng: các vị thượng tế và kỳ mục đã cho nhóm lính canh mộ một số tiền lớn và bảo họ tung tin rằng: “Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm xác.” (Mt 28, 13).

Tin đồn đó, có khác nào sợi dây thòng lọng chờ chực xiết vào cổ các môn đệ bất cứ lúc nào. Thêm đó, ngoài kia những đôi mắt cú vọ của người Do Thái vẫn đang rình rập quanh nơi các ông ở.

Còn thấp thỏm và hy vọng ư! Vâng, tính từ hôm thứ-sáu-buồn, ngày Đức Giêsu thọ nạn, cho đến hôm nay là ba ngày  rồi, chẳng biết lời Thầy đã phán hứa: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại”, đến lúc nào sẽ ứng nghiệm!  

Và, khi Phê-rô và Gio-an đang mang trong lòng nỗi ưu tư ấy, thì bỗng nhiên hai ông nghe rõ tiếng chân chạy cùng tiếng lao xao mỗi lúc một gần.  Một người phụ nữ xuất hiện. Với khuôn mặt đầy sự căng thẳng, bà ta lắp ba lắp bắp nói với Simon Phêrô: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.” (x.Ga 20,1-2).

Người phụ nữ này chính là bà Maria Mác-đa-la. Bà ta là người đã được Đức Giê-su trừ quỷ và chữa bệnh. Hôm thứ sáu, ngày Đức Giê-su bị bắt, bà ta có theo chân Người suốt con đường từ dinh Philato đến tận đỉnh đồi Golgotha. Chính mắt bà chứng kiến cảnh khổ nạn và cái chết của Ngài.

Hôm ấy, ông Giosep, người Arimathe, được tổng trấn Phi-la-tô cho phép nhận thi hài Đức Giê-su để chôn.Và sau khi mọi nghi thức tẩm liệm xong, ông Giosep  “lăn tảng đá to lấp cửa mồ rồi ra về. Bà Maria Mác-da-la và một bà khác cũng tên là Maria ở lại đó và quay mặt vào mồ” (x. Mt 27, 60-61).

Thế mà hôm nay, sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, khi đến mộ, bà Maria Mác-đa-la thấy “tảng đá đã lăn khỏi mộ”. Thế có lạ không kia chứ!

Nghe qua lời kể của Maria Mác-đa-la, không một phút chần chờ: “ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy”. Vâng, cả hai người cùng chạy, chạy không khác gì những vận động viên chạy nước rút.  

Và, cuối cùng thì “người môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới trước”. Khi tới nơi, người môn đệ kia “cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào” (x.Ga 20, 5)

Còn ông Phê-rô thì sao! Thưa, ông Simon Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Đến nơi, “ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải còn ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi”.

Kỳ lạ thật! mọi sự hoàn toàn khác hẳn hôm tẩm liệm Đức Giê-su. Xác Thầy Giê-su đâu, các ông không thấy. Và ngôi mộ… chỉ là “ngôi mộ trống”.

Ai đã tạo ra sự kiện khác thường này! Thưa, không thấy thánh Gio-an giải thích, nhưng khi tận mắt chứng kiến những gì đã xảy ra nơi chôn cất Thầy Giê-su, ông Gio-an cho biết, rằng “ông đã tin”.  Vâng, hôm ấy, theo lời trần tình của tông đồ Gio-an,  thì:  “trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: Theo Kinh Thánh Đức Giê-su phải trổi dậy từ cõi chết”. Sau đó, chuyện kể rằng: “Các môn đệ lại trở về nhà”.

*** Chúa Giê-su Ki-tô, Ngài đã trỗi dậy từ cõi chết – Alleluia.  Vâng, chúng ta được nghe những nhà hộ giáo nói rằng, “tảng đá đã lăn khỏi mộ” và “ngôi mộ trống” chính là dấu chỉ sự Phục Sinh của Đức Giê-su.  


Thế còn hôm nay, đâu là “dấu chỉ” để nói lên chân lý ngàn đời này!  Thưa, là lịch sử hơn hai ngàn năm Ki-tô giáo.  Là niềm tin của các tông đồ, một niềm tin không lay chuyển, một niềm tin dám “thí mạng sống” của mình về điều mình đã tin rằng: “Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại” (Cv 10, 39-41).

Là sự phát triển của Giáo Hội, một sự phát triển không dựa vào sức mạnh của họng súng, của búa liềm, của giáo mác v.v…

Đó… đó chính là những “dấu chỉ” để chúng ta tiếp tục tin rằng: Đức Giê-su đã Phục Sinh.

Tiếp đến, niềm tin và sự bình an của các môn đệ xưa, với ơn Chúa Thánh Thần, vẫn tiếp tục được đổ tràn trên toàn Giáo Hội nói chung, và cách riêng với mỗi chúng ta, cũng chính là “dấu chỉ một Giê-su Phục Sinh”, Ngài vẫn cùng đồng hành với mỗi người chúng ta, như xưa Ngài đã đồng hành với hai môn đệ trên làng Em-mau.  

