Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013

Good morning Jesus... You are the King of my life.



Đức Giêsu… Ngài là vua của đời tôi?

Theo Tây lịch, chỉ còn hơn một tháng nữa, năm 2013 sẽ kết thúc. Với lịch Công Giáo, chúng ta quen gọi là lịch Phụng Vụ, có một chút khác biệt, khác biệt ở chỗ, kết thúc một năm, không được tính vào tháng mười hai nhưng vào Chúa Nhật cuối cùng của tháng mười một, một Chúa Nhật, theo truyền thống, Giáo Hội dành riêng để long trọng kính Chúa Giêsu Kitô Vua.

Vì sao lịch Phụng Vụ lại có ngày lễ Chúa Giêsu Kitô Vua? Thưa, là bởi, trước trào lưu con người chủ trương tiêu diệt Thiên Chúa, hô hào trục xuất Thiên Chúa ra khỏi gia đình, ra khỏi học đường, ra khỏi xã hội, ra khỏi quốc gia, Đức Giáo Hoàng Piô XI, vào ngày 11/10/1925, đã thiết lập một ngày lễ để tôn vinh CHÚA GIÊSU KITÔ VUA. Sự tôn vinh này như một cách minh định rằng: Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, và là Thiên Chúa thật, Ngài là Vua vũ trụ, Vua muôn loài, là Vua của tất cả mọi người, của mọi dân tộc, của mọi quốc gia.

Thật ra, không chờ đợi đến hôm nay để Giáo Hội công bố với thế giới, rằng, Chúa Giêsu là vua, nhưng là ngay từ những ngày khởi đầu cho chương trình cứu độ, Thiên Chúa, qua sứ thần Gabrien, Người đã hé mở cho thế gian biết, rằng: một cô thiếu nữ tên là Maria, cô Maria “…sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu, Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua David, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacop đến muôn đời, và triều đại Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1, 31-33)

Có một điều, một điều hết sức lạ lùng, “triều đại” Vua Giêsu đã được Ngài thiết lập, không giống như triều đại của những ông vua, những lãnh tụ trần thế.  Triều đại của Vua Giêsu không thiết lập bằng bạo lực, bằng thủ đoạn, bằng sức mạnh của họng súng, nhưng bằng chính “tình yêu thương”, một thứ tình yêu, dám “hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu” (Ga 15,13).

Vâng, để biết sự thật, chúng ta hãy cùng nhau, ngược dòng thời gian, trở về Palestina, đến núi Oliu và tiếp đến là đồi Sọ, bên ngoài thành Giêrusalem của hơn hai ngàn năm xa trước đó, để nghe từng tiếng nói, để thấy từng hình ảnh, để chứng kiến từng sự kiện, mà Vua Giêsu đã tuyên bố và đã làm, và cuối cùng là để trả lời cho câu hỏi; “Đức Giêsu… Ngài là vua của đời tôi?”

**
Giêrusalem của hơn hai ngàn năm xa trước đó. Đang khi cư dân của thành phố hân hoan mừng lễ Vượt Qua, thì, tại một nơi gọi là núi Oliu, trong thinh lặng, Đức Giêsu cầu nguyện. Sự cầu nguyện bị phá vỡ bởi tiếng vó ngựa và tiếng va chạm binh khí đến lạnh người. Một toán quân cùng đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Phariseu xuất hiện.

Chỉ mới vài hôm trước, hôm Đức Giêsu cùng với các môn đệ lên Giêrusalem. Một rừng người đã cầm nhánh thiên tuế ra đón Người và reo hò “Hoan hô! Hoan hô!... Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Chúc tụng vua Israel”.

Làm sao không tung hô, vạn tuế cho được. Ba năm công khai rao giảng Tin Mừng, với những phép lạ chữa lành bệnh tật, cho kẻ chết sống lại, với những dấu lạ hóa bánh ra nhiều, với sự nhân từ và lòng bao dung, Đức Giêsu đã để lại nơi công chúng hình ảnh một vị quân vương  đầy quyền uy, đầy quyền uy nhưng không dùng quyền uy đó để cai trị nhưng là để  “phục vụ”, là “đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19, 10).

