Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2026

Đừng ngại là… cái đòn gánh của Chúa

 Chúa Nhật II – TN – A

Đừng ngại là… cái đòn gánh của Chúa

snTM 170126a


Như chúng ta được biết, trước khi thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng, “Đức Giê-su từ miền Ga-li-lê đến sông Gio-đan, gặp ông Gio-an để xin ông làm phép rửa cho mình”. Và ông Gio-an đã “làm phép rửa” cho Đức Giê-su.

Biến cố Đức Giê-su chịu phép rửa cứ tưởng như là một sự kiện bình thường, bình thường như bao cư dân Do Thái thời đó, cũng đã được ông Gio-an “làm phép rửa cho họ”.

Thực sự thì, biến cố Đức Giê-su chịu phép rửa là một sự kiện linh thiêng. Linh thiêng… bởi hôm đó, khi “Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên”, thì có một thông điệp “từ trời phán rằng: Con là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người”.

Ông Gio-an, còn được gọi là Gio-an Tẩy Giả, là người chứng kiến sự kiện linh thiêng này. Để rồi hôm sau, khi gặp lại Đức Giê-su, ông đã thổn thức thốt lên, rằng: “Đây là Chiên Thiên Chúa… Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.”

Câu chuyện này, được ghi lại chi tiết trong Tin Mừng thánh Gio-an. (x.Ga 1, 29-34).

**
Vâng, sau hôm làm phép rửa cho Đức Giê-su. Ông Gio-an Tẩy Giả gặp lại Ngài. Chuyện kể rằng: “Hôm sau, ông Gio-an thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, liền nói: Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian. Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.”

Như một lời giải thích cho việc mình làm phép rửa, ông nói tiếp: “Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân It-ra-en, tôi đến làm phép rửa trong nước.”

Và, như một nhân chứng, ông làm chứng, rằng: “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước, đã bảo tôi: Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần”.

Cuối cùng, ông Gio-an kết luận: “Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.”

***
Đừng nghĩ rằng ông Gio-an Tẩy Giả “hỗn” khi gọi Đức Giê-su là “chiên”. Bởi vì, “chiên” là từ ngữ không xa lạ đối với người Do Thái. Mà, chẳng phải là ông đang nói với người Do Thái, đó sao!

Khi nói tới chiên, người Do Thái không thể quên đó là con vật từng giải thoát cha ông họ ra khỏi Ai Cập, khi xưa.

Về sự kiện này, trong bài viết “chiên sát tế”, tác giả Anphong, ofm, có lời giải thích như sau: “Hằng năm vào lễ Vượt Qua của người Do Thái, mỗi gia đình có tục lệ ăn thịt một con chiên. Phải lựa con chiên non dưới một năm tuổi, tốt đẹp, không tì vết.

Người Do Thái ăn thịt chiên Vượt Qua, không phải để mừng mùa đông đã qua và mùa xuân vừa mới khởi đầu, nhưng là để kỷ niệm ngày Chúa giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập.

Vào đêm hôm giải thoát dân Do Thái. Chúa truyền cho họ giết một con chiên non, lấy máu bôi lên cửa nhà. Đêm ấy sứ thần Chúa đến, nhờ dấu máu chiên bôi ở cửa nhà mà người Do Thái được sứ thần ‘vượt qua’, (bỏ qua), không vào nhà tàn sát con đầu lòng.” (nguồn: internet).

 ”Chiên”, từ đó, được dùng làm con vật trong tế tự. Con chiên đã được được dùng để tế lễ Thiên Chúa, làm của lễ toàn thiêu, làm của lễ hiến tế, và cũng để làm của lễ đền tội.

Sách Lêvi dạy: “Nếu một người vô ý phạm tội, làm một trong những điều mà ĐỨC CHÚA cấm làm... thì vì tội đã phạm, nó sẽ đưa đến một con dê (hoặc chiên) làm lễ tiến. Nó sẽ đặt tay trên đầu lễ vật tạ tội và sát tế lễ vật tạ tội ở nơi sát tế lễ vật toàn thiêu. Tư tế sẽ dùng ngón tay lấy máu con vật và bôi lên các góc cong của bàn thờ dâng lễ toàn thiêu, rồi đổ tất cả máu còn lại xuống chân bàn thờ... Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội như thế cho người ấy, và người ấy sẽ được tha. (Lv 4, 27-32).

Chúng ta có thể tham khảo thêm ở Sách Xuất Hành. Sách Xuất Hành truyền dạy: “Đây là những gì ngươi sẽ dâng trên bàn thờ: hai con chiên một tuổi, ngày nào cũng vậy, phải giữ như thế mãi mãi. Ngươi sẽ dâng một con lúc sáng, còn con thứ hai thì dâng vào lúc chập tối. Cùng với con chiên thứ nhất, ngươi sẽ dâng bốn lít rưỡi tinh bột lúa miến nhào với hai lít dầu ô-liu giã trong cối, và lấy hai lít rượu nho làm rượu tế. Còn con chiên thứ hai, ngươi sẽ dâng vào lúc chập tối, và dâng cùng với lễ phẩm và lễ tưới rượu như ban sáng. Đó là hương thơm làm đẹp lòng ĐỨC CHÚA, là lễ hoả tế dâng ĐỨC CHÚA.” (Xh 29, 38-41).

Với Thánh Phao-lô, vị tông đồ dân ngoại, ông nói: “Đức Ki-tô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta” (x.1Cr 5, 7).

Nói… Đức Giêsu là Chiên-Thiên-Chúa, ông Gioan Tẩy Giả muốn nói rằng: Ngài chính là Chiên-Con-Mới, một lễ vật mới cho việc “tế lễ” tạ tội cho tội lỗi của nhân loại.

Thế thì, ông Gio-an Tẩy Giả thấy Đức Giê-su và nói: Đây-là-Chiên-Thiên-Chúa, chẳng có gì sai, phải không, thưa quý vị!

****
Ông Gio-an Tẩy Giả còn nói Đức Giê-su là Đấng-xóa-bỏ-tội-trần-gian. Có người nói, nên dịch là Đấng-gánh-tội-trần-gian… ý nghĩa hơn.

Vâng, tác giả Anphong, ofm, cũng trong bài viết chiên-sát-tế, cho rằng, “chữ ‘xóa’ là một cách nói văn hoa nhẹ nhàng nhưng không lột hết ý nghĩa của nguyên ngữ. Tiếng Hy Lạp dùng từ ‘Airein’, tiếng Latin dùng từ ‘Tollit’ có nghĩa là nhận lấy vào mình, gánh lấy, vác lấy. ‘Xóa’ có thể có nghĩa là đứng ngoài. Ở ngoài ta bắn một quả canon, xóa sạch hang ổ của kẻ địch. Từ trời, Đức Chúa cho mưa diêm sinh xuống xóa sạch tội lỗi dân Sôđoma và Gômora. Vì thế có lẽ nên dịch là Đấng ‘gánh’ tội trần gian thì đúng hơn.”

Đức Giêsu không đứng ngoài cuộc. Ngài đã nhập cuộc. Đã gánh lấy thân phận con người và nhất là gánh lấy tội lỗi thế nhân.

Đức Giê-su đã “gánh” – gánh một cách êm ái, gánh một cách nhẹ nhàng… “mọi tội lỗi của nhân loại, chịu đau khổ, và chết thay cho con người để chuộc tội, giải thoát con người khỏi ách nô lệ tội lỗi, và ban cho con người sự cứu rỗi”, trong đó có chúng ta.

Thế thì, cớ gì chúng ta không lớn tiếng nguyện xin, rằng: “Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng (gánh) tội trần gian: xin thương xót chúng con. Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng (gánh) tội trần gian: xin thương xót chúng con. Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng (gánh) tội trần gian: xin ban bình an cho chúng con.”

