Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2022

Chúng con là kẻ có tội…

 

Chúng con là kẻ có tội…

“Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (x.Lc 18, …14)



Chúa Nhật XXX – TN – C

Chúng con là kẻ có tội…

Cầu nguyện, như chúng ta được biết, là phương cách tốt nhất để củng cố niềm tin của mình. Khi nói tới cầu nguyện, Lm. MJ Nguyễn Trường Luân nói rằng: “Đạo chúng ta (Công Giáo) là đạo cầu nguyện.”

Vâng, gọi là đạo-cầu-nguyện cũng chẳng sai. Chẳng sai là bởi, chính Đức Giê-su cũng đã kêu gọi mọi người “phải cầu nguyện luôn”.

Không chỉ khuyên phải-cầu-nguyện-luôn, Đức Giê-su còn dạy các môn đệ cách cầu nguyện. Ngài dạy rằng: “Khi cầu nguyện anh em đừng làm như bọn đạo đức giả, chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy… Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng đóng cửa lại và cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh”.

Chưa hết… Đức Giê-su còn nhắc nhở các ông rằng: “Đừng lải nhải như dân ngoại, họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ.” Tiếp đến, Ngài dạy các ông hãy cầu nguyện như thế này: “Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển… Xin tha tội cho chúng con…” Và cuối cùng, Đức Giê-su cẩn thận khuyến cáo các ông: “không được nản chí”.

Tổng hợp những lời truyền dạy nêu trên, chúng ta có thể nói rằng, Đức Giê-su đã dạy cho các môn đệ một cung cách mới trong sự cầu nguyện. Cung cách đó tóm gọn trong bốn chữ “khiêm tốn - hạ mình”.

Vâng, rất cần sự khiêm tốn - hạ mình. Một sự khiêm tốn hạ mình hầu nhận biết tôi-là-ai trước một Thiên Chúa “không coi thường lời khấn nguyện” (x.Hc 35, 14). Để cho các môn đệ (và bây giờ là chúng ta) hiểu thế nào là “khiêm tốn”, thế nào là “hạ mình”, Đức Giê-su đã kể một dụ ngôn. Dụ ngôn này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Luca với tiêu đề: “người Phariseu và người thu thuế” (x.Lc 18, 9-14).

**
Tin Mừng thánh Luca ghi lại như sau: “Đức Giê-su còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác.” Dụ ngôn kể rằng: “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pha-ri-sêu, còn người kia làm nghề thu thuế.”

Cầu nguyện. Vâng, đó là một hành vi đã có từ thuở xa xưa. Từ cái thưở “hậu vườn Eden.” Kinh Thánh có ghi lại rằng: Sết – con của Adam – sau khi sinh được một con trai thì “người ta bắt đầu kêu cầu danh ĐỨC CHÚA” (St 4, 26).

Trở lại với ông Pha-ri-sêu và người làm nghề thu thuế. Hai người đã cầu-danh-ĐỨC-CHÚA điều gì? Thưa, với ông Pha-ri-sêu, ông ta “Đứng thẳng, nguyện thầm rằng: ‘Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: trộm cắp, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia.” Chưa hết… “ông thánh sống Pha-ri-seu” còn kể lể rằng: “Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.”

Còn người làm nghề thu thuế thì sao? Thưa, ông ta “Đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.” Hết. Tất cả lời cầu nguyện của ông ta chỉ có thế, mà thôi.

Giữa lời cầu nguyện của ông Pha-ri-sêu và người làm nghề thu thuế, chúng ta sẽ “vote” cho ai? 

Cho “người-thuộc-nhóm-Phariseu”? Vâng, nghe qua lời cầu nguyện của ông Phariseu, thật không thể không ngưỡng mộ ông ta. Và không thể không ng-nón-chào tinh thần bất khuất qua việc “ăn chay mỗi tuần hai lần” của ông ta. Trong khi “tiêu chuẩn” giữ chay mỗi năm chỉ có một lần vào “Ngày Xá Tội Vong Ân”. Ông ta còn giữ đúng luật thập phân. Thế nên, làm sao không nghĩ rằng, ông Phariseu này quả là một người đáng trân trọng.

“Vote” cho người làm nghề thu thuế ư! Làm sao được! Nghe qua lời cầu nguyện của ông này không thể nói gì hơn ngoài ba chữ “Ôi! tệ quá!”

Ôi! tệ quá! Ấy thế mà Đức Giê-su lại không cho là tệ. Ngài đã tuyên bố: “Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi, còn người kia thì không.”

“Người này”… Người này là ai? Thưa, “tên thu thuế”, ông ta đã biết “tự hạ mình xuống”, nhận ra con người thật của mình. Còn “người kia”… Thưa, không nói ra, ai cũng có thể hiểu chính là “ông thánh sống Phariseu”, ông ta đã “tự tôn mình lên”, ưỡn ngực ngạo nghễ nơi đền thờ.

***
Có gì là nghịch lý, khi người thu thuế chỉ là kẻ-tội-lỗi, thế mà lại “được nên công chính”! Và có bất công không, khi ông “ba không”: không trộm cắp, không bất chính, không ngoại tình, lại phải trở về với “số 0”!

Vâng, chẳng có gì nghịch lý cả. Hãy nhớ, Đức Giê-su đã chẳng từng nói: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn”, đó sao! Người thu thuế là kẻ tội lỗi như lời anh ta thú nhận. Chẳng những đã thú nhận tội lỗi mình, anh ta còn có lòng sám hối ăn năn khi thưa rằng: “xin thương xót con”.

