Thứ Năm, 17 tháng 8, 2023

Này con, con muốn sao sẽ được vậy

“Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy”.

Chúa Nhật XX – TN – A
Này con, con muốn sao sẽ được vậy

tbd 170823a


Một ngày nọ, Đức Giê-su có lời phán truyền rằng: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho.” Tiếp sau đó, Ngài khẳng định: “Vì hễ ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho.” (x.Mt 7, 7-8).

Vâng, là một Ki-tô hữu, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đều tin vào lời Chúa phán truyền nêu trên. Chúng ta tin và vẫn luôn cầu xin Chúa rất nhiều điều. Có những lúc Chúa đáp lời cầu xin của chúng ta. Nhưng, không phải lúc nào lời cầu xin của chúng ta cũng đều được đáp ứng. Thế rồi, chúng ta đặt câu hỏi tại sao?

Tại sao ư! Thưa, có rất nhiều câu trả lời cho chúng ta. Rất có thể “…là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc” (x.Gc 4, 3). Cũng rất có thể là do chúng ta thiếu sự nhẫn nại và lòng kiên trì trong cầu nguyện.

Thomas Edison, người đã có hơn 1.500 phát minh, cho rằng, để thành công trong công việc, thì do 10% thiên tài, phần còn lại là do 90% sự nhẫn nại và lòng kiên trì.

Còn với Đức Thánh Cha Phanxicô! Vâng, “trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư 19/05/2021 diễn ra tại sân Damaso ở nội thành Vatican, ngài đã nói đến ba khó khăn chúng ta thường gặp phải khi cầu nguyện; đó là chia trí, sự khô khan thiêng liêng và thờ ơ lười biếng.

Đức Thánh Cha nhận xét rằng, chính các thánh cũng gặp phải những khó khăn này trong lúc cầu nguyện và các ngài dạy rằng chúng ta đạt được tiến triển thật sự trong đời sống thiêng liêng qua việc kiên trì cầu nguyện, như ông Gióp, người vẫn không thay đổi ngay cả giữa nhiều hoạn nạn.” (nguồn: vaticannews).

Kiên trì cầu nguyện “như ông Gióp” ư! Thưa, đúng là vậy. Vì đó là điều làm cho Thiên Chúa “phải siêu lòng”. Sự kiện “Đức Giê-su chữa con gái người đàn bà Ca-na-an” được ghi trong Tin Mừng thánh Mát-thêu, như một minh chứng điển hình. (x.Mt 15, 21-28).

**
Chuyện được kể rằng: Một ngày nọ “Đức Giêsu lui về miền Tia và Xi-đôn”. Theo các nhà nghiên cứu Kinh Thánh, thì “Tia và Xi-đôn” ngày nay thuộc miền nam Liban, và được biết đến như là miền giáp ranh với đất của dân ngoại.

Vì là vùng đất của dân ngoại, thế nên, không có gì ngạc nhiên khi “có một người đàn bà Ca-na-an ở vùng ấy” tìm đến để gặp Đức Giê-su.

Khi gặp Đức Giê-su, bà ta kêu lên rằng: “Lạy Ngài là Con vua Đa-vít, xin rủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm.”

Quỷ ám! Quỷ ám nghĩa là sao! Thưa, đó là “Một cá nhân bị một thực thể siêu nhiên ác độc nhập hồn, thường gọi là ác quỷ. Các biểu hiện của quỷ ám thường bao gồm mất trí nhớ hoặc nhân cách, ngất lịm như thể người đang hấp hối. Người bị quỷ ám có nhiều thay đổi rõ rệt trong ngữ điệu và khuôn mặt, xuất hiện những vết thương bất thường (vết cào, cắn), có sức mạnh siêu phàm. Không giống như trong mượn xác, chủ thể không thể kiểm soát được thực thể nhập vào mình và nó chỉ ra khỏi khi bị trục xuất, thường là bằng một hình thức trừ tà. Đây là một vấn đề tâm linh chứ không phải là vấn đề mà khoa học thông thường có thể giải thích được”. (nguồn: internet).

Đúng, khoa học không giải thích được và y học cũng không chữa được. Đức Giê-su chữa được. Thánh Mát-thêu đã cho chúng ta biết: tại Ga-li-lê “Thiên hạ đem đến cho Người mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn, tật nguyền: những kẻ bị quỷ ám, kinh phong bại liệt, và Người đã chữa họ.” (x.Mt 4, 24). Nhưng hôm nay, trước lời cầu xin của người đàn bà Ca-na-an, chuyện kể tiếp rằng: “Người không đáp một lời.”