Thật vậy, đã có lần dân chúng muốn tôn Ngài lên làm vua. Chính vì thế, các thủ lãnh Do Thái quyết định giết Đức Giêsu. Họ cho rằng, đó chính là nguyên nhân dẫn đến việc Roma sẽ phá hủy thành thánh. Do Thái đang bị cai trị bởi Roma. Ngoài hoàng đế Cesar … ai dám tôn xưng là vua!

Nhóm thượng tế âm mưu bắt Đức Giêsu qua sự mua chuộc một người môn đệ tên là Giuđa. Biết rõ nơi Đức Giêsu đang hiện diện. Y thông báo cho nhóm cơ binh. Và rồi, khi lực lượng tinh nhuệ của nhóm thượng tế xiết chặt vòng vây nơi núi Oliu, như con thú đói mồi, Giuđa xông đến trước mặt Đức Giêsu. Sự hung hăng trên khuôn mặt của tên phản bội không làm Đức Giêsu nao núng. Ngài cất tiếng hỏi “Các anh tìm ai?”. Họ đáp “Tìm Giêsu Nazareth”. Khi tiếng nói Đức Giêsu thốt lên “Chính tôi đây” Giuđa cùng nhóm cơ binh hốt hoảng lùi lại và ngã xuống đất.

Sau giây phút hốt hoảng, nhóm cơ binh xông vào trói Ngài. Họ điệu Ngài đến trước các ông Kha-nan và thượng tế Cai-pha, những chức sắc cao cấp của người Do Thái. Trong lúc thẩm vấn Đức Giêsu, những màn xỉ nhục và đánh đập đã diễn ra. Khuôn mặt, vầng trán, đỉnh đầu của Đức Giêsu đầy dấu tích đòn thù. Không giải quyết được gì. Họ dẫn giải Ngài đến trước tổng trấn Phi-la-tô. Ông ta hỏi Ngài “Ông có phải là vua dân Do Thái không ?”.

***
“Ông có phải là vua dân Do Thái không ?”. Đúng vậy.

Hôm đó, trước mặt quan tổng trấn Phi-la-tô đầy kiêu hãnh, Đức Giêsu lớn tiếng nói rằng “Thật như lời, ta là vua” (Mt 18, 37). Hơn bảy trăm năm trước, ngôn sứ Mikha đã tiên báo “Phần ngươi, hỡi Belem Epratha… từ nơi ngươi… sẽ xuất hiện một vị có sứ mạng thống lĩnh Israel” (Mk 5, 1).

Và hôm đó, nơi núi Sọ, lời tiên tri của ngôn sứ Mikha đã ứng ngiệm. Giêsu-Nazareth đã “nhậm chức”. Một lễ nhậm chức với cảnh chiều lộng gió, “trời đất phải làm kinh”, hòa theo là những “tiếng chày tiếng búa nện đinh”, với những tiếng hò hét “buông lời nhạo báng”, với những lời thách thức ngạo mạn “Nếu ông là Vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi”…

Hôm đó, tổng trấn Philatô đã cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá; bảng đó có ghi: “Giêsu Nazareth, Vua dân Do Thái”.

****

Đừng ngạc nhiên về những gì đã xảy ra trong ngày “nhậm chức” của Vua Giêsu. Đúng, vai trò của Đức Giêsu đến thế gian  là để thi hành sứ-mạng-thống-lĩnh-Israel. Thống lĩnh Israel, nhưng Ngài không thống lĩnh quốc gia “thuộc về thế gian này” mà là thống lĩnh con dân Israel, đưa họ trở về với chân lý và sự thật.

Chân lý và sự thật đó đã được Vua Giêsu công bố, rằng: “Như ông Môse đã giương cao con rắn trong sa mạc. Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3,15).