Mà, “…một người tội lỗi ăn năn sám hối” thì sao, nhỉ! Thưa, “…cả triều thần Thiên Quốc đều vui mừng hớn hở” (x.Lc 15, 7). Thế thì, chẳng có gì nghịch lý khi người thu thuế “trở xuống mà về nhà” và được xem là “người công chính”.

Còn ông Pha-ri-sêu ư! Thật ra, ông ta cũng sẽ nhận được “vòng hoa dành cho người công chính”, bởi vì như lời tông đồ Phaolô nói: “Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó… cho tất cả những ai hết tình mong đợi.” (2Tm 4, 8).

Thế nhưng thật đáng tiếc! Tâm tình cầu nguyện của ông Phariseu chẳng có một chút gì gọi là “mong đợi” cả. Trái lại, nó có hơi hướng của một người đi “hối lộ”.

Hãy nhìn xem, ông ta khoe khoang trước Thiên Chúa cả một “rổ” công đức (ăn chay) lẫn tiền bạc (tiền dâng một phần mười)” của mình. Ông ta nghĩ rằng, như thế, chắc hẳn Đức Chúa sẽ ban cho ông tấm bằng khen “người tốt việc tốt” như thói đời, thường làm.

Đúng là nằm mơ giữa ban ngày. Với Thiên Chúa – Kinh Thánh cho biết  “Đừng hối lộ, Người chẳng nhận đâu”. (Hc 35, 11).

Chưa hết, trong lời “cầu nguyện” của ông ta, lại có đầy sự “khinh chê”. Ông khinh chê người khác, “con không như bao kẻ khác… con không như tên thu thuế kia”. Ông ta quên rằng: “Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau” (Cn 16,18).

Hôm đó, kết thúc dụ ngôn, Đức Giê-su truyền dạy: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (x.Lc 18, …14)

****
Vâng, Đức Giê-su đã kể dụ ngôn này. Và, hôm nay chúng ta được nghe lại. Chúng ta được nghe lại. Nghe… nhưng đừng để “tai này lọt tai kia”, và hãy để “lọt vào tâm hồn mình.” 

Lọt vào tâm hồn mình để làm gì? Thưa, để xem đó như một bản “tự kiểm”. Một bản tự kiểm về cung cách cầu nguyện của chính mình. Cung cách cầu nguyện của tôi giống ai! Giống ông-thánh-sống-Phariseu hay giống người làm-nghề-thu-thuế?

Đây là một việc làm hết sức cần thiết. Hết sức cần thiết là bởi cung cách cầu nguyện của ta sẽ là kết quả cho việc lời cầu nguyện của ta có “được Thiên Chúa chấp nhận”, hay không!

Vì vậy, chúng ta cùng nghe thêm một lần nữa lời cầu nguyện của người-làm-nghề-thu-thuế: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.” Và, chúng ta cũng sẽ cầu nguyện theo cung cách của vị này! Câu trả lời là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, đừng quên, cung cách cầu nguyện của vị này đã đem lại cho ông ta “được nên công chính”.

Thế nên, thật phải đạo khi mỗi ngày Chúa Nhật chúng ta cùng nhau “đến nhà thờ cầu nguyện” như người làm nghề thu thuế đã “lên đền thờ cầu nguyện”.

Vâng, sẽ thật là khôn ngoan khi chúng ta cùng nhau nguyện rằng: “Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em. Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói việc làm, và những điều thiếu xót. Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng. Vì vậy tôi xin Ðức Bà Maria trọn đời đồng trinh, các thiên thần, các thánh, và anh chị em khẩn cầu cho tôi trước tòa Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Amen.”

Và đừng quên mỗi ngày cất tiếng nguyện xin: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời. Cầu cho chúng con là-kẻ-có-tội, khi này và trong giờ lâm tử. Amen”! 

Cầu nguyện như thế, hãy tin, lời cầu nguyện của chúng ta “sẽ vọng tới các tầng mây”. Cầu nguyện như thế, hãy tin, lời cầu nguyện của chúng ta sẽ “vượt ngàn mây thẳm”. Cầu nguyện như thế, hãy tin, lời cầu nguyện của chúng ta “sẽ được Người chấp nhận.” (x.Hc 35, …16-17).

Nói tắt một lời, mỗi khi cầu nguyện, đừng quên nói với Chúa rằng: “Chúng con là kẻ có tội.”

Petrus.tran

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2022

Phải cầu nguyện luôn, đừng nản chí…

 “Anh em nghe quan tòa bất chính nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không mình xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi?”



Chúa Nhật XXIX – TN – C

Phải cầu nguyện luôn, đừng nản chí…

Cầu nguyện là gì? Thưa: “Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa hay là dâng lời cầu lên Thiên Chúa để xin những ơn lành phù hợp với thánh ý của Ngài. Cầu nguyện luôn là một hồng ân của Thiên Chúa, Ðấng đến gặp gỡ con người. Cầu nguyện theo Kitô giáo là một liên hệ cá nhân và sống động của con cái với Cha là Thiên Chúa vô cùng nhân lành, với Con của Ngài là Ðức Giêsu Kitô và với Chúa Thánh Thần, Ðấng ngự trong tâm hồn họ.” (nguồn: tonggiaophanhanoi.org).

Cầu nguyện có từ khi nào? Thưa, như lời Kinh Thánh cho biết, đến thời ông Sết “người ta bắt đầu kêu cầu danh Đức Chúa.” (x.St 4, …26) Người Việt Nam ngay từ thời xa xưa cũng đã biết “Cầu Trời”. Vâng, thật chân thành khi họ cất tiếng kêu xin: “Lạy Trời mưa xuống. Lấy nước tôi uống. Lấy ruộng tôi cày. Lấy đầy bát cơm. Lấy rơm đun bếp”.