*****
Chúng ta lớn tiếng nguyện xin như thế, vì chúng ta là chiên-của-Thiên-Chúa. Vì là Chiên-của-Thiên-Chúa chúng ta được mời gọi “thông phần vào công cuộc cứu độ của Chúa và hợp tác với Chúa trong việc cứu chữa các tội nhân.” Cha Inhaxiô Trần Ngà, qua bài viết “Đấng gánh tội trần gian” đã có lời truyền dạy, như thế.

Đúng. Hãy nhớ, khi đã tin Chúa và lãnh nhận Bí tích thánh tẩy; chúng ta trở thành chi thể trong nhiệm thể là Đức Kitô; và được hiệp thông nên một với Chúa Giêsu qua Bí tích Thánh Thể.

Chính nhờ ân sủng đó, chúng ta được thông dự vào chức tư tế của Chúa Giêsu. Nói rõ hơn, chúng ta cùng “hiến tế” với Chiên-Con-của-Người là Đức Giêsu.

Chúng ta không cần “hiến tế” đời mình trên thập giá như Đức Giêsu, mà hãy hiến tế đời mình cho những nhân đức.

Khi chúng ta hiến tế đời mình cho nhân đức bác ái, chúng ta sẽ xóa-bỏ-tội tham lam và ích kỷ. Khi chúng ta hiến tế đời mình cho nhân đức vâng lời, chúng ta sẽ xóa-bỏ-tội kiêu căng ngạo mạn.

Khi chúng ta hiến tế đời mình cho nhân đức nhân hậu, từ tâm, chúng ta sẽ “(Gánh) yêu thương (đem) vào nơi oán thù. (Gánh) thứ tha (đem) vào nơi lăng nhục. (Gánh) trông cậy (đem) vào nơi thất vọng. (Gánh) niềm vui (đem) đến chốn u sầu”.

Gánh những thứ này chẳng khác nào “gánh sầu thương mệt mỏi hai vai”, phải không, thưa quý vị! Đúng, “hiến tế” đồng nghĩa với “chết đi”. Thế nhưng, hãy vui lên, bởi vì Thánh Phanxico Assisi đã xác tín rằng: “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.

Đức Giêsu cũng chẳng từng nói: “Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình; nhưng nếu nó thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt”, đó sao!

Thế nên, chúng ta đừng ngại “gánh”dù là có phải mệt-mỏi-hai-vai. Chúng ta đừng ngại hiến tế đời mình cho việc thực thi những nhân đức. Chúng ta đừng ngại “chết trong lòng một ít” khi thể hiện tình yêu thương.

Chúng ta đừng ngại là “cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa”. Một cái-thanh-ngang “gánh” Đức Giêsu. Một Đức Giêsu - Đấng-gánh-tội-trần-gian.

Vâng, nói theo ngôn ngữ Việt Nam, chúng ta đừng ngại… “đừng ngại là… cái đòn gánh của Chúa”.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2026

Hãy sống sao… để Chúa hài lòng

 Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa

Hãy sống sao… để Chúa hài lòng

snTM 100126a


Theo lịch Phụng Vụ, sau lễ Hiển Linh, toàn thể Giáo Hội long trọng cử hành lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa. Chúa Giê-su chịu phép rửa là một biến cố linh thiêng. Bởi vì… bởi vì hôm đó… có một cuộc thần hiện vô tiền khoáng hậu. Và một mặc khải về “Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” được công bố.

Thánh sử Mát-thêu, một người môn đệ trong Nhóm Mười Hai, ghi lại biến cố này. Ngài thánh sử ghi lại trong một quyển sách, quyển sách đó, ngày nay chúng ta gọi là Tin Mừng theo thánh Mát-thêu. (Mt 2, 1-12).

**
Vâng, Tin Mừng theo thánh Mát-thêu ghi biến cố này, như sau: “Bấy giờ, Đức Giê-su từ miền Ga-li-lê đến sông Gio-đan, gặp ông Gio-an để xin ông làm phép rửa cho mình”.

Dưới đôi mắt của những cư dân Do Thái thời đó, sự việc Đức Giê-su “xin ông (Gio-an) làm phép rửa cho mình” là chuyện bình thường, bình thường bởi chính họ cũng đã được ông Gio-an “làm phép rửa cho họ trong sông Gio-đan”.

Nhưng, với ông Gio-an… đó là điều “không tưởng”. Vì thế, hôm ấy ông đã “một mực can Người và nói: chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi”.

Phản ứng của Đức Giê-su về lời can ngăn của ông Gio-an thế nào! Thưa, hôm ấy Đức Giê-su trấn an ông, rằng: “Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính”.

Nghe thế, chuyện kể tiếp, rằng: “Bấy giờ ông Gio-an mới chiều theo ý Người”. Chiều-theo-ý-Người có nghĩa là ông Gio-an “làm phép rửa” cho Đức Giê-su.

Ông Gio-an (đã) “làm phép rửa” cho Đức Giê-su. Và, đúng là điều “không tưởng”, xảy ra, xảy ra khi “Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán: Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”. (x.Mt 3, 16-17).

***
Đức Giê-su chịu phép rửa. Và, điều này gây ra sự thắc mắc nơi một số người rằng, Ngài có tội gì mà phải chịu phép rửa!

Đức Giê-su, Ngài chẳng có tội gì cả. Không có tội, nhưng Đức Giê-su vẫn chịu phép rửa, là để “mạc khải về một kỷ nguyên mới đã bắt đầu, một mạc khải sống động về Ba Ngôi Thiên Chúa”. Cha Giu-se Nguyễn Hữu An có lời chia sẻ, như thế.

Mà, đúng là vậy. Hôm ấy, tại sông Gio-dan, có Thần-Khí-Thiên-Chúa hiện đến, có tiếng-từ-trời phán, có Đức Giê-su… điều đó chẳng phải là “mạc khải sống động về Ba Ngôi Thiên Chúa”, sao!

Phép rửa của ông Gio-an “rửa trong nước để giục lòng sám hối”. Còn Đấng-đến-sau-tôi… ông Gio-an cho biết: “Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa… trong Thánh Thần và lửa”.

Vâng, Đấng-đến-sau-tôi, chúng ta biết rồi, là Đức Giê-su.

Thế nên, đừng ngạc nhiên về việc Đức Giê-su chịu phép rửa. Ngài chịu-phép-rửa, bởi vì qua đó, mọi người sẽ nhìn thấy một Giê-su “vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế”.

Đức Giê-su sống-như-người-trần-thế… ngoại trừ tội lỗi.

***
Đức Giê-su chịu phép rửa. Thế còn các môn đệ! Các ông có chịu phép rửa! Về chuyện này, các sách Tin Mừng không nói đến. Nhưng, có một chuyện, các sách Tin Mừng nói đến, đó là chuyện Đức Giê-su sai các ông “làm phép rửa”.

Vâng, trước khi về trời, Đức Giê-su có nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”

Các môn đệ đã tuân theo mọi điều Đức Giê-su truyền. Các ông đã làm phép rửa cho muôn dân. Và hôm nay, Giáo Hội tiếp tục sứ mệnh thiêng liêng này. Sứ mệnh có tên gọi mới “Ban Bí Tích Rửa Tội.”

Nhắc đến điều này để làm gì? Thưa, để chúng ta “ngẫm lại phép rửa của mình”. Nói cách khác, chúng ta hãy nghĩ tới Bí Tích Rửa Tội mà chúng ta đã lãnh nhận.

Thật cần thiết để nhớ lại ngày chúng ta lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội. Nhớ lại để chúng ta tái-khám-phá một ân sủng; mà có thể vì những bụi-bặm-trần-gian, những đam-mê-trần-thế… đã làm lu mờ cái giá trị … giá trị chúng ta được trở nên “con Thiên Chúa”.

Những người lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, Thánh Phao-lô nói: “Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng (người đó) mà kêu lên: Ap-ba, Cha ơi!” (Gl 4, …6).