Thế có buồn không! Thưa, rất buồn… thật là buồn-hiu-hắt-buồn về sự lặng thinh của Đức Giê-su. Và, khi nỗi buồn đang gặm nhấm con tim, thì tai bà nghe các môn đệ xin với Đức Giê-su, rằng: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi!”.

Về đi ư! Lý do? Đây, câu trả lời của Đức Giê-su cho các môn đệ chính là lý do: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc nhà Israel mà thôi.”

Vâng, Đức Giê-su nói như thế đấy! Nếu là chúng ta, chúng ta sẽ phản ứng thế nào! Phải chăng là chúng ta sẽ phàn nàn rằng: “Thôi thế là thôi, là thế đó! Thôi thế là thôi, là thế rồi!” v.v...

Với người đàn bà Ca-na-an, hôm ấy, bà ta không phàn nàn. Bà đã “bái lạy và thưa Người rằng: Lạy Ngài! Xin cứu giúp tôi!”

Jean Jacques Rousseau có nói: “Sự nhẫn nại và lòng kiên trì đắng chát…”. Điều này thật đúng cho người đàn bà Ca-na-an.

Vâng, thật đắng chát làm sao khi Đức Giê-su đáp lời bà ta rằng: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con”.

Thế nhưng, dù bị xếp vào thành phần “chó con”, một thứ ngôn từ mà người Do Thái thời đó dùng để nói tới “dân ngoại”, không phải dân riêng của Thiên Chúa, bà ta vẫn kiên trì khẩn khoản nài xin. Bà nghẹn ngào nài xin rằng: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.”

Cũng là ông Rousseau có nói: “Sự nhẫn nại và lòng kiên trì đắng chát nhưng quả của nó lại ngọt”. Ông Rousseau ơi! Ông nói đúng quá! Hôm ấy, với sự nhẫn nại và lòng kiên trì, người đàn bà Ca-na-an đã nhận được “quả ngọt” từ lòng thương xót của “Con vua Đa-vít”.

Hôm ấy, sau khi nghe bà ta nói như thế, Đức Giê-su đáp lời: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy”.

Vâng, một kết quả thật ngọt ngào cho bà ta. Mô tả những “quả ngọt” mà bà ta nhận được, thánh sử Mát-thêu tóm tắt bằng tám chữ: “Từ giờ đó, con gái bà được khỏi”.

***
Câu chuyện “Đức Giê-su chữa con gái người đàn bà Ca-na-an” kết thúc, nói theo cách nói bình-dân-học-vụ, thì đó là một kết thúc “có hậu”.

Và, khi đã nghe qua câu chuyện, chúng ta không thể phủ nhận rằng, tính nhẫn nại và lòng kiên trì của người đàn bà Ca-na-an, chính là nhân tố tác động đến lòng thương xót của Đức Giê-su.

Vì đã không thể phủ nhận, thế nên, chúng ta cũng rất cần xem những đức tính này như là hành trang cho đời sống đức tin của mình.

Tại sao? Thưa, là bởi, những đức tính này có thể được coi là “cầu nối” dẫn đến các nhân đức khác; nó như là chất xúc tác góp phần tăng trưởng đức tin, hy vọng trong đức cậy và mạnh mẽ trong đức ái.

Thật vậy, Kinh Thánh cho chúng ta biết đến một nhân vật, nhờ có tính nhẫn nại và lòng kiên trì nên đã tăng trưởng đức tin, hy vọng trong đức cậy và mạnh mẽ trong đức ái, người đó chính là Gióp.

Ông Gióp, cho dù bị rơi vào thảm cảnh mất mát tài sản, con cái chết chóc, ông ta vẫn đón nhận trong một tinh thần nhẫn nại chịu đựng, kiên trì nguyện cầu, không chút oán trách thở than.

Nhờ vào tinh thần nhẫn nại chịu đựng, kiên trì nguyện cầu, ông Gióp đã không để cho những lời trách cứ điên rồ của bà vợ, rằng “Ông còn kiên vững trong đường lối vẹn toàn của ông nữa hay thôi? Hãy nguyền rủa và chết đi cho rồi.”, ảnh hưởng đến đức tin, đức cậy và đức ái của ông ta.

Nhờ tinh thần nhẫn nại chịu đựng, kiên trì nguyện cầu, ông Gióp đã có thể thốt lên rằng: “Chúng ta đón nhận điều lành từ Thiên Chúa, còn điều dữ, lại không biết đón nhận sao?” (x.G 2, 9-10).

****
Thiên Chúa là tình yêu. Chúng ta biết rồi. Người không loại bỏ ai. Những lời “hà khắc và nhẫn tâm” mà chúng ta nghe trong câu chuyện, thật ra là để nhấn mạnh đến tính cách của người Ki-tô hữu gốc Do Thái vẫn muốn giữ luật Mô-sê (luật cắt bì).

