Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2024

Ngoài Chúa ra… con theo ai bây giờ!

 “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.”

Chúa Nhật XXI – TN – B
Ngoài Chúa ra… con theo ai bây giờ!

tbd 230824a


Để cho Tin Mừng được loan báo khắp tứ phương thiên hạ, Đức Giê-su đã tuyển chọn mười hai vị môn đệ. Và đây là tên mười hai vị được gọi là Tông Đồ: “đó là Simon, cũng gọi là Phêrô, rồi đến ông An-rê, anh của ông, sau đó là ông Giacôbê con ông Dê-bê-đê và ông Gioan, em của ông; ông Philipphê và ông Bartôlômêô, ông Matthêu người thu thuế và ông Tôma, ông Giacôbê con ông Alphê và ông Simon cũng gọi là Nhiệt Thành, Giuđa con ông Giacôbê và Giuđa Iscariốt là kẻ phản bội.” (x.Lc 6, 12-16).

Trong mười hai vị tông đồ, có một vị đã được Đức Giê-su trao cho quyền hạn rất cao trọng, đó là ông Phê-rô. Đức Giê-su đã trao cho ông Phê-rô “chìa khóa Nước Trời” cùng với quyền “cầm buộc và tháo cởi”.

Tại Xê-ra-dê Phi-lip-phê, Đức Giê-su đã tuyên bố rằng: “Này anh Si-mon con ông Giô-na, anh thật là người có phúc… Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” (x.Mt 16, 17-19).

Hồi ấy, sau lời tuyên bố này, không một ai trong số mười một tông đồ còn lại, phản đối sự việc Đức Giê-su trao quyền cho ông Phê-rô.

Vâng, chẳng có gì để phản đối. Bởi vì, ông Phê-rô xứng đáng được nhận lãnh. Xứng đáng nhận lãnh, vì trong nhóm Mười Hai, ông Phê-rô là người có một niềm tin sắt son vào Đức Giê-su.

Thật vậy. Bỏ qua việc ông Phê-rô “chối Thầy ba lần”, một sự yếu đuối nhất thời, của ông. Thì, niềm tin sắt son vào Đức Giê-su của ông Phê-rô đã được minh chứng rất nhiều lần. Một trong những minh chứng rõ nhất, đó là hôm Đức Giê-su cùng nhóm Mười Hai đến Ca-phác-na-um.

**
Hôm đó, tại nơi đây, Đức Giê-su đã công bố một bài diễn từ. Bài diễn từ nói về “Bánh trường sinh – Bánh hằng sống”. Trước đám đông cử tọa, Ngài tuyên bố rằng: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”.

Đối với chúng ta hôm nay, lời tuyên bố nêu trên, không có gì phải tranh cãi. Nhưng, với người Do Thái thời đó, họ đã “tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được”.

Bất chấp những lời tranh luận của họ, Đức Giê-su tiếp tục bài diễn từ, rằng: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống trong mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống” (x.Ga 6, 53-55).

Sau khi kết thúc bài diễn từ, một làn sóng phản ứng dữ dội đã nổ ra. Sự phản ứng không chỉ đến từ dân chúng mà còn đến từ một số môn đệ của Đức Giê-su.

Thật vậy, theo lời tường trình của thánh sử Gio-an, “nhiều môn đệ của Người nói: Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” (x.Ga 6, 60).

Đúng, đúng là chướng tai với người Do Thái. Đối với người Do Thái, huyết máu là thực phẩm cấm kỵ, luật Lê-vi dạy rằng “bất cứ người nào thuộc nhà Israel… ăn bất cứ thứ huyết nào, thì Ta sẽ quay mặt lại phạt kẻ ăn huyết và sẽ khai trừ khỏi dân nó… Không một ai trong các ngươi được ăn huyết” (Lv 17, 10…12).

Luật là vậy. Nhưng Đức Giê-su vẫn không đính chính, không giải thích như Ngài vẫn thường giải thích, sau mỗi lần giảng dạy một điều nào đó, bằng dụ ngôn.

Hôm ấy, dù “biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy”, Đức Giê-su (vẫn) bảo với các ông: “Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư!”

Tiếp đến, Ngài mở ra một nhãn giới mới, hầu giúp cho người Do Thái hiểu rõ hơn sứ điệp của mình, qua lời nhắn gửi rằng: “Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao? Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì.” Cuối cùng, Đức Giê-su kết luận: “Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống.” (x.Ga 6, 62-63).

Người Do Thái xưa, có hiểu và tin vào những điều Đức Giê-su nói (nêu trên) không? Có lẽ là không? Vâng, là không. Vì, theo thánh sử Gio-an cho biết: “Đức Giê-su đã biết những kẻ nào không tin…” Họ không tin thì họ đâu cần hiểu lời Đức Giê-su nói!

Trong một nỗ lực nhằm giải tỏa sự giằng co giữa việc tin hay không tin, Đức Giê-su nói tiếp: “Vì thế, Thầy đã bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho.”