Tôn giáo nào cũng đều coi trọng sự cầu nguyện. Với Ki-tô giáo, cầu nguyện được ví như “hơi thở” của linh hồn. Còn Martin Luther thì nói: “Lời cầu nguyện là tường và thành trì vững chắc của nhà thờ, nó là vũ khí mạnh mẽ của người Ki-tô hữu.”

Đức Giêsu cũng rất coi trọng đến việc cầu nguyện. Kinh Thánh cho biết, Ngài vẫn thường xuyên “đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện”.

Đã có lần Đức Giê-su dạy cho các môn đệ cầu nguyện. Và, Ngài có lời khuyên rằng, phải biết kiên trì “không được nản chí”. Để cho các môn đệ thấy sự kiên trì là điều cần thiết, Ngài đã kể cho các ông nghe một dụ ngôn. Dụ ngôn này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Luca. (x.Lc 18, 1-8).

**
Thánh Luca đã ghi lại dụ ngôn như sau: “Trong thành kia có một ông quan tòa. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì”.

Mở đầu câu chuyện, với sự mô tả về một ông quan “coi trời bằng vung” như thế, quả là vô phước cho những ai được ông ta ra tay xử kiện. Tại sao? Thưa, bởi theo kinh nghiệm của cuộc sống dân gian, chưa thấy một ông quan “vô thần” nào được coi là “dân chi công bộc” cả. Loại quan này, không ăn hối lội thì cũng vòi vĩnh quà cáp.

Mà, thật vậy. Quan tòa thời đó được mô tả là: “Tất cả bọn chúng đều thích ăn hối lộ, và chạy theo quà cáp. Chúng không phân xử công minh cho cô nhi, cũng chẳng quan tâm đến quyền lợi quả phụ”? (Is 1, 23). Chưa hết, mấy ông kẹ này còn “đặt ra những luật lệ bất công… viết nên các chỉ thị áp bức… để biến bà góa thành mồi ngon cho chúng, và bóc lột kẻ mồ côi” (Is 10, 2).

Nghiệt ngã là thế đấy! Ấy thế mà lại có một bà góa đến xin ông xử kiện. Vâng, bà ta đã đến gặp ông quan này và thưa với ông: “Đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho”.

“Đơn kiện” được quan nhận. Thế nhưng: “(cả) một thời gian khá lâu, ông (vẫn) không chịu (xét)”. Không chịu xét thì sao? Thưa, bà lại đến. Albert Eintein nói: “Không phải là tôi quá thông minh, chỉ là tôi chịu bỏ ra nhiều thời giờ hơn với rắc rối”.

Áp dụng lời khuyên của Eintein, bà góa lại đến cửa quan, và bà đã toại nguyện. Dụ ngôn kể rằng: “bà đã nhiều lần đến…” Và đó là lý do ông quan tòa thay đổi ý định của mình. Thật vậy, trước kế sách “lỳ đòn” của bà góa, ông quan tòa như ngồi trên đống lửa. Cuối cùng, ông ta nghĩ: “Dầu ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng mụ góa này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc”.

Cứ-đến-hoài… Vâng, chính hành động này đã chứng tỏ rằng, bà góa, quả là đã chịu-bỏ-ra-nhiều-thời-giờ-hơn cho rắc rối của mình. Nói cách khác, bà góa là một người đầy lòng nhẫn nại, bền chí khẩn nài cho ước nguyện của mình.

Qua dụ ngôn này, không cần giải thích nhiều, chúng ta cũng có thể hiểu, thông điệp của Đức Giê-su gửi đến cho các môn đệ (và bây giờ là chúng ta), đó là: phải kiên trì “phải cầu nguyện luôn, không được nản chí”.

Hôm ấy, Đức Giê-su còn có lời bảo rằng: “Anh em nghe quan tòa bất chính nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không mình xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi?” Cuối cùng Đức Giê-su khẳng định: “Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ”.

***
Lời khẳng định (nêu trên) của Đức Giê-su, không phải là lời “nói cho có”. Lịch sử Do Thái, dân Thiên Chúa tuyển chọn, đã cho mọi người nhìn rõ sự thật. Lịch sử Do Thái, dân Thiên Chúa tuyển chọn, đã cho chúng ta biết rằng: Thiên Chúa “đã minh xét” cho những kẻ có lòng nhẫn nại, “ngày đêm hằng kêu cứu với người”.

Kinh Thánh kể rằng: hồi đó, khi dân Israel đang trên đường đến miền đất hứa. Bất ngờ họ bị người Amalech chận đánh tại Rophidim. (x.Xh 17, 8).

Xét về tương quan lực lượng hai bên. Amalech là một đạo quân tinh nhuệ. Trong khi đó, người Israel chẳng khác nào một đám quân ô hợp. Nếu đụng trận, nhắm mắt chúng ta cũng có thể nói: Israel sẽ thua Amalech.

Là một đạo quân quá kinh nghiệm trong những trận địa chiến, quân đội Amalech đủ sức xóa sổ quân đội Israel. Thế mà, chuyện lại không xảy ra như chúng ta nghĩ. Trái lại, chuyện đã xảy ra đúng như câu tục ngữ xưa của Việt Nam: “Nực cười châu chấu đá xe. Tưởng rằng chấu ngã nào ngờ xe nghiêng”.