Tưởng chúng ta cũng nên biết “Phúc âm Mát-thêu chủ yếu viết cho các Kitô hữu người Do Thái nói tiếng Hy Lạp và người ngoại quốc, là những người tuân giữ một ít kinh Torah của Do Thái giáo.” (nguồn: internet).

“Thánh Mát-thêu, tác giả câu chuyện này”, theo lời chia sẻ của Lm. Charles, “hy vọng những lời hà khắc và tàn nhẫn này thốt ra từ miệng Đức Giê-su sẽ khiến cho người đọc khó chịu, để nhận ra loại bỏ ‘dân ngoại’ là điều xiết bao sai trái.”

Cuối cùng, ngài Lm. kết luận “Nhờ lòng tin, người đàn bà ấy được Đức Giê-su gia ân cho toại nguyện.”

Vâng, bất cứ ai đến và cầu xin Đức Giê-su, đều được Ngài gia ân cho toại nguyện. Do vậy, hãy đem đến Đức Giê-su những “nan đề” mà chúng ta không thể giải quyết.

Có lẽ, và chắc chắn rằng, cuộc sống của con em chúng ta là những nan đề lớn mà chúng ta đang phải “điên đầu” đối phó. Ai trong chúng ta dám tin chắc rằng, con em chúng ta sẽ không bị “satan ám”!

Hãy nhớ rằng “Satan never sleeps – Quỷ địa ngục không bao giờ ngủ”. Quỷ… không bao giờ ngủ. Nó luôn rình rập nơi cửa sổ tâm hồn con em chúng ta.

Chẳng phải là chúng ta đang phải chứng kiến một xã hội đầy dẫy những “sản phẩm của satan”, những sản phẩm đại loại như: những game giải trí bạo lực, những phim ảnh khiêu dâm, những game show ‘sô’ những nội dung phản giáo dục, đó sao!

Ai sẽ cứu con em mình, nếu không phải là chúng ta! Vâng, chúng ta phải hành động. Hành động như người đàn bà Ca-na-an đã hành động. Chúng ta phải kêu lên với Đức Giê-su như người đàn bà Ca-na-an đã kêu lên: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi.”

Hãy đến nhà thờ, vì nơi đây chính là nơi để chúng ta đến kêu lên với Chúa Giê-su. “Nơi đây, Chúa Giê-su ban cho chúng ta, không phải những mảnh vụn rơi vãi từ bàn ăn, mà là Mình và Máu báu trọng của Người. Đấng đến với ta trong Bí Tích Thánh Thể là Chúa muôn loài.” Vâng, Lm. Charles E.Miller đã có lời khuyên như thế.

Chưa hết, nơi đây, Chúa Giê-su còn ban cho chúng ta Lời Hằng Sống, qua phần Phụng Vụ Lời Chúa. Lời Hằng Sống sẽ “là ngọn đèn soi ta bước, là ánh sáng chỉ được ta đi.” Còn nữa, “Nhờ huấn lệnh Người ban, (ta) thành người sáng suốt, nên (ta) ghét mọi đường nẻo gian tà” (x.Tv 119, 104). Khi đã ghét mọi điều gian tà, ma quỷ nào có thể ám chúng ta!

Cuối cùng, nơi đây, Chúa Giê-su cũng sẽ cho chúng ta toại nguyện, như xưa kia Ngài đã cho người đàn bà Ca-na-an được toại nguyện: “Này con, con muốn sao thì sẽ được vậy.”

Petrus.tran

Thứ Năm, 10 tháng 8, 2023

Ta sẽ được cứu – khi ở trong thuyền

 “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ”.

Chúa Nhật XIX – TN – A
Ta sẽ được cứu – khi ở trong thuyền

 

tbd 110823a

“Một niềm phó thác đời con trong tay Ngài. Dù là đêm dài, dù là tương lai. Một niềm phó thác đời con cho Ngài. Đừng bỏ con mồ côi gục ngã trên nẻo đời.” Những dòng chữ trên đây là trích đoạn bài thánh ca “Một Niềm Phó Thác” – tác giả: Lm. Nguyễn Mộng Huỳnh.

Vâng, là một Ki-tô hữu, chắc hẳn không ai trong chúng ta lại không nhìn nhận rằng: phó thác đời ta cho Chúa là điều không thể thiếu trong đời sống đức tin của mình.

Không có sự phó thác vào Chúa, đức tin của chúng ta rất dễ bị chao đảo, lung lay mỗi khi cuộc đời mình gặp một vấn đề nan giải nào đó, để rồi cuối cùng là có nguy cơ sói mòn niềm tin.