Đáng tiếc thay! Nỗ lực của Đức Giê-su tan biến như bọt xà phòng. Thánh sử Gio-an kể tiếp rằng: “Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa.” (x.Ga 6, 66).

***
“Nhiều môn đệ rút lui.” Những người môn đệ này là ai? Thánh sử Gio-an không cho chúng ta biết. Thế còn “nhóm Mười Hai”, phải chăng cũng rút lui! Hay là, họ “bước đi một bước dây dây lại dừng”! Vâng, đó chỉ là trí tưởng tượng của người viết.

Thực tế là họ không rút lui. Nhóm Mười Hai vẫn ở lại. Và, Đức Giê-su đã hỏi Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi sao?”

Nghe thế, nhóm Mười Hai, với hai mươi bốn con mắt nhìn nhau… nhìn nhau trong thinh lặng. Trong thinh lặng, tâm tư các ông cố tìm cho mình một câu trả lời. Và, ai sẽ là người lãnh ấn tiên phong trả lời câu hỏi của Thầy Giê-su?

Vâng, sau vài giây phút, sự thinh lặng bị phá vỡ. Nó bị phá vỡ bởi tiếng nói mạnh mẽ của ông Phê-rô. Hôm ấy, ông Phê-rô mạnh mẽ nói với Thầy Giê-su, rằng: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.”

Tiếp đến, với niềm tin sắt son của mình, ông Phê-rô trải lòng ra với Thầy Giê-su: “Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa.” (x.Ga 6, 69).

****
Bài diễn từ của Đức Giê-su là thế đó. Ngày nay, bài diễn từ này vẫn được công bố mỗi giờ, mỗi ngày, trong Thánh Lễ. Trong Thánh Lễ, vị linh mục chủ tế vẫn tiếp tục công bố bài diễn từ, bằng những lời nguyện thiết tha.

Lời nguyện rằng: “Lạy Chúa, Chúa thật là Ðấng Thánh, là nguồn mọi sự thánh thiện. Vì thế, chúng con nài xin Chúa dùng ơn Thánh Thần Chúa thánh hóa những của lễ này, để trở nên cho chúng con, Mình và Máu Ðức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng con.

Khi tự nguyện nộp mình chịu khổ hình, Người cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ mà nói: Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn: Vì Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con. Cùng một thể thức ấy, sau bữa ăn tối, Người cầm lấy chén, cũng tạ ơn, trao cho các môn đệ mà nói: Tất cả các con hãy nhận lấy mà uống: vì Này là chén Máu Thầy, Máu giao ước mới và vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.” (trích nguồn: Ủy Ban Phụng Tự Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam 2005).

Vâng, đây là “Máu giao ước mới và vĩnh cửu… đổ ra cho chúng ta”. Mà, đổ ra cho chúng ta, thì chẳng phải chúng ta chính là “đối tác của giao ước”, đó sao!

Vì thế, điều thứ nhất và quan trọng nhất, đó là: chúng ta hãy đặt bút ký vào bản giao ước này. Bởi vì đây là một bản giao ước rất quan trọng, quan trọng cho sự sống muôn đời của chúng ta.

Xưa, Thiên Chúa đã mời gọi dân Do Thái làm đối tác trong một bản giao ước, bản giao ước có điều khoản, rằng: “Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch Ta” (Xh 20, 3). Ông Giô-suê, người lãnh đạo dân Israel, sau khi ông Mô-sê chết, đã hiểu được tầm quan trọng của điều khoản này. Ông đã đưa ra một tối hậu thư cho dân mình rằng: “Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ ĐỨC CHÚA, thì hôm nay anh em cứ tùy chọn thần mà thờ…” Về phần ông Giô-suê, ông nói: “Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ ĐỨC CHÚA” (x.Gs 24, …15).

Nay, Đức Giê-su cũng đã lập một giao ước… bằng Máu “máu giao ước mới và vĩnh cửu…” cho chúng ta. Ngài cũng đã gửi một bản tối hậu thư cho chúng ta, rằng: “Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời”.

Tối hậu thư của ông Giô-suê gửi cho dân Do Thái xưa, đã được phúc đáp. Người Do Thái đã phúc đáp rằng: “Về phần chúng tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ ĐỨC CHÚA, vì Người là Thiên Chúa của chúng tôi.”

Tối hậu thư của Đức Giê-su, chúng ta sẽ phúc đáp! Phải phúc đáp. Bởi vì, khi phúc đáp chính là lúc chúng ta đã làm xong “một bài trắc nghiệm cho lòng tin vào chính Đức Giê-su”.

Và, để có thể làm được bài trắc nghiêm này, trước hết chúng ta hãy tự hỏi: trong đời sống đức tin của mình, chúng ta có chán nản, muốn “rút lui”, muốn rời bỏ Giáo Hội? Chúng ta có tin vào Lời của Chúa và tin vào chính Chúa. Biết rõ Chúa Giê-su là ai và nắm vững lời Ngài truyền dạy?