Và, sự tồn tại của Giáo Hội, hơn hai ngàn năm qua, trong khi có biết bao đế quốc sụp đổ, biết bao quốc gia bị xóa sổ trên bản đồ thế giới, cũng chính là “dấu chỉ một Giê-su Phục Sinh”, Ngài vẫn “ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế”.

***  Xưa, nhìn vào ngôi mộ trống, tông đồ Gio-an đã tin. Nay, nhìn vào những “dấu chỉ” nêu trên, chúng ta cũng sẽ như ngài Gio-an mà mà lớn tiếng nói: chúng tôi đã thấy và đã tin?

Câu trả lời là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, đừng quên rằng, tại Bê-ta-ni-a hôm Đức Giê-su cho “anh La-da-rô sống lại”, dù lúc đó Ngài chưa “trổi dậy từ cõi chết”, nhưng cô Mác-ta vẫn tin, tin vào lời tuyên phán của Đức Giê-su rằng: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống…CHỊ CÓ TIN THẾ KHÔNG?”.  Hôm ấy, sau lời tuyên phán của Đức Giê-su, cô Mác-ta đã thưa rằng: “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy…”

Nhắc lại câu chuyện “anh La-da-rô sống lại” để làm gì? Thưa, là để chúng ta xác tín lại niềm tin của mình, niềm tin vào lời tuyên phán của Đức Giê-su: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống… Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết”.

Nhắc lại câu chuyện “anh La-da-rô sống lại” để làm gì? Thưa, để chúng ta xác tín lại niềm tin của mình, tin rằng: dù xác anh La-da-rô đã “nặng mùi rồi… ở trong mồ đã được  bốn ngày”, nhưng Đức Giê-su, với chỉ một lời phán “Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ! Người chết liền ra”.

Cuồi cùng, nhắc lại câu chuyện này còn để chúng ta không còn âu lo, không còn thấp thỏm, âu lo và thấp thỏm trước con virus corona, một con virus quỷ quái đang giết chết biết bao nhiêu mạng sống con người trên khắp thế giới, hôm nay.

Vâng, chúng ta đừng lo âu và thấp thỏm nữa. Bởi vì, như xưa, Đức Giê-su đã nói với các môn đệ như thế nào, thì hôm nay Ngài cũng đang nói với chúng ta như thế, rằng: “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng lả dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn (dịch) này, Con Thiên Chúa được tôn vinh”

Chúng ta có tin thế không? Hay, chúng ta lại đang đặt niềm tin vào thế gian,  vào những tổ chức của thế gian, những tổ chức chỉ đưa ra những lời gian dối, những việc làm dối trá, lươn lẹo, lưu manh v.v… đại loại như WHO, một tổ chức đang bị nhiều... rất nhiều quốc gia trên thế giới, lên án?


 Còn chúng ta, chúng ta có lên án không? Chắc chắn là không rồi, phải không, thưa quý vị!  Không lên án, không có nghĩa là chúng ta tán thành những việc làm gian dối, những lời nói dối trá. Không lên án, bởi vì chúng ta là  Ki-tô hữu, quyền phán xét, dành cho Thiên Chúa. Thiên Chúa sẽ bắt những kẻ gian dối đó, phải “trả hết đồng xu cuối cùng”.

Chúng ta hãy làm như thế. Bởi vì, làm như thế chúng ta sẽ để lại thế giới này thêm một “dấu chỉ”, một dấu chỉ về một Giê-su Phục Sinh, một Giê-su Phục Sinh không luận tội, không luận phạt, nhưng là một Giê-su Phục Sinh, khi bị treo trên thập giá, đã cất tiếng nguyện rằng: “Lạy Cha! Xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”.

Cuối cùng, chúng ta làm như thể là để chứng minh cho thế giới biết rằng , người Ki-tô hữu chính là cánh tay nối dài của Đức Giê-su Phục Sinh, một Giê-su đến thế gian là để ban “Bình An” cho thế gian, như Ngài đã từng phán rằng: “Thầy ban bình an cho anh em”.  

Đức Giê-su Phục Sinh đã ban bình an cho chúng ta. Thế nên, chúng ta phải là “khí cụ bình an” của Ngài. Để làm gì? Thưa, để “đem yêu thương vào nơi oán thù… đem thứ tha vào nơi lăng nhục… đem an hòa vào nơi tranh chấp”.

Bởi, chỉ có như thế, chúng ta mới được đứng chung hàng ngũ hậu duệ của tông đồ Gio-an,  một Gio-an “đã thấy và đã tin”, tin rằng, “theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết”.

Vâng, chỉ có như thế, chúng ta mới không ngượng miệng khi lớn tiếng tuyên xưng, rằng:  Đức Giê-su: “Người sống lại như lời Thánh Kinh”.

Petrus.tran








Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...