Thế nào là niềm tin phó thác? Thưa, “Đó là lòng tín thác của con người đối với Thiên Chúa như người con đối với cha của mình.”

Đức Giê-su, trong những ngày ra đi rao giảng Tin Mừng, mỗi một bài truyền giảng, Ngài luôn hướng lòng mọi người hãy có một niềm tin phó thác. Một sự phó thác như “(những con) chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho, thế mà (Chúa) trên trời vẫn nuôi chúng”. Còn với mỗi bệnh nhân được chữa lành ư! Vâng, Ngài luôn nói với họ, rằng: “lòng tin của con đã cứu chữa con.”

Thế còn niềm tin phó thác của các môn đệ? Thưa, ba năm theo Thầy Giêsu. Ba năm cùng ăn, cùng ở với Ngài. Dù đã chứng kiến biết bao điều kỳ diệu Đức Giêsu đã làm, như “chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật” kể cả những kẻ “bị quỷ ám”v.v… Và dù đã thấy rõ Ngài đã “chữa một người đàn bà băng huyết đã mười hai năm” chỉ nhờ vào “lòng tin phó thác” của bà ta, thế nhưng, các môn đệ dường như vẫn thiếu niềm tin tưởng phó thác nơi Thầy Giêsu! Sự thiếu niềm tin phó thác nơi các ông đã bộc lộ không dưới một lần.

Lần thứ nhất xảy ra trong dịp các ông và Đức Giêsu có một cuộc hải trình băng qua biển hồ Tiberia. Chuyện được kể rằng: “Một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước”. Vâng, thuyền đầy nước đến độ các ông tưởng rằng Thầy và trò “chết đến nơi rồi…”. Chỉ đến khi Đức Giêsu “ngăm đe gió và truyền cho biển: Im đi. Câm đi”. Lúc đó các ông mới cảm thấy “tẽn tò” trước lời trách cứ của Thầy mình: “Sao nhát thế, hỡi những người kém lòng tin” (Mt 8,26).

Còn lần thứ hai? Thưa, lần này xảy ra sau biến cố Đức Giê-su làm phép lạ “hóa bánh ra nhiều” cho hơn năm ngàn người ăn. Sự kiện này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (x.Mt 14, 22-33).

**
Câu chuyện được thánh Mát-thêu ghi lại như sau: Hôm ấy, sau biến cố làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho hơn năm ngàn người ăn, Đức Giê-su “liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng”.

Vâng, vẫn là một chuyến hải trình như mọi chuyến hải trình trước kia. Tuy nhiên, chuyến hải trình lần này có chút khác biệt, đó là, lần này không có Đức Giêsu cùng đi theo.

Đức Giê-su đâu? Thưa, hôm đó, sau khi giải tán đám đông “Người lên núi một mình và cầu nguyện”. Rồi, khi trời đã sụp tối và “Người vẫn ở đó một mình. Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả mấy cây số”, thì bất ngờ, “thuyền bị sóng đánh vì ngược gió”.

Bị-sóng-đánh-vì-ngược-gió, chứ không phải sóng-ập-vào-thuyền-đến-nỗi-thuyền-đầy-nước, như chuyến hải trình lần trước. Thế nên, không thấy các môn đệ hoảng hốt sợ hãi.

Thế nhưng, “vào khoảng canh tư”, một sự kiện kỳ lạ xảy ra và đã làm cho các ông hoảng hốt. Vâng, chuyện kể rằng: Đức Giê-su – “Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ.”

Người đời thường nói: “Tâm ma mới gặp ma”. Tâm chứa điều gì, cuộc đời sẽ kết duyên với điều đó. Tâm chứa ma thì luôn nghĩ đến ma. Luôn nghĩ đến ma thì sẽ nhìn thấy ma. Luôn nhìn thấy ma thì sẽ dễ sống trong tâm trạng có ma bên mình.

Có vẻ như lời nhận định trên là đúng! Hãy nhìn xem mười hai môn đệ đang hiện diện trên con thuyền. Họ đã dám bỏ hết mọi sự để theo Đức Giê-su. Đã cùng ăn, cùng ở và cùng làm việc với Ngài. Hàng ngày luôn kề cận bên Ngài. Thế mà, than ôi! Thân các ông bên Chúa nhưng tâm của các ông lại là “tâm ma”… Phải chăng, chính vì thế nên các ông đã không nhận ra Chúa!

Hôm ấy, theo lời thánh Mát-thêu kể lại: “Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: Ma đấy!”. Vâng, các ông đã “sợ hãi la lên”, như thế!