Khi chúng ta có lời giải đáp cho những câu hỏi nêu trên, nó sẽ giúp chúng ta vững bước trên đường về Nước Trời. Khi chúng ta nhận ra Đức Giê-su là Đấng-Thánh-của-Thiên-Chúa, chúng ta sẽ có lời phúc đáp với Đức Giê-su, rằng: “Ngoài Chúa ra… con theo ai bây giờ!”

Petrus.tran

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2024

Hãy đến… Cầm lấy mà ăn

 “Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” (Ga 6, 58).

Chúa Nhật XX – TN – B
Hãy đến… Cầm lấy mà ăn

tbd 170824a


Như chúng ta được biết, trước khi về trời, Đức Giê-su đã sai các môn đệ ra đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân. Ngài nhắc nhở các môn đệ là phải: “dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” (x.Mt 28, 20).

Xưa, các vị môn đệ, có phần chắc, là có dạy bảo nhiều điều “Thầy đã truyền” cho những người tín hữu của mình. Và, ngày nay, cũng có phần chắc là những vị kế tục các môn đệ, cũng đã và đang dạy bảo cho người tín hữu của mình rất nhiều điều Đức Giê-su đã truyền dạy.

Vâng, mọi việc “dạy bảo” vẫn luôn được tiếp diễn. Tuy nhiên, có bao giờ chúng ta hỏi… hỏi những-vị-kế-tục-các-môn-đệ ngày nay, gần gủi nhất là các linh mục, rằng: điều gì được các ngài “dạy bảo” nhiều nhất, thường xuyên nhất cho người tín hữu của mình?

Có lẽ, có lẽ không ít vị linh mục sẽ nói, điều mà tôi “dạy bảo” cho tín hữu của mình thường xuyên nhất, đó là: hãy siêng năng tham dự Bí Tích Thánh Thể. Đúng, đúng quá đi chứ!

Là Bí Tích Thánh Thể. Bởi, “Bí Tích Thánh Thể là chóp đỉnh và là nguồn mạch của đời sống Kitô hữu.” (nguồn: internet). Tham dự Bí Tích Thánh Thể chính là tham dự vào bàn tiệc “Mình và Máu Thánh Chúa Kitô.”

Đây là “một món quà kỳ diệu” mà Thiên Chúa đã ban cho con người, qua Đức Giê-su Ki-tô. Lm. Charles E.Miller đã có lời chia sẻ, như thế. Tại Ca-phác-na-um, hơn hai mươi thế kỷ trước, Đức Giê-su đã “mở” món quà này bằng một bài diễn từ “long trời lở đất”, gây ngạc nhiên tột độ cho mọi người.

**
Vâng, mở đầu bài diễn từ, Đức Giê-su có lời tuyên bố rằng: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. (x.Ga 6, 51).

Ngạc nhiên không! Có chứ! Người Do Thái hồi ấy đã rất ngạc nhiên. Họ ngạc nhiên vì ”bánh từ trời xuống”, có đấy! Thế nhưng… nhưng là manna, một loại bánh mà “Tổ tiên họ đã ăn trong sa mạc”.

Còn hôm nay, người vừa tuyên bố là ông Giê-su người Na-da-rét… Làm sao ông ấy lại dám nói “tôi là bánh… từ trời xuống!” Khủng khiếp hơn nữa: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?”

Thánh sử Gio-an cho biết, họ đã “tranh luận sôi nổi” về những gì Đức Giê-su tuyên bố.

Dẫu vậy, Đức Giêsu vẫn dõng dạc tuyên phán: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống.” (x.Ga 6, 53-55).

Vai trò và sứ vụ của Đức Giêsu đến thế gian, là để cho thế gian “được sống muôn đời”. Đây là lời hứa đến từ trời cao, đến từ “Chúa Cha là Đấng hằng sống”.

Thế nên, hôm ấy, không ngại trước những nghi ngờ của đám đông dân chúng, Đức Giê-su tái khẳng định, rằng: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy.”

Kết thúc bài diễn từ, Đức Giê-su xác quyết: “Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” (Ga 6, 58).

***
Tất cả những điều (nêu trên) đã được Đức Giê-su “giảng dạy trong hội đường, ở Ca-phác-na-um” (x.Ga 6, 59).

Vâng, đó là những điều Đức Giê-su “giảng dạy”. Và, những điều giảng dạy này, đã được Ngài hiện thực hóa trong bữa tiệc Vượt Qua. Trong bữa ăn đó, “Đức Giê-su cầm lấy bánh dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra trao cho môn đệ và nói: Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy. Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu giao ước đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26, 26-28).

Lm Giuse Nguyễn Hữu An, trong bài viết ”Thánh Thể Là Trung Tâm Đời Sống Kitô Hữu”, cũng có lời chia sẻ rằng: “Vào đêm bị trao nộp trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã thiết lập hy tế Tạ Ơn. Ngài cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra trao cho các môn đệ và nói: Này là Mình Thầy, các con hãy cầm lấy mà ăn. Rồi Người cầm lấy chén rượu và nói: Này là Máu Thầy, các con hãy cầm lấy mà uống. (Mt 26, 26- 29; Lc, 22, 14-19).