Con “châu chấu Israel” đã xô ngã cả một “đoàn xe” chở đầy quân binh tinh nhuệ Amalech. Quân sử Israel đã ghi lại chiến tích vang dội này, rằng: “Giôsuê đã đánh bại Amalech… xóa hẳn tên tuổi Amalech, khiến cho thiên hạ không còn nhớ đến nó nữa” (Xh 17, 13…14).

Nhờ đâu Israel có được chiến tích này? Thưa, do bởi chính lời cầu nguyện của Môsê. Mô-sê nói: “Tôi, tôi sẽ đứng trên đỉnh đồi, tay cầm gậy của Thiên Chúa”. Kinh Thánh ghi rằng: Trên đỉnh đồi, “khi nào ông Mô-sê giơ tay lên, thì dân Israel thắng thế, còn khi ông hạ tay xuống, thì Amalech thắng thế”.

Mô-sê không có sức để “giơ tay lên” mãi. May thay, Aharon và Khua đã “đỡ tay ông, mỗi người một bên.” Nhờ đó Mô-sê đã đủ sức giơ tay-lên “cho đến khi mặt trời lặn”. Nói cách khác, Mô-sê đã liên lỉ “kêu cứu với Người…” Thiên Chúa đã không “bắt họ phải chờ đợi mãi”. Và Người đã “mau chóng” cho Israel cất tiếng hát khúc khải hoàn ca.

****
“Phải cầu nguyện luôn…” Tại sao “phải cầu nguyện luôn?” Thưa, bởi đó là lời truyền dạy của Đức Giê-su. Một lần nọ, Ngài đã nói với các môn đệ rằng: “Anh em cứ xin thì sẽ được” (Lc 11, 9). Đúng, xin Chúa sẽ cho. Nhưng có trường hợp phải xin nhiều lần. Truyền các môn đệ “cứ xin” chính là Đức Giê-su muốn nói với các ông rằng, không chỉ xin một lần mà là “cứ” phải xin luôn luôn.
 
“Không được nản chí” Tại sao “không được nản chí?” Thưa, bởi đó chính là “thước đo” sự nhẫn nại cho niềm tin của mình. Ông Gia-cóp, một nhân vật thời Cựu Ước, chính là mẫu mực của một con người nhẫn nại, không nản chí.

Trước khi được “chúc phúc”, Gia-cóp đã kiên trì chiến đấu, đã phải “vật lộn” với Thiên Chúa suốt cả đêm. Kinh Thánh thuật lại rằng : “Có một người vật lộn với ông cho tới lúc rạng đông” (Stk 32, …25).

Cuộc sống Kitô hữu của chúng ta chẳng phải là cũng luôn “vật lộn” với những cơn-đau-tinh-thần, cơn đau của sự thất vọng và bội phản, cơn đau của sự bất trung; bất tín! Rồi còn đó là những cơn-đau-của-thể-xác, cơn đau của bệnh tật, của chết chóc, v.v… đó sao!

Giacop đã chiến thằng bằng sự nhẫn nại. Giacop biết rằng người vật lộn với mình không ai khác chính là Thiên Chúa. Vì thế, dù “khớp xương hông của ông bị trật đang khi ông vật lộn với người đó”, nhưng Giacop vẫn kiên trì chiến đấu. Sự kiên trì chiến đấu của ông không ngoài mục đích là “đòi” cho được lời chúc phúc từ nơi Thiên Chúa. Ông đã lớn tiếng nói rằng: “Tôi sẽ không buông ngài ra, nếu ngài không chúc phúc cho tôi… Và người đó đã chúc phúc cho ông…” (Stk 32,…37-30).

Chúng ta cũng sẽ như Giacop “không buông Chúa ra” khi đứng trước những nan đề nêu trên! Chúng ta sẽ “liên lỉ cầu nguyện, không nản chí!” Chúng ta sẽ cất tiếng nói với Chúa rằng: “Con sẽ không buông Ngài ra, nếu Ngài không cứu giúp con!” Đừng “buông Chúa ra”. Đừng buông bỏ lời cầu nguyện. Chúa sẽ chúc lành cho chúng ta, như Người đã chúc phúc cho Gia-cóp.

“Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí.” Đừng nản chí. Đừng nản chí, dẫu cho khi lời cầu nguyện của chúng ta không có sự hồi âm.

Phải nhìn nhận rằng, một trong những điều ảnh hưởng lớn nhất cho việc “không được nản chí” của chúng ta, đó là sự “hồi âm”. Chính sự chậm trễ trong việc hồi âm khiến chúng ta sinh ra nản lòng.

Thế nhưng, có bao giờ chúng ta tự hỏi, tại sao chúng ta không được Chúa hồi âm?

Phải chăng “…là vì (ta) xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc!” (Gc 4, 3). (Xin trúng số… số đề, chẳng hạn!).

Phải chăng là vì chúng ta do dự! “Do dự”, thánh Gia-cô-bê nói: “thì giống như sóng biển bị gió đẩy lên vật xuống. Người ấy đừng tưởng mình sẽ nhận được cái gì của Chúa, họ là kẻ hai lòng, hay thay đổi trong việc họ làm” (x.Gc 1, …6-7). “Hai lòng” đó là điều chẳng ai thích, phải không, thưa quý vị?

Với việc chậm trễ hồi âm, hãy xem đó như là một phước hạnh, phước hạnh để ta có cơ hội “cầu nguyện khẩn thiết” hơn, phước hạnh để chúng ta đến gần hơn với cuộc tương giao giữa Chúa với chúng ta.