Đức Giê-su có trách các ông, như lần trước! Thưa không. Không khiển trách như lần trước. Lần này, Đức Giêsu có vẻ như thấu hiểu nỗi lòng của các ông. Nỗi lòng của những con người đang phải sống trong một xứ sở, ra ngõ là phải đụng mặt những tên “ma đầu giáo chủ”. Đó là những “ông kẹ” Phariseu, Sa- đốc, v.v… luôn rình rập, chực chờ hãm hại Ngài cũng như các môn đệ của Ngài.

“Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ”. Vâng, lời phán truyền của Thầy Giê-su đã làm cho các ông định hướng lại sự suy nghĩ của mình.

Phê-rô, ông Phê-rô ngay lập tức, nói lên suy nghĩ của mình, rằng: “Thưa Ngài, nếu là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.”

“Thưa Ngài, nếu là Ngài…” Ông Phê-rô nói như thế. Thế mà, thật ngạc nhiên, Đức Giê-su không một lời khiển trách về sự “nghi ngờ” của Phê-rô. Ngài đã bảo ông: “Cứ đến”. Nghe Đức Giê-su nói thế, chuyện kể tiếp rằng: “Ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giê-su.”

Mọi việc tưởng chừng suôn sẻ. Thế nhưng, “nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ”. Rồi khi cảm thấy “bắt đầu chìm, ông la lên: Thưa Ngài, xin cứu con với!”

Thánh Vịnh (118, 5-6) có lời chép rằng “Giữa cảnh gian truân, tôi đã kêu cầu Chúa. Chúa đáp lời và giải thoát tôi. Có Chúa ở cùng tôi, tôi chẳng sợ gì”.

Mà thật vậy, hôm ấy, ông Phê-rô đã kêu cầu và Đức Giê-su đã đáp lời. Ngài đáp lời Phê-rô bằng cách “đưa tay nắm lấy ông.”

Tiếp sau đó, Đức Giê-su có lời trách: “Người đâu mà kém tin vậy. Sao lại hoài nghi?” Vâng, chỉ là một lời trách cứ nhẹ nhàng nhưng cần thiết. Cần thiết cho ông Phê-rô (và cũng là cho chúng ta hôm nay.)

Cứ ở trên thuyền, rồi Thầy Giê-su sẽ đến, thì đã sao!

Vâng, chia sẻ về sự kiện này, Lm.Charles E.Miller có lời rằng: “Có lẽ Đức Giê-su chấp thuận lời yêu cầu khó đáp ứng này vì muốn dạy Phê-rô và hết thảy chúng ta một bài học: Hãy hài lòng về cách hành động của Chúa, chứ đừng đòi hỏi Người làm theo cách chúng ta.”

“Anh chị em phải ở lại trên thuyền, vì chiếc thuyền tượng trưng cho Giáo Hội” – ngài Charles có lời tiếp rằng: “Chiếc thuyền này sẽ không bao giờ chìm, thậm chí giữa cơn sóng ba đào vốn tạo ra những gương mù gương xấu nghiêm trọng trong lòng Giáo Hội khiến ta mất phương hướng. Con thuyền Giáo Hội sẽ không lật úp cho dù bị tròng trành bởi những cơn bão lớn đe dọa khiến ta mất lòng tin và đâm ra xao xuyến. Mặc cho phương pháp người khác chọn là gì, (chúng) ta biết mình luôn sẽ tìm thấy Thiên Chúa ở đâu.”

Thiên Chúa ở đâu? Đức Giê-su ở đâu? Thưa, “ở trên thuyền”. Chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa ở trên thuyền. Chúng ta sẽ thấy Đức Giê-su ở trên thuyền.

Hôm ấy, “Khi Thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng ngay.” Hôm nay, khi chúng ta và Chúa cùng ở trong con thuyền Hội Thánh, thì dù con thuyền Hội Thánh có phải gặp “những cơn ba đào nhiều phen nguy biến”, Ngài cũng sẽ làm cho lặng ngay. Quý vị có tin thế không? Hãy tin, vì Chúa Giê-su đã tuyên phán: “…Trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được”. (Mt 16, 18).

Chúng ta hãy tin và hãy ở lại trong thuyền, như xưa kia, các môn đệ, là “những kẻ (đã) ở trong thuyền.” (x.Mt 14, 33).

***
Như các môn đệ xưa đi trên con thuyền “bị sóng đánh và ngược gió”, hôm nay, con-thuyền-cuộc-đời của mỗi chúng ta cũng không thoát khỏi những cơn sóng hung hãn của thế gian dưới sự điều khiển của Satan.