Đây là hy tế của Giao Ước Mới được thiết lập bằng máu Đức Kitô như một biến cố vượt qua của Người trên thập giá: “Chén này là Giao Ước Mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 22,20). Đức Giê-su ủy thác việc tưởng niệm biến cố này cho các Tông đồ, cũng như cho Hiền thê yêu quý của Người là Giáo hội: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19).

Tất cả mọi sự đều đã rõ. Thế nên, thiết nghĩ rằng, chúng ta không cần tranh luận (tranh cãi) gì nữa về những lời giảng dạy của Đức Giê-su tại Ca-phác-na-um, năm xưa. Bởi vì, “Đây là mầu nhiệm đức tin”.

Và, có lẽ chúng ta cũng không cần “bức xúc” về sự kiện trong những ngày vừa qua, có một “nhúm” người, dùng nghệ thuật báng bổ bữa tiệc cuối cùng, chúng ta thường gọi là “bữa tiệc ly”, một bữa tiệc mà Đức Giê-su đã thiết lập Bí Tích Thánh Thể, là chính “Mình và Máu Thánh” của Ngài, để những ai “cầm lấy mà ăn” thì sẽ được “sự sống đời đời”.

Tại sao… tại sao chúng ta không cần “bức xúc”? Thưa, bởi những kẻ báng bổ đó chỉ là “những người hư mất… những kẻ không tin”. Thánh Phao-lô trình bày rõ ràng rằng: “Họ không tin, vì tên ác thần của đời này đã làm cho tâm trí họ ra mù quáng, khiến họ không thấy bừng sáng lên Tin Mừng nói về vinh quang của Đức Ki-tô, là hình ảnh của Thiên Chúa.” (II Cor 4, 4).

Chỉ có những kẻ tin, mới có thể nhìn thấy “vinh quang của Đức Ki-tô”. Còn chuyện báng bổ, nhạo báng đức tin Ki-tô Giáo ư! Không…không có gì mới mẻ. Thời thánh Phê-rô còn tại thế, báng bổ, nhạo báng Ki-tô giáo là chuyện “thường xảy ra ở huyện”.

Ngài Phê-rô gọi những kẻ này là những kẻ vô luân “sống theo những đam mê riêng của họ.” (II Pr 3, 3) Cuối cùng là gì? Thưa, tông đồ trưởng nói “chúng phải diệt vong”. Thế thôi!

Đối với những “drag-queen - người nam giả nữ” là những kẻ góp mặt trong “màn trình diễn tại lễ khai mạc Thế vận hội (Paris 2024), dùng một thứ nghệ thuật quái quỷ, nhại lại bức tranh ‘Bữa tối cuối cùng’ của Leonardo da Vinci”, thì cũng đừng… đừng vì thế mà “sợ và xao xuyến”, thánh Phê-rô có lời khuyên, như thế.

Ngài Phê-rô có lời tiếp rằng: “Đức Ki-tô là Đấng Thánh, hãy tôn thờ Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em. Hãy luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em… Hãy giữ lương tâm ngay thẳng, khiến những kẻ phỉ báng anh em vì anh em ăn ở ngay thẳng trong Đức Ki-tô, thì chính họ phải xấu hổ vì những điều họ nhạo báng…” (IPr 3, 15-17).

Mà thật vậy. Cả nước Pháp, có thể nói như thế, đang phải xấu hổ vì sự ngạo mạn của một nhúm người mà cụ Cao Bá Quát gọi là: “nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi”. 

Vấn đề của chúng ta hôm nay, đó là hãy luôn sẵn sàng, sẵn-sàng-trả-lời cũng như sẵn-sàng-đáp-lời… lời mời gọi của Đức Giê-su, qua các vị linh mục, lời mời gọi rằng: “Đây là Mình Thầy – hãy cầm lấy mà ăn. Đây là Máu Thầy – hãy cầm lấy mà uống.”

Cầm-lấy-mà-ăn, chúng ta được hiệp thông với Chúa Kitô. “Nhờ việc rước Mình và Máu Chúa, chúng ta nên một với Người, được thông phần vào cuộc thương khó, cái chết và phục sinh của Người.” Vâng, đó không phải là do trí tưởng tượng của Giáo Hội đặt ra, mà là do Đức Giê-su đã tuyên phán: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6, 56).

Cầm-lấy-mà-ăn, khơi dậy trong chúng ta lòng bác ái đối với tha nhân. Thật vậy, tông đồ Phao-lô đã chẳng nói: “Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một tấm Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể”, đó sao! (x.1Cor 10, 16-17). Là-một-thân-thể thì có gì ngăn cản chúng ta “yêu người như chính mình ta vậy”!

Chính vì thế, đừng ngần ngại, “cầm lấy mà ăn” bởi nhờ đó, chúng ta sẽ được, được sống mãi trong tình yêu của Thiên Chúa. Đó, đó là điều Đức Giê-su đã phán hứa: “Kẻ ăn tôi… sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (x.Ga 6, …57).

