Thứ Tư, 14 tháng 10, 2020

Hãy thỏa lòng với những gì Chúa ban.

 

Chúa Nhật XXV – TN – A


Hãy thỏa lòng với những gì Chúa ban.


Sách Châm Ngôn có lời dạy rằng: “Trái tim lành mạnh là sức sống của thân thể, nhưng lòng ghen tỵ là ung thư ăn mục tới xương” (Cn 14, 30)


Ghen tỵ là gì mà lại được ví như căn bệnh ung thư! Thưa, theo từ điển tiếng Việt phổ thông định nghĩa, thì, ghen tỵ nghĩa là “So tính hơn thiệt giữa mình với người, và khó chịu khi thấy người ta hơn mình”. Và, một khi lòng ghen tỵ nổi lên thì kinh khủng lắm lắm...


Người xưa có chuyện kể rằng: “Có hai chủ cửa hàng là đối thủ cạnh tranh của nhau. Hàng ngày, người chủ này theo dõi công việc kinh doanh của người chủ kia. Nếu người chủ này có khách hàng, lập tức ông ta sẽ cười khoái chí trước sự không may của người chủ kia.


Một đêm nọ, trong một giấc mơ, người chủ này thấy một vị thần hiện ra và nói: ‘Ta sẽ cho ngươi bất cứ điều gì ngươi cầu xin, nhưng bất cứ điều gì ngươi nhận được thì đối thủ của người sẽ nhận gấp đôi. Điều ước của ngươi là gì?’ Người chủ này cau mày rồi nói: ‘Hãy cho tôi mù một mắt’...” (nguồn: internet)


Vâng, chỉ là một câu chuyện giả tưởng. Thế nhưng, đừng nghĩ rằng trong thực tế của cuộc sống, chuyện như thế này sẽ không bao giờ xảy ra. Nó đã xảy ra, và xảy ra còn kinh khủng hơn thế nữa.


Kinh Thánh có lời chép rằng: “Sự ghen tỵ gây điều cãi vã”. Và, Đức Giê-su, trong những ngày còn tại thế, Ngài cũng đã không tiếc lời lên án thói ghen tỵ. Một trong những thông điệp, có thể được xem là thông điệp lên án thói xấu này mạnh mẽ nhất được Ngài đưa ra, đó chính là dụ ngôn “thợ làm vườn nho”.

 

**

Câu chuyện ngụ ngôn được kể rằng: “Có một gia chủ kia vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình”.


Về tiền công thợ, vâng, gia chủ kia “đã thỏa thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền”. Và ông hứa rằng sẽ trả tiền thuê “hợp lẽ công bằng”.


Còn việc mướn thợ ư! Rất thoải mái. Có người được ông thuê từ sáng sớm. Có người được thuê vào “khoảng giờ thứ ba”. Có người được thuê “khoảng giờ thứ sáu (và) giờ thứ chín”. Lại có người được thuê “khoảng giờ mười một”. Chính cách thuê mướn kiểu này, nó đã làm cho câu chuyện thêm phần ly kỳ.


Vâng, thật ly kỳ khi chiều đến, khi mà đã hết giờ làm việc… ông chủ sai người quản lý “gọi thợ lại mà trả tiền công cho họ”.


Cứ tưởng rằng,  đây chính là lúc những người được thuê mừng vui nở những nụ cười. Trái lại, cười đâu không thấy, lại thấy một số người thợ “cằn nhằn gia chủ”.


Cằn nhằn chuyện gì thế! Thưa, vì cách thức chi trả tiền công của gia chủ. Ông chủ chi trả thế nào mà họ cằn nhằn? Thưa, hôm ấy, ông chi trả cho  những người mới vào làm lúc giờ mười một, “ngang bằng” những người vào làm trước nhất, nghĩa là ai ai cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền.


Đó… đó chính là lý do một số người thợ ghen tỵ. Và họ đã cằn nhằn gia chủ rằng, “mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt” (x.Mt 20, 12).


Cứ tưởng rằng, sau khi nghe lời ta thán của họ, ông chủ sẽ tăng thêm tiền công. Thế nhưng, đó là lời ta thán phi lý, vì thế ông chủ đã nói với họ rằng, “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi là một quan tiền hay sao?”


Thật đúng như người xưa đã nói: “Ghen ăn tức ở muôn đời khổ”. Vâng, hôm ấy, tuy thánh sử Mát-thêu không nói gì, nhưng chúng ta có thể tin rằng, nhóm thợ cằn nhằn ông chủ sẽ rất “khổ”, khổ vì lời cằn nhằn của mình trở thành công cốc.


Còn cách hành xử ông chủ thì sao, nhỉ! Thưa, chẳng có gì phi lý. Hôm ấy, ông ta đã có lời rằng: “Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của tôi sao!”.

Kết thúc dụ ngôn, Đức Giê-su phán rằng, “Những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót”. Tại sao Đức Giê-su lại phán như thế! 

Thưa, là bởi, Ngài muốn gửi đến các môn đệ xưa, và hôm nay là cho chúng ta một thông điệp, thông điệp rằng: “GHEN TỴ” không có chỗ đứng trong “Vườn Nho Nước Trời”.

