Thứ Tư, 26 tháng 9, 2012

Ai là người, lớn hơn hết?


Ai là người lớn hơn hết!
Đã sinh ra trên cõi đời này, ai trong chúng ta lại không có đôi điều ước muốn! Thuở nhỏ  ước muốn nhỏ, đến tuổi trưởng thành ước muốn cao hơn. Và có lẽ không có ước muốn nào thực tế cho bằng ước muốn được có địa vị, có danh vọng, có chức tước cao trong xã hội. 
Chẳng có gì xấu khi có những ước muốn đó. Nguyễn Công Trứ, một nhà quân sự và cũng là một nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử cận đại của Việt Nam, đã có thơ rằng: “Làm trai đứng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông”.
Tuy nhiên, điều đáng tiếc là con người luôn có tham vọng, luôn muốn trội hơn người khác. Và đó cũng chính là mần mống dẫn đến hận thù, chia rẽ, bè phái.
Khi xưa, các môn đệ  của Đức Giêsu cũng đã bị rơi vào loại cám dỗ này. Và Ngài đã dạy cho các ông một bài học “muốn trội hơn người khác” thì phải làm gì?
******
Câu chuyện đã được kể lại rằng: Sau biến cố Đức Giêsu biến hình trên núi Tabor dưới sự chứng kiến của Phêrô, Giacôbê và Gioan, và sau khi chữa lành một người bị quỷ ám, các môn đệ đã cùng với Thầy của mình rời khỏi đó và đi băng qua miền Galilê.
Nhắc tới Galilê! Vâng, linh mục Thành Tâm đã cảm xúc rằng “Galilê! Nhắc ta nhớ ngày xưa. Ngày Chúa ta sống thân phận chúng ta. Vì thương ta bao năm trời đây đó. Làm chứng nhân: Tình thương của Cha”...
Những cảm xúc đó, chắc hẳn các môn đệ là những người thấu hiểu hơn chúng ta hôm nay, nhưng hôm đó, hôm ở Galilê, có một điều các ông không thể hiểu được, đó là lời tiên báo của Đức Giêsu.
Ôi! một Thầy Giêsu quyền uy, vừa mới “biến đổi hình dạng trước mắt các ông”, một Thầy Giêsu đã “quát mắng tên quỷ…” để rồi “quỷ thét lên” trước quyền phép của Ngài… thế mà không thể hiểu vì sao Thầy lại tiên báo rằng, “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại” (Mc 9, 31)  
Chính lời tiên báo này đã tác động rất lớn lên tâm tư của các môn đệ. Nó đã làm cho đoạn đường từ Galilê đến Caphacnaum trở nên dài lê thê và buồn nản!
Sự buồn nản đó đã làm cho Caphacnaum, hôm đó, trong tâm tư  các ông, không còn là một thành phố của náo nhiệt. Tiếng cãi vã của các ông đã át hẳn tiếng chào mời của các thương gia.
Thầy sẽ “đi chết” ư! Và khi Thầy đã chết rồi… ai… “ai là người lớn hơn cả?”
Ôi! Thật đáng tiếc! Không hiểu lời tiên báo của Đức Giêsu, nhưng các môn đệ  “sợ không dám hỏi lại Người” (Mc 9, 32).
Cho đến khi về tới nhà, Đức Giêsu phá tan bầu không khí chết chóc bằng một câu hỏi bâng quơ: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?” (Mc 9, 33). Mười hai môn đệ với hai mươi bốn con mắt nhìn nhau trong thinh lặng.
Chuyện kể tiếp rằng : “Các ông làm thinh”. (Mc 9, 34).
Một phút tâm tình và suy tư…
“Các ông làm thinh”, có phần chắc là vì các ông quên lời giảng dạy của Đức Giêsu, hoặc giả, các ông chưa thuộc bài, những bài học mà Đức Giêsu đã truyền dạy cho các ông trong suốt những ngày tháng Thầy và trò chung vai sát cánh bên nhau.
“Các ông làm thinh”. Nhưng Đức Giêsu không làm thinh.
“Ai muốn theo tôi”, Đức Giêsu đã nói rất rõ, rằng, “phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mc 8, 34).
Các ông đã bỏ mọi sự, bỏ gia tài, bỏ gia đình mà theo Ngài.
Tốt! các ông đã thuộc phần đầu bài. Tiếc thay! còn phần thân bài và phần kết bài các ông quên. Chính vì thế mà hôm nay, thay vì “từ-bỏ-chính-mình”, các ông lại “cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả” (Mc 9, 34).
Ôi! Ai cũng muốn làm quan, thì ai làm lính đây!
Muốn làm người lớn hơn cả ư! Muốn làm người đứng đầu ư! Vâng, Đức Giêsu đã đưa ra một quan điểm hết sức bất ngờ, ngược lại với tất cả những gì mà các ông đã nghĩ đến.
Người-đứng-đầu, theo quan điểm của Đức Giêsu, phải là người dùng-đôi-tay-để phục vụ. Người-đứng-đầu,  theo quan điểm của Đức Giêsu, phải là người dùng-con-tim để hành động.
Trước nhóm Mười Hai, Đức Giêsu dõng dạc tuyên bố: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”. (Mc 9, 35).
Tuy thánh sử Máccô không nói gì về phản ứng của các môn đệ sau lời tuyên bố của Đức Giêsu, nhưng chúng ta có thể tin rằng, các môn đệ đã hiểu và đã hối tiếc vì đã gây ra một cuộc tranh chấp quyền lực giữa các ông.
Thật vậy, nếu các ngài không hiểu và không hối tiếc thì, sau này, thánh Giacôbê, như là một đại diện cho nhóm mười hai, đã không lớn tiếng chỉ trích rằng: “Nếu trong lòng anh em có sự ghen tương, chua chát và tranh chấp, thì anh em đừng có tự cao tự đại…”.
Sau đó, thánh nhân nhấn mạnh: “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có đủ thứ xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa” (Gc 3, 16).
******
Giờ đây, chúng ta hãy nghe lại lời Đức Giêsu đã nói với Nhóm Mười Hai: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”.
“Nhóm mười Hai” xưa kia, nay không còn nữa và có phần chắc, họ, đã có người ngồi bên tả, có người ngồi bên hữu Đức Giêsu.  
Vậy, lời Đức Giêsu đã tuyên bố với Nhóm Mười Hai xưa kia, nay, không “ăn nhập” gì đối với chúng ta ư?
Ôi! Thật sai lầm khi để tư tưởng chúng ta suy nghĩ như thế!
Là một Kitô hữu, “Nhóm Mười Hai” hôm nay, có thể là một vị giám mục, một linh mục, một tu sĩ và tất nhiên cũng là mỗi người tín hữu chúng ta. 
Đừng bao giờ nghĩ rằng, nếu tôi là một giám mục, hay linh mục, hoặc tu sĩ, tôi mới có thể phục vụ tha nhân tốt hơn…
Trái lại, hãy tự hỏi rằng, là một Kitô hữu, là người môn đệ của Chúa Kitô, tôi đã được “Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hòa, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi…” chưa?
Đừng coi thường đức thanh khiết, bởi đức thanh khiết là chất xúc tác dẫn đến tình yêu thương. Và ở đâu có tình yêu thương là có sự vui mừng và bình an. Ở đâu có tình yêu thương ở đó không thể có thù oán, chém giết, xung đột, gây chiến.
Và sống thanh khiết là nền tảng để phát huy sự trung tín và tiết độ. Một khi có sự trung tín và tiết độ sẽ chẳng bao giờ xảy ra chuyện gian dâm, luông tuồng, sẽ chẳng bao giờ  say sưa chè chén, mê ăn uống và những điều khác giống như vậy. 
Hãy thử tưởng tượng, nếu mỗi người chúng ta được “Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hòa, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi…” thì điều gì sẽ xảy ra?  
Xin thưa, có phần chắc mỗi người chúng ta đủ khả năng làm cho “anh em hòa thuận, láng giềng thân thiết, vợ chồng ý hợp tâm đầu”. 
Đừng quên, ba điều này “đều đẹp lòng Chúa và người ta” (Hc 25, 1).
Nếu… nếu chúng ta có một cuộc sống đẹp-lòng-Chúa-và-người-ta, thì… Vâng, dẫu cho chúng ta có là một tên vô danh tiểu tốt nào đó và đang phải sống chui rúc nơi một xó xỉnh nào đó trên thế giới này, thì, hãy tin rằng, Chúa vẫn coi chúng ta như là “người lớn hơn hết” mọi người.
Petrus.tran













Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2012

Theo Đức Giêsu: một sự lựa chọn sáng suốt cho cả cuộc đời.