Trong thư gửi tín hữu Cô-lô-sê, thánh Phao-lô nói chi tiết hơn: “Anh em đã cùng được mai táng với Đức Ki-tô khi chịu phép rửa, lại cũng được trỗi dậy với Người, vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết. Trước kia, anh em là những kẻ chết vì anh em đã sa ngã, và vì thân xác anh em không được cắt bì, nay Thiên Chúa đã cho anh em được cùng sống với Đức Ki-tô: Thiên Chúa đã ban ơn tha thứ mọi sa ngã lỗi lầm của chúng ta” (x. Cl 2, 12-13).

“Ban ơn tha thứ mọi sa ngã lỗi lầm của chúng ta”, đó là được ơn tái sinh. Hạnh phúc không, thưa quý vị!

Vâng, rất hạnh phúc, một sự hạnh phúc do ân sủng Thiên Chúa ban. Ân sủng đó đem đến cho chúng ta một cuộc sống mới, một cuộc sống: “Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi”.

Một khi Đức-Kitô-sống-trong-tôi… thì… thì sao! Thưa, thì chúng ta ngại gì mà không sống khiêm nhường và hiền lành, điều Đức Giê-su đã truyền dạy: “Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”!

Có hai nhân đức này “trong tôi”, chúng ta mới có thể, thể hiện trong cuộc sống của mình sự nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm.

Thể hiện trong cuộc sống của mình sự nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, chúng ta sẽ không ngần ngại mà cất tiếng nói, nói rằng: “Ngày nào bầu trời còn mây bay. Lòng ta vẫn thấy thương người… Dù người không yêu ta, (ta) cứ yêu thương hoài.” (Lê Hựu Hà).

Đã được làm con cái Thiên Chúa, chúng ta phải “thương người (và) cứ yêu thương hoài”.

Khó thực hiện đấy, nhất là phải thực hiện trong một xã hội, một xã hội đang cổ vũ cho một nền văn hóa sự chết, một nền văn hóa hưởng thụ, một nền văn hóa sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi, một nền văn hóa dối trá, gian lận, một nền văn hóa biến con người thành con vật, v.v…

Rất…, rất khó thực hiện. Thế nhưng, chúng ta vẫn phải thực hiện, bởi vì đó là “điều răn” Đức Giê-su truyền dạy. Ngài đã truyền dạy, rằng:”Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau. Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Ga 13, 34-35).

Phải thực hiện thôi, thưa quý vị! Bởi vì, nhờ đó, Đức Giêsu sẽ nói với chúng ta, rằng: “Đây là con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về con”. Thế nên, chúng ta… chúng ta “Hãy sống sao… để Chúa hài lòng.”

Petrus.tran

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2026

Hãy đến nhà thờ - thờ lạy Chúa

 Lễ Hiển Linh

Hãy đến nhà thờ - thờ lạy Chúa

snTM 030126a


Mừng Chúa Giáng Sinh. Đó… đó là điều chúng ta đã được trải nghiệm trong suốt tuần qua. Mà, nào có phải riêng chúng ta đâu! Ngay cả những người không có đạo, họ cũng có những trải nghiệm riêng của mình. Chúa Giê-su Giáng Sinh, họ cũng vui mừng như chúng ta, đấy chứ!

Có người, dù không có đạo, nhưng họ vẫn có sự trải nghiệm của mình về Chúa Giê-su như là “Đấng đến thế gian để tìm những con chiên lạc nhà (Việt Nam).”

Nghệ sĩ Thành Lộc và cả Hứa Vĩ Văn, một cách “gián tiếp” đã bày tỏ sự trải nghiệm của mình (như thế), trong một buổi gặp gỡ do Ban truyền thông Tổng Giáo phận Sài Gòn mời đến để “chuyện trò” về vai trò lồng tiếng của họ, trong bộ phim “Vua Của Các Vua”. (Chúng ta có thể nghe buổi “chuyện trò” này trên Youtube truyền thông TGP Sài Gòn).

Phim Vua Của Các Vua, là “Câu chuyện Chúa Giêsu được kể lại qua lời thì thầm của một người cha dành cho con nhỏ, bộ phim mang đến một hành trình đức tin nhẹ nhàng mà sâu sắc, từ máng cỏ Belem đến hoang mạc thử thách và hành trình thập giá. Một bộ phim không hô hào, không ép buộc, nhưng khiến người ta ở lại và chạm vào điều gì đó trong lòng.” Truyền thông TGP Sàigòn có lời bình về phim, như thế.

Là phim nói về Chúa Giêsu. Vậy mà đã có không ít khán giả không có đạo, bằng-mọi-cách, tìm đến rạp xem… xem để biết một Giêsu - Vua Của Các Vua.

Sự kiện này gợi cho chúng ta nhớ đến một câu chuyện xảy ra cách nay hơn hai ngàn năm. Cách nay hơn hai ngàn năm. Tại Palestin, có “trình chiếu” một cuốn phim, cuốn phim nói về “một vị Vua dân Do Thái mới sinh”.

Có mấy nhà chiêm tinh, dù không phải là dân Do Thái, (không có đạo, đạo Do Thái), quý ông cũng đã bằng-mọi-cách, tìm đến rạp để xem. Tại “rạp Belem” quý ông chiêm tinh mãn nguyện khi “thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria”.

Vâng, chỉ là một cách thi-vị-hóa câu chuyện… câu chuyện: “Các nhà chiêm tinh đến bái lạy Đức Giê-su Hài Nhi”. Để biết chi tiết câu chuyện này, chúng ta cùng mở những trang Tin Mừng thánh Mát-thêu. (Mt 2, 1-12).

**
Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu, câu chuyện được ghi lại như sau: “Khi Đức Giê-su ra đời tại Belem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem và hỏi: Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu?” (Mt 2, 1-2).

Như đã nói ở trên, mấy nhà chiêm tinh, dù không phải là dân Do Thái, (không có đạo, đạo Do Thái), thế nhưng họ vẫn rời bỏ quê hương, cùng nhau dong-duổi-đường -gió-bụi, tìm cho được Đức Vua.

Mấy nhà chiêm tinh này, rất có thể họ là con cháu Apraham thuộc dòng dõi của Itmaen và những người con của Apraham với Cơtura, mà khi còn sống “ông Apraham đã cho họ đi xa ông Isaac, con ông, về hướng đông, về đất Phương Đông” (St 25, …6).

Tìm cho được Đức Vua, có thể do họ đã nghe lời Bi-lơ-am, một người thuộc dân tộc Madian, cũng là một dân tộc thuộc dòng dõi Itmaen, đã nói “Tôi thấy nó, nhưng bây giờ chưa phải lúc, tôi nhìn, nhưng chưa thấy nó kề bên; một vì sao xuất hiện từ Giacop, một vương trượng trổi dậy từ Israel”. (Ds 24, 17).

Hồi đó, “chưa phải lúc”, nhưng hôm nay - bây giờ - đúng lúc. Đúng lúc, do vậy, quý ông chiêm tinh có lời giải thích, rằng: “Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”.

Nghe qua câu hỏi cùng với lời giải thích của mấy nhà chiêm tinh, Giê-ru-sa-lem như hứng phải một trái boom nhiệt hạch.

Và, khi trái boom nổ tung… nói rõ hơn, khi nguồn tin được loan truyền rộng rãi, Giê-ru-sa-lem trở thành một bãi chiến trường tin tức.

“Breaking news” hỗn loạn khiến cho “vua Hê-rô-đê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem thì xôn xao.” Một khẩu lệnh triệu tập khẩn cấp tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân đã được vua Hê-rô-đê ban hành. Nhà vua cần biết “Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu”.

Một câu hỏi không vượt tầm hiểu biết của các thượng tế và kinh sư. Tra cứu sách ngôn sứ có chép rằng: “Phần ngươi, hỡi Belem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2, 6). Thế là, các vị thượng tế và kinh sư, trả lời: “Tại Belem, miền Giu-đê”.

Mấy nhà chiêm tinh vui mừng. Còn vua Hê-rô-đê đã bối rối lại càng thêm bối rối.

Một ý định tưởng chừng như vô hại đã được vua Hê-rô-đê thổ lộ với mấy nhà chiêm tinh. Chuyện kể rằng: “Bấy giờ Hê-rô-đê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi (ông ta) phái các vị ấy đi Be-lem và dặn rằng: Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.” (x.Mt 2, 8).

Sau khi nghe “nhật lệnh” của vua Hê-rô-đê, thánh sử Mát-thêu ghi vắn tắt: “họ ra đi”. Vâng, họ ra đi, bỏ mặc đàng sau sự hào nhoáng của Giêrusalem, với những lời hứa hão huyền của vua Hê-rô-đê.

Các vị lên đường trong sự tin tưởng rằng, “vì sao của Người” sẽ dẫn họ đến nơi đến chốn. Và quả thật, niềm tin của mấy nhà chiêm tinh được đáp ứng. Hôm đó, “ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. Trông thấy ngôi sao họ mừng rỡ vô cùng.”

Trong nỗi vui mừng khôn xiết: “Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến.”

Xưa kia, chúng ta thường dựa vào ba lễ vật này để suy luận rằng, chỉ có ba người (ba vua) tìm đến Belem. Sự thật như thế nào! Không ai có thể khẳng định.

Marie-Noëlle Thabut, với ba lễ vật này, đã có lời chia sẻ: “Vàng nói lên Ngài là vua; vàng là kim loại quý, biếu cho các vua. Nhũ hương nói lên Ngài là Thiên Chúa, trước đền thờ người ta thắp nhũ hương. Sau cùng, mộc dược thường để ướp xác, nói lên Ngài là người, cũng phải chết.”

Vâng, Đức Vua Giê-su đã chết. Và, ngày nay chúng ta tuyên xưng, rằng: “Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng ta, thời quan Phongxiô Philatô, Người chịu khổ hình và mai táng,…” nhưng “ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh.”

Có vậy, chúng ta mới gọi Đức Vua Giê-su là Vua Của Các Vua.

***
Sẽ thật ngây thơ khi nghĩ rằng cuộc hành trình của mấy nhà chiêm tinh như là một cuộc trẩy hội cưỡi-lạc-đà-ngắm-chà-là… xem hoa.

Thực tế, đây là một cuộc hành trình đầy gian khổ. Cứ thử làm một bài toán, từ nơi ở của các nhà chiêm tinh, tính theo đường “chim bay”, đến Giê-ru-sa-lem, khoảng 2000km.

Nếu đi đường bộ, với núi non hiểm trở, đoạn đường có thể kéo dài gấp đôi. Với sự di chuyển của lạc đà, và nếu chỉ di chuyển ban đêm, giỏi lắm, họ chỉ đi được khoảng 70km/ngày, là cùng. Làm một bài toán nhân, một tháng là 2100km. Như vậy, hành trình của các nhà chiêm tinh có thể là mất khoảng gần hai tháng.

Đó là vất vả về thể xác. Về mặt tinh thần, mấy nhà chiêm tinh còn phải đối diện với sự thâm hiểm của vua Hê-rô-đê. Nói: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người”, nhưng có chắc là như thế!?

Có một vị vua đang tại vị ở Giê-ru-sa-lem, là Hê-rô-đê đây! Sao các ông không quỳ xuống bái lạy, mà lại tìm đến Belem để bái lạy một tên vô danh tiểu tốt!

Trở về Giê-ru-sa-lem ư! Không, các ông đã không trở về. Trở về “Đường xưa lối cũ có anh chàng, anh chàng… (bạo chúa Hê-rô-đê)”, để đi-chết-à!

Vâng, các ông đã được báo mộng, rằng: “đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình”. (x.Mt 2, 12).

Đi-lối-khác-mà-về-xứ-mình, mấy nhà chiêm tinh đã không chết. Thế nhưng, chúng ta không thể không nói đến sự kiện “các con trẻ ở Belem và toàn vùng phụ cận, từ hai tuổi trở xuống” đã bị Hê-rô-đê “sai người đi giết”, chỉ vì nghĩ rằng “mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa.”

****
Trở lại với nhóm lồng tiếng bộ phim “Vua Của Các Vua”. Nghệ sĩ Thành Lộc, Hứa Vĩ Văn, đạo diễn lồng tiếng Ngọc San… ba nhân vật này không-có-đạo. Thế mà, sau khi tiếp cận bộ phim Vua Của Các Vua, một “câu chuyện Chúa Giêsu được kể lại qua lời thì thầm của một người cha”, họ đã có chung tâm tình của một “người không đạo… nhưng tin có Chúa ở trên cao”.

Đặc biệt với nghệ sĩ Thành Lộc, qua lời thổ lộ về những ân sủng Chúa ban cho mình, Cha G.B. Phương Đình Toại, (người mời nhóm lồng tiếng), sau khi nghe xong, ngài đã kinh ngạc thốt lên “tôi nổi da gà luôn!”

Nói… nói lên điều này để làm gì? Thưa, để chúng ta, sau khi xem xong bộ phim “một vị Vua dân Do Thái mới sinh”, chúng ta có chung tâm tình của một người-có-đạo, “những Chúa Nhật thường hay đi xem lễ”!?

Hãy đi “xem lễ” mỗi ngày Chúa Nhật. Nói cách khác, hãy đến nhà thờ mỗi ngày Chúa Nhật, vì nơi đây chính là “Belem mới”.

Nơi đây, chúng ta sẽ hợp với triều thần Thiên Quốc cất tiếng nguyện ca… lời ca rằng: “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, và bình an dưới thế cho người thiện tâm. Chúng con ca ngợi Chúa, chúng con chúc tụng Chúa, chúng con thờ lạy Chúa...”

Vâng, chúng ta: “Hãy đến nhà thờ - thờ lạy Chúa.”

Petrus.tran

Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2025

Lễ Thánh Gia -Đừng quên thánh Giu-se.

 “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy!”. (Mt 2, 13).

 Lễ Thánh Gia -Đừng quên thánh Giu-se

snTM 271225a


Chúa Nhật tuần trước, toàn thể Giáo Hội long trọng mừng lễ Giáng Sinh, một ngày lễ kỷ niệm Chúa Giê-su sinh ra tại Belem miền Giu-đê.

Theo tin mừng thánh Lu-ca ghi lại, thì đây là: “một tin mừng trọng đại… tin mừng cho toàn dân… một Đấng Cứu Độ đã sinh ra… Người là Đấng Kitô Đức Chúa” (Lc 2, 10-11).

Có bao giờ chúng ta tự hỏi, rằng: là Đấng-Kitô-Đức-Chúa, sao Ngài không đến thế gian như một Tôn Ngộ Không, với bảy mươi hai phép thần thông biến hóa! Mà Ngài lại đến thế gian bằng hình hài một hài nhi được sinh ra bởi một Trinh Nữ tên là Maria với người cha là Giuse!

Thưa, một thắc mắc mà chắc hẳn ai trong chúng ta đều có thể trả lời rằng, chỉ vì “thiêng liêng hai tiếng gia đình” (thơ: Nguyễn Đình Huân).

Xưa, vào thuở tạo thiên lập địa… một-gia-đình đã được hình thành. Tại vườn Eden, Thiên Chúa đã tạo dựng một gia đình.

Sách Sáng thế ghi lại rằng: “Đức Chúa là Thiên Chúa phán: Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó… Đức Chúa là Thiên Chúa cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi.

Rồi Chúa rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt thế vào. Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương sườn, đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người. Con người nói: Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra.”

Kể từ đó, một gia đình đã hiện hữu với một Adam sẵn sàng “lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt.” (St 2, 23).

Tiếc thay! gia đình này đã phạm tội bất tuân mệnh lệnh Thiên Chúa đề ra. Sự bất tuân đó làm cho gia đình tan vỡ. Gia đình không còn sự bình an. Những bất đồng đã xảy ra. Những cảm xúc tiêu cực đổ về. Hệ quả dẫn đến vụ án Cain đã giết em ruột của mình là Abel. Nó như là đỉnh điểm của sự đổ vỡ.

Nay, tại Belem, một gia đình mới hình thành, một gia đình gồm có “bà Maria, ông Giuse cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ”. (Lc 2, 16). Những thành viên này là những người được Thiên Chúa tuyển chọn. Những thành viên này, với sự vâng lời của bà Maria “xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”, và sự vâng phục của ông Giuse “làm như sứ thần Chúa dạy”, đã biến gia trang Nazareth, nơi được mô tả là “làm sao có cái gì hay được” trở thành nơi có một “Gia Thất Thánh – Gia Thất An Bình”.

Câu chuyện Thánh Giu-se “đưa Hài Nhi Giêsu và mẹ người trốn sang Ai cập”, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Matthêu, như điển hình. (Mt 2, 13-15 19-23).

**
Vâng, hơn hai ngàn năm xa trước đó. Đang khi Palestin chìm trong thinh lặng của đêm khuya. Còn nơi hang Belem “bà Maria, ông Giuse cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ” yên giấc say nồng… Có một cuộc thần hiện xảy ra.

Cuộc thần hiện được kể lại như sau: “Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giuse: Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy!”. (Mt 2, 13).

Đây không phải là lần đầu tiên ông Giuse, nhận mệnh lệnh của sứ thần Chúa, qua phương cách “hiện ra báo mộng”. Khoảng tròn năm trước, sứ thần Chúa cũng đã “hiện đến báo mộng cho ông”.

Lần đó, ông đã phải chiến đấu, để chọn lựa, để thi hành mệnh lệnh của sứ thần Chúa. Với giấc mộng hôm nay, ông đã tuân thủ không chút ngờ vực, không chút đắn đo. Thánh sử Matthêu, cho biết: “Ông Giuse liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập”. (Mt 2, 14).

* Tưởng chúng ta cũng cần biết, vì sao vua Hêrôđê muốn giết Hài Nhi Giêsu.

Chuyện là thế này. Hồi ấy, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem và hỏi: “Đức Vua dân Do Thái mới sinh hiện ở đâu”. Vâng, mấy nhà chiêm tinh “đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông” và họ muốn được “đến bái lạy Người”.

Nguồn tin này như một cái tát vào mặt Hêrôđê. Ai… ai là vua dân Do Thái và ai đáng được bái lạy, nếu không phải là ông ta!

Một quỷ kế đã được Hêrôđê vạch ra. Nhà vua “bí mật vời các nhà chiêm tinh đến” căn dặn mấy nhà chiêm tinh rằng “Xin quý Ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người”…

Qua những lời chỉ dẫn của các thượng tế và kinh sư, mấy nhà chiêm tinh đã tìm thấy “vị lãnh tụ chăn dắt Israel” tại Belem. Chuyện kể rằng: “Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người”.

Thế nhưng, sau đó, mấy nhà chiêm tinh “được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình”.

Vua Hêrôđê, sau đó, “thấy mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa, thì đùng đùng nổi giận, nên sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Belem và toàn vùng phụ cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh.”

Trở lại cuộc hành trình “đào thoát” của ông Giuse. Chuyện kể rằng: Ông đã đưa gia đình đến bến bờ bình an. Tại Ai Cập, gia thất của ông đã “ở đó cho đến khi vua Hêrôđê băng hà”.

***
Chúa Nhật hôm nay (28/12/2025) Lễ Thánh Gia.

Lễ Thánh Gia, tất nhiên chúng ta nói về gia đình. Nói về gia đình, không gì tốt hơn là nói về người cha. Nói về người cha, bởi vì, một văn hào phương tây đã nói: “Nơi chốn bình an nhất của đứa trẻ trên thế giới này là căn phòng của cha nó”.

Nói về người cha, nên chăng nói về “ông Giuse”! Nên chứ! Vâng, “ông Giuse” ngày nay chúng ta gọi là “Thánh Cả Giuse”. Thế mà, không biết từ bao giờ, có ai đó tặng cho ngài nickname là “Thánh Giuse thánh ngủ”.

Nói về nickname “Thánh Giuse thánh ngủ”. Có lẽ không ít người trong chúng ta “vẫn còn khá mới mẻ” với cái tên này. Tuy nhiên, chúng ta sẽ kinh ngạc khi hiểu được ý nghĩa của (biệt danh) này. Vâng, ý nghĩa tâm linh của (biệt danh) này rất sâu sắc.

Đó là: Sự tin tưởng tuyệt đối: Thánh Giuse ngủ ngon vì Ngài hoàn toàn tin tưởng và phó thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa, ngay cả khi đối mặt với thử thách lớn lao.

Kết nối với Chúa: Giấc ngủ của Thánh Giuse là thời điểm Ngài kết nối sâu sắc với những chỉ dẫn từ Thiên Chúa, dù Ngài luôn sống ý thức về Chúa.

Thân phận lữ hành: Hình ảnh Ngài ngủ gối đầu trên tay nải, vẫn mặc sẵn quần áo, nhắc nhở về cuộc đời lữ hành (di cư sang Ai Cập, trở về...) luôn sẵn sàng lên đường theo ý Chúa, không gắn bó nơi chốn.” (nguồn: internet).

Một người cha như thế, một người cha “tin tưởng tuyệt đối vào Chúa, kết nối với Chúa, nhắc nhở về cuộc đời lữ hành của mình”, có lẽ nào không phải là nơi-chốn-bình-an-nhất-của-chúng-ta, phải không, thưa quý vị!

Vâng, chúng ta đang sống trong một xã hội ngày càng tục hóa. Thiên Chúa bị gạt ra khỏi cuộc đời. Hậu quả là gì? Thưa, một nền văn hóa sự chết nảy sinh, tự do phá thai, tự do hôn nhân đồng tính được cổ võ.

Văn-hóa-sự-chết… Tự-do-phá-thai, tự-do-hôn-nhân-đồng-tính, chính là “hiện thân” những tên bạo chúa Hêrôđê-thời-đại.

Chúng chính là nguyên nhân gây mâu thuẫn trong gia đình. Chúng chính là nguyên nhân gây bất hòa, chia rẽ. Chúng tiếp tục tước đi quyền làm người, quyền được sống của con trẻ, của hài nhi. Chúng không ngần ngại truy sát tập thể những con trẻ ngây thơ, bởi những game bạo lực, bởi những website-đen… đen như mõm chó, bởi những thần tượng ảo, v.v…

Hãy tự hỏi, chúng ta sẽ làm gì để những vấn nạn (nêu trên) không thể xâm nhập gia đình chúng ta? Thật… thật khôn ngoan khi chúng ta xem “thánh Giuse thánh ngủ” như là một tấm gương noi theo, hầu có thể trở thành tấm lá chắn, để bảo vệ gia đình chúng ta.

Vâng, “Đừng quên thánh Giu-se”.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 20 tháng 12, 2025

Belem hồn tôi – có Chúa ở cùng

 Chúa Nhật IV – MV – A

Belem hồn tôi – có Chúa ở cùng

SnTM 201225a


Như chúng ta được biết, mỗi khi bắt đầu bước vào Mùa Vọng, trên cung thánh của bất cứ nhà thờ nào, cũng đều được trưng bày bốn cây nến. Bốn cây nến này (ba cây mầu tím, một cây mầu hồng) thường được đặt trên một vòng lá cây xanh (vòng Nguyệt Quế), biểu tượng cho sự sống vĩnh cửu và sự trở lại của Chúa Giê-su.

“Cây nến thứ nhất: tượng trưng cho hy vọng vào sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế. Cây nến thứ hai: tượng trưng cho bình an mà Chúa mang đến. Cây nến thứ ba: tượng trưng cho niềm vui mừng sắp đến lễ Giáng Sinh. Cây nến thứ tư: tượng trưng cho tình yêu thương vô bờ bến của Chúa.” (nguồn: internet).

“Hy Vọng - Bình An - Niềm Vui - Tình Yêu”… đó là những món quà tặng của Thiên Chúa. Khi nói đến những món quà này, chúng ta không thể không liên tưởng đến một nhân vật, đó là Thánh Giu-se.

Liên tưởng đến Thánh Giu-se, vì ngài chính là người đã đốt lên một ngọn lửa, một ngọn lửa rực sáng niềm hy vọng, ấm áp sự bình an, chan hòa niềm vui thỏa, tràn đầy tình yêu thương, qua việc thực thi mệnh lệnh “sứ thần Chúa dạy… đón Đức Maria về nhà mình.” Vâng, sự việc này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Matthêu (1, 18-24).

**
Khởi đầu câu chuyện, thánh sử Mat-thêu thuật lại như sau: “Đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô, bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1, 18).

Đó là một tin tốt chăng? Thưa, với cái nhìn của người đời, chúng ta có thể nói hai chữ: “tin xấu!” Với người đời, đó là một tin không vui, và rất có thể có người sẽ khắc khoải sầu đau với những đêm dài thao thức!

Rất có thể có người trong đêm dài thao thức, sẽ nghêu ngao những lời ca, rằng: “Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần sầu!” Rất có thể có người sẽ “nghẹn ngào” nói với ý trung nhân mình, rằng: “Thôi em đi về đi. Ðau thương này anh xin dành mang”.

Thánh Giuse làm gì, khi biết được sự việc này? Ngài xin-dành-mang, chăng! Không… không thấy Tin Mừng nói đến. Chỉ thấy, Kinh Thánh thuật lại rằng: “Ông Giuse, chồng bà, là người công chính không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1, 19).

Thánh Giu-se nghĩ như vậy và “ông đang toan tính như vậy”. Thế nhưng, như người xưa có nói: “mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”. Thiên… ở đây là Thiên Chúa - Người không cho ông làm như vậy. Người đã can thiệp vào toan tính của thánh Giu-se.

Thiên Chúa can thiệp bằng cách nào! Thưa, Người sai “Sứ thần… hiện đến báo mộng cho ông”. Sứ thần Chúa báo mộng, rằng: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ. Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa Chúa phán qua miệng lưỡi ngôn sứ: Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.”

Là một người công chính, có phần chắc, Thánh Giu-se hiểu những gì sứ thần Chúa phán truyền “chính là lẽ thật”, lẽ thật tuyệt đối đến từ Thiên Chúa, không thể chối từ. Và rồi, “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà” (Mt 1, 24).

***
Hôm nay (21/12/2025), Chúa Nhật thứ IV – Mùa Vọng. Như vậy, bốn cây nến trên cung thánh đều được thắp sáng. Những món quà tặng của Thiên Chúa cũng đã được đóng gói, đóng thành một gói-quà-lớn.

Gói-quà-lớn này, gồm có: niềm hy vọng, sự bình an, niềm vui thỏa, tình yêu thương. “Shipper Giêsu” sẽ giao tận nhà, cho mỗi chúng ta. Ngài sẽ “đứng trước cửa và (phone). Ai nghe tiếng (Ngài) và mở cửa…” Ngài sẽ tặng gói-quà-lớn này cho mỗi chúng ta.

Không còn là sứ thần Chúa “báo mộng” như báo mộng cho Thánh Giu-se, nhưng chính là Thần Khí Chúa sẽ giúp chúng ta “nhận ra sự thật, phân định ý Chúa”, ngõ hầu có thể thấy được giá trị của món quà này.

Sống… chúng ta không thể không có hy vọng. Vì nó “giúp con người có niềm tin vào bản thân, tìm kiếm giải pháp và không bỏ cuộc trước nghịch cảnh.” Sống… nhất là phải sống trong một thế giới đầy bất an và bất ổn, như hôm nay, có ai lại không cần bình an!

Niềm vui thỏa, và nhất là tình yêu thương, rất cần. Vì nó “thể hiện sự viên mãn, hạnh phúc trọn vẹn khi con người cảm nhận được tình yêu thương, sự quan tâm từ người khác, mang lại cảm xúc tích cực, sự gắn kết, sức mạnh vượt qua khó khăn, đồng thời giúp chúng ta lan tỏa lòng tốt, sự sẻ chia, bao dung, và tạo nên ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống. Đây là những giá trị cốt lõi của hạnh phúc con người, được thể hiện trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội.” (nguồn: internet).

Do vậy, đừng từ chối quà tặng của Thiên Chúa. Chúng ta hãy mở cửa, nhận quà. Gói-quà-của-Chúa rất có giá trị. Giá trị vượt thời gian. Giá trị đời đời.

Xưa, Thánh Giu-se làm-như-sứ-thần-Chúa-dạy và đón Đức Maria về nhà, thế gian nhận được một “Em-ma-nu-en – Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.”

Nay, nếu chúng ta mở cửa… mang gói quà vào-ngôi-nhà-tâm-hồn-mình, chúng ta sẽ nhận được “niềm hy vọng, sự bình an, niềm vui thỏa, tình yêu thương”.

Hãy mở cửa… mang gói quà vào-ngôi-nhà-tâm-hồn-mình. Vì đó là gói hành trang tốt nhất cho cuộc hành trình về Belem Thiên Quốc của mỗi chúng ta.

Chúa Nhật hôm nay, cây nến thứ tư sẽ được thắp sáng. Lễ Giáng Sinh gần kề. Mọi việc thiết kế hang đá theo truyền thống, đã xong. Việc còn lại và không kém phần quan trọng đó là Hang Belem tâm-hồn-mình.

Hang Belem tâm-hồn-mình được trang trí ra sao? Nên chăng, mang-gói-quà-Chúa-tặng trang trí hang Belem tâm-hồn-mình!

Vâng, nên làm vậy. Làm vậy Hang Belem tâm-hồn-mình có-Chúa-ở-cùng.

Làm vậy… Belem hồn tôi – có Chúa ở cùng.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2025

Chúa Giêsu, thật là Đấng đã đến

 Chúa Nhật III – MV – A

Chúa Giêsu, thật là Đấng đã đến

SnTM 131225a


“Dương trần đã vang lên bài thánh ca. Mùa đông năm ấy Chúa sinh vì ta. Năm ấy không xa bây giờ. Vào một mùa Giáng Sinh xưa. Nửa đêm đi lễ anh đưa.”

Những dòng chữ trên đây, là một phần trích đoạn của bản nhạc có tên “Lời Con Xin Chúa” - tác giả: Lê Kim Khánh.
Đúng… đúng là những ngày hôm nay, “dương trần” nơi chúng ta đang sống, đã “vang lên (những) bài thánh ca”, những bài thánh ca nói đến việc Chúa Giêsu giáng trần. Và, chúng ta có thể nói, mà không sợ sai, đó là: sẽ có không ít bạn trẻ (nữ): “nửa đêm đi lễ anh đưa.”

Đi lễ… nửa đêm đi lễ “anh hay em” đưa… quan trọng lắm, có phải thế không, thưa quý bạn!

Tuy nhiên, quan trọng hơn, đó là chúng ta đừng xem sự kiện Chúa Giêsu giáng trần như là: “một biến cố đã đi vào lịch sử giống như mọi ngày sinh của người đời, mà dần dà chỉ còn là một ký ức.”

Cố Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, trong bài giảng cử hành thánh lễ Giáng Sinh nửa đêm (khi ngài còn tại thế) đã có lời khuyên, như thế.

Trong bài giảng, ngài Gio-an Phao-lô II, còn thêm lời chia sẻ, lời chia sẻ, rằng: “Một Người Con đã được ban cho chúng ta. Đây là một biến cố đã xảy ra (hơn) hai ngàn năm, nhưng không được coi là một sự kiện quá khứ. Ngày sinh này thuộc về chúng ta hôm nay, ngày mai và suốt mọi thời. Một lần nữa, chúng ta hãy lãnh nhận quà tặng này.”

Một biến cố đã-xảy-ra-hơn-hai-ngàn-năm, nhưng “năm ấy không xa bây giờ” thế nên chúng-ta-phải-lãnh-nhận-quà-tặng-này.

Chúng ta phải lãnh nhận quà-tặng-này, bởi vì Chúa Giêsu, theo Tin Mừng thánh Gio-an cho biết: “(Người) là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có… Người đã đến nhà mình… những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (x.Ga 1, 9-10).

Chính Chúa Giêsu bằng nhiều cách, lúc thì trực tiếp, lúc thì gián tiếp, khẳng định “Người đã đến”.

Vâng, Chúa Giêsu đã (gián tiếp) nói điều này trong một dịp ông Gio-an Tẩy Giả sai các người môn đệ tìm đến mình để hỏi cho ra lẽ, rằng: “Thầy có thật là Đấng phải đến?”

Sự việc này được ghi trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (x.Mt 11, 2-11).

**
Tìm về Tin Mừng thánh Mát-thêu, chúng ta được biết: “Ông Gio-an lúc đó đang ngồi tù”. Lý do bị tù là bởi ông đã ngăn cản bạo chúa Hêrôđê không được phép lấy một người phụ nữ, vì người phụ nữ ấy chính là “vợ ông Philipphê anh của nhà vua” (x. Mt 14, 3-4). Vua Hêrôđê không hài lòng sự can gián của ông nên đã “bắt ông tống ngục”.

Đang-bị-tống-ngục, nhưng ông Gio-an vẫn có thể “nghe biết những việc Đức Kitô làm.” Những-việc-Đức-Kitô-làm đã khiến cho: “Dân chúng lũ lượt đi theo Người.”

Điều đó khiến cho trái tim của ông khắc khoải. Ông khắc khoải tự hỏi: “Người này là ai kia chứ?” Rồi, khi sự khắc khoải trào dâng, ông Gioan “liền sai các môn đệ” đến hỏi Đức Giêsu: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?” (x.Mt 11, 3).

Hôm ấy, Đức Giêsu trả lời rằng: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng”. Rồi, Ngài có lời truyền bảo: “Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.”

Vâng, đã có người vấp ngã, đó là cư dân Nadarét (đồng hương Đức Giêsu). Cư dân Nadarét vấp ngã cũng bởi câu trả lời này.

Câu trả lời này, là một phần trích đoạn trong sách Isaia. Hôm Đức Giêsu về Nadarét. Vì là nhằm ngày Sabat, Người vào hội đường. Người được chỉ định đọc Sách Thánh. Sau khi đọc xong, với một phần trích đoạn Isaia (nêu trên), Đức Giêsu liền tuyên bố: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”.

Lời tuyên bố như một cơn địa chấn. Cả hội đường xầm xì những lời lẽ chất chứa sự hoài nghi, một rừng người “đầy phẫn nộ” phẫn nộ đến độ, họ đòi “kéo Ngài lên tận đỉnh núi, để xô Ngài xuống vực” (Lc 4, 29).

Trở lại với các môn đệ của ông Gioan. Sau khi nghe những lời Đức Giêsu nói, các môn đệ của ông Gioan không-phẫn-nộ, “họ đi”.

Họ đi đâu! Thưa, không thấy Tin Mừng nói họ đi đâu, nhưng có phần chắc nơi đến là nhà tù. Chắc hẳn họ sẽ kể cho ông thầy mình nghe điều Đức Giêsu đã nói.

Được sinh ra trong một gia đình cha là tư tế; mẹ là bà Êlizabeth “cũng thuộc dòng tộc tư tế Aharon”, tất nhiên, ông Gio-an hiểu ngay những lời Kinh Thánh này.

Thế nên, qua sự việc “sai các môn đệ đến hỏi Đức Giêsu”, nó không chỉ củng cố niềm tin cho ông Gio-an, mà còn cho các môn đệ của ông, rằng: Đức Giêsu - thật là Đấng phải đến.

***
Đức Giêsu - thật là Đấng phải đến. Ngài đã đến thế gian này hơn hai ngàn năm.

Ngài đang đứng trước cửa ngôi-nhà-tâm-hồn mỗi chúng ta. Ngài lớn tiếng gọi chúng ta, tiếng gọi rất to và rõ ràng, rằng: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta.” (x.Kh 3, 20).

Hãy lắng nghe tiếng gọi của Ngài. Tiếng gọi của Ngài ở trong Kinh Thánh. Tiếng gọi của Ngài ở trong những giây phút chúng ta thinh lặng nguyện cầu. Tiếng gọi của Ngài ở trong những giây phút chúng ta suy niệm… suy niệm “mười bốn đàng thánh giá”, suy niệm “tám mối phúc thật” suy niệm “thương người có mười bốn mối.”

Và, khi chúng ta đã nghe được tiếng-gọi-của-Ngài, hãy mau mắn mở cửa, cánh-cửa-lòng-mình… “ăn năn đền tội - khao khát nhân đức trọn lành - làm cho người hòa thuận - cho kẻ đói ăn - cho kẻ khát uống – cho kẻ rách rưới ăn mặc – lấy lời lành mà khuyên người - yên ủi kẻ âu lo - tha kẻ dể ta - nhịn kẻ mất lòng ta - cầu cho kẻ sống và kẻ chết.”

Thực hiện những tiếng gọi của Chúa, Chúa Giê-su sẽ “cư ngụ giữa chúng ta”.

****
Chúa Giê-su cư-ngụ-giữa-chúng-ta, chẳng phải đó là một “bức tranh đẹp”, rất… rất đẹp, được treo trang trọng, trong ngôi-nhà-tâm-hồn mỗi chúng ta!

Khi Chúa Giê-su đã ở trong ngôi-nhà-tâm-hồn mỗi chúng ta, theo bầu không khí mừng Giáng Sinh, có thể nói, chúng ta có một Hang Đá Belem, đẹp nhất thế giới.

Khi cánh-cửa-lòng-mình mở ra… mở ra để thực thi, để biến đổi những tiếng gọi của Chúa, thành hiện thực, đó chính là những “sợi dây đèn led” tuyệt đẹp vô song, được trang trí cho Hang Đá Belem tâm hồn mình.

Hôm nay, Chúa Nhật III – MV. Lm. Giuse Nguyễn Quốc Quang, mở đầu bài giảng với lời nhắn nhủ: “Hôm nay chúng ta bước vào Chúa Nhật III Mùa Vọng, Chúa Nhật của niềm vui. Không phải là niềm vui trang trí hang đá, đèn điện hoành tráng lộng lẫy trong Nhà Thờ cũng như ngoài phố xá, nhưng là niềm vui vì Chúa đang đến gần, đang làm mới lại đời sống chúng ta.”

Một… một lời nhắn nhủ đúng lúc, kịp thời. Chúa-đang-đến-gần. Nói ngược lại, Chúa-đang-gần-đến… đến-lần-thứ-hai… đến-lần-thứ-hai.
 
Và, đó là lý do, hai Chúa Nhật trước, chúng ta được mời gọi “tỉnh thức và sẵn sàng - hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối.”

Chúa Nhật hôm nay, chắc chắn rồi, chúng ta được mời gọi “Vui lên nào!” (Is 35, 1) Vâng, hãy vui lên nào! Để cho niềm vui trọn vẹn, hãy nhớ mở cửa, mời Chúa Giê-su vào nhà, ngôi-nhà-tâm-hồn mỗi chúng ta.

Phải mời thôi! Bởi vì, Chúa Giê-su đã đến thế gian.

Chúa Giêsu, thật là Đấng đã đến.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2025

Chúng ta cũng phải sinh hoa quả

 Chúa Nhật II – MV – A

Chúng ta cũng phải sinh hoa quả

SnTM 061225b

 

Vào cuối tháng 11 vừa qua, Tổng giáo phận Sài Gòn tổ chức tuần tĩnh tâm từ sáng thứ Hai 24-11-2025 đến trưa thứ Sáu 28-11-2025, dành cho linh mục đoàn Tổng giáo phận, tại Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn.

“Là muối đất và ánh sáng thế gian, không dính bén và hết lòng loan báo Tin Mừng”, đó chính là nội dung được Đức Giám mục Giuse Đỗ Quang Khang chia sẻ trong tuần tĩnh tâm, trước 374 linh mục của TGPSG.

“Trong tuần tĩnh tâm, các linh mục đã dâng Thánh lễ, chầu Thánh Thể, lắng nghe các bài giảng, cầu nguyện, lần chuỗi Mân Côi, sám hối, xưng tội, gặp gỡ nhau trong các bữa ăn, đặc biệt là cầu nguyện cho các Đức Giám mục, linh mục trong Tổng giáo phận đã qua đời.” Website của tgpsaigon.net đã ghi một bản tin, như thế.

Dâng Thánh lễ, chầu Thánh Thể, lắng nghe các bài giảng, cầu nguyện, lần chuỗi Mân Côi… đó là việc các linh mục phải làm. Còn sám hối và xưng tội, ư! Thưa, cũng là việc phải làm.

Phải làm, vì đó là điều Đức Giêsu muốn mọi người làm. Xưa, ngay khi bắt đầu ra đi loan báo Tin Mừng, Ngài đã lớn tiếng kêu gọi mọi người, rằng: “Anh em hãy sám hối…” (Mt 4, 17).

Cùng thời Đức Giê-su, có một người tên là Gioan, Người đương thời gọi ông là Gioan Tẩy Giả, cũng đã lớn tiếng kêu gọi mọi người hãy-sám-hối. Sự kiện này, được ghi lại trong tin mừng thánh Mát-thêu. (Mt 3, 1-12).

**
Tin mừng thánh Mát-thêu kể rằng: “Hồi ấy, ông Gioan Tẩy Giả đến rao giảng trong hoang địa miền Giuđê”. Ông rao giảng rằng: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.”

Theo lời Kinh Thánh ghi lại, ông Gioan Tẩy Giả là “người được Thiên Chúa sai đến”. Và ông chính là người được ngôn sứ Isaia nói tới: “Có tiếng người hô trong hoang địa. Hãy dọn sẵn đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (Mt 3, 3).

Vào hoang địa, không trịnh trọng mũ áo cân đai như nhóm Phariseu và Sa-đốc, “ông Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn.”
Hôm đó, thánh sử Mát-thêu cho biết: “người ta từ Giêrusalem và khắp miền Giuđê, cùng khắp vùng ven sông Giođan kéo đến với ông.” Đến-với-ông: “Họ thú tội và ông làm phép rửa cho họ trong sông Giođan”.

Một sự việc xảy ra khiến ông Gioan kinh ngạc! Ông Gioan kinh ngạc khi “thấy nhiều người thuộc phái Phariseu và phái Sa-đốc đến chịu phép rửa.”

Mấy ông kẹ này, ngay lập tức bị ông Gioan xối cho một gáo nước lạnh. Thật ra, phải nói là một “gáo” lời khuyến cáo và chất vấn.

Hôm đó, ông Gioan có lời chất vấn, rằng: “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy?” Tiếp đến ông khuyến cáo: “Các anh hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối.”

Nếu không sinh-hoa-quả-để-chứng-tỏ-lòng-sám-hối, ông đưa ra lời cảnh cáo quyết liệt rằng, “Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt, đều bị chặt đi và quăng vào lửa” (x.Mt 3, 8-10).

Hôm đó, sau những lời khuyến cáo, chất vấn, cảnh cáo với những người thuộc phái Pharisêu và phái Sađốc, ông Gioan khiêm nhường tuyên bố: “Tôi, tôi làm phép rửa cho các anh trong nước để giục lòng các anh sám hối. Còn Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người.”

“Người…” ông Gioan, nói tiếp: “Người sẽ làm phép rửa các anh trong Thánh Thần và lửa. Tay Người cầm nia, Người sẽ rê sạch lúa trong sân; thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi”. (Mt 3, 11-12).

***
Trở lại tuần tĩnh tâm thường niên 2025 của linh mục đoàn Sài Gòn.

Hôm ấy, “Đức cha giảng phòng đã giúp linh mục đoàn TGPSG đi vào những giây phút thân tình bên Chúa Giêsu Thánh Thể, để làm mới lại bản thân và nhận ra ‘linh mục năm nay là ai’, qua sáu điểm gợi ý: Linh mục, lữ khách đang lữ hành. Linh mục, người nghèo trong tinh thần. Linh mục, người nghèo của Đức Chúa. Linh mục, muối đất. Linh mục, ánh sáng trần gian. Linh mục, người môn đệ thừa sai.”

Nhắc đến những điểm-gợi-ý này để làm gì? Thưa, cũng là để-làm-mới-lại-bản-thân của chính chúng ta, qua sáu điểm gợi ý, nêu trên.

Vâng, phải-làm-mới-lại. Nói cách khác, chúng ta cần xác quyết rằng: khi đã là người môn đệ của Chúa, chúng ta là “lữ khách đang lữ hành.”

Mà, đã là lữ khách đang lữ hành, thì dù chúng ta đang “ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian; sống ở giữa đời nhưng không sống như người đời”.

Không sống như người đời. Thế nên, đừng để bị ru ngủ, đừng để bị lừa bịp bởi những chủ thuyết, những luận điệu lếu láo, đại loại như: Thiên Chúa đã chết rồi. Hoặc “Thằng Giời đứng sang một bên. Để cho nông hội đứng lên làm Giời.” v.v… của người đời.

Không sống như người đời. Thế nên, những ham muốn về tiền bạc, về danh vọng, về quyền lực, về nhục dục v.v… hãy xem đó là phù vân.

Cohelet nói: “Tôi có cả một đàn súc vật… nhiều hơn hết mọi người. Tôi cũng đã tích trữ bạc, vàng và vật quý… Tôi đem đào kép về ca hát, mời mỹ nữ cung phi đến, hưởng mọi thú vui của con cái loài người. Tôi đã trội vượt và giàu có hơn hết mọi người đã sống trước tôi ở Giêrusalem… Bấy giờ nhìn vào hết mọi việc do chính tôi làm, và bao gian lao vất vả tôi phải chịu, tôi nhận thấy: tất cả chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát” (x.Gv 2, 6-11).

Tất cả chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát”. Vì thế, phải-làm-mới-lại, qua sáu điểm gợi ý, nêu trên.

Sáu điểm gợi ý nêu trên, chính là sáu lời mời gọi chúng ta sống tinh thần tám mối phúc thật. (x.Mt 5, 1-12). Sống… tám mối phúc thật, có thể nói, đó là phương cách làm cho “cây đức tin” sinh-hoa-quả.

Đừng quên, ông Gioan đã nói: “Các anh hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối.” “Các anh” phải chăng, cũng chính là chúng ta? Thưa, đúng vậy. Thế nên, chúng ta cũng phải sinh hoa quả.

Petrus.tran

Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một.

  Chúa Nhật XXX – TN – A Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một Đọc các sách Tin Mừng, chúng ta được biết, sứ vụ rao giảng Tin Mừng của...