*** 

Ghen tỵ không được hoan nghênh ở Nước Trời. Thế nên, hãy luôn tự hỏi mình rằng: “Tôi có thường ghen tỵ… tôi có thường ghen tức?”. Nếu tôi có, nếu chúng ta có… hãy coi chừng, vì thánh Phao-lô đã cảnh báo rằng: “Bao lâu giữa anh em có sự ghen tương và cãi cọ, thì anh em chẳng phải là những con người sống theo tính xác thịt và theo thói người phàm sao?” (x.Cor 3, 3)

Lm. Gioan Vianney, trong một bài giảng, có lời chia sẻ rằng, ghen tỵ dẫn đến việc “nói xấu, vu khống, xảo quyệt, lập đi lập lại những gì mình biết. Còn những gì không biết, thì bịa đặt ra, hay thổi phồng lên…”

Chưa hết, sự ghen tỵ còn gây ra nhiều hậu quả vô lường. Nó có thể gây ra sự thù ghét, bất công và giết người. Kinh Thánh đã ghi lại rất nhiều câu chuyện bi thương do bởi sự ghen tỵ mà ra.

Đầu tiên là câu chuyện Cain và Abel. Chuyện kể rằng: một hôm “Cain lấy hoa màu của đất đai làm lễ vật dâng lên ĐỨC CHÚA. Abel cũng dâng những con đầu lòng của bầy chiên cùng với mỡ của chúng. ĐỨC CHÚA đoái nhìn đến Abel và lễ vật của ông, nhưng Cain và lễ vật của ông thì Người không đoái nhìn”.

Chỉ có thế thôi. Thay vì Cain nhận ra tình trạng vì sao lại nên nỗi này, thì ông ta lại để cho sự ghen tỵ nảy nở trong tâm hồn mình, cuối cùng vì không chế ngự được nỗi ghen tỵ, ông ta đã giết em mình.

Câu chuyện tiếp theo thê thảm không kém. Đó là câu chuyện những người con của Gia-cóp. Mười người anh của Giu-se nổi cơn “ghen tỵ” chỉ vì chàng ta được cha mình thương yêu cách đặc biệt. Những người anh này càng căm ghét hơn khi chàng Giu-se kể một giấc mơ mang đầy ý nghĩa xấu về họ. Lòng ghen tỵ và sự căm ghét khiến họ muốn giết chàng Giu-se. Để rồi, cuối cùng, những người anh em này bán chàng ta cho người Ít-ma-nê. (x.St 37, 27-28)

Làm cách nào để chúng ta không bị sự ghen tỵ ngự trị trong tâm hồn mình? Thưa, thánh Phê-rô cho chúng ta lời khuyên, khuyên rằng: thứ nhất “vâng phục sự thật”,  thứ hai “thanh luyện tâm hồn để thực thi tình huynh đệ chân thành” và cuối cùng là “hãy tha thiết yếu mến nhau với cả tâm hồn”(x.1Phi 1, 22)

Phương cách nào giúp ta giải thoát thói xấu này? Thưa, thánh Phao-lô chỉ giáo: “Người có tình yêu thương thì không ghen tỵ, không khoe khoang, không tự cao, không cư xử khiếm nhã, không tìm lợi riêng”.

Cuối cùng hãy “vui với người đang vui”. Tại sao? Thưa, là bởi, vui với người thành công hơn ta, vui với người may mắn hơn ta, trong tâm hồn ta còn chỗ nào cho sự ghen tỵ ngự trị!

 

****

Là một Ki-tô hữu,  một cách nào đó, chúng ta chính là những người được gọi “vào làm việc trong vườn nho Giáo Hội ”. Dù ta là kẻ vào làm “khoảng giờ thứ ba” hay “khoảng giờ thứ sáu” hoặc “giờ thứ chin… thứ mười một”, thì, chúng ta đều “thuộc về ông chủ Vườn Nho là Đức Ki-tô Giê-su”.

Đừng bao giờ để chúng ta trở thành nhóm thợ “cằn nhằn gia chủ”. Vâng, khó đấy. Khó, nhưng chúng ta không thể không tìm cách tách khỏi đám thợ cằn nhằn này. Cách nào đây? Thưa, hãy mặc lấy tâm tình của thánh Phao-lô, tâm tình rằng; “Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô…”.

 Vâng, một khi chúng ta sống có Đức Ki-tô… có sự nhân từ và lòng quảng đại của Ngài trong tôi… thì, làm sao trong tôi bùng lên sự ghen tỵ, cho được!

Sống có Đức Ki-tô… làm sao trong ta lại có thề “cằn nhằn… càu nhàu” ông chủ Thiên Chúa của chúng ta, như những người thợ làm vườn nho xưa, cho được!

Và, cuối cùng, hãy luôn ghi khắc trong con tim mình, rằng: Thiên Chúa thật tốt lành. Ngài đã chu cấp mọi điều chúng ta cần. Hãy thỏa lòng với mọi điều mình có, và hãy biết rằng ngoài Thiên Chúa, chúng ta sẽ không thể có được một sự sống tốt đẹp như hôm nay.

Có được một tâm tình như thế, lẽ nào chúng ta không trục xuất được sự ghen tỵ ra khỏi tâm hồn mình!

Nói tắt một lời: Hãy thỏa lòng với những gì Thiên Chúa ban.

Petrus.tran

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phải biết tha thứ cho nhau.

 

CHÚA NHẬT XXIV – TN – A


Phải biết tha thứ cho nhau.


Thất tình lục dục là gì? Thưa, đó là:  bảy trạng thái tình cảm và sáu điều ham muốn.