Một người có đức tin mạnh mẽ, vấn đề hồi âm trở thành thứ yếu. Điều quan trọng, lúc đó, chính là mối tương giao mật thiết giữa ta và Chúa. Chính mối tương giao này khơi dậy trong ta sự tín thác trọn vẹn, và điều tất yếu đó là ta sẽ cầu nguyện liên lỉ không thôi.
Về điều này, thánh Augustin có lời khuyên, rằng: “Niềm tin làm phát sinh cầu nguyện, và cầu nguyện một khi đã phát sinh sẽ đem lại chắc chắn trong niềm tin”. Còn thánh Phao-lô ư! Vâng, ngài có lời chia sẻ: “Hãy cầu nguyện không ngừng”.

Có rất nhiều tấm gương về những con người chuyên tâm cầu nguyện, liên lỉ cầu nguyện không thôi, trong suốt chiều dài lịch sử Giáo Hội. Nếu liệt kê ra e rằng đọc hết cả tuần. Mà, có cần liệt kê ra không, nhỉ! Liệt kê để xem đó như là “những dẫn chứng thực tế” ư! Ấy chết, nếu thế thì, có khác gì mấy ộng kẹ Pha-ri-sêu xưa, thay vì vâng nghe lời Đức Giê-su truyền dạy, họ lại đòi Ngài cho xem “dấu lạ!”

Vâng, có lẽ điều cần thiết hơn, đó là, hãy “ghi khắc trong con tim mình” về lời truyền dạy của Đức Giê-su, lời chia sẻ của tông đồ Phao-lô, và cả lời khuyên của thánh Augustin (nêu trên), và xem đó chính là hành trang cho đời sống cầu nguyện của mình.

*****
“Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí”. Lời truyền dạy này chưa bao giờ Giáo Hội hủy bỏ. Không thể hủy bỏ, bởi vì chúng ta không thể đến gần Chúa, nếu chúng ta không cầu nguyện. Không thể hủy bỏ, bởi vì tất cả mọi ý nghĩ, lời nói, cũng như việc làm của chúng ta, sẽ là “tốt hay xấu”, đó là do chúng ta có “cầu nguyện luôn”, hay không!

Qua việc cầu nguyện luôn, Chúa sẽ hướng dẫn chúng ta tránh khỏi những mưu ma chuớc quỷ của thế gian, cũng như những gian dối, lừa bịp, bất tín tràn lan trong xã hội. Qua việc cầu nguyện luôn, Chúa sẽ che chở chúng ta khỏi những kẻ thù của mình.

Nên cầu nguyện luôn, vì đó là sức mạnh để chúng ta chống lại những cơn cám dỗ của Satan và con cái chúng. Chúng ta cần cầu nguyện luôn, vì mỗi lần cầu nguyện chúng ta có cơ hội “Thú nhận cùng Thiên Chúa” về những tội mình đã phạm “trong tư tưởng, lời nói lẫn việc làm”, để xin Người tha thứ chúng ta.

Chúng ta cần cầu nguyện luôn, vì mỗi lần cầu nguyện, Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta sức mạnh của Thần Khí, nhờ đó chúng ta đủ sc mạnh để để sống theo những lời dạy của Phúc Âm.

Sống theo những lời dạy của Phúc Âm, đó chính là phương cách tốt nhất để chúng ta được hưởng sự sống vĩnh cu mà Đức Giê-su đã hứa ban. Thật thế đấy! Một lần nọ, Đức Giê-su đã có lời khuyến cáo: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.”

Cuối cùng, ngoài cầu nguyện riêng, chúng ta cũng cần cầu nguyện chung. Chung với gia đình, chung với bạn bè, chung với hàng xóm láng giềng. Chính những buổi cầu nguyện như thế, có phần chắc, chúng ta sẽ tạo ra một khung cảnh: “láng giềng thân thiết, anh em hòa thuận, vợ chồng ý hợp tâm đầu”.

Cầu nguyện chung, Lm. Charles E.Miller có lời khuyên dạy: “Là người Công Giáo, là thành viên của gia đình Giáo Hội, chúng ta có trách nhiệm với nhau. Aharon và Khua đã không bỏ rơi Mô-sê lúc ông này có dấu hiệu mỏi tay. Hai ông đã không nghĩ là Mô-sê phải cầu nguyện một mình và các ông chỉ nên chú tâm vào kinh nguyện riêng của các ông.”

Ngày nay, Thánh Lễ còn là nơi chúng ta “cầu nguyện chung”. Về điều này, ngài Charles nói: “Linh mục không chỉ cầu nguyện cho bản thân. Là chủ tế, ngài cầu nguyện cho lợi ích của cộng đoàn. Có lúc giáo dân và linh mục đọc (hoặc) hát chung với nhau như kinh Vinh Danh và các lời tung hô trong thánh lễ. Có lúc giáo dân đáp lại những lời kinh do linh mục xướng lên nhân danh cộng đoàn. Có lúc giáo dân chăm chú lắng nghe và (đôi khi) đọc thầm theo chủ tế, nhất là phần kinh nguyện Thánh Thể.”

Cuối cùng, cũng là điều quan trọng chúng ta nên nghe. Vâng, ngài Lm. Charles kết luận: “Thiên Chúa đẹp lòng với loại mô hình cầu nguyện đầy sức mạnh, bởi lẽ chúng ta đều cầu nguyện không phải như những cá nhân riêng lẻ, mà cùng chung với nhau như người Công Giáo, như những thành viên của Giáo Hội, hiệp nhất bởi Thần Khí trong thân thể duy nhất của Đức Ki-tô”.

Những lời chia sẻ của ngài Lm. Charles thật là chính đáng để chúng ta đem ra thực hành, phải không, thưa quý vị! Vâng, chúng ta nên thực hành. Và, dù chúng ta cầu nguyện riêng hay chúng ta cầu nguyện chung, đừng quên lời truyền dạy của Thầy Giê-su: “phải cầu nguyện luôn, không được nản chí.”