Đó chính là những “làn sóng chủ thuyết” những loại chủ thuyết cho rằng thì-là-mà làm gì có Chúa, mà nếu có thì “Chúa đã chết rồi!” Nói cho đúng hơn, những làn sóng chủ nghĩa này cho rằng “… khi nghe tin rằng ‘vị thần cũ đã chết’, chúng ta các nhà triết học và ‘các tinh thần tự do’ cảm thấy được một bình minh mới chiếu rọi.” (Friedrich Nietzsche).

Một-bình-minh-mới-chiếu-rọi, nghe rất quyến rũ, nhỉ! Có, có không ít người, bị ảnh hưởng bởi những loại chủ thuyết này, đã rời bỏ con thuyền Giáo Hội. Họ, như các môn đệ xưa nhìn thấy Đức Giê-su, nhưng tưởng Ngài là ma. Trái lại, khi nhìn thấy những con-ma-chủ-thuyết, họ tưởng lầm là đấng đáng kính phục.

Có một số Ki-tô hữu đã lấy số tử vi, xem sách phong thủy, đọc sách xem bói, thấy những dị đoan lại tưởng là có quyền năng nên tin tưởng và vâng phục.

Coi chừng! Chúa cấm đó: “Vì... lũ thầy bói chỉ thị kiến điều gian trá; chúng công bố những giấc chiêm bao nhảm nhí, nói những lời an ủi vu vơ.” (x.Dcr 10, 2).

Đừng chọc giận Gia-vê bằng những tin tưởng bói toán hoặc dị đoan. Vì chỉ có Thiên Chúa toàn năng, là Ðấng có quyền năng “làm ra sự bình an và dựng nên sự tai vạ”, mà thôi. (Is 45, 7).

Còn, còn một cơn sóng cũng rất hung hãn đang đe dọa chúng ta và con cháu chúng ta. Đó chính là những làn sóng cổ vũ cho một nền “văn hóa sự chết”, một nền văn hóa “sống chung – sống thử”, một nền “văn hóa phá thai”, một nền văn hóa, như lời Lm. Đỗ Trung Thành, OP nói: “làm cho con người đang dần dần đánh mất phẩm giá cao quí mà Thượng Đế ban tặng, biến con người trở nên ‘thú dữ’ giết hại lẫn nhau, thậm chí đó là những người thân yêu nhất của mình, ngay cả ‘giọt máu’ khi còn ‘trứng nước’…”

****
Chúng ta sẽ làm gì để đương đầu với những làn sóng hung hãn (nêu trên)? Thưa, hãy theo gương ngài Phê-rô “la lên” với Đức Giê-su, rằng: “Lạy Chúa! Xin cứu Giáo Hội chúng con. Xin cứu chúng con và con cháu chúng con”.

Đức Giê-su sẽ đến cứu. Thế nhưng, hôm nay, Ngài không “đi trên mặt biển mà đến” với chúng ta “vào khoảng canh tư”, như ngày xưa. Mà này, Ngài đã đến rồi! Ngài đã đến và đang hiện diện 24/24 trong nhà thờ.

Trong nhà thờ, “Người nói với chúng ta bằng những lời trong Sách Thánh, không phải qua tiếng thét gầm của dông bão, mà qua âm giọng bình thường của con người (đó là những vị linh mục). Chúa Giê-su đến với chúng ta, không phải qua những tiếng động kinh hồn của cơn địa chấn, mà dưới hình ‘bánh và rượu’ đơn sơ.”

Đó, đó là những lời chia sẻ của Lm. Charles. Chưa hết, ngài Lm. còn có lời khuyên: “Trong mọi hoàn cảnh và trước mọi nhu cầu của cuộc sống, ta sẽ tìm thấy Chúa với điều kiện là phải ở trên thuyền, làm môn đệ trung tín của Người trong Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, Công Giáo và tông truyền.”

Vâng, nói tắt một lời, “ta sẽ được cứu – khi ở trong thuyền”.

Petrus.tran


Thứ Năm, 3 tháng 8, 2023

Hãy cùng nhau lên Đền Thánh Chúa

 “Chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng: Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người”

Chúa Nhật XVIII – TN – A
Hãy cùng nhau lên Đền Thánh Chúa

tbd 030823a


Tin Mừng thánh Gio-an có một câu chuyện được kể như sau. Chuyện kể rằng: Sau khi đáp lời mời gọi và đi theo Đức Giê-su, ông Phi-lip-phê gặp ông Na-tha-na-en và nói: “Đấng mà sách Luật Mô-sê và các ngôn sứ nói, chúng tôi đã gặp: đó là ông Giê-su, con ông Giu-se, người Na-da-rét.”