Cuộc đời của mỗi người là một cuộc hành trình của những sự lựa chọn. Ngay từ lúc thức giấc buổi sớm mai cho đến lúc chiều tàn có muôn vàn điều ta phải lựa chọn. Ta sẽ mặc bộ trang phục nào cho hôm nay, bữa cơm trưa sẽ có món gì, và tối nay mấy giờ ta sẽ đi ngủ?

Rồi khi tính đến chuyện trăm năm chẳng hạn, trong số những “ý trung nhân” đang vây quanh, ai sẽ là người chồng hoặc vợ của cuộc đời mình! Và ta sẽ phải đưa ra sự chọn lựa.

Vâng, chỉ một điều duy nhất mà ta không được quyền lựa chọn, đó là sự xuất thân của mình. Còn tất cả những điều khác, ta đều có quyền lựa chọn, vì đó là đặc ân mà Thiên Chúa đã ban cho con người ngay từ tạo thiên lập địa.

Chỉ tiếc rằng, tại vườn Eden, ngay khi nhận được đặc ân đó, nguyên tổ Adam và Eva đã có sự lựa chọn sai lầm để rồi hậu quả là dẫn đến sự chết.

Thế nhưng, Thiên Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu. Người chậm giận và giàu tình thương. Tình thương của Thiên Chúa được tỏ lộ qua việc Người đã “yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).

Người Con Một đó chính là Đức Giêsu Kitô.

*****

Sau ba mươi năm sống ẩn dật tại Nazareth, Đức Giêsu bắt đầu ra đi rao giảng Tin Mừng. Có rất nhiều điều đã được Đức Giêsu giảng dạy và một trong những điều quan trọng luôn được Ngài loan báo đó là “ơn cứu độ và sự sống đời đời”.

Về ơn cứu độ ư? Có thể nói rằng ông Nicôđêmô là điển hình cho những kẻ tin điều ấy. Ông ta đã nhận ra Đức Giêsu “là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến.” Ông ta tin rằng “chẳng ai làm được những dấu lạ” như Đức Giêsu đã làm “nếu Thiên Chúa không ở cùng người ấy.” Và ông ta đã không cất lên lời phản đối khi Đức Giêsu phán rằng: “Như ông Môse đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3,14).

Còn sự sống đời đời thì sao? Đối với người Israel, không phải là không có những người tin và muốn được sự sống đời đời. Câu chuyện chàng thanh niên giàu có chạy theo Đức Giêsu và xin Ngài cho biết “phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp” là một minh chứng điển hình.

Câu trả lời của Đức Giêsu, hôm đó, thiên về một hành động bác ái “hãy yêu người như mình ta vậy.”

Và cũng với câu hỏi đó, vào một hôm khác, tại một hội đường ở Caphanaum, Đức Giêsu nhấn mạnh đến yếu tố “mến Chúa” hay nói đúng hơn là “tin vào Ngài”.

Thật vậy, trước hết là “phải tin,” tin lời Đức Giêsu đã tuyên bố “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời…”(Ga 6,54).

Một phút tâm tình và suy tư…

Có đáng ngạc nhiên khi nhiều môn đệ cho rằng lời nói của Đức Giêsu “Chói tai quá! Ai mà nghe nổi?”

Thưa không, không ngạc nhiên lắm, bởi vì đối với người Do Thái, huyết máu là thực phẩm cấm kỵ, luật Lêvi dạy rằng “bất cứ người nào thuộc nhà Israel… ăn bất cứ thứ huyết nào, thì Ta sẽ quay mặt lại phạt kẻ ăn huyết và sẽ khai trừ khỏi dân nó… Không một ai trong các ngươi được ăn huyết” (Lv 17,10…12).

Điều đáng ngạc nhiên là, hôm nay, còn rất nhiều người mang danh là môn đệ của Đức Giêsu thế mà vẫn không tin lời Ngài nói “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời…”(Ga 6,54).

Qua trình thuật Tin Mừng, chúng ta không thấy Đức Giêsu đính chính hay giải thích rằng-thì-là-mà lời Ta nói phải hiểu theo nghĩa bóng v.v…

Ngược lại Ngài khẳng định rằng “Lời Thầy nói với anh em là Thần Khí và sự sống.” (Ga 6,63).

Đừng quên, trước ngày chịu nạn, trong bữa tiệc ly, Đức Giêsu tái khẳng định lời tuyên bố đó bằng một nghi thức trang trọng. Ngài “Cầm lấy bánh , dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ” và long trọng tuyên bố rằng : “Anh em cầm lấy mà ăn, Đây là mình Thầy”. Cùng một thể thức đó - Đức Giêsu nói tiếp: “Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy”. (Mt 26,26-28).

Lịch sử cứu độ là một chuỗi những sự lựa chọn.

Mở đầu là sự lựa chọn của Maria. “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng”! Tại sao chuyện hoang đường như thế mà Maria vẫn chọn lời xin vâng? Xin thưa, thật giản dị, là bởi Maria tin rằng “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”

Rồi đến tông đồ Phêrô, thánh nhân cũng đã lựa chọn, bởi ngài nhận biết rằng “bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai?”

“Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi sao?” Phải chăng đây cũng là câu hỏi dành cho mỗi chúng ta hôm nay? Và phải chăng, Đức Giêsu, khi đặt câu hỏi này, Ngài đã tôn trọng để cho mỗi chúng ta quyền tự do chọn lựa?

Vâng, chúng ta phải lựa chọn.

Chúng ta sẽ “bỏ Chúa” bởi vì chúng ta vẫn cảm thấy “chói tai” khi phải nghe những lời giáo huấn của Đức Giêsu rằng :”Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Và rằng :”Không ai có thể làm tôi hai chủ… Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được”.(Mt 6,24).

Chúng ta sẽ “bỏ Chúa” bởi những tiếng gọi đầy quyến rũ của trần gian, những tiếng gọi của quyền lực, của danh vọng, của tiền tài nghe “êm tai” hơn?

Hãy nhìn xem những biến động đã xảy ra trong những ngày tháng qua trên thế giới. Quyền lực. danh vọng, tiền tài như Bạc Hy Lai, như Cốc Khai Lai cũng đâu có mua được “sự sống đời đời”!

Nếu xưa kia, dân Israel đã phải đưa ra một lựa chọn “…không bằng lòng phụng thờ ĐỨC CHÚA…” hoặc “gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ ĐỨC CHÚA”(Gs 24, 15)…

… Thì cũng vậy đối với chúng ta hôm nay, chúng ta phải đưa ra một quyết định hoặc cho rằng những lời phán của Đức Giêsu “lấy làm chướng, không chấp nhận được” hoặc tin rằng Lời Chúa chính là “lời ban sự sống đời đời.”

Tưởng cũng nên nghe tiếp lời tông đồ Phêrô đã nói với Đức Giêsu hôm đó “Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,69).