Hãy nhớ: “Phải cầu nguyện luôn, đừng nản chí.”

Petrus.tran

Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2022

Con tạ ơn Ngài…

 “Đang khi đi thì họ được sạch.” (Lc 17, 14).



Chúa Nhật XXVIII – TN – C


Con tạ ơn Ngài…

“Con hủi… đồ hủi” là một từ ngữ thể hiện hàm ý khinh miệt, ghê sợ với những người bị bệnh hủi. Bệnh hủi hay còn gọi là phong hủi, nói theo cách nói ngày xưa, thuộc loại “tứ chứng nan y… thầy thuốc bỏ đi, trống kèn kéo tới”.

Mà, đúng vậy. Đối với người xưa, căn bịnh này gây chết chóc, không thể chữa trị và vô vọng. Do vậy, người thời xưa rất sợ căn bịnh này. Sợ đến nỗi bất kỳ ai bị nghi nhiễm đều bị trục xuất ra khỏi cộng đồng. Người Do-thái xưa nói rằng, trong các tác phẩm của các thầy Rabbi có ghi chép những phương cách cứu chữa cho nhiều căn bịnh khác nhau. Thế nhưng, về căn bịnh phong hủi, thì không ghi chép gì cả. Các Rabbi nói rằng, chữa trị bịnh phong giống như làm cho kẻ chết sống lại.

Ngày nay, bịnh phong được gọi là bịnh Hansen, sau khi vị bác sĩ người Na-uy tên là Armauer Hansen, vào năm 1873 đã khám phá ra vi khuẫn gây bệnh. Có vài loại bịnh phong, và hầu như người bịnh đều có triệu chứng giống nhau như: “da thịt thường phát nhọt và lở loét. Khi chuyển nặng vết thương lỏm vào da thịt. Trên khuôn mặt, lông mày rụng kèm theo là mắt lộ ra, thanh quản bị lở nên giọng nói trở nên khàn khàn. Tình trạng mất cảm giác xuất hiện ở một vài bộ phận trên cơ thể do dây thần kinh bị nhiễm trùng. Các bắp thịt tiêu dần đi, gân cốt co làm cho hai bàn tay co lại. Ở mức độ nặng ngón tay và ngón chân rụng.” (nguồn: internet).

Xã hội thời xa xưa thường xa lánh và kỳ thị những người mắc bệnh phong hủi. Đã có thời người bệnh phong phải chịu nhiều luật lệ khắt khe như thả trôi sông, chôn sống, bỏ vào rừng cho thú dữ ăn thịt. Vì thế khi một ai đó mắc bệnh, người đó thường là bỏ làng ra đi, ở lại cũng không ai chứa chấp, không ai liên hệ.

Israel thời Cựu Ước xem bịnh phong là một căn bệnh nguy hiểm cho cộng đồng. Có luật lệ riêng cho những người bệnh phong hủi. Những luật lệ đó không kém phần khắc nghiệt. Khắc nghiệt ngay từ “khâu chẩn bệnh”. Nếu một người bị nhọt, lác, đốm, ung, phỏng, lang ben, sói đầuv.v… mà các vết thương đó “cứ loang ra” trên cơ thể, “Tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế: đó là bệnh phong” (Lêvi 13, 7).

“Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xõa tóc, che râu và kêu lên: Ô uế! Ô uế!. Bao lâu còn mắc bệnh, thì nó ô uế; nó ô uế: nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại.” (Lêvi 13, 45-46).

Nói chung, đối với xã hội thời xa xưa, cả ở phương Tây lẫn phương Đông, người bệnh phong hủi bị ghẻ lạnh, kỳ thị và xa lánh. Ấy vậy mà! Vậy mà… có một người đã làm thay đổi một định kiến thâm căn cố đế như thế. Người đó chính là Đức Giêsu Kitô. Sự kiện này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Luca.

**
Câu chuyện được thánh Luca ghi lại như sau: Hôm ấy, Đức Giê-su cùng với các môn đệ “lên Giê-ru-sa-lem.” Lên Giê-ru-sa-lem với lộ trình “đi qua biên giới giữa hai miền Samari và Galilê.” Và, Lúc Người vào một làng kia, thì có mười người phong hủi đón gặp Người”.

Mười-người-phong-hủi-đón-gặp-Người! Chẳng phải đây là điều cấm kỵ! Đúng, mười người phong hủi đã phạm luật. Mười người phong hủi đã không lớn tiếng kêu “Ô uế! Ô uế!” để mọi người tránh xa. Trái lại, tiếng kêu của mười vị này lại là một tiếng kêu khẩn thiết, một sự khẩn thiết hầu gây cho người nghe chú ý đến mình.

Vâng, giữa hai miền Samari và Galilê, nơi mà tinh thần thù nghịch của người Do-thái và người Samari luôn sôi sục, họ còn biết kêu cầu ai, nếu không là Thầy Giê-su!

Phải… Phải là Thầy Giê-su! Không có gì để nghi ngờ nữa. Mười người phong đã nghe, nghe tiếng đồn đại “ngày càng lan rộng” rằng, Ngài đã chữa một người cũng mắc bịnh phong như họ, bằng cách: “Giơ tay đụng vào anh ta… Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi” (x.Lc 5, 13). Chắc chắn mười người phong này đã bàn bạc sự kiện ấy. Và, hôm nay… hôm nay… Thầy Giê-su kìa!