Nghe thế, ông Na-tha-na-en liền bảo: “Từ Na-da-rét làm sao có cái gì hay được?” Ông Phi-lip-phê trả lời: “Cứ đến mà xem.” Cứ-đến-mà-xem và ông Na-tha-na-en đã nghe lời ông Phi-lip-phê tìm đến Đức Giê-su.

Khi Đức Giê-su thấy ông Na-tha-na-en tiến về phía mình, (Ngài) liền nói về ông rằng: “Đây đích thực là một người Israel, lòng dạ không có gì gian dối.” Nghe thế, Na-tha-na-en hỏi Đức Giê-su: “Làm sao Ngài biết tôi?” Đức Giê-su trả lời: “Trước khi Phi-lip-phê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi.”

“Thuyết phục!” Vâng, chúng ta có thể nghĩ như thế, rằng ông ta đã bị thuyết phục trước lời tuyên bố của Đức Giê-su. Mà, thật vậy, sự thuyết phục nơi ông Na-tha-na-en được biểu lộ qua lời đáp của ông với Đức Giê-su. Ông đáp rằng: “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Israel.”

Nghe thế, một lời trách, “trách yêu” nếu được phép nói như thế, của Đức Giê-su được thốt lên: “Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin. Anh sẽ còn được thấy nhiều điều lớn lao hơn thế nữa.”

Không biết vào thời điểm đó, có bao nhiêu người đã đi theo Đức Giê-su. Tuy nhiên, chúng ta có thể suy đoán rằng, ít nhất là có các ông: Phê-rô, An-rê, Gio-an, Gia-cô-bê, Phi-lip-phê và Na-tha-na-en.

Vâng, cứ tạm cho là sáu người. Và sáu người đó, đã nghe rõ lời Đức Giê-su tuyên bố: “Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời mở rộng, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người.”

“Anh sẽ còn được thấy nhiều điều lớn lao. Và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người.” Thật vậy, ba trong số sáu người (nêu trên) là ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an đã “được thấy”. Các ông đã được thấy vào hôm Đức Giê-su “đem các ông đi theo mình… tới một ngọn núi cao.”

Sự kiện này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (Mt 17, 1-9).

**
Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại: Hôm đó, “Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình”. Nơi Ngài cùng các ông tới, đó là “một ngọn núi cao”.

Khi Thầy và trò đang ở trên núi, một hiện tượng vô tiền khoáng hậu đã xảy ra. Đức Giê-su, “Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng”.

Và đây, điều mà Đức Giê-su nói với Na-tha-na-en, rằng “anh sẽ còn được thấy nhiều điều lớn lao hơn” đã thành sự thật. Vâng, sự thật đó là: ba chàng ngự lâm Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an “thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người”.

Mô-sê, Ê-li-a và Đức Giê-su đàm đạo chuyện gì! Chúng ta không thấy thánh sử Mát-thêu nhắc tới. Nhưng thánh sử Luca có ghi lại rằng: “Hai vị hiện ra, rạng ngời vinh hiển, và nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem.” (Lc 9, 31).

Vâng, sáu ngày trước, Đức Giê-su đã nói với các môn đệ, rằng: “Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại.”

Khi nghe lời công bố của Thầy Giê-su, ông Phê-rô cho rằng, làm thế nào việc này lại có thể xảy ra! Thế là, không một chút đắn đo, ông Phê-rô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện đó”. Nhưng Đức Giê-su đã bảo Phê-rô rằng: “Sa-tan, lùi lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.”

“Sáu ngày sau” là hôm nay, ở trên ngọn núi này, ông Phê-rô (có phần chắc) nghe rõ mồn một Mô-sê, Ê-li-a và Đức Giê-su đàm đạo với nhau về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem.

Vậy, bây giờ phải làm gì! Thưa, câu chuyện kể tiếp rằng: Ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su: “Lạy Ngài chúng con ở đây thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a”. (x.Mt 17, 4).

Ý tưởng của ông Phê-rô cũng thật là hay đấy nhỉ! Này nhé! biết đâu sau khi lều trại xong xuôi, mọi người đã an vị, ông Phê-rô tìm cách gặp riêng ông Mô-sê để hỏi cho ra lẽ biến cố vượt qua Biển Đỏ, năm xưa. Hoặc gặp riêng ông Ê-li-a để hàn huyên chuyện Nước Trời ra sao v.v…

(Vâng, chỉ là một chút suy nghĩ của người viết, một kiểu suy nghĩ của phàm nhân, hẳn là không phải của ông Phê-rô và nhất là không phải của Thiên Chúa.)

Tiếp tục với câu chuyện. Hôm ấy, khi ông Phê-rô còn đang nói: “Chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng: Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người” - “Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng ngã sấp mặt xuống đất”.