Đây không phải là lời hứa xuông, như các lãnh tụ trần gian thường hứa xuông trong mùa tranh cử để “kiếm phiếu”. Nơi núi Sọ, Vua Giêsu đã thực thi lời phán hứa của Ngài.

Chuyện được ghi lại, rằng: Cùng trên núi Sọ, có hai tên gian phi, một tên “cũng nhục mạ người”. Nhưng tên kia thì không. Người gian phi này, hôm đó, thưa với Đức Giêsu, rằng: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!”.  

Nơi núi Sọ, nếu có ngạc nhiên, vâng, chúng ta hãy ngạc nhiên vì tên gian phi đã được toại nguyện.  Hôm đó, Đức Giêsu nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23, 43).

*****
Chúng ta cùng trở lại núi Sọ. Vâng, theo lời ghi chép lại của thánh sử Luca, thì, hôm đó, “dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời chế nhạo… Lính tráng cũng chế giễu Người” (Lc 23, 35…36).

Hãy trở về trong thinh lặng và hãy tự hỏi lòng mình rằng, tôi là ai trong số những người hiện diện trên núi Sọ năm xưa?

Có lẽ không ai trong chúng ta muốn mình là “các thủ lãnh” hoặc  là những người “lính tráng” năm xưa. Nói cách khác, chẳng ai trong chúng ta  muốn buông lời chế nhạo hay chế giễu Vua Giêsu của chúng ta. 

Thế nhưng, phải coi chừng, coi chừng, rất có thể, vô tình, cách này cách khác,  chúng ta có tham dự vào phần việc ấy.

Thì đây, hãy tự hỏi lòng mình rằng, có bao giờ, chỉ vì miếng cơm manh áo, chỉ vì để tiến thân trên con đường công danh sự nghiệp, chỉ vì quyền bính, chỉ vì “đảng tịch”, chúng ta có “vô tình” phỉ báng Vua Giêsu, chế diễu Ngài, bằng cách không xưng danh Ngài trong bản sơ yếu lý lịch hay trong tờ “chứng minh nhân rân”?!

Hãy tự hỏi lòng mình rằng, có bao giờ, cũng vì những lý do nêu trên, chúng ta vô tình phỉ báng Vua Giêsu, chế giễu Ngài, bằng hình thức ủng hộ những đạo luật, thỏa hiệp những sắc lệnh, do những tên cô hồn các đảng, trên vai trò lãnh đạo đề ra, đi ngược với đức tin Kitô giáo, hủy hoại sự công bằng bác ái mà  Kitô giáo đề cao?!
Còn nhiều… còn rất nhiều điều xảy ra trong đời thường, dễ khiến chúng ta chế giễu phỉ báng, thách thức Vua Giêsu.  
*****
Thế giới mà chúng ta đang sống là một thế giới cổ võ cho chủ nghĩa thế tục. Có chủ nghĩa thế tục nào, dù có ôn hòa hay trung lập, mà không hung hãn, mà không phỉ báng, chế diễu, thách thức Thiên Chúa? Có chủ nghĩa thế tục nào mà không hô hào “Thiên Chúa đã chết… Bàn tay ta làm nên tất cả. Với sức người sỏi đá cũng thành cơm”?

Đừng ngạc nhiên gì cả, bởi những loại chủ nghĩa đó, chính là sản phẩm của Xatan. Mà Xatan, Kinh Thánh nói, nó là “loài xảo quyệt”, là “tên chuyên mê hoặc toàn thể nhân loại” (Kh 12, 9)

Thế nên, trước chủ nghĩa thế tục, một chủ nghĩa với tham vọng sẽ xây dựng một “vương quốc thế tục”, là một Kitô hữu,  đừng quên lời Thiên Chúa đã khuyên răn: “Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi thành ấy đi, để khỏi thông đồng với tội lỗi của nó và hứng lấy những tai ương dành cho nó” (x. Kh 18, 4)

Vâng, chẳng những đừng quên, mà chúng ta còn cần ghi lại lời khuyên này, để ngay trên dầu giường mỗi chúng ta, và mỗi sớm mai, khi thức giấc, đừng vội nghĩ: hôm nay ăn gì mặc gì, hôm nay chứng khoán tăng hay giảm, hôm nay phải kiếm bao nhiêu tiền v.v…mà hãy nhìn lên thánh giá Chúa Giêsu, đọc lại lời khuyên của Người và đừng rời khỏi nhà trước khi nói với Người rằng: “Good morning JESUS. You are the King of my life – Chào GIÊSU. Ngài là Vua của đời con”.