Xưa, Thiên Chúa, qua môi miệng ông Sa-lô-môn, đã có lời mời gọi, rằng: ““Hãy đến mà ăn bánh của ta và uống rượu do ta pha chế. Đừng ngây thơ khờ dại nữa, và các con sẽ được sống, hãy bước đi trên con đường hiểu biết” (x.Cn 9, 5-6).

Và nay, trên Bàn Tiệc Thánh Thể, Đức Giê-su, qua các vị linh mục, Ngài đã-được-pha-chế-rồi, pha chế thành “Mình và Máu Thánh Chúa Ki-tô”. Thế nên, chúng ta, đừng chần chờ gì nữa, “Hãy đến… Cầm lấy mà ăn.”

Petrus.tran

Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2024

Thánh Thể… bánh trường sinh của ta

 “Chính tôi là bánh trường sinh… Tôi là bánh từ trời xuống”. (x.Ga 6, 41)

Chúa Nhật XIX – TN – B
Thánh Thể… bánh trường sinh của ta


 

Như chúng ta được biết, Thánh lễ là trung tâm đời sống đức tin của người Công Giáo. Trong Thánh lễ, phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể là những đỉnh cao không thể thiếu. Gọi là không thể thiếu vì đó là những “món ăn” cho đời sống đức tin của người tín hữu.

Nói về “Lời Chúa”, khi còn tại thế, Đức Giê-su đã có lời phán rằng: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.”

Còn nói về phụng vụ Thánh Thể ư! Vâng, phụng vụ Thánh Thể trong Thánh lễ là việc cử hành Bí Tích Thánh Thể. Giáo lý Công Giáo dạy rằng: “Bí tích Thánh Thể là chính hy tế Mình và Máu của Chúa Giêsu, mà Người đã thiết lập để lưu tồn hy tế thập giá của Người qua bao thế kỷ cho đến khi Người lại đến. Như thế, Người ủy thác cho Hội thánh việc tưởng nhớ cái Chết và cuộc Phục sinh của Người. Bí tích Thánh Thể là dấu chỉ hợp nhất, dây bác ái, bữa tiệc vượt qua, nơi chúng ta lãnh nhận Ðức Kitô, linh hồn được tràn đầy ân sủng và được bảo đảm cho đời sống vĩnh cửu.” (Trích Bản Toát Yếu Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, bản dịch của HĐGM Việt Nam, 2011).

Đây là mầu nhiệm đức tin. Một mầu nhiệm “vượt qua mọi cách hiểu thông thường hoặc giải thích theo quy luật của vật lý tự nhiên” (nguồn: internet).

Hơn hai ngàn năm xa trước đó, tại Ca-phác-na-um, khi Đức Giê-su nói đến chân lý này, người Do Thái đã không chấp nhận do bởi “cách hiểu thông thường” của họ. Họ xầm xì phản đối. Vâng, cuộc phản đối này đã được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an. (x.Ga 6, 41-51).

**
Theo Tin Mừng thánh Gio-an ghi lại: một ngày trước khi công bố “diễn từ về bánh trường sinh”, Đức Giê-su, chỉ với năm chiếc bánh và hai con cá, Ngài đã “hóa bánh ra nhiều” cho năm ngàn người ăn no nê.

Dân chúng được ăn no nê, và họ muốn được ăn như thế “hằng ngày”. Thế nhưng, điều đó không nằm trong chương trình cứu nhân độ thế của Đức Giê-su. Chương trình cứu nhân độ thế của Ngài là đem đến cho con người sự sống muôn đời, là phúc trường sinh.

Đã có một số người, trong năm ngàn người được ăn no nê, tìm gặp Đức Giê-su tại Ca-phác-na-um. Đây là một cuộc tái ngộ. Trong cuộc tái ngộ này, ý tưởng của nhóm người này vẫn là muốn được ăn no nê.

Thế nhưng, ý tưởng đó không được Đức Giê-su tán thành. Hôm ấy, bằng những lời lẽ thẳng thắn, Đức Giê-su nói với họ rằng: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực hay hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận” (x Ga 6, 27).

Và rồi, Ngài đã hướng dẫn họ nhìn về một thứ bánh khác, đó là “Bánh trường sinh – Bánh hằng sống”. Không úp mở, Ngài tuyên bố: “Chính tôi là bánh trường sinh… Tôi là bánh từ trời xuống”. (x.Ga 6, 41).

Thế nhưng, họ đã không thể lĩnh hội lời tuyên bố này. Và họ đã nhìn Đức Giê-su với ánh mắt ngờ vực. Mà, sao không ngờ vực cho được: “Ông này chẳng phải là ông Giê-su, con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả. Sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống?” (Ga 6, 41-42). Họ đã “xầm xì phản đối” như thế.