Phải kinh hoàng thôi, bởi vì, Giê-su hôm nay không chỉ là “con ông Giu-se, người Na-da-rét” nhưng còn là “Con yêu dấu của Thiên Chúa.”

Hôm ấy, để xoá tan nỗi kinh hoàng của các ông, Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo: “Trỗi dậy đi, đừng sợ”. Cái chạm của Đức Giê-su đã đem các ông trở lại với thực tại của mình. Chuyện kể tiếp rằng: “Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su mà thôi”.

***
Ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan cùng Đức Giê-su lên núi. Các ông đã nhìn thấy vinh quang của Thầy Giê-su. 

Sự kiện này, ông Phê-rô đã không “dựa theo những chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo, nhưng là (ông) đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người” (2Pr 1,16).

Với tông đồ Gioan, ngài có lời truyền dạy: “Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giêsu Kitô, Con của Người” (1Ga 1,3).

Hôm nay, khi đã là một Kitô hữu, có bao giờ chúng ta xác tín rằng: tôi cũng như ngài Phê-rô, đã thấy “tận mắt” Đức Giê-su? Có bao giờ chúng ta xác tín rằng: tôi đã thực sự “hiệp thông với Đức Giêsu Kitô”?

Sao? Chưa hả! Nếu chưa, hãy “lên núi” như ba người môn đệ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an, năm xưa đã lên núi.

Đừng nghĩ rằng, chúng ta phải làm một chuyến “trại bay”, bay qua Do Thái, rồi thuê taxi đến núi Tabor. Không, không cần phải làm như thế!

“Núi” mà hôm nay chúng ta lên, không nhất thiết là những ngọn núi lừng danh bởi những tên gọi, và nay đã được ghi vào lịch sử Giáo Hội. “Núi” của hôm nay, đó chính là “những ngôi nhà thờ”.

Nơi những-ngôi-nhà-thờ, chúng ta cũng sẽ được gặp Mô-sê và Ê-li-a qua việc công bố Lời Chúa, phần Cựu Ước. Nơi đây, chúng ta cũng sẽ được nghe tiếng phán của Thiên Chúa, qua việc công bố Lời Chúa, phần Tân Ước.

Chưa hết! Nơi đây, chúng ta cũng sẽ được thấy “Đức Giê-su biến hình” nơi Bàn Tiệc Thánh Thể. Còn nữa! Nơi Bàn Tiệc Thánh Thể, Đức Giê-su, qua các linh mục chủ tế, cũng sẽ có lời nói với chúng ta rằng: “Phúc cho ai ‘lên’ dự tiệc…”

****
Hôm nay, Đức Giê-su vẫn tiếp tục mời chúng ta cùng lên núi với Ngài. Nói theo cách nói ở trên, đó là “đến nhà thờ với Ngài”. Đến nhà thờ với Ngài, không chỉ để được thấy “Ngài biến hình nơi Bàn Tiệc Thánh Thể”, mà còn để Ngài “biến đổi” con người chúng ta. Nói rõ hơn, để Đức Giê-su “biến hóa” con người chúng ta.

Vâng, đó là điều khẩn thiết. Rất, rất khẩn thiết, bởi nếu chúng ta không “biến hoá” tâm hồn mình, đừng hy vọng chúng ta sẽ không bị “đồng hoá” với thế gian cùng với tội lỗi của nó.

Thế gian cùng với tội lỗi của nó, chúng ta biết rồi. Đó là: “dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tương, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén…”

Đây là những chước cám dỗ có một sức mạnh mãnh liệt, rất dễ làm cho chúng ta sa vào. Theo lời cảnh báo của ĐGM. GB Bùi Tuần, thì: “Hiện nay, các chước cám dỗ đang phát triển mạnh. Chúng hoạt động một cách tự do. Hiện diện của chúng là đều khắp trong đạo ngoài đời.”

Ghê quá nhỉ! Đúng, rất ghê! Do vậy, thánh Phao-lô đã có lời khuyến cáo: “những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Trời.”

Thế nên, để không bị sa vào những chước cám dỗ nêu trên, và để được “thừa hưởng Nước Trời”, không có gì tốt hơn là chúng ta cùng-lên-núi-với-Chúa. Chúng ta “cùng đến nhà thờ với Ngài”. Chúng ta cùng nhau “Tiến tiến bước lên đền, đền thánh của Người.” (trích nhạc phẩm: Lên Đền Thánh. Tác giả: Lm. Thành Tâm).

Vâng. Chúng ta “Hãy cùng nhau lên Đền Thánh Chúa”.

Petrus.tran

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...