Petrus.tran










Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013

Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình.



Kính chào quý bạn hữu
Tuần này, petrus.tran xin gửi đến trang nhà bài suy tư sau.
Kính chúc quý bạn hữu cùng toàn thể gia quyến khỏe mạnh và bình an của Chúa luôn ở cùng.

*****

Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình.  

Thế giới hiện chúng ta đang sống, có thể nói, là một thế giới ngày càng nhiều bất ổn và chết chóc. Bất ổn và chết chóc bởi chiến tranh, bởi thiên tai hạn hán, bởi động đất hoặc bão lụt.

Tuần vừa qua, 8.11.2013, một cơn bão với tên gọi là Haiyan, đã đổ bộ vào Samar cách thủ đô Manila 600km về phía đông nam và miền trung Philippin rồi nhanh chóng di chuyển về phía tây bắc, tấn công các tỉnh Leyte và Iloilo. Với sức gió đạt 310 km/h đã khiến cho cả thành phố Tacloban hầu như bị san bằng.

Xác người nằm ngổn ngang khắp thành phố. Có những chiếc tàu nặng cả chục tấn, thế mà vẫn bị sóng biển dâng cao hất vào đất liền như một mảnh giấy nằm chơ vơ trên đường phố. Một đoạn video ngắn trên CNN đã trình chiếu cảnh nước biển tràn vào khách sạn, lên đến lầu một. Đâu đó chúng ta có thể nghe lời than khóc của một người cha mất con vì gió mạnh đến độ nó đã kéo đứa bé ra khỏi tay ông ta.

Với những gì đã xảy ra, quả thật, bão Haiyan là một thảm họa cho đất nước Philippin.

Cứ sự thường, mỗi khi có thảm họa xảy ra, con người lại tự hỏi, phải chăng là sắp đến tận thế? Sắp tận thế! Khi nào tận thế!  Vâng, đó là câu hỏi mà nhiều người muốn có câu trả lời.

Thật ra, không phải hôm nay, nhưng là ngay từ xa xưa, các môn đệ của Chúa Giêsu cũng đã có những thắc mắc như thế, đã có lần các ông hỏi Thầy của mình rằng: “Xin Thầy nói cho chúng con biết khi nào những sự việc ấy xảy ra, và cứ điềm nào mà biết ngày Thầy quang lâm và ngày tận thế” (x.Mt 24, 3).

Không như một số giáo phái thường “chẻ lời Kinh Thánh ra làm tư” để tiên báo về ngày tận thế. Cũng không như các nhà khoa học cho rằng, một ngày nào đó sau hàng tỷ năm, thế giới chúng ta sẽ qua đi, vì mặt trời, nguồn năng lượng của nó, sẽ cạn kiệt nhiên liệu.  Theo giáo huấn của Hội Thánh Công Giáo thì, không một ai có thể “…biết được thời gian hoàn tất của trái đất và nhân loại… Chúng ta cũng chẳng biết cách thức biến đổi của vũ trụ. Chắc chắn hình ảnh của một thế gian lệch lạc vì tội lỗi sẽ qua đi, nhưng chúng ta được biết Thiên Chúa đã dọn sẵn một chỗ ở mới và một đất mới, nơi công bằng ngự trị…” (x.Hiến chế về Mục Vụ trong thế giới ngày nay, số 39)

Đúng vậy, Chúa Giêsu, trong những ngày còn tại thế, Ngài đã cho các môn đệ biết rằng, sự cần thiết để biết  “bao giờ các sự việc đó sẽ xảy ra” không quan trọng cho bằng “đến Ngày phán xét (mọi người) sẽ phải trả lời về mọi điều vô ích mình đã nói (hay đã làm)” mới là điều cần quan tâm đến.