Nghe vậy, Đức Giê-su không buồn… Ngài không buồn tranh luận với họ về gia thế của mình. Ngài bảo họ: “Các ông đừng có xầm xì với nhau! Chẳng ai đến với Tôi được, nếu Chúa Cha, là Đấng đã sai Tôi, không lôi kéo người ấy. và Tôi, Tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết. Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ: Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ.”

Vẫn là những lời đơn sơ, bộc trực, Đức Giê-su nói tiếp: “Vậy, phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi. Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha”


“Chỉ có Chúa mới có thể nói về Chúa.” Noel Quesson đã nói như thế, sau khi đã có những giây phút suy tư về những lời tuyên bố (nêu trên) của Đức Giê-su.


Phần Đức Giê-su, hôm ấy, Ngài tiếp tục nói về mình, rằng: “Thật tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. Tôi là bánh trường sinh.” (x.Ga 6, 47-48).

Và thật ý nghĩa khi Đức Giê-su so sánh bánh-trường-sinh với man-na xưa. Ngài so sánh rằng: “Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết”.

Người Do Thái hồi đó không tin. Thế nhưng, Đức Giê-su không vì thế mà rút lại lời tuyên bố, Ngài khẳng định: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (x.Ga 6, 51).

***
Đức Giê-su không rút lại những điều Ngài đã tuyên bố. Tại bữa Tiệc Vượt Qua, một bữa tiệc đánh dấu việc chuẩn bị bước vào cuộc tử nạn, trong bữa ăn đó, “Đức Giê-su cầm lấy bánh dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra trao cho môn đệ và nói: Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy. Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu giao ước đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26, 26-28).

Khi tuyên bố chân lý quan trọng này, Đức Giê-su, nói theo cách nói của Noel Quesson: “Không lao vào một cuộc tranh cãi thần học, không bút chiến… Đây là ân sủng, là một sáng kiến của Chúa mà chúng ta phải nhận lãnh.”

Với Lm. Charles E. Miller, ngài có lời chia sẻ như sau: “Chẳng có lời nào có thể bộc trực hơn. Không thuật ngữ nào có thể rõ ràng hơn. Cũng chẳng có chuyện lập lờ nước đôi. Đức Giê-su không nói bánh ấy ‘giống như’ hoặc ‘ám chỉ’ thịt của Người, mà nói rõ mồn một ‘bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống’”.

Ngài Lm. nói tiếp: “Làm trọn lời hứa của mình trong đêm trước khi chịu nạn, Chúa Giê-su đã lập ra Bí Tích Thánh Thể cho các Tông Đồ, cho mọi thế hệ đã và sẽ theo bước các ông, cho đến tận thế”.

Cuối cùng vị linh mục mời gọi: “Khi cầu xin ơn lương thực hằng ngày, ta không chỉ cầu xin thứ bánh giúp duy trì sự sống đời này, mà còn thức ăn trên trời vốn sẽ đưa chúng ta đến sự sống đời sau. Anh chị em chớ lầm lẫn, nhưng hãy giữ vững niềm tin Công Giáo của mình”.

Giáo Hội Công Giáo luôn giữ vững niềm tin này. Trong Thánh lễ mỗi ngày, Giáo Hội, qua vị linh mục, vẫn luôn cất tiếng loan báo cho mọi người biết rằng: “Đây là mầu nhiệm đức tin” cùng với lời mời gọi: “Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa”.

Chúng ta tin và sẽ đến tham dự Tiệc Chiên Thiên Chúa, mỗi ngày, mỗi tuần? Câu trả lời dành cho mỗi chúng ta. Thế nhưng, nếu chúng ta từ chối tham dự, Noel Quesson nói: “là (chúng ta) tự phó mình cho hư không, cho tính hữu hạn thuộc bản chất tự nhiên của con người: ‘Cái gì bởi xác thịt mà sinh ra thì là xác thịt’” (Ga 3, 6).

Vâng, Đức Giê-su đã hành động. Ngài đã “hiến tế vì chúng ta”. Máu của Ngài “máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người”. Có ai trong chúng ta lại không biết điều này!

Chúng ta… chúng ta đã biết. Thế nên, phần còn lại của chúng ta là hãy hành động. Hãy mau… “Nào mau tới thờ lạy Chúa! Đồng thanh hợp chung tiếng hát ca khen. Cảm mến ơn Chúa ban tràn lan cho trần gian Mình Máu Thánh nên nguồn sống tuôn ngày đêm.’

Hãy mau… Nào mau đến… đến tham dự bàn Tiệc Thánh Thể. Vì Thánh Thể là bánh trường sinh của chúng ta.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2024

Đây… tay con đang hướng về Chúa

 

Đây… tay con đang hướng về Chúa

Đây... tay con đang hướng về Chúa
Một trong những điều rất cần thiết cho cuộc sống của con người, đó là: ăn và uống. Mà, rất cần thiết thật, nên người xưa có nói “Dân dĩ thực vi tiên”.

Tuy nhiên, nói là một chuyện, còn thực tế thì đừng vì coi cái ăn là trước hết mà chúng ta cho rằng, sống là để ăn. Bởi, nếu quan niệm sống để ăn – ăn để sướng, mà chẳng may “mất ăn một miếng”, ngay lập tức chúng ta sẽ “lộn gan lên đầu”.

Người xưa còn nói: “miếng ăn là miếng tồi tàn”. Đúng thế, rất tồi tàn vì cái ăn thường dẫn đến cái tội… tội ăn tham, tội ăn cắp, tội ăn trộm, tội ăn hối lộ, tội ăn xén – ăn bớt v.v…

Thế nên, đừng bao giờ để cho cái ăn chi phối cuộc đời mình, mà hãy luôn hướng đến một lối sống cao đẹp hơn, đó là: ăn để sống. Nhà thơ Nguyễn Công Trứ tâm niệm rằng, ăn-để-sống, thế nên đối với ông: “Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch”, cũng là đủ. Và ông quan niệm rằng: “Người quân tử ăn chẳng cầu no”.

Khi nói tới ăn-để-sống, Đức Giê-su còn muốn đi xa hơn nữa. Đó là, con người sống không chỉ bởi một thứ “lương thực mau hư nát” nhưng còn cần “có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh”.

Một ngày nọ, tại Ca-phác-na-um, trong một cuộc trò chuyện với dân chúng, là những kẻ tìm đến, Đức Giê-su đã lớn tiếng nói như thế. Hôm ấy, Ngài còn hé mở cho mọi người biết rằng: “Phúc trường sinh là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho…”

Cuộc trò chuyện của Đức Giê-su đã được ghi lại chi tiết trong Tin Mừng thánh Gio-an. (Ga 6, 24-35).

**
Theo Tin Mừng thánh Gio-an ghi lại: Hôm đó, sau biến cố hóa bánh ra nhiều cho năm ngàn người ăn, “Đức Giê-su biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn lên làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.” (Ga 6, 15).

Về phần các môn đệ, “chiều đến, các ông xuống bờ Biển Hồ, rồi xuống thuyền đi về phía Ca-phác-na-um bên kia Biển Hồ”.

Thầy thì lên núi, còn trò thì xuống biển. Và rồi, đang khi thuyền của các ông “lờ lững trôi xuôi dòng”… xuôi dòng “chừng năm hoặc sáu cây số, (thì) các ông thấy Đức Giê-su đi trên mặt Biển Hồ và đang tới gần thuyền” (x.Ga 6, 19).

Thấy Đức Giê-su, lẽ ra phải mừng, ấy thế mà “các ông hoảng sợ”. Các ông sợ, vì hôm đó “biển động và gió thổi mạnh”, vậy mà Thầy lại “đi trên mặt Biển Hồ”, thế có phải là rất nguy hiểm không kia chứ!

Nhìn thấy sự sợ hãi trên khuôn mặt các môn đệ, Đức Giê-su lên tiếng nói: “Thầy đây mà, đừng sợ”. Nhận ra đúng là Thầy Giê-su, các môn đệ “muốn rước Người lên thuyền”, thế nhưng, “ngay lúc đó thuyền đã tới bờ, nơi các ông định đến” (x.Ga 6, 21).

Nơi các ông định đến, đó là Ca-phác-na-um. Khi Thầy và trò lên bờ thì cũng là lúc dân chúng “xuống thuyền đi Ca-phác-na-um tìm Ngài”.

Họ đi tìm và họ đã gặp. Khi gặp thấy Đức Giê-su, họ nói: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?” Vâng, một câu chào hỏi rất bình thường, phải không thưa quý vị! Nhưng, với Đức Giê-su thì đó chỉ là một lời chào “đưa đẩy”, đưa đẩy để chờ đợi Ngài sẽ thêm một lần nữa, hóa bánh ra nhiều, cho họ ăn no nê.

Được-ăn-bánh-no-nê ư! Đó là một ước muốn lệch lạc. Thế nên, thay cho câu trả lời, Đức Giê-su đã gửi đến họ lời khiển trách, lời khiển trách rằng: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê.” (x.Ga 6, 26).

Tiếp đến, Ngài lớn tiếng nói, rất rõ ràng rằng: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực hay hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận” (x Ga 6, 27).

Hôm ấy, mọi ánh mắt, ánh mắt hoài nghi… của dân chúng, đổ dồn về Đức Giê-su. “Con Người là ai?” Là ông Giê-su người Na-da-rét ư! Và, lấy gì chứng minh ông Giê-su người Na-da-rét chính là “Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận”?

Tuy vậy, một câu hỏi cũng đã được họ đưa ra: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” Đức Giê-su trả lời rằng: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người sai đến”.

Vâng, là tin. Đó là điều Đức Giê-su mời gọi. Nhưng dân chúng lại đòi “dấu lạ”, họ mới tin. Họ nói với Đức Giê-su rằng: “Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông làm gì đây! Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: Người đã cho họ bánh bởi trời.” (x.Ga 6, 30-31).

“Có hai thứ sự sống và hai loại của ăn: của ăn thân xác, cho ta sự sống dễ hư nát và của ăn từ trời, cho ta sự sống đời đời”. Nhà chú giải Kinh Thánh Noel Quesson đã cảm nghiệm được điều này, và gọi đó chính là “dấu lạ”.

Còn Đức Giê-su ư! Vâng, Ngài không làm một dấu lạ nào cả. Thay vào đó là một lời tuyên phán: “Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh ban lại sự sống cho thế gian.” (x.Ga 6, 32-33).

Noel Quesson, sau khi chiêm niệm lời tuyên phán này, ông đã có lời chia sẻ, rằng: “Chúng ta nên suy gẫm về sự lạ lùng mà những chữ này gợi ra cho ta không? Chúng ta đã được tạo dựng cho Thiên Chúa. Dù muốn, dù không, cơn đói của chúng ta, chính là đói Thiên Chúa.

Tiên tri Isaia đã nói ‘Tại sao phí tiền vào những của không làm no bụng’. Sau khi đã đi tìm tất cả mọi lạc thú trần gian, Thánh Angustinô đã thú nhận rằng: ‘Lạy Chúa, tâm hồn con không nghỉ yên khi nó chưa được an nghỉ trong Chúa’.

Vâng, tâm hồn chúng ta rất rộng lớn, đến nỗi không gì có thể lấp đầy được ngoài một mình Thiên Chúa mà chúng ta được dựng nên vì Người. Sau mỗi lạc thú dục vọng lại sinh ra dục vọng, đó là dấu hiệu của sự đòi hỏi vô biên này.” (nguồn: internet).

Còn khán thính giả của Đức Giê-su hồi đó, thì sao! Sau khi nghe Đức Giê-su nói, họ thưa: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy.”

Hôm ấy, câu trả lời của Đức Giê-su, đó là: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ.” (x.Ga 6, 35).

***
“Chính tôi là bánh trường sinh”. Đức Giê-su đã tuyên phán như thế với những người Do Thái, năm xưa. Và, Ngài cũng sẽ tuyên phán như thế đối với chúng ta, hôm nay.

Không có gì quá khó để chúng ta có thể tìm thấy loại bánh này. Loại bánh này được tìm thấy trong những lời Thiên Chúa truyền dạy. Loại bánh này cũng được tìm thấy trong những lời Đức Giê-su truyền dạy. Nói cách khác, bánh trường sinh đó chính là Kinh Thánh, là những Lời Chúa phán.

Ngôn sứ Giê-rê-mi khi tìm thấy loại bánh này, ông đã có lời tâm sự như sau: “Khi nghe lời của Người, tôi đã ăn ngấu nghiến. Lời Chúa là sự vui sướng hạnh phúc cho lòng tôi” (x.Gr 15, 16).

Và Đức Giê-su, cũng đã có lời dạy rằng: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4, 4).

Chúng ta có muốn “nếm để biết” rằng, loại bánh này sẽ đem đến cho chúng ta “phúc trường sinh”! Vâng, câu trả lời là của mỗi chúng ta.

Thế nhưng, hãy nhớ rằng, nếu chúng ta đi tìm những loại bánh do những “lò bánh” của thế gian sản xuất, những loại bánh được nhồi bởi những loại bột, đại loại là: bột-dâm-bôn, bột-phóng-đãng, bột-hận-thù, bột-bất-hòa, bột-chia-rẽ, bột-bè-phái, bột-ganh-tỵ, bột-say-sưa-chè-chén v.v… Phải coi chừng! những loại bánh này “ăn vào sẽ chết, chết cả xác lẫn hồn”, nó không thể đem đến cho chúng ta sự sống muôn đời.

Ăn những loại bánh được “nhồi” bởi những loại bột nêu trên, thánh Phao-lô cho chúng ta thấy một thực tế rất phũ phàng: kẻ đó bị “mất ý thức nên đã buông thả, sống phóng đãng đến mức làm mọi thứ ô uế cách vô độ” (Ep 4, 19).

Cuối cùng, cuối cùng thì sao! Thưa, thánh Phao-lô nói: Họ… “họ sẽ không được thừa hưởng Nước Trời”.

Chúng ta có sợ không? Chắc hẳn là phải sợ chứ! Nếu sợ, hãy vâng nghe lời Đức Giê-su truyền dạy. Lời truyền dạy rằng: “Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ.”

Hơn hai ngàn năm có lẻ “Chúa đã ban bánh bởi trời cho nhân loại.” Phần còn lại là do chúng ta. Là chúng ta có “xin được ăn mãi thứ bánh ấy” hay không! Mà, cớ gì lại không xin nhỉ! Thế nên, ngay hôm nay, bây giờ, chúng ta hãy cùng Noel Quesson, nguyện xin Chúa Giê-su rằng: “Lạy Chúa, xin ban cho chúng con thứ bánh của Chúa, Này đây, tay con đang giơ lên cao…”

Vâng, hãy giơ tay lên cao và lớn tiếng nói với Chúa: “Đây, tay con đang hướng về Chúa”.

Petrus.tran

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...