“Phần chúng con”… phải chăng “chúng con” cũng có “chúng ta”?

Vâng, nếu có “chúng ta” thì quả thật chúng ta đã có “một sự lựa chọn sáng suốt cho cả cuộc đời.”

Petrus.tran

Thứ Sáu, 17 tháng 8, 2012

Bánh Hằng Sống : đây là Mầu Nhiệm đức tin


Trẻ mãi không già và trường sinh bất lão là điều ai cũng ước mơ. Hiện nay, nhiều nhà khoa học trên khắp thế giới đang tiến hành một loạt các công trình nghiên cứu về quy trình chống lão hóa và nâng cao tuổi thọ.


Viện sĩ Vladimir Skoulatchev của Viện Hàn lâm Khoa học Nga, trưởng khoa Công nghệ Sinh học của đại học Moscow đã dành phần lớn cuộc đời để nghiên cứu hiện tượng lão hóa.


Ông ta đã chế tạo được một loại thuốc được cho là có thể triệt tiêu sự lão hóa của tế bào. Viện sĩ Skoulatchev hy vọng trong vòng 5 năm tới, kết quả nghiên cứu này sẽ được công bố rộng rãi trước công chúng.


Trong khi đó, tại Viện Kỹ thuật Massachusetts ở Boston (Hoa Kỳ) một nhóm nhà khoa học do giáo sư Leonard Guarente đứng đầu, cũng đang nghiên cứu về một loại gen có khả năng kéo dài tuổi thọ của tất cả các bộ phận cơ thể.


Giáo sư Leonard Guarente hy vọng có thể ứng dụng gen này trong lĩnh vực sản xuất dược phẩm. Người ta hy vọng, trong một tương lai gần, các nhà khoa học sẽ “trình làng” một loại thuốc trường sinh. (nguồn : internet)


Phải chăng, sự tiến bộ của khoa học sẽ đáp ứng được “giấc mơ” trẻ mãi không già và trường sinh bất lão? Xin thưa, không chắc lắm, bởi vì cho tới bây giờ, hết ngày dài lại đến đêm thâu, con người vẫn phải nức nở cất tiếng thở than “đêm nay lại một đêm nữa… giấc mơ chỉ là giấc mơ”.


Vâng, từ ngàn xưa, sinh-lão-bệnh-tử là quy luật muôn đời.


Đức tin Kitô giáo cũng đã dạy rằng “vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết… như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người”. (Rm 5, 12). Tội ấy chính là tội nguyên tổ, tội bất tuân mà Ađam-Eva đã phạm. Và án phạt chính là con người phải “trở về với bụi đất” (St 3, …19).


Thế nhưng, Thiên Chúa là “Đấng từ bi nhân hậu. Người chậm giận và giàu tình thương” (Tv 103, 8). Thật vậy, Thiên Chúa đã xóa “án tử” bằng cách “sai Con của Người đến thế gian… để thế gian nhờ Con của Người, mà được cứu độ”. Và hễ ai “tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16).


Belem của hơn hai ngàn năm trước đó, Con Thiên Chúa “đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1, 14).


“Người phàm” đó chính là Đức Giêsu.


******
Vâng, sau ba mươi năm sống ẩn dật tại Nazareth, Đức Giêsu bắt đầu ra đi rao giảng Tin Mừng. Bất cứ nơi nào Ngài đến giảng dạy, lập tức nơi đó đông đảo dân chúng kéo đến đi theo. Họ đến từ khắp mọi miền Palestina, từ Galilê, Giuđê, Giêrusalem và cả vùng phụ cận bên kia sông Gio-đan.


Họ đến không chỉ “để nghe Người giảng dạy” mà còn để xin Đức Giêsu “chữa lành bệnh tật”. Thật vậy, khi “Người đi tới đâu, vào làng mạc, thành thị hay thôn xóm nào, người ta cũng đặt kẻ ốm đau ở ngoài đường, ngoài chợ và xin Người cho họ…được khỏi” (Mc 6, 56).

Thế nhưng, theo là vậy, nghe là vậy… không phải ai đến với Đức Giêsu cũng đều tin và đón nhận lời giảng dạy của Ngài. Đã có một số người, điển hình là nhóm Pharisêu, luôn rình rập tìm dịp Đức Giêsu giảng những gì họ cho là “trái khoáy” hầu để chất vấn, công kích và phản đối.

Sự kiện Đức Giêsu chữa một người đau ốm ở bên hồ nước tại Bet-da-tha là một ví dụ điển hình. Hôm đó, sau khi Đức Giêsu chữa một người bất toại ba mươi tám năm được khỏi thì giữa Ngài và những người Do Thái đã xảy ra một cuộc tranh luận gay gắt.


Có sự ganh tỵ giữa người được chữa lành và người không được chữa lành chăng? Xin thưa, không thấy thánh sử Gioan nói tới và đó cũng không phải là nguyên nhân dẫn đến việc tranh luận. Nguyên nhân chính, đó là người Do Thái nuốt không trôi lời Đức Giêsu đã nói rằng, “Thiên Chúa là Cha của mình” (Ga 5, 18).


Vâng, thật khó để mà công nhận một người tự nhận là “Con Thiên Chúa” mà lại cứ vi phạm luật ngày sabát. Và tất nhiên, là họ tức giận, giận đến nỗi muốn “tìm cách giết Đức Giêsu”.


Sự tức giận đó âm ỉ như một lò thuốc nổ, để rồi ít lâu sau đó, tại Caphacnaum, sự tức giận đó nổ bùng lên, khi họ, một lần nữa, lại phải nghe những lời mà họ cho rằng rất vô lý từ Đức Giêsu.


Hôm đó, Đức Giêsu tuyên bố rằng “Tôi là bánh từ trời xuống”. Chẳng những thế, Ngài còn khẳng định rằng : “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống.” (Ga 6, 51).


Một phút tâm tình và suy tư…


Khi nghe Đức Giêsu tuyên bố như thế, người Do Thái đã xầm xì với nhau rằng: “Ông này chẳng phải là ông Giêsu, con ông Giuse đó sao?.. Cha mẹ ông ta , chúng ta đều biết cả. Sao bây giờ ông ta lại nói: Tôi từ trời xuống?” (Ga 6, 41-42).


Ngày xưa, khi còn trong sa mạc, chỉ vì đói, chỉ vì khát mà cha ông họ đã “xầm xì” trước mặt ông Môsê “Chúng tôi sẽ lấy gì mà uống… Chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây” (Xh 16, …3) thôi thì cũng đành!


Còn hôm nay… Ôi! Tệ thật… Đức Giêsu hứa sẽ cho họ ăn… ăn một thứ bánh “từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết” thế mà họ lại “xầm xì phản đối”!!!


Kinh Thánh chép rằng, Thiên Chúa “chẳng trách cứ luôn luôn, không oán hờn mãi mãi” (Tv 103, 9).


Vâng, hôm nay, tại Caphacnaum, dù cho họ có xầm xì không tin, Đức Giêsu vẫn không tỏ lời trách cứ, Ngài vẫn nói lên những lời nói tràn đầy tình yêu thương: “Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6, 51).


*****


Đáng buồn thay! Hôm nay, vẫn còn không ít người mang danh là “Christian” nhưng lại “xầm xì” không tin lời Jesus Christ đã tuyên phán được nêu ở trên!


Và còn buồn hơn nữa, buồn thật buồn… khi hôm nay, thế gian lại muốn dùng một thứ “thịt” khác để mưu cầu sống mãi. Họ đã không ngần ngại ăn “thịt thai nhi” nhất là những “thai nhi con so” để cải lão hoàn đồng, để trường sinh bất lão…



Không cần nói nhưng ai trong chúng ta cũng có thể hiểu rằng “thịt thai nhi” là một thứ ô uế hơn tất cả mọi thứ ô uế.