Ngày tận thế ư! Đó là điều nằm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Vì là chương trình của Thiên Chúa cho nên ngày đó sẽ đến, không phải theo cách hoặc thời điểm mà một số các giáo phái thường tiên báo hay các nhà khoa học tưởng là…

Nói về ngày tận thế, Đức Giêsu đã có một bài giáo huấn và bài giáo huấn đó đã được ghi chép lại trong Tin Mừng thánh Luca (21, 8-19).

**

Tin Mừng thánh Luca đã thuật lại rằng: Một hôm, nhân có mấy người nói về Đền Thờ được trang hoàng bằng những viên đá đẹp và những đồ dâng cúng, Đức Giêsu bảo: ‘Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào’.  

Bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào ư! Sau lời tuyên bố đó, không thấy thánh Luca nói đến, nhưng rất có thể các môn đệ của Đức Giêsu không khỏi không hoang mang lo lắng.

Hành động các ông lập tức hỏi Người, rằng: “Thưa Thầy, vậy bao giờ các sự việc đó sẽ xảy ra, và khi sắp xảy ra, thì có điềm gì báo trước?”, cho thấy, các ông thật sự muốn Thầy của mình cho một lời giải đáp khả dĩ, một lời giải đáp hầu khỏa lấp nỗi hoang mang lo lắng của các ông. 

Vâng, hôm đó, thay cho lời giải đáp, Đức Giêsu đã để lại cho các ông những lời dặn dò, những lời dặn dò nhằm đem lại cho các ông  sự “bền chí” và  lòng “kiên trì”. Một sự bền chí và kiên trì vượt không gian và thời gian. Một thứ không gian và thời gian do chính Thiên Chúa là Đấng quyền năng, làm chủ. Người không chỉ lảm chủ không gian lẫn thời gian, mà còn làm chủ ngay cả: “một sợi tóc trên đầu anh em…” (Lc 21, 18). 

***
Đức Giêsu đã dặn dò những gì? Thưa, Ngài căn dặn rằng, “Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng: ‘chính ta đây’, và ‘Thời kỳ đã đến gần’: anh em chớ theo họ” (Lc 21, 8).

Từng bước… từng bước… Đức Giêsu cho các môn đệ thấy những “điềm báo trước” và chính những điềm báo trước này sẽ là cơ hội để các ông “làm chứng” cho Ngài. Những điềm báo trước, đó là “chiến tranh, động đất, ôn dịch và đói kém”. Những điềm báo trước, còn là “sự bắt bớ, sự ngược đãi, bị tù đầy, sự chết chóc và thù ghét” sẽ xảy ra. (x.Lc 21, 9… 17)

Vâng, hôm đó, khép lại những lời dặn dò, Đức Giêsu không nói với các môn đệ ngày mai hay ngày mốt “các việc đó sẽ xảy ra”,  Ngài chỉ khuyên một lời khuyên duy nhất, rằng: “Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình.” (Lc 21, 19)

****
Tất cả những gì Đức Giêsu đã nói năm xưa, nay có ứng nghiệm?! Thưa có.  

Bốn mươi năm sau, sau lời tiên báo của Đức Giêsu về Đền thờ Giêrusalem sẽ “không còn tảng đá nào trên tảng đá nào”, nay đã ứng nghiệm. Lịch sử đã ghi lại, vào ngày 9/8/70, hùng binh La Mã đã triệt hạ và thiêu hủy Đền Thờ. Ngày nay, dấu tích Đền Thờ chỉ còn một bức tường, người Do Thái gọi là “bức tường than khóc”.   

Lời tiên tri của Đức Giêsu không chỉ ứng nghiệm nơi Đền thờ Giêrusalem mà còn ứng nghiệm suốt chiều dài lịch sử Kitô giáo.

Xưa, Đức Giêsu đã tiên báo “Họ sẽ giết một số người trong anh em. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét”.