Với thất tình, đó là bảy trạng thái tình cảm mà mỗi chúng ta đều có như: vui mừng, giận dữ, buồn bã, vui vẻ, yêu thương, ghét và ham muốn hay nói cách khác, đó là: hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố và dục.


Còn với lục dục, đó là: sắc dục, thính dục, hương dục, vị dục, xúc dục và pháp dục. Đây là sáu điều ham muốn, nếu để nó trở thành thói quen thì khó mà từ bỏ.


Trở lại với thất tình, thật khó để phủ nhận rằng, “giận” là thứ  gây ra nhiều hậu quả tai hại nhất. Chỉ là một sự vô tình va chạm nhẹ khi lưu thông trên đường phố, ấy thế mà nó đã làm cho không ít người nổi cơn giận dữ, rồi vì không thể chế ngự cơn giận dữ đó, có người đã gây ra án mạng chết người.


 Thực tế  mà chúng ta được biết, những vụ bắn phá, giết người gần đây trên đường phố ở Minneapolis thuộc tiểu bang Minnesota, nguyên nhân chính cũng là do lòng “tức giận”.


Người ta kể rằng,  ở Hoa kỳ, có một người đàn ông chỉ vì quá tức giận chính phủ đã gây khó khăn trong công việc đầu tư thuế má của mình, làm anh bị thua lỗ mất mát nhiều tiền và rồi vì nuôi dưỡng sự căm hận lâu ngày, cho đến khi không còn kiềm chế được,  anh ta đã  lái chính chiếc máy bay của mình, tự sát bằng cách đâm vào một toà nhà của cơ quan khai thuế thuộc thành phố Austin , thủ phủ của tiểu bang Texas.


Đó là chuyện ngoài xã hội. Còn chuyện nơi gia đình thì sao, nhỉ! Vâng, sẽ rất là nguy hiểm nếu người vợ hay người chồng cứ để cho lòng tức giận âm ỉ trong tâm hồn mình. 


Hạnh phúc trong nhiều gia đình bị đổ vỡ hoặc chia rẽ cũng do bởi bức tường giận dữ được xây dựng qua nhiều năm chung sống, để rồi một ngày nào đó nó trở nên trái đắng, một trái đắng khó nuốt. 


Nói về sự giận dữ, chúng ta có thể ví nó như một căn bệnh ung thư, một thứ ung thư âm thầm hủy hoại cuộc đời của bất cứ ai nuôi dưỡng nó.  Nói mà không sợ sai, phần lớn hạnh phúc của con người sẽ được duy trì một cách tốt đẹp, nếu sự giận dữ  của mỗi con người luôn được kiềm chế.


Thật ra, giận dữ không có gì sai trái, miễn sao “đang cơn giận, chớ phạm tội”. Rất khó… rất khó thực hiện, phải không thưa quý vị! Tuy nhiên, sự việc sẽ trở nên dễ dàng, nếu chúng ta, noi theo lời thánh Phao-lô truyền dạy, đó là: “phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau” (x.Ep 4, 32).

 

 

Mà, có lý do gì chúng ta không thể tha thứ cho nhau, nhỉ! Vì, đó chính là “nhân đức”, một nhân đức không thể thiếu trong đời sống đức tin của người Ki-tô hữu.


Đức Giê-su, trong những ngày còn tại thế, khi nói đến nhân đức này,  Ngài đã có những lời truyền dạy rất quyết liệt, một sự quyết liệt mà bất cứ ai theo Ngài, đều phải thực thi.


**

Đức Giê-su đã nói gì về sự tha thứ? Thưa, rất rõ ràng. Chuyện được ghi lại như sau: Một hôm, khi Đức Giê-su và các môn đệ quây quần bên nhau, bất chợt tông đồ Phê-rô đến gần Ngài và hỏi: “Thưa Thầy, nếu anh em con xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?”

.

Ông… ông Phê-rô đã đưa ra  con số bảy. Và, chắc hẳn không ít người trong chúng ta cho rằng, đó là một con số quá nhiều. 


Quá nhiều, bởi, nếu lời đề nghị của ông Phê-rô, đem so sánh với nhân sinh quan của người Việt Nam, thì bảy lần của ông Phê-rô, có thể nói là tuyệt vời. Người Việt Nam ta, giỏi lắm cũng chỉ “quá tam ba bận”, mà thôi. Còn nói tới luật Do Thái ư! Bốn lần là quá sức chịu đựng rồi.


Nay, ông Phê-rô gợi ý bảy lần, ôi ngài Phê-rô ơi! ngài quả là một con người “giàu lòng lân tuất”. Một con người giàu lòng lân tuất như thế, ấy thế mà cứ tưởng rằng Thầy Giê-su sẽ cho một lời khen. Trái lại, Đức Giê-su không khen, nhưng đã đưa ra một lời truyền dạy: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy”.


***

Vâng, “đến bảy mươi lần bảy”, thánh Phê-rô cùng với các bạn đồng môn của ông, đã nghe rõ mồn một như thế.  

Bảy mươi lần bảy nghĩa là bao nhiêu? Phải chăng là bảy mươi nhân bảy bằng bốn trăm chín mươi lần? Vâng, không thấy thánh sử Mát-thêu giải thích. Nhưng, theo cách nói của Thánh Kinh thì, bảy mươi lần bảy có nghĩa là  “forever”, là mãi mãi… mãi mãi… mãi mãi cho tới chết.