Là một Kitô hữu, “mọi thứ ô uế” – tông đồ Phaolô nói “dù nói đến, anh em cũng phải tránh, như thế mới xứng đáng là những người trong dân thánh” và thánh nhân tiếp lời rằng “không một kẻ ô uế - được thừa hưởng cơ nghiệp trong Nước của Đức Kitô và của Thiên Chúa” (1Cor 5, ..5).

Hỡi thế gian - Hãy dừng lại việc giết chết thai nhi, vì đó là "hành vi gian ác". 


Một lần nữa, chúng ta hãy nghe lời Đức Giêsu tuyên phán, “Tôi là BÁNH HẰNG SỐNG từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”.


Giáo Hội Công Giáo luôn trung thành với niềm tin này. Trong thánh lễ mỗi ngày, Giáo Hội, qua vị linh mục, vẫn luôn cất tiếng loan báo cho mọi người biết rằng: “Đây là mầu nhiệm đức tin”.


Bạn… bạn có tin không?


Vâng, đừng quên, Đức Giêsu khẳng định “Thật, tôi bảo thật, ai tin thì được sự sống đời đời” (Ga 6, 47).


Petrus.tran




Thứ Hai, 23 tháng 7, 2012

Nơi thanh vắng chính là nơi nghỉ ngơi tuyệt diệu.

Nơi thanh vắng chính là nơi nghỉ ngơi tuyệt diệu.



Thế giới mà chúng ta đang sống, có thể nói, càng ngày càng nhiều người mắc phải “stress”. Nguyên nhân chính là do cuộc sống căng thẳng với nhịp sống nhanh, với áp lực công việc, với những va chạm bởi các mối quan hệ ngoài xã hội.


Theo một nghiên cứu của Hiệp Hội Tâm Thần Mỹ, cứ 5 người Mỹ thì có 1 người tuyên bố rằng họ cảm thấy bị stress. Và người ta đã khuyến cáo rằng, stress chính là tên sát thủ thầm lặng, nó có thể cướp đi sinh mạng của bất cứ ai, bất cứ lúc nào.


Mới đây, ngày 21.07.2012, VnExpress.net đưa một bản tin, nguyên văn như sau : “Tuần qua, dân mạng Trung Quốc xôn xao trước cái chết của một cô gái trẻ mới 24 tuổi, chủ một gian hàng trên Taobao, đột tử vì quá bận rộn cho công việc kinh doanh. Cô cũng đang lo sửa sang nhà cửa để chuẩn bị đám cưới đồng thời nhịn ăn để giảm cân. Sau khi thức trọn một ngày làm việc, khi đi ngủ vào rạng sáng 17/7, cô gái đã không tỉnh dậy nữa”.


Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự đột tử của cô ta. Và có phần chắc nguyên nhân chính là do cô ta thiếu thời gian nghỉ ngơi.


Y học đã khẳng định rằng, sự nghỉ ngơi chính là liều thuốc bổ tốt nhất, nó không chỉ phục hồi thể xác mà còn bồi dưỡng tinh thần một cách tuyệt hảo.


Quan trọng là thế. Thế nhưng, có bao giờ chúng ta thử hỏi, thế nào là một sự nghỉ ngơi tốt nhất? Phải chăng, đó chính là những giây phút thư giãn bên ly cà phê, trong một quán rượu, xem một bộ phim hoặc là một chuyến du lịch, picnic hay là một giấc ngủ sâu với nhiều mộng đẹp, v.v…?


Thưa không. Ngay cả giấc ngủ, nó cũng chưa phải là sự nghỉ ngơi tuyệt diệu.
Có được sự nghỉ ngơi tuyệt diệu, điều cần phải có cho bản thân chính là một khoảng không gian trong tâm hồn, trong một nơi thanh vắng và không thể không có nguyện cầu.


*****


Đức Giêsu chính là người hội đủ tất cả những điều nêu trên. Trong ba năm ra đi rao giảng Tin Mừng, dù phải chống chọi với rất nhiều áp lực tứ phía, nhưng khi trở về, Đức Giêsu đã cho mọi người thấy cuộc sống nội tâm của Ngài là một biển cả bao la của sự bình an.


Bất cứ ai đến với Đức Giêsu họ đều có thể nhận được sự bình an từ nơi Ngài. Ngay cả khi phải đối diện trước những giây phút của sự phản bội, của bắt bớ, của chết chóc, Đức Giêsu vẫn có thể truyền cảm sự bình an cho các môn đệ.


Có được như vậy chính là nhờ Ngài đã có những phút giây tĩnh lặng của tâm hồn, trong một nơi thanh vắng và luôn nguyện cầu.

 
Có những lúc một mình Đức Giêsu đi vào những nơi “hoang vắng và cầu nguyện”. Và cũng có khi Ngài truyền cho các môn đệ cùng đi với Ngài.


Hôm đó, sau những ngày nhận “bài sai” ra đi khắp thôn làng rao giảng Tin Mừng, mười hai người môn đệ “tụ họp chung quanh Đức Giêsu”. Các ông thay nhau “kể lại cho Người biết mọi việc các ông đã làm và mọi điều các ông đã dạy” (Mc 6, 30).

 
Mọi việc các ông đã làm và mọi điều các ông đã dạy… Vâng, có phần chắc đó là những công việc đã để lại nơi các ông những “gánh sầu thương mệt mỏi hai vai”.


Với sự cảm thông sâu sắc, Đức Giêsu khuyên các ông rằng, “Anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng và nghỉ ngơi đôi chút.” Và rồi “Thầy trò xuống thuyền đi lánh riêng ra một nơi hoang vắng.”


Phải chăng là các ông đã quá chán ngán trong sứ vụ ra đi “tìm chiên lạc”? Thưa không. Không ai có thể thấy một lời than phiền nào đến từ các ông.

Ngược lại, hình ảnh một rừng người “kẻ lui người tới quá đông” khiến cho các ông “chẳng có thì giờ ăn uống” đã chứng tỏ kết quả việc ra đi loan báo Tin Mừng của các ông thành công mỹ mãn.


Hãy nhìn xem, “khi thấy các ngài ra đi, nhiều người hiểu ý, nên từ khắp các thành, họ cùng nhau theo đường bộ chạy đến.”

 
Hãy nhìn xem, tuy chạy bộ nhưng họ đến nơi “trước cả các ngài” (Mc 6, 33). Chính hình ảnh này làm nổi bật lòng tin của họ vào Đức Giêsu.


Và kìa, còn gì xúc động hơn, khi “ra khỏi thuyền, Đức Giêsu thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt”.


Kinh Thánh Cựu ước có viết rằng: “Ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình.”(Hs 2,16).

 
Vâng, trong nơi thanh vắng đó, Đức Giêsu đã thổ lộ tâm tình cùng họ bằng cách “Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều” (Mc 6, …34)


Một phút tâm tình và suy tư…


“Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều.”


Vâng, điều này vẫn tiếp tục xảy ra đối với chúng ta hôm nay.


Trong thánh lễ, với phần Phụng Vụ Lời Chúa, lời dạy dỗ của Đức Giêsu vẫn vang vọng đến với mỗi chúng ta. Qua các giám mục và các linh mục, Đức Giêsu vẫn tiếp tục dạy dỗ chúng ta bằng những giáo huấn, bằng những thư chung, bằng những bài giảng trong thánh lễ.


Và nơi thanh vắng của hôm nay, để mỗi chúng ta đến đón nhận sự nghỉ ngơi tuyệt diệu, sau những căng thẳng trong cuộc đời, chính là nơi ngôi nhà tạm thân yêu mà Đức Giêsu Phục Sinh đang đứng đó cất lời mời gọi “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ” (Mt 11, 28).


Vâng, trong một thời đại “cơm-áo-gạo-tiền” là một cuộc chạy marathon, sự bất công không thể phản kháng, bạo lực thì ngày một tràn lan… lan từ học đường lan ra khắp phố phường, lòng trung tín và sự thủy chung là một thứ xa xỉ… Con người đã đối xử với nhau mất hẳn tình người.


Ai…? Ai trong chúng ta dám nói rằng, mình không cảm thấy “mệt mỏi và gánh nặng”… không hơn một lần rơi vào trạng thái trầm cảm, không hơn một lần cảm thấy bất an?


Hãy để tâm hồn mình chìm trong thinh lặng và hãy tự hỏi lòng mình rằng: tôi có rơi vào tình trạng nêu trên?


Nếu có hãy đến cùng lương y Giêsu. Điều này, thánh Phaolô đã trải nghiệm và ngài đã khẳng định rằng “chính Người là bình an của chúng ta” (Ep 2,14).


Vua David xưa cũng đã cảm nghiệm: “Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn” (Tv 62,2).


Petrus.tran









Thứ Năm, 19 tháng 7, 2012

Hãy đi...

HÃY ĐI…



Chúa Nhật 26.02.2012 vừa qua, tiểu ban dự tòng của Ban Giáo Lý Tổng Giáo Phận Sài-Gòn đã tổ chức buổi gặp gỡ giữa giám mục giáo phận và anh chị em dự tòng tại Trung-Tâm Mục-Vụ Tổng-Giáo-Phận.


Tham dự buổi gặp gỡ có Đức Hồng Y Tổng Giám-Mục Gioan Baotixita Phạm-Minh-Mẫn, Đức Giám Mục Phụ Tá Phêrô Nguyễn-Văn-Khảm và 782 người dự tòng thuộc 43 giáo xứ, trong đó có 264 người dự tòng sẽ được rửa tội vào Lễ Vọng Phục-Sinh.


Vui mừng thay trước sự kiện 782 người anh chị em này từ khắp bốn phương trời, nay gia nhập vào đại gia đình Công Giáo với khoảng gần 2 tỷ người trên toàn thế giới.


Có lẽ trong chúng ta, không ai mà không hiểu rằng, có được một đại gia đình Công Giáo như thế, chính là nhờ các tông đồ xưa, cũng như các nhà truyền giáo hôm nay, họ đã thực thi mệnh lệnh Đức Giêsu đã truyền dạy trước khi về trời, một cách hoàn hảo, rằng, “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng cho khắp loài thụ tạo”.






*****


Thật ra, không đợi tới lúc về trời, mà ngay khi còn tại thế, Đức Giêsu đã coi sứ mạng ra đi loan báo Tin Mừng là một việc hệ trọng. Chính vì thế, ngay khi bắt đầu sứ vụ, Đức Giêsu đã cất tiếng mời gọi một số người để họ trở thành những người tiếp nối sứ mạng loan báo Tin Mừng.


Đầu tiên là An-rê và Simon Phêrô, kế tiếp là Giacôbê và Gioan, sau đó là Philipphê, Nathanael, Matthêu, Tôma, Giacôbê con ông An-phê, Tađêô, Simon thuộc nhóm quá khích và Giuda Itcariot. Họ chính là “nhóm Mười Hai”, họ đã đáp lời mời gọi và đã được Đức Giêsu quy tụ lại “để ở với Người và để Người sai đi rao giảng” (Mc 3, 14). Có thể nói rằng, họ đã sống như một nhóm truyền giáo lưu động rày đây mai đó cùng với Đức Giêsu.


Trong những lần ra đi rao giảng Tin Mừng, nhìn những người dân Israel luôn phải mệt mỏi và gánh nặng bởi sự lãnh đạo của những Pharisiêu và những kinh sư, những người mà Đức Giêsu gọi là “những kẻ giả hình”, là những kẻ “rủ cho được một người theo đạo, nhưng khi họ theo rồi thì lại làm cho họ đáng xuống hỏa ngục gấp đôi”… Vâng, Đức Giêsu đã phải chạnh lòng thương xót để rồi Ngài đã phải thốt lên rằng “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít”.


Đối với Đức Giêsu, vai trò của người môn đệ không chỉ tin-và-theo-Ngài nhưng còn phải “được sai đi” cũng giống như “chủ gặt sai thợ ra gặt lúa về”.


Chính vì thế, sau chuyến hành trình về làng quê Nazareth với những “gánh sầu thương mệt mỏi hai vai”, Đức Giêsu đã “gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi” (Mc 6, 7).


Ngôn sứ Isaia có nói : “Đẹp thay trên đồi núi bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ” (Is 52, 7)


Quả đúng là như thế, “từng hai người một”, các môn đệ đi đến khắp thôn làng rao giảng Tin Mừng và kêu gọi người ta ăn năn sám hối . Họ đã để lại khắp thôn làng những hình ảnh đẹp của vị sứ giả.


Vâng, đẹp thay hình ảnh những vị sứ giả của Đức Giêsu, họ đã “trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa trị họ khỏi bệnh” (Mc 6, 13).


Một phút tâm tình và suy tư…


Tất cả những sự kiện trên được ghi lại trong Phúc Âm thánh Máccô với tiêu đề “Đức Giêsu sai nhóm mười hai đi giảng”. Vâng, trong câu chuyện này, có hai chi tiết không thể không làm cho chúng ta suy nghĩ.


Chi tiết thứ nhất là việc “sai nhóm Mười Hai”, chi tiết thứ hai là những chỉ thị cho người được sai đi, đó là “không được mang gì đi đường, không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng v.v…”


“Sai nhóm Mười Hai” nghĩa là gì ? Vâng, theo lời giải thích của một số nhà chú giải Kinh Thánh, con số “12” tượng trưng cho mười hai chi tộc Israel . Việc Đức Giêsu sai nhóm mười hai có thể hiểu rằng, trước hết, mười hai chi tộc Irael là “đích ngắm” mà các môn đệ phải đến rao giảng trước tiên.


Thế nhưng, “sai nhóm Mười Hai” với thực tại hôm nay, nếu được hiểu đó là lời sai được gửi đến tất cả những ai đã là một Kitô hữu, có gì là sai trái?


Và nếu được hiểu như thế, thì chúng ta có mong “được sai đi” để mà đáp lời mời gọi ?


Vâng, đừng sợ rằng, Chúa Giêsu của hôm nay, khi sai đi, Ngài cũng lại ra chỉ thị cho chúng ta rằng : “không được mang laptop, không được đi Honda, không được mang iPod v.v…” mà hãy sợ rằng, với lợi thế về công nghệ thông tin, về phương tiện cơ giới hiện đại, thuận tiện hơn so với các môn đệ xưa, chúng ta có giới thiệu được khuôn mặt đích thực của Chúa Giêsu cho muôn dân hay không ?


Thực ra, không nhất thiết phải có đầy đủ những phương tiện nêu trên chúng ta mới có thể trở thành một nhà truyền giáo “Pro”.


Hãy nghe anh Tạ-Ân-Phúc nói về trường hợp sự trở về của một tân tòng qua một bài viết được đăng trên VietCatholic vào ngày 29.02.2012. Anh ta viết như sau :


“Đến với Công-Giáo qua chứng tá của người có đạo, qua những sinh hoạt của người Công-Giáo là trường hợp của em Nguyễn-Thị-Thanh-Hồng, sinh viên năm thứ hai trường Cao Đẳng Công Thương.

Sinh ra trong một gia đình cách mạng, ba là đảng viên, trước đây em không hề biết đến Thiên Chúa. Khi lên Sài-Gòn đi thi, được các tình nguyện viên đưa về một nhà trọ, cô chủ nhà trọ đã yêu thương giúp đỡ trong năm ngày đi thi đó. Em đã có hai buổi giao lưu với gần 150 người và cô đã có dịp để giới thiệu về Thiên Chúa với một câu hỏi làm đánh động mọi người: “Con người sinh ra từ đâu và chết đi sẽ đi về đâu?”.


Khi trọ học, mỗi tối Chúa Nhật, em đã cầu nguyện cùng với các bạn, đó là nơi chia sẻ những vui buồn và những điều nhân bản. Từng bước, em đã đến với Thiên Chúa và giờ đây mỗi ngày em đều có Chúa trong tâm tư, hành động.” (ngưng trích).


“… Cô chủ nhà trọ đã yêu thương giúp đỡ trong năm ngày đi thi đó.”. Vâng, đó chính là hành trang mà mỗi nhà truyền giáo phải “mang theo”. Và đây cũng là câu trả lời vì sao Đức Giêsu căn dặn : ““không được mang gì đi đường, không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng v.v…”


Chỉ tính ở Việt-Nam, tám mươi triệu người đang thiếu “tình yêu của Thiên Chúa”. Ai sẽ mang đến cho họ ! Phải chăng là chính chúng ta ? Phải chăng là Thiên Chúa “Người đã chọn ta” ? (Ep 1, 4)


Chúng ta không chịu trách nhiệm về chuyện này trước khi sinh ra, nhưng giờ đây, chúng ta đầy trọng trách trong cuộc đời hiện hữu, hiện hữu mình là một Kitô hữu.


Bạn có đồng ý như thế không ? Nếu đồng ý, thì, dù tôi không phải là giám mục, cũng chẳng phải là linh mục… tôi chỉ là một bác sĩ, một nữ điều dưỡng, một giáo sư, một người công nhân, một phu cyclo, một chị quét rác bên đường v. v… hãy xác tín rằng “chính ĐỨC CHÚA đã bắt lấy tôi… và ĐỨC CHÚA đã truyền cho tôi : Hãy đi…” (Am 7, 15)


Petrus.tran

Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2012

Đức Giêsu : Vị mục tử nhân lành

Đức Giêsu : Vị Mục Tử nhân lành.

Theo thống kê của StandwithUs, hiện nay trên thế giới có 2 tỷ người tin Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu Kitô là ai? Ngài là ai mà hai tỷ người đã tin theo ? Ngài là ai mà hôm nay mọi người khắp năm châu trần gian đã tin theo !?

Suốt chiều dài lịch sử Kitô giáo, đã có nhiều câu trả lời được đưa ra, qua sách vở, qua âm nhạc, qua kịch nghệ lẫn phim ảnh. Gần đây nhất, một người mang tên là Joseph Ratzinger hiện đang là đương kim Giáo Hoàng Benedict XVI cũng đã gửi đến thế giới câu trả lời về Đức Giêsu Kitô qua tác phẩm kinh điển với tựa đề là “Đức Giêsu thành Nazareth ”.

Vâng, hãy ngược dòng thời gian trở về Nazareth của hơn hai ngàn năm xa trước đó, nơi đây chúng ta sẽ nhận được câu trả lời : Đức Giêsu là ai.

……

Tại làng Nazareth , sau ba mươi năm sống ẩn dật, Đức Giêsu khởi sự ra đi rao giảng Tin Mừng. Có thể nói rằng, trong suốt ba năm thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng, bất cứ nơi nào Đức Giêsu hiện diện, lập tức nơi đó liền có một rừng người qui tụ chung quanh Ngài. Họ đến từ khắp mọi miền đất nước, từ : “Giuđê, Giêrusalem cũng như từ miền duyên hải Tia và Siđôn”. Họ đến để xin Đức Giêsu “chữa lành bệnh tật” (Lc 6:17-18).

Thật vậy, người ta đã kể lại rằng : “Người đi tới đâu, vào làng mạc, thành thị hay thôn xóm nào, người ta cũng đặt kẻ ốm đau ở ngoài đường, ngoài chợ và xin Người cho họ…được khỏi” (Mc 6:56).

Không chỉ bởi những phép lạ chữa lành bệnh, không chỉ bởi quyền năng trừ quỷ nhưng còn do những lời giảng dạy của Đức Giêsu đã lôi cuốn nhiều người đến với Ngài. Chính những lời rao giảng đó đã khiến “mọi người đều kinh ngạc”. Họ kinh ngạc bởi “Giáo Lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền” (Mc 1 :27).

Sách có chép rằng “tiếng lành đồn xa”. Đúng vậy. Thực tế đã cho thấy, “danh tiếng Người đồn ra khắp xứ Xyri”. Có thể nói, kể từ đây, với những gì Đức Giêsu đã làm và những gì Ngài đã giảng dạy, nhiều người bắt đầu thắc mắc và tự hỏi “Ông Giêsu này là ai ?”…

“Ông là ai ?”. Vâng, người đường thời với Đức Giêsu, mà đa phần là nhóm kinh sư và biệt phái, thường thắc mắc về nhân thân của Đức Giêsu và luôn chất vấn Ngài mỗi khi có dịp tiện. Và trong mỗi trường hợp, Đức Giêsu đều có câu trả lời thích hợp cho hoàn cảnh câu hỏi được đặt ra.

Trong một lần tranh luận về nguồn gốc Đức Kitô, Ngài nói với người Do Thái rằng “Tôi là ánh sáng thế gian”. Lần khác, trong lúc tranh luận về lời chứng của Đức Giêsu liên quan đến bản thân Người, Đức Giêsu nói với họ rằng : “Tôi Hằng Hữu”.

Có thể nói rằng những câu trả lời này như khẳng định rõ nét cho lời nói sau này của Đức Giêsu “Tôi và Chúa Cha là một”.

“Tôi và Chúa Cha là một” đó chính là sự mặc khải rằng Đức Giêsu cũng chính là Thiên Chúa. Một Thiên Chúa “đã trở nên người phàm” và cư ngụ giữa thế gian. Một Thiên Chúa “đến thế gian không phải để lên án thế gian nhưng là để thế gia nhờ (đó) mà được cứu độ”.

Trong đêm ông gặp Nicôđêmô, Đức Giêsu đã nói với ông ta rằng “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16)

Vâng, quả là một thông điệp tràn đầy tình yêu của Thiên Chúa ban cho nhân loại qua Con Một của Người là Đức Giêsu.

Và hôm nay, Con Một Thiên Chúa - Đức Giêsu thành Nazareth, bằng phương pháp “trực quan sinh động”, Ngài đã mượn hình ảnh “người mục tử và đàn chiên” để nói lên mức độ Ngài yêu thế gian như thế nào.

Con Một Thiên Chúa - Đức Giêsu thành Nazareth đã phán rằng “Tôi chính là mục tử”, là người mục tử sẵn sàng : “Hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10, 11)

Và sự thật đã rõ, lời nói của Đức Giêsu đã đi đôi với việc làm. Tại đồi Golgotha , người mục tử Giêsu đã hy sinh mạng sống mình bằng cái chết trên thập giá. Một cái chết để cứu chuộc nhân loại. Một cái chết để không ai còn có thể mỉa mai nói rằng “từ Nazareth , làm sao có cái gì hay được ?” Và cuối cùng, một cái chết để muôn thế hệ về sau đều phải nhìn nhận rằng, Đức Giêsu thành Nazareth , Ngài chính là “Vị Mục Tử nhân lành”.

Một chút tâm tình…

Vào Google, một trang mạng với chức năng tìm kiếm, đánh lên đó dòng chữ “người mục tử nhân lành”, vâng, chúng ta sẽ thấy rất nhiều hình ảnh Đức Giêsu như người mục tử vác con chiên trên vai muôn kiểu, muôn màu, muôn sắc.

Theo Kinh Thánh Cựu Ước, những hình ảnh đó như là biểu tượng nói về lòng thương xót, sự chăm lo, bảo vệ và nâng đỡ của Thiên Chúa đối với con người.

Và từ ý nghĩa sâu sắc đó, hình ảnh người mục tử với con chiên trên vai nay trở thành biểu tượng đẹp cho các giám mục và linh mục – những người được Chúa tuyển chọn để thay Ngài chăm sóc, yêu thương, dẫn dắt và bảo vệ đoàn chiên của Người.

Vì thế, thật phải đạo, khi hôm nay, ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu, chúng ta không chỉ cầu nguyện cho Giáo Hội có thêm nhiều người “tự ý không kết hôn vì Nước Trời” (Mt 19, …12) nhưng trên hết, hãy nguyện xin cho những người đã-được-Chúa-tuyển-chọn, ngày càng thêm “đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người”.

Bởi vì chỉ khi “đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người”, người mục tử hôm nay mới có thể cùng Đức Giêsu “đi trước” chứ không phải “đi giữa hay đi sau” đoàn chiên và đủ dũng cảm như “anh cả Phêrô” dám hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên.

Đức Giêsu nói “Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được”. Vâng, chỉ khi thực thi mệnh lệnh đó, người mục tử hôm nay mới có thể được ghi nhận là người mục-tử-nhân-lành.

Hay nói chính xác hơn, người mục tử đó chính là “người mục tử đích thực”.

Một phút suy tư…

Thật ra, không nhất thiết phải quan niệm rằng, chỉ các giám mục hay linh mục mới là mục tử duy nhất. Giáo Hội ngày nay, với Hiến chế Tín lý về Giáo Hội, số 9, cũng mời gọi các tín hữu hãy trở nên là những mục tử cho nhau, đặc biệt là mục tử ở trong gia đình.

Trong thời đại bùng nổ thông tin, internet chính là những “con sói” hung hãn nhất của con em mình. Chính “con sói internet” đã làm cho biết bao con trẻ rơi vào trạng thái trầm uất, bạo lực, đam mê thần tượng, cuồng dâm, mất niềm tin vào chính mình để rồi cuối cùng là tiến tới tội ác, ma túy và tự tử…

Chắc hẳn chúng ta không muốn con em mình đến trường một mình. Vậy tại sao chúng ta lại để cho con em mình “một mình” đi vào thế giới ảo nơi mà “con sói imternet” luôn rình rập để hãm hại?

Ai… ai sẽ là người mục tử để đánh đuổi những “con sói” đó nếu không phải là chính chúng ta ? Ai sẽ là người mục tử - người chỉ đường dẫn lối cho con em mình nếu không phải là chính chúng ta ?

Vâng, không nhất thiết chúng ta phải hy sinh cả mạng sống nhưng thật cần thiết để chúng ta hy sinh một chút thời giờ, một chút riêng tư để cùng đồng hành với con cái chúng ta, để đưa con cái chúng ta đến bên bờ suối mát của tình yêu thương trong đức tin vào Thiên Chúa.

Đương nhiên không thể phủ nhận giám mục và linh mục chính là những người mục tử. Họ là những người kế vị các thánh tông đồ quyền “chăm sóc và chăn dắt” qua Bí Tích Truyền Chức Thánh.

Một điều tuy đã cũ nhưng xin được trình bày lại ngày hôm nay rằng : nếu các linh mục khi lãnh nhận Bí tích truyền chức, họ được trao ban chức tư tế - “Tư tế thừa tác”. Thì người Kitô hữu khi lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy, cũng được trao ban chức tư tế - nhưng là “tư tế cộng đồng”.

Công Đồng Vatican II dạy rằng : “Chức tư tế chung của các tín hữu và chức tư tế thừa tác hay phẩm trật, tuy khác nhau không chỉ về cấp bậc mà còn về yếu tính; song cả hai bổ sung cho nhau. Thật vậy, cả hai đều tham dự vào chức tư tế duy nhất của Chúa Kitô theo cách riêng của mình” (Hiến chế tín lý về Giáo Hội – số 10).

Có thể nói cách khác chăng ! Vâng : giám mục, linh mục hay giáo dân tất cả đều tham dự vào vai trò mục tử của Đức Giêsu theo cách riêng của mình. Nhưng trước nhất và quan trọng nhất đó là chúng ta phải để cho Đức Giêsu : Vị Mục Tử nhân lành sống và hành động trong tâm hồn chúng ta.

Petrus.tran






































































Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2012

SAO LẠI HOẢNG HỐT ?

Sao lại hoảng hốt ?

Đức Giêsu Phục Sinh chính là sự toàn vẹn của chương trình cứu chuộc hoàn hảo của Thiên Chúa, nhưng lại là những thách đố đối với các môn đệ, là những người đã tin và đi theo Ngài.

Thật vậy, câu chuyện về những lần Chúa Giêsu sống lại và hiện ra với các môn đệ đã cho thấy sự thách đố đó. Và hôm nay, chúng ta hãy trở về Giêrusalem, cách đây hơn hai ngàn năm, nơi Đức Giêsu đã tử nạn và đã Phục Sinh, để thấy các môn đệ của Người đã vượt qua sự thách đố như thế nào.

………

Kể từ khi Thầy Giêsu bị bắt và bị chết treo trên thập giá tại đồi Golgotha, nhóm mười một môn đệ sau những giờ phút “tan hàng”, giờ đây, trong căn nhà nhỏ, họ quây quần bên nhau với tâm trạng “nhớ nhớ buồn buồn với chán chường”.

Làm sao không buồn chán cho được. Ba năm theo Thầy Giêsu, với hy vọng một ngày kia, chính Thầy mình sẽ đem lại cho đất nước, cho gia đình, cho mọi người, niềm vui mừng thoát khỏi ách thống trị của đế quốc Roma.

Chính Thầy Giêsu đã sai họ ra đi rao giảng cho mọi người rằng “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần” (Lc 10,9). Nằm trong nhóm môn đệ thân cận của Thầy, họ đã nhìn thấy quyền năng của Thầy Giêsu. Một thứ quyền năng mà chỉ cần “nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục”. (Lc 10,17).

Mới vài hôm trước, cùng Thầy Giêsu vào Giêrusalem với những lời tung hô rợp trời, với những tiêng hò hét vang khắp thành đô “Hosana. Hosana. Chúc tụng vua Israel”…

Than ôi ! sự việc lại không như mong muốn. Triều Đại đâu không thấy, chỉ thấy sự thất vọng não nề… Thê thảm quá ! Thật không thể hiểu nổi, một người đầy quyền năng, đầy lòng nhân ái như “sư phụ”, thế mà lại có một kết cục bi đát ! Thầy Giêsu đã chết. Bước qua ngày thứ ba rồi. Thế là chấm hết ! Thế là “mộng vàng tan mây” !

Ngoài kia, bình minh của ngày thứ nhất vừa ló dạng, những tin đồn về Thầy Giêsu mỗi lúc một lan rộng khắp kinh thành Giêrusalem.

Có những tin đồn bất lợi cho các môn đệ. Nhóm thượng tế và kỳ mục đã có một hành động hết sức “ma giáo”. Họ xuất một một số tiền lớn cho bọn lính canh mộ và bảo nhóm lính đó hãy tung tin đồn rằng, vào ban đêm “các môn đệ của ông Giêsu đã đến lấy trộm xác” (Mt 28, 13).

Bên cạnh những tin thất thiệt đó, còn có những nguồn tin khác về Thầy Giêsu. Bà Maria Macdala, người đã theo chân Thầy Giêsu suốt con đường từ dinh Philato đến tận đỉnh đồi Golgotha, thuật lại cho các môn đệ rằng “Tôi đã thấy Chúa”.