Thầy Giê-su kìa! Dừng lại… dừng lại đừng đến gần. Họ đã “dừng lại đằng xa.” Mười người phong, nếu được phép, chúng ta nên gọi đây là một ca đoàn với mười “ca viên”. Mười ca viên rách rưới nhất thế giới đồng loạt cất tiếng ca: “Xin thương xót Chúa ơi! Xin thương xót chúng con. Chúa ơi! Xin nhìn đến đoàn con… (quá đớn đau, quá khổ đau) Chúng con van nài.”

Hôm ấy, từ đàng xa, tiếng khẩn cầu của mười người phong thoát ra từ những môi miệng nhúm nhó đớn đau. Họ đã đớn đau cất tiếng van xin: “Lạy Thầy Giê-su, xin rủ lòng thương chúng tôi”. Vâng, mười người phong với những đôi mắt và đôi tai đã nhìn thấy “quá ít lòng thương xót”, nhưng lại phải nghe “quá nhiều lời xét đoán”, sao lại không thương họ, nhỉ!

Thầy Giê-su sẽ làm gì chứ! Thầy sẽ chữa họ ngay lập tức chăng! Chắc chắn, vì đó là quyền phép của Ngài và đó cũng là ước mong của mười người phong.

Thế nhưng, thật khó hiểu khi Thầy Giê-su nói: “Hãy đi trình diện với các tư tế”. Vâng, thật khó hiểu khi mà lệnh truyền của Đức Giê-su có vẻ như một lệnh truyền mâu thuẫn! Một lệnh truyền chỉ thích hợp cho những người đã “khỏi bệnh phong”, là những người cần các thầy tư tế “tái khám”, hầu để được tuyên bố là đã thanh sạch. Còn đây, mười người phong hủi đã thấy khỏi bệnh đâu!

Tuy vậy, dù chưa khỏi, nhưng họ vẫn lên đường. Ngạc nhiên thay! Chuyện kể tiếp rằng: “Đang khi đi thì họ được sạch.” (Lc 17, 14).

***
“Đang khi đi thì họ được sạch.” Thật không? Thật. Họ đã được sạch khi họ ra đi. Không phải trước khi đi. Không phải sau khi đi. Nhưng là “đang khi đi”. Họ đã được sạch khi họ chịu bước đi. Trong hành động bước đi, họ đã được chữa lành. Tại sao chứ? Thưa, vì hành động bước đi chính là hành động của đức tin.

Đó là bài học, một bài học “nằm lòng” mà chúng ta luôn phải nhớ đến. Khi Đức Giê-su phán truyền: “Hãy đi trình diện với các tư tế”, thì thực sự Ngài đang phán truyền rằng: “Hãy đi như thể các ngươi đã được chữa lành”. Đúng là một lời phán truyền long trọng. Và, lời phán truyền này chỉ có đức tin mới có thể thực hiện.

Vâng, không thể nghi ngờ gì nữa, hành động bước đi của mười người phong, chính là cử động của đức tin. Thiên Chúa đã nhìn thấy đức tin của họ qua việc họ bước đi, dù phải bước đi bằng một đôi chân đau đớn.

Điều này (việc mười người phong cùng bước đi) có cảm động được lòng tin của chúng ta? Đi vào thực tế của cuộc sống, khi chúng ta cầu xin Chúa cho mình khỏi một căn bệnh nào đó, chúng ta có chịu “bước đi”, dù là phải đi trong một cơ thể đớn đau, để đến một nhà thương nào đó không?

“Tin tưởng vào Thiên Chúa không tương xứng với chỗ không làm gì hết. Hãy nhớ, mười người phong đã được chữa lành khi họ bước đi. Đức tin của chúng ta dời núi khi đức tin cảm động chúng ta bước đi.” (nguồn: internet).

****
Đức tin không chỉ thúc đẩy chúng ta bước đi. Đức tin còn mời gọi chúng ta trở về với tâm tình tạ ơn. Đó là điều chúng ta cần ghi nhớ.

Mười người phong đã được chữa lành. Đây là một phép lạ, nhưng chưa phải là trọng tâm của câu chuyện. Trọng tâm câu chuyện là đây: “Một người trong bọn, thấy mình được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa”. Anh ta còn “sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn. Anh ta lại là người Sa-ma-ri”.

Khi nói đến người Samari này, một nhà truyền giáo có lời chia sẻ: “Đức Giê-su là người Do-thái và người Do-thái nghĩ người Samari là những kẻ phản bội, dân tạp. Để làm cho vấn đề ra tệ hại hơn, người ấy là một người phong Samari. Đối với người Do-thái, không nên nhìn vào một sự kết hợp gớm ghiếc. Ông ta xuất thân từ một dòng giống sai trật, ông ta có thứ tôn giáo không đúng, và ông ta mắc phải một chứng bịnh tệ hại nhất khả thi.

Trong các vấn đề tôn giáo, người Samari này hầu như chẳng biết gì hết và thứ ông ta biết đều là sai trật cả đấy thôi! Nhưng ông ta đã nhìn biết Đức Giê-su chữa lành cho ông ta và ông ta vốn biết đủ để dâng lời cảm tạ Thiên Chúa. Câu nói ấy là lý do cho thấy tại sao câu chuyện này lại hiện hữu trong Kinh Thánh.” (nguồn: internet).

Vâng, câu chuyện này đã hiện hữu trong Kinh Thánh. Và, câu chuyện này cũng cần hiện hữu trong tâm hồn mỗi chúng ta. Thật phải đạo khi hôm nay chúng ta hãy tự hỏi mình câu hỏi mà Đức Giê-su đã hỏi người phong Samari: “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế chín người kia đâu?”

“Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?” Giờ này quý ông đang ở đâu? Quý ông không khỏi bệnh chăng? Nếu khỏi, sao quý ông không quay lại “Tạ ơn Ngài?” Thật kinh ngạc, đắng cay, buồn rầu.

Có rất nhiều lý lẽ để biện minh cho hành động của chín quý ông không trở lại gặp Đức Giê-su. Tuy nhiên, những lý lẽ đó không có sức thuyết phục. Không thuyết phục là bởi, đối với quan niệm Do-thái, chữa lành khỏi bệnh phong được coi như là Phục-Sinh-từ-cõi-chết. Mà ai đã chữa lành các ông? Ai là người có thể Phục-Sinh-từ-cõi-chết nếu không là Thiên Chúa? Giữa Đức Giêsu, người trực tiếp “chữa bịnh phong’’ cho quý ông, và các thầy tư tế – người chỉ có thẩm quyền “chứng nhận sạch bịnh phong’’, ai quan trọng hơn ai?

Nếu… nếu “chín người kia” hiểu được điều đó và quay lại gặp Đức Giêsu, trước khi gặp tư tế để “tái thẩm định” căn bệnh phong của mình… Vâng, họ đã không “mắc nợ” Ngài “một lời tạ ơn” và đã không “mắc cỡ” trước anh chàng được cho là “người ngoại bang” nhưng lại nhận ra Thiên Chúa, qua hình ảnh Đức Giêsu, chính là người cần phải trình diện để “sấp mình tạ ơn” và hơn nữa để “Tôn vinh Người”.

Tất cả mười người đều mắc bịnh phong. Tất cả mười người đều bị xã hội ruồng bỏ. Tất cả mười người đều nghe nói đến Thầy Giê-su. Và, tất cả mười người đều tin Ngài sẽ chữa lành mình.

Bề ngoài, tất cả đều “giống nhau”. Thế nhưng, bên trong, trong tâm hồn, thì có một người khác biệt. Một người quay lại, chín người bỏ đi. Một người biết tạ ơn, chín người thì qua cầu rút ván. Một người được ơn tha thứ, chín người kia không. Đây… đây chính là lý do Đức Giê-su nói với người “quay trở lại”, rằng: “Đứng dậy về đi. Lòng tin của anh đã cứu chữa anh”.

Kinh Thánh có lời chép: “Chớ khá quên mọi ân huệ của Người” (Tv 103, 2). Còn Abbert Schweitzer có lời nói: “Đôi lúc ánh sáng trong cuộc đời ta lịm tắt, và được nhen nhóm lại bởi tia lửa của một ai đó. Mỗi chúng ta phải nghĩ tới những người đã đốt lên ngọn lửa trong ta với lòng biết ơn sâu sắc”.

Tham dự Thánh Lễ chính là phương cách “tạ ơn” tốt nhất. Sau một ngày, hay một tuần làm việc chúng ta đến nhà thờ, một hành động “bước đi”, đi “trở lại tôn vinh Thiên Chúa”. Và đây, chúng ta hãy nghe lời chia sẻ của ngài Lm Charles E. Miller: “Hết thảy chúng ta đều có những lý do riêng để tạ ơn Thiên Chúa trong thánh lễ. Ngày hôm nay, ta có thể cảm tạ Thiên Chúa vì món quà sự sống qua hình ảnh một đứa trẻ sơ sinh, hoặc ơn phục hồi sức khỏe cho một người cao tuổi. Ta có thể muốn cảm tạ Thiên Chúa vì vừa tìm được việc làm sau một thời gian dài thất nghiệp… Mỗi Chúa Nhật ta cần ngẫm lại các lý do riêng tư để tạ ơn, và phải nhớ rằng thật là chính đáng để tạ ơn Thiên Chúa”. 

Thật ra, “Chúa không cần chúng ta ca tụng, nhưng được tạ ơn Chúa lại là một hồng ân cao cả, vì những lời ca tụng của chúng ta chẳng thêm gì cho Chúa, nhưng đem lại cho chúng ta ơn cứu độ muôn đời”. (Kinh Tiền Tụng số IV trong Sách Lễ Rôma).

Ngày xưa, người ngoại bang đã trở lại tôn vinh Thiên Chúa, và vị này đã được Đức Giê-su nói: “Lòng tin của anh đã cứu anh”. Thì, hôm nay, nếu chúng ta đến nhà thờ tôn vinh Thiên Chúa, há lẽ Thiên Chúa lại không “đem lại ơn cứu độ cho chúng ta” sao!

Tất cả chúng ta đều là “bệnh nhân” của Chúa. Tất cả chúng ta đều biết Đức Giê-su. Tất cả chúng ta đều tin Ngài có thể cứu chữa mình. Tất cả chúng ta đều lãnh nhận ơn huệ Chúa ban. Thế nên, đừng vì một lý do nào đó mà chúng ta không đến nhà thờ “sấp mình dưới chân Đức Giê-su mà tạ ơn”.

Một ai đó có nói: “vô ơn là căn bịnh phong của tâm hồn”. Tất nhiên, không ai trong chúng ta muốn mình mắc căn bịnh này. Thế nên, mỗi Chúa Nhật, đừng quên đến nhà thờ để mà Tạ ơn Chúa.

Một tấm lòng tạ ơn là phẩm hạnh tốt của người tin Chúa. Thế nên, đừng quên, sau một ngày được sống, hãy sấp mình dưới thánh giá Đức Ki-tô và thưa rằng: Con tạ ơn Ngài.

Petrus.tran

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...