Phải  là mãi mãi. Bởi có như thế, mới có thể cho mọi người biết, rằng: “Lòng lân tuất của Đức Chúa cao cả dường bao, ơn tha thứ dành cho kẻ trở lại với Người lớn lao biết mấy” (x.Hc 17, 29).


Phải là mãi mãi. Vì có như thế, lời Đức Giê-su truyền dạy “hãy yêu kẻ thù”, và  “hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em”, mới có thể là một lời truyền dạy khả thi.

 

 

 

 

****

“Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy”. Vâng, nghe rất dễ, nhưng  để thực hiện lại là một nan đề. Vậy, làm sao để có thể thực thi mệnh lệnh này? Thưa, hãy nhìn lên Thập Tự Giá nơi Đức Ki-tô đã chết đau đớn, đổ máu, để cứu chúng ta ra khỏi "bùn lầy" của tội lỗi và ban cho con người "quyền trở nên con Thiên Chúa" (x.Ga 1, 12). 


Trên thập tự giá, Đức Giê-su đã làm gì nhỉ ! Thưa, đó là  một tấm lòng đầy bao dung, Ngài cất tiếng cầu nguyện, nguyện rằng: ‘Lạy Cha xin tha cho họ’. Chưa hết, Ngài  còn ‘bào chữa’ cho những kẻ đóng đinh Người, rằng :  ‘vì họ không biết việc họ làm’.


Người đời thường cho rằng, tuổi trẻ là tuổi bồng bột, nóng nảy, khó mà có thể thực hiện lòng bao dung và sự tha thứ. Với những ai có suy nghĩ như thế, hãy nhìn tấm gương chàng trai trẻ David.


Chuyện kể rằng: Vua Sa-un căm ghét David, một thuộc hạ của mình, chỉ vì một câu hát đón mừng sự thắng trận của David: “Vua Sa-un hạ được hàng ngàn, ông Da-vid hàng vạn”.


Chính vì câu hát này, vua Sa-un giận lắm. Kể từ ngày ấy, Saun thường ngó Davvid với đôi mắt ghen tỵ. Sa-un tìm cách giết Da-vid. Đã hai lần David thoát chết. Ấy thế mà, David không trả thù, dù đã có lần vua Sa-un nằm trong tầm ngắm của ông ta. (x.1Sm 24, 1-8)


Tại sao David tha thứ? Thưa, nhờ ơn soi sáng, David đã nhận ra vua Sa-un chính là “đấng ĐỨC CHÚA đã xức dầu tấn phong”. Vì Chúa, ông ta đã tha thứ.


Vâng, vì Chúa, chúng ta cũng phải tha thứ cho nhau. Bởi vì, thật xấu hổ khi chúng ta cất tiếng nguyện xin Chúa “tha nợ chúng con”, nhưng sau đó, chúng ta lại không “tha kẻ có nợ chúng con”.


Không tha-kẻ-có-nợ-chúng-con, chúng ta đã hành xử bất nhân, giống như “kẻ mắc nợ” trong dụ ngôn “tên mắc nợ không biết thương xót” (x.Mt 18, 23-35)


Dụ ngôn được kể rằng: Người thứ nhất nợ người chủ (nhà vua) đến mười ngàn yến vàng.  Nhưng y không có gì để trả và đã nài xin chủ “rộng lòng hoãn lại cho tôi”. Với một tấm lòng thương xót, người chủ  “cho y về và tha luôn món nợ”.

Nhưng khi anh này đi về, thấy một người bạn của mình chỉ nợ mình có một trăm quan tiền. Chuyện kể tiếp rằng: “Y liền túm lấy, bóp cổ mà bảo : trả nợ cho tao!”.


Bóp cổ… Ghê thật, phải không, thưa quý vị!  Vâng, thật ghê tởm, khi “người đồng bạn sấp mình xuống năn nỉ… xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh”, thế mà y không chịu. Và, y đã tống giam anh ta vào ngục cho đến khi trả xong nợ…

 

Người chủ nghe được chuyện bất công này, cho đòi y đến và bảo: ‘Tên đầy tớ ác độc kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao ?’.


Vâng,  sách Huấn Ca có lời dạy rằng : “…bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác, thì khi bạn cầu khẩn, tội lỗi bạn sẽ được tha”. Tên đầy tớ gian ác này, đã không bỏ qua món nợ nhỏ bé mà người bạn của mình mắc nợ, thế nên, y đã không được tha. 


Và, kết quả đã rõ, đó là : ‘tôn chủ nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông’.


***** 

Qua dụ ngôn này, cùng với lời truyền dạy của sách Huấn Ca (nêu trên), không có lý do gì chúng ta được miễn trừ thực thi lòng thương xót và sự tha thứ đối với tha nhân. Tại sao ? Thưa, là bởi, chúng ta chỉ là những con nợ  trước mặt Thiên Chúa.  Chúng ta chỉ là những tội nhân xấu xa "đáng chết;" nhưng đã nhận lãnh được sự thứ tha, vô điều kiện, khi chúng ta ăn năn hối cải và đến tiếp nhận Cứu Chúa Giê-su.


Đó… đó là điều thánh Phao-lô đã thấu hiểu, thấu hiểu sau cú ngã ngựa tại Damas, và rồi ngài đã nói lên sự trải nghiệm của mình, rằng: “(Vì) Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em cũng phải tha thứ cho nhau” (x.Cl 3, 13).  Vâng, vì Chúa, chúng ta cũng phải tha thứ cho nhau.


Tưởng chúng ta cũng nên biết, người Hoa Kỳ có câu nói: "We like beast when we kill, we like men when we judge; but we like God when we forgive".Vâng, tạm dịch là:  "Chúng ta giống thú vật khi giết hại, giống người khi xét đoán; nhưng giống Thiên Chúa khi chúng ta tha thứ cho nhau".


Mà, chúng ta giống ai nhỉ! Thưa, như lời sách Sáng Thế Ký có ghi: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình. Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa”. Chúng ta được sáng tạo theo-hình-ảnh-Thiên-Chúa, chẳng phải là, giống-Thiên-Chúa sao! Thế nên, chúng ta: “phải biết tha thứ cho nhau”.


Petrus.tran

 

 

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2020

Một Ki-tô hữu: phải thuộc về Đấng Ki-tô.

 

Chúa Nhật XXI – TN – A


Một Ki-tô hữu: phải thuộc về Đấng Ki-tô.


Cứ sự thường, đặt niềm tin vào một người nào đó, ta phải biết người đó là ai. Cũng vậy, theo một tôn giáo nào, ta phải biết tôn giáo đó đem lại cho ta điều gì. Khi ta đặt niềm tin vào Chúa, ta phải biết… phải biết Chúa là Đấng như thế nào. Tin vào Đức Giê-su, phải biết Ngài là ai.


Đức Giê-su, trong những ngày còn tại thế, chính Ngài cũng đã chất vấn các môn đệ của mình về điều này: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” . Cuộc chất vấn này, đã được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mát-thêu.

**

Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại, thì, sự việc xảy ra hôm Đức Giê-su và các môn đệ “đến vùng kế cận thành Xêdarê Philipphe”. Tưởng chúng ta cũng nên biết, Xêdarê Philipphe thuộc vùng cực bắc xứ Palestin. Lãnh địa này không thuộc quyền của tiểu vương Hê-rô-đê, nhưng do em của ông là Phi-lip cai trị. Chính Phi-lip là người xây dựng thành Xê-da-rê. Và để phân biệt với thành Xê-da-rê miền duyên hải, nên thành này được gọi là Xêdarê Philipphe.


Hôm ấy, tại nơi đây, Đức Giê-su đã hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói Con Người là ai?”


“Con Người” là ai ư! Trong ba năm theo Thầy Giê-su, có lẽ chưa có lúc nào bầu không khí trong nhóm các môn đệ lại sôi nổi như lúc này. Rất sôi nổi, bởi qua câu hỏi này, các ông có dịp để nói lên rất nhiều lời đồn đãi, những lời đồn đãi mà các ông đã nghe được từ bàn dân thiên hạ, về Thầy của mình.


Hôm ấy, các ông đã thưa với Đức Giê-su, rằng: “Kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Êlia, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ”. (x.Mt 16, 14).


Những lời đồn đãi này, đúng hay sai, không thấy Đức Giê-su xác định. Thay vào đó, Ngài dùng lại câu hỏi này, để hỏi các ông, hỏi như để thẩm định nhận thức của chính các ông, nhận thức về Ngài, sau những ngày tháng các ông đã tin và đi theo Ngài.  Câu hỏi rằng: “Còn anh em,  anh em bảo Thầy là ai?”


Thầy là ai! Vâng, câu hỏi được Đức Giê-su đặt ra cho mười hai vị môn đệ, và Si-mon Phêrô, một Si-mon Phêrô như là phát ngôn nhân thay cho nhóm mười hai, đã thưa với Đức Giêsu rằng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

 

 

***

Do bởi đâu mà ông Simon Phê-rô có được câu trả lời như thế! Vâng, Đức Giê-su đã có câu trả lời cho chúng ta. Hôm ấy, Ngài đã nói với ông Phê-rô rằng: “Này anh Simon con

ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời”. 


Cha của Thầy - Đấng ngự trên trời… Vâng, nghe lời tuyên phán này, chắc hẳn nhóm Mười Hai các ông, ai nấy đều phải kinh ngạc. Ô hay ! Cha của Thầy Giê-su là ông Giu-se, ở làng Nadaret, kia mà ! Sao hôm nay, Cha  của Thầy lại  “ở trên trời”!


Còn Lm. Charles E .Miller, khi nghe lời tuyên phán của Đức Giê-su, ngài Lm. có lời chia sẻ, rằng: “Đức Giê-su đã đặt một nền móng cho một chân lý cao diệu: Thiên Chúa là Cha Người, và Người thật sự là Con Thiên Chúa, không theo nghĩa mơ hồ và giống như vậy, mà theo một ý nghĩa vượt qua mọi hiểu biết của con người”.


Lời chia sẻ của ngài Charles E .Miller rất đúng. Suốt chiều dài lịch sử cứu độ, có không ít điều Thiên Chúa đã thực hiện vượt qua mọi hiểu biết của con người. Sự kiện dân Do Thái vượt qua biển đỏ không suy xuyển một người nào.Trái lại, hùng quân Ai Cập do rượt theo dân Do Thái đi vào biển đỏ đã chết không kịp lui binh, như một điển hình.


Còn hôm nay, hôm nay Đức  Giê-su cũng đã làm một việc vượt qua sự hiểu biết của ông Simon Phê-rô. Chuyện là, đáp lại sự bày tỏ niềm tin của ông, Đức Giê-su đã tuyên phán rằng:  “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời, dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.”


****

Vâng, Đức Giê-su đã xây dựng Hội-Thánh-của-Ngài,  lịch sử Hội Thánh đã trải qua hơn hai ngàn năm. Và, đúng như lời Đức Giê-su tuyên phán: quyền lực tử thần đã không thể thắng nổi và sẽ chẳng bao giờ thắng nổi Hội Thánh của Đức Giê-su, Hội Thánh mà hôm nay có sự hiện diện của chúng ta.


Đó… đó chính là lý do để chúng ta “phải lấy lời tuyên xưng của tông đồ Phê-rô” xem như là lời tuyên xưng của mình, rằng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

Hãy nhớ rằng, tuyên xưng  Đức Giê-su là Đấng Ki-tô và tin Người là Con Thiên Chúa, chúng ta  sẽ được sống  muôn đời. Bởi đó là điều Đức Giê-su đã phán hứa : “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”.(x.Ga 3, 16) 

 

 

Đấng Ki-tô chẳng phải là Đấng Messia sao! Mà, Đấng Messia chẳng phải là Đấng “Muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại và quy hướng về Người”. !


Vâng, tông đồ Phao-lô, trong thư gửi tín hữu thành Roma, đã nói về Đấng Messia như thế đấy. Để rồi, ngài Phao-lô đã phải cất tiếng: “Xin tôn vinh Thiên Chúa đến muôn đời”. (x.Rm 11, 36)


“Xin tôn vinh Thiên Chúa đến muôn đời”. Thưa quý vị. Nếu xưa kia, “Niềm hy vọng vào một Đấng Messia trở nên nổi bật và rõ nét dưới thời vua David vĩ đại, đặc biệt nhờ ngôn sứ Nathan vào thế kỷ thứ mười trước Công Nguyên”, thì tại sao hôm nay, chúng ta là những người Ki-tô hữu,tại sao lại không đặt niềm tin và hy vọng vào Đức Giê-su – Con Thiên Chúa! 


Phải đặt niềm tin và hy vọng vào Đức Giê-su – Con Thiên Chúa. Tại sao? Thưa, bởi vì hôm nay, thế giới hôm nay đang thế nào, nhỉ? Chẳng phải là quá bất an và bất ổn! 


Chẳng phải là bất an vì thiên tai, vì dịch bệnh! Chẳng phải là bất ổn vì mầm mống chiến tranh hạt nhân có thể nổ ra bất cứ lúc nào! 


Còn bất an điều gì nữa ! Còn đấy, còn đấy là những tên “phản-kitô – the anti-christ”. Đó là những tên từ chối… “từ chối Chúa Cha và Chúa Con” (x.1Ga 2,22). Đó là những “người gian ác, đứa hư hỏng, sống trong tình trạng vô luật pháp… thậm chí còn ngồi trong Đền Thờ Thiên Chúa và tự xưng là Thiên Chúa” (x.2Tx 2, 3-4)


Những kẻ này đang ở đâu? Thưa, ở Hoa Kỳ, ở Tây Ban Nha, ở Pháp, ở Đức, ở Trung Quốc, ở Việt Nam v.v… Nói tắt một lời, họ ở khắp mọi nơi trên thế giới.   


Sự thật… tất cả mọi sự kiện nêu trên là sự thật. Và, chúng ta không còn cách nào khác ngoài cách phải đặt niềm tin và hy vọng vào Đức Giê-su – Con Thiên Chúa.


Chúng ta sẽ không được gì nếu chỉ nói khơi khơi ngoài môi miệng. Trái lại, đức tin của chúng ta phải được “nuôi dưỡng bởi các bí tích, các cơ hội học hỏi trong giáo xứ, qua cầu nguyện, suy tư Lời Chúa”. Vâng, linh mục Jude Siciliano. OP có lời khuyên như thế đấy.


Qua việc cầu nguyện và suy tư Lời Chúa,  đời sống đức tin của chúng ta sẽ thấm nhuần tư tưởng của Đức Giê-su. Một khi thấm nhuần tư tưởng của Đức Giê-su, cung cách sống của chúng ta sẽ thể hiện đúng cung cách sống của Ngài, một cung cách sống thể hiện sự yêu thương và tha thứ, lòng nhân hậu, từ tâm, trung tín, sự hiền lành, khiêm nhường và tiết độ.

 

 

 

Sống với cung cách sống như thế, đó… đó chính là cách chúng ta tạo ra một “Bức Tường Lửa – Lửa Thánh Linh”, một bức tường có thể ngăn chặn “những việc do tính xác thịt gây ra”, đó là:  “dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp,chia rẽ, bè phái, ganh tỵ,  say sưa, chè chén và những điều khác giống như vậy.” (x.Gl 5, 19-21)


Đây không phải là chuyện dễ thực hiện, trong một sớm một chiều. Thế nhưng, đó là việc chúng ta phải thực hiện. Bởi, chỉ khi chúng ta sống cung cách sống nêu trên, chỉ khi đó chúng ta mới được gọi là Ki-tô hữu, một Ki-tô hữu thuộc về Đức Giê-su là Đấng Ki-tô.


Bây giờ, chúng ta trở lại câu hỏi của Đức Giê-su, câu hỏi rằng: “Còn anh em,  anh em bảo Thầy là ai?”. Vâng, đừng lập lại câu trả lời của tông đồ Phê-rô, xưa rồi… xưa rồi Diễm!


Hãy trả lời bằng chính cuộc sống của mình, rằng cuộc sống của mình phải là cuộc sống của một Ki-tô hữu thuộc về Đức Giê-su là Đấng Ki-tô. Nói cách khác: một Ki-tô hữu phải thuộc về Đấng Ki-tô.


Petrus.tran

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2020

Thưa Chúa, xin cứu chúng con...

 

CHÚA NHẬT XIX – TN – 

 

Thưa Chúa, xin cứu chúng con...


Nước, đó là một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Con người có thể sống sót trong một khoảng thời gian dài mà không cần thức ăn, nhưng nếu không có nước uống thì con người sẽ bị đánh gục nhanh chóng. Thế nhưng, đôi lúc nước lại gây ra cái chết cho con người.


Trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, con người không ít lần phải đối diện  thảm họa do nước gây ra. Mới chiều hôm 06/08/2020 vừa qua, chỉ là một trận mưa kéo dài ba giờ đồng hồ, thế mà cả thành phố Saigon như phải hứng chịu một trận hồng thủy.


Và theo báo chí đưa tin, thì: “Tại quốc lộ 13, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, xảy ra sự cố xe ôtô bốc cháy. Một người dân chứng kiến sự việc thông tin cho DKN, sự cố xảy vào khoảng 0h30′ đến 1h đêm ngày 7/8. Người này nói, chiếc xe lưu thông từ đường số 2, bị ngập nước chết máy, khi ra quốc lộ 13 đề máy lại thì bị chập điện bốc cháy trước cửa hàng 115 quốc lộ 13, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức. Khoảng 1 giờ sau thì đám cháy được khống chế nhờ cảnh sát PCCC. Sự cố khiến một cửa hàng liên quan bị cháy xém bảng hiệu là tiệm photocopy Thanh Đạt và tiệm bánh mỳ. Thiệt hại chưa thống kê chi tiết”.


Nói tới nước, chúng ta không thể không nhớ tới mười hai vị tông đồ của Đức Giê-su. Trong nhóm các ông, có một số người là dân chài lưới. Vì thế, nước như là nguồn sống của các ông, và sông nước như là ngôi nhà thứ hai của các ông.  Thế mà, đã có lần, khi đối diện với sự hung hãn của nước, các ông đã phải cuống cuồng lên cầu cứu Đức Giê-su, bởi các ông biết, sự hung hãn của nước đồng nghĩa với cái chết.


Vâng, lần đó “Một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước”.  Đầy nước đến độ các ông nghĩ rằng  thuyền sẽ chìm, Thầy và trò “chết đến nơi rồi…”.  Và các ông đã cầu cứu Đức Giê-su. Hôm ấy, Đức Giêsu đã  “ngăm đe gió và biển: biển liền lặng như tờ”. Lúc đó các ông mới cảm thấy “nhột nhạt” trước lời trách cứ của Thầy mình: “Sao nhát thế, hỡi những người kém lòng tin” (x.Mt 8, 26)


Đức Giê-su, trong những ngày còn tại thế, Ngài đã cho các môn đệ thấy quyền năng của mình, không chỉ có thể dẹp tan cuồng phong bão tố, nhưng còn có thể bước đi khoan thai trên mặt đại dương như thể đang bước đi trên con đường làng quê Nazareth của mình. Vâng, sự kiện này đã được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mát-thêu.


 ** 


Câu chuyện được kể rằng: hôm ấy, sau biến cố làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho hơn năm ngàn người ăn, các môn đệ, theo lệnh truyền của Đức Giêsu, “xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng”. Hôm đó, sau khi giải tán đám đông xong, “Người lên núi một mình mà cầu nguyện”.


Tối đến, đang khi Đức Giê-su “vẫn ở đó một mình”, thì ngoài kia, ngoài biển khơi “xa bờ đến cả mấy cây số” chiếc thuyền của các môn đệ “bị sóng đánh vì ngược gió”.


Sóng và gió… vâng, đó là điều không hay chút nào cho một cuộc hải hành. Tuy không thấy thánh sử Mát-thêu nói gì, nhưng chúng ta có thể nghĩ rằng sự bối rối, sự căng thẳng đã xuất hiện trên khuôn mặt các ông.


Thật vậy,  làm sao không bối rối cho được, khi  “Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ”.


Đi trên mặt biển, với một con người bình thường như bao người bình thường, có thật không! Và, đó là nguyên nhân làm cho các ông hoảng hốt, hoảng hốt đến độ các ông bảo nhau “Ma đấy!”.


Nghe thế, nhưng Đức Giê-su không trách móc các ông. Có lẽ, Ngài thấu hiểu nỗi lòng của các ông. Nỗi lòng của những con người đang phải sống trong một xứ sở đầy dẫy những tên biệt phái “ma đầu giáo chủ” luôn rình rập, chực chờ hãm hại Ngài cũng như các môn đệ của Ngài.


Hôm ấy, Đức Giêsu  xóa tan sự  hoảng hốt nơi các môn đệ bằng một lời nói rất rõ ràng: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”.


Phê-rô… vâng, lại là tông đồ Phê-rô, với tính khí bốc đồng, ông ta đưa ra một lời cầu xin, lời cầu xin như là một phần để xác thực người đang đi trên mặt biển chính là Thầy Giê-su, ông cầu xin Đức Giê-su, rằng: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài”.


Lời cầu xin của ông Phê-rô được Đức Giê-su chấp nhận, Ngài nói: “Cứ đến!”. Nghe thế, ông Phê-rô “từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giê-su”.


Thế nhưng, “thấy gió thổi thì ông đâm sợ”.  Rồi, khi cảm thấy mình “bắt đầu chìm”, ông Phêrô la lên “Thưa Ngài, xin cứu con với”.


Ơ hay, là dân chài, tất nhiên ông Phê-rô phải biết bơi chứ! Sao ông ta lại phải cầu cứu nhỉ! Thật là khó hiểu, phải không thưa quý vị!

 

Với Đức Giê-su, Ngài hiểu vì sao ông cầu cứu. Thế nên, Ngài  “liền đưa tay nắm lấy ông và nói: Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi”. Ô! vậy ra chỉ vì kém tin và hoài nghi…


Và khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng ngay. Trước sự kiện vô tiền khoáng hậu này, chuyện kể tiếp rằng, những kẻ ở trong thuyền  bái lạy Người và nói: “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa”.


***


Kém tin và hoài nghi chính là nguyên nhân làm cho ông Phê-rô “đâm sợ”.  Có lẽ, ông Phê-rô quên... quên rằng, Lời Chúa, qua Thánh Vịnh  118, 5-6, có chép: “Giữa cảnh gian truân, tôi đã kêu cầu Chúa. Chúa đáp lời và giải thoát tôi. Có Chúa ở cùng tôi, tôi chẳng sợ gì”


Chưa “kêu cầu Chúa”, ông  Phêrô “bắt đầu chìm”. Và khi ông la lên “Thưa Ngài, xin cứu con với”, Đức Giê-su, liền thực hiện lời hứa “đưa tay nắm lấy ông”.


Hôm đó, quyền năng của Đức Giê-su đã được thể hiện, nhờ thế ông  Phê-rô đã cùng Đức Giê-su tay-trong-tay cùng bước “lên thuyền”.


Vâng,  đó là những gì đã xảy ra hơn hai ngàn năm xa trước đó. Còn hôm nay… hôm nay thì sao nhỉ! Thưa, Thiên Chúa, qua Đức Giê-su, Ngài cũng sẽ thực hiện cho chúng ta y như Ngài đã thực hiện cho ông Phê-rô. Chúa cũng sẽ “đưa tay nắm lấy chúng ta”, nếu chúng ta kêu-cầu-Chúa.


Mà, sống trên đời này, có ai trong chúng ta lại không hơn một lần gặp-cảnh-gian-truân, nhỉ! Gian truân bởi thiên tai. Gian truân bởi nhân tai v.v…


Chúng ta sẽ làm gì khi gặp hạn hán mất mùa! Kêu cầu Thượng Đế: “Lạy trời mưa xuống. Lấy nước tôi uống. Lấy ruộng tôi cày. Lấy đầy bát cơm. Lấy rơm đun bếp”!


Hay chúng ta lại ngạo mạn gân cổ lên nói, đại loại như: “Thằng Giời đứng sang một bên. Để cho nông hội đứng lên làm Giời!”, hoặc là: “Ấm no không đợi trời cho. Người làm ra nước, người to hơn trời!”.


Chúng ta sẽ làm gì khi đại dịch Corona virus đang hoành hành khủng khiếp, như hôm nay! Nên chăng ngước mắt lên trời cao và khẩn nguyện, nguyện rằng: “Lạy Trời ban xuống. Những điều con muốn. Dịch lệ tiêu trừ. Ngài không chần chừ. Cho con khỏi bệnh... Trời cho không thấy. Trời lấy không hay...Nếu biết lạy Trời và thờ Trời thì Trời sẽ cho và được thấy!” (nguồn internet)


Tất nhiên, câu trả lời là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, đừng quên, với kinh nghiệm sống đức tin của mình, thánh Phao-lô có lời khẳng định: “Điều gì Người đã hứa thì Người cũng có đủ quyền năng thực hiện” (Rm 4, …21).


 Mà, Đức GIÊ-SU đã hứa gì nhỉ! Thưa, Ngài đã hứa rằng: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng." (x.Mt 11,28)


Vâng, hôm nay, một thế giới của hôm nay đầy hỗn loạn và bạo lực. Hỗn loạn vì con người đang bị lôi kéo bởi những tà thuyết mị dân, bởi  một nền văn hóa hưởng thụ. Bạo lực vì con người chối bỏ Thiên Chúa. Chối bỏ Mười Điều Răn Đức Chúa Trời.


Và, những gì mà chúng ta đã và đang chứng kiến trên khắp thế giới, như: đốt nhà thờ, đập phá tượng Chúa, tượng các thánh, cũng như các cuộc cướp bóc, hãm hiếp của nhóm người da đen… bên cạnh đó là dịch bệnh ngày một lây lan, chẳng phải là những cơn-sóng-dữ đang hoành hành trên con thuyền cuộc đời của chúng ta sao! Chẳng phải đó là những nan đề mà chúng ta cần mang đến với Chúa sao!


Xưa,  Đức Giê-su đã cất tiếng bảo với ông Phê-rô rằng: “Cứ đến”, thì nay, Ngài cũng vẫn nói như thế với chúng ta, rằng “Hãy đến”.


Chỉ cần… chỉ cần một cử động của tâm hồn, một tâm hồn phó thác và cất tiếng thưa với Đức Giê-su rằng:  “Lạy Chúa, nếu quả là Chúa nói vậy… Thưa Chúa, xin cứu con với!”

Vâng, hãy ngước mắt nhìn lên thánh giá Chúa Ki-tô và thưa với Ngài rằng: “Thưa Chúa, xin cứu chúng con”.


Petrus.tran

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...