Một nguồn tin thân cận khác do hai người môn đệ trong lúc “nhọc nhằn lê gót chân buồn” trở về làng Emmau cho biết, trên đường đi, họ đã gặp Thầy Giêsu và họ “nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh” (Lc 24, 35). Và một trong hai người môn đệ tham dự cuộc hành trình đó xác quyết “Chúa trỗi dậy thật rồi”.

Thật vậy sao ? Có đáng tin không ? Từ thuở khai thiên lập địa cho đến hôm nay đã có ai chết rồi lại được sống lại !!!

Trong khi các ông còn đang bình luận về những nguồn tin trên thì “Đức Giêsu đứng giữa các ông…” Với một động tác quen thuộc, Ngài đưa tay về phía các ông và nói : “BÌNH AN CHO ANH EM”.

Âm vang của tiếng nói khiến cho Phêrô cũng như toàn thể mọi người sửng sờ đến nỗi “các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma” (Lc 24 : 37).

Ôi ! Tệ thật. Mới chỉ có chưa đầy ba ngày mà các ông đã quên hẳn hình ảnh Đức Giêsu. Tệ hơn nữa, những lời Đức Giêsu đã dạy bảo rằng “Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại…” có vẻ như các ông cũng chẳng tin !!!

Đúng. Thầy đã trỗi dậy từ cõi chết – Đức Giêsu tiến về phía các ông và nói : “Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây ?”

Và như người mục tử xót xa nhìn đàn chiên bơ vơ không người chăn dắt, Đức Giêsu, một lần nữa “mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh” và Người nói tiếp rằng “Tất cả những gì sách luật Môse, các sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm”.

Người ta có nói “Kẻ thù của niềm tin là sự sợ hãi chứ không phải sự nghi ngờ”. Và thông thường sự sợ hãi luôn dẫn đến sự hoảng hốt.

Vâng, Đức Giêsu quả đúng là một bậc thầy về tâm lý. Ngài đã không trách cứ các môn đệ về sự “ngờ vực” của họ. Với một lời hết sức giản dị, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng : “Sao lại hoảng hốt ?”…

Một chút tâm tình…

Hãy trở lại với câu chuyện Đức Giêsu Phục Sinh. Vâng, không phải một sớm một chiều mà các môn đệ tin rằng Đức Giêsu Phục Sinh. Thật vậy, niềm tin của các ông là một niềm tin tiệm tiến.

Tất cả những dấu chỉ như “ngôi mộ trống” hay “khăn liệm không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi” cũng chỉ làm cho các ông “rất đỗi ngạc nhiên về sự việc đã xảy ra” (Lc 24,…12).

Còn lời chứng của nhóm các bà Maria Macdala, bà Gioanna và bà Maria, mẹ ông Giacobe thì “các ông cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin” (Lc 24, 11).

Chỉ khi các môn đệ “nhìn” thấy Đức Giêsu, rồi được “nghe” Người giải thích Kinh Thánh, lúc đó các môn đệ mới tin và không còn hoảng hốt trước bất cứ áp lực nào trong công cuộc rao giảng Tin Mừng Phục Sinh sau này.

Thật vậy, bằng chứng rõ nét nhất, đó là, dù phải đối mặt với các tư tế, các kỳ mục, các kinh sư, dù các Tông Đồ bị đánh đòn và cấm rao giảng Đức Giêsu Phục Sinh, nhưng những hình phạt đó vẫn không làm cho các ông “hoảng hốt”. Ông Phêrô và và các Tông Đồ khác vẫn hiên ngang làm chứng rằng “Đấng mà chính anh em đã nộp và chối bỏ… đã giết… nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết, về điều này chúng tôi xin làm chứng” (Cv 3, …13-14).

Một điều cũng nên biết, trừ tông đồ Gioan, còn tất cả các tông đồ khác đều đã “tử đạo” để làm chứng cho niềm tin cứu độ, niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh.

Vâng, máu tử đạo của các Ngài chính là chất tẩy rửa cho lời than phiền của Đức Giêsu xưa kia đối với các ông rằng “Sao lại hoảng hốt ? Sao lòng anh em còn ngờ vực”.

Một phút suy tư…

“Sao lại hoảng hốt ?”.

Vâng, trong một lần hiện ra với nhóm chị em phụ nữ, Đức Giêsu đã có một lời nói mạnh mẽ hơn : “Chị em đừng sợ ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó” (Mt 28, …10).

“Sao lại hoảng hốt ? – Chị em đừng sợ !” Phải chăng đó cũng là lời Đức Giêsu muốn nhắn nhủ mỗi người Công Giáo chúng ta hôm nay ?

Thế giới hôm nay còn quá nhiều bất ổn. Ai dám chắc rằng vụ khủng bố “11.09.2001” sẽ không còn tái diễn ? Sau sự kiện của ngày 11 tháng 9, nhiều người đã bị đông lạnh bởi sự sợ hãi. Họ hầu như luôn hoảng hốt trước những lời cảnh báo của bất cứ tổ chức khủng bố lớn nhỏ nào trên thế giới.

Kinh nghiệm của sự khủng hoảng cá nhân nói lên điều đó.

Chiến tranh… khủng bố… hay động đất ư ? Vấn đề sức khỏe ư ! Hay là một vài lần thất bại trong kinh doanh, thiếu may mắn trong tình trường, đổ vỡ trong cuộc sống hôn nhân gia đình !!! Hay một ai đó trong người thân của chúng ta “về bên kia thế giới” ? Vâng, nếu phải đối diện trước những nghịch cảnh này, chúng ta có “hoảng hốt ?

Sao lại hoảng hốt ? Phải chăng chúng ta hoảng hốt là vì không có sự bình an của Chúa ?

Đức Giêsu, trong bữa tiệc ly đã nói rằng : “Thầy để lại bình an cho anh em. Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.” (Ga 14 : 27).

Bình An Chúa ban “không theo kiểu thế gian”. Nói cách khác, đó chính là bình an trong nghịch cảnh. Sự bình an trong nghịch cảnh chấp nhận thương đau, chấp nhận hy sinh, chấp nhận từ bỏ…

Và một khi chấp nhận thương đau, chấp nhận từ bỏ, chấp nhận hy sinh thì còn gì có “hận thù”. Không có hận thù lấy gì tạo ra “chiến tranh và khủng bố”…

Thánh Phaolô xác tín rằng : “Cho dầu là sự chết hay sự sống...không có gì tách được chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta" (Rm 8, 37-39).

Bộ mặt thế giới luôn thay đổi, nhưng niềm tin Chúa Giêsu Phục Sinh thì không. Chúng ta mừng Chúa Giêsu Phục Sinh năm nay thì cũng giống như hàng năm, giống như chính “ngày thứ nhất” năm xưa Chúa Giêsu đã sống lại và đã nói “Bình An cho anh em”.

Chúng ta không được phép “độc quyền” sự Bình-An-của-Chúa đã ban cho chúng ta. Chúng ta còn phải “chia sẻ” sự bình an đó bằng công việc mục vụ của chúng ta qua sự rao truyền về quyền năng thay-đổi-cuộc-đời của Chúa Giêsu Phục Sinh đến với mọi người.

Và chúng ta đừng quên dựa vào lời hứa của Ngài về sự trở lại... trở lại trong cuộc đời của chúng ta và trong cuộc đời của những người mà chúng ta muốn đặt niềm tin của họ vào Ngài.

Bởi đó chính là lời Đức Giêsu Phục Sinh truyền dạy : “Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân… kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân về những điều này”. (Lc 24, 47-48)

Petrus.tran

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...