Thì đấy, chỉ ngay sau đó, sau khi Giáo Hội công khai rao giảng Tin mừng, lời tiên báo của Ngài đã ứng nghiệm.

Khởi đầu là người anh em Têphanô. Anh Têphanô chỉ vì rao giảng một “Giêsu người Nadaret” nên đã bị những người chống đối “xông vào ông rồi lôi ra ngoài thành mà ném đá”. Chuyện kể rằng: “Họ ném đá ông, đang lúc ông cầu xin rằng: ‘Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này’. Nói thế rồi, ông an nghỉ” (Cv 7, 60). Tiếp đến là người anh em Giacôbê anh ông Gioan, ông ta đã bị con cáo già Hêrôđê chém đầu.

Không chỉ có máu-tử-đạo đã đổ ra, lời tiên báo của Đức Giêsu về sự ngược đãi tù đày cũng liên tiếp xảy ra trên “một số người trong Hội Thánh” (x.Cv 12, 1). Thuyền trưởng con tàu Giáo Hội tông đồ Phêrô chính là dấu chứng điển hình cho lời tiên báo của Đức Giêsu. Chuyện kể rằng. cũng là cáo già Hêrôđê, khi thấy việc làm đó vừa lòng người Do Thái, “nhà vua lại cho bắt cả ông Phêrô nữa”.  

Còn đây, tại Việt Nam, những người môn đệ của Đức Giêsu, mà tiêu biểu là  một  trăm mười bảy vị (117) và ngày 5/3/2000 thêm một vị là Anrê Phú Yên, tử đạo ngày 26/07/1644, được Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong chân phước, mà toàn thể Giáo Hội Việt Nam sẽ kính trọng thể vào Chúa Nhật ngày 17/11 năm nay, năm 2013, cũng chính là những minh chứng cho lời tiên báo của Đức Giêsu về sự “ngược đãi, bắt bớ, tù đầy, chết chóc và thù ghét” xưa kia, nay đã trở thành hiện thực.

Nhắc lại những chuyện này để làm gì?

Thưa, trước hết là để chúng ta tự hỏi lòng mình rằng, “vì danh Thầy Giêsu” chúng ta sẽ làm gì khi phải đối diện trước một thực tế hôm nay, một thức tế có một thế giới ngày càng phỉ báng Thiên Chúa và  cho rằng “Thiên Chúa đã chết”… và rằng niềm tin vào “Đức Giêsu tái lâm” chỉ là huyền thoại?

Hãy tự hỏi lòng mình rằng, “vì danh Chúa”, chúng ta sẽ xử sự ra sao khi phải đối diện trước những nhà cầm quyền áp đặt những luật lệ, như luật cho phép phá thai, cho phép hôn nhân đồng tính, nói tóm lại là những đạo luật đi ngược lại luật Thiên Chúa?

Quý vị có biết “phá thai” là gì không? Vâng, một diễn đàn trên internet định nghĩa: “Phá thai chỉ là.... làm cho một trái tim ngừng đập... cho hai mắt không còn nhìn thấy.... cho đôi môi không bao giờ nói... hai tay không chạm... hai chân không bao giờ chạy..”. Vậy, có phải phá thai chính là “giết người”?

Quý vị có biết thế nào là “hôn nhân đồng tính”? Vâng, không nói ra ai cũng biết. Dĩ nhiên, luật Thiên Chúa không hoan nghênh loại hôn nhân này. Hãy nghĩ xem, nếu Thiên Chúa khuyến khích, Người đã không mất công “lấy cái xương sườn đã rút ra từ con người, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người” (x.St 2, 22)

Và, sau cùng, nhắc lại những chuyện đã nêu trên là để khẳng định rằng, lời tiên tri của Đức Giêsu sẽ vẫn tiếp tục ứng nghiệm, ứng nghiệm cho đến “ngày ấy”, ngày mà như lời ngôn sứ Malakhi đã nói: “Ngày ấy đến, đốt cháy như hỏa lò. Mọi kẻ kiêu ngạo và mọi kẻ làm điều gian ác sẽ như rơm rạ. Ngày ấy sẽ đến thiêu rụi chúng - ĐỨC CHÚA các đạo binh phán – không còn chừa lại cho chúng một rễ hay cành nào. Nhưng đối với các ngươi là những kẻ kính sợ Danh Ta, mặt trời công chính sẽ mọc lên, mang theo tia sáng chữa lành bệnh” (Ml 3, 19-20)

(Tưởng chúng ta cũng nên biết, một số nơi trên thế giới, có những linh mục, mục sư, vì “Kính sợ Danh Chúa” họ đã có những bài giảng, dựa vào lời Chúa, phản đối những luật lệ nêu trên, họ đã bị bắt bớ tù đầy). 

“Kính sợ Danh Chúa” có thể chúng ta sẽ phải đổ “máu và nước mắt”, có thể cuộc đời chúng ta sẽ phải nhuốm màu “tang tóc”. Nhưng nước mắt, máu đào và sự tang tóc, nó lại là hành trang, một thứ hành trang chính Thầy Giêsu đã mang theo trên con đường cứu chuộc nhân loại. Chính vì thế, nó cũng phải là hành trang của chúng ta, một người môn đệ Đức Giêsu, trên con đường đến gặp Ngài trong ngày quang lâm.   

Vâng, trước một thế giới đầy mưu ma chước quỷ, với những lối “ngụy biện” đầy xảo trá, chúng ta, rất có thể, sẽ có lúc mất đi sự kiên trì trong việc chờ đợi ngày quang lâm của Đức Giêsu.

Chính vì thế, đừng bao giờ đi ngủ, trước khi chúng ta ngước lên thánh giá Chúa Kitô và cầu xin với Người, dĩ nhiên, chúng ta không cầu xin như lời các môn đệ đã cầu xin năm xưa, “cho chúng con biết khi nào những sự việc ấy xảy ra, và cứ điềm nào mà biết ngày Thầy quang lâm và ngày tận thế”, nhưng là, hãy cầu xin Chúa Giêsu “Ơn Kiên Trì”.

Đừng quên, Chúa Giêsu đã nói: “Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình.”

Petrus.tran




Thứ Ba, 12 tháng 11, 2013

Tôi tin… có sự sống đời sau.




********

Tôi tin… có sự sống đời sau.

Sách Giảng Viên có chép: “Ở dưới bầu trời này, mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời; một thời để chào đời, một thời để lìa thế…” (Gv 3, 1-2). Đúng vậy, có sinh ắt có tử, đó là quy luật muôn đời của Tạo Hóa. Tất cả mọi người, không trừ một ai, “sống làm người ai không phải chết?” (Tv 88, 49).

Nói tới cái chết, có thể nói,  đó là điều không còn phải bàn cãi. Thế nhưng, sau cái chết là gì, con người sẽ đi về đâu vẫn luôn là đề tài nóng hổi suốt chiều dài lịch sử con người.

Với Phật giáo, theo chủ  thuyết luân hồi, cho rằng, sau khi chết, con người sẽ đầu thai kiếp mới. Một số người (vô thần) cho rằng, giống như một con vật, chết là hết.

Chết là hết ư! Không có “sự sống lại ư!”. Vâng, vào thời Đức Giêsu còn tại thế, có một nhóm người cũng quan niệm như thế. Nhóm người đó được gọi là “nhóm Xa đốc”.
**
Chuyện kể rằng, một hôm, có mấy người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giêsu. Cứ sự thường, mỗi khi có một “phe nhóm” nào đến gặp Ngài, y như rằng, hôm đó sẽ có một cuộc tranh luận gay gắt.

Thế nhưng, với nhóm Xa-đốc hôm nay, họ không tranh luận, trái lại, khi gặp được Đức Giêsu, họ tỏ thái độ như một chú học trò trước mắt ông thầy giáo. 

Hôm đó, những chú-học-trò-Xađốc “théc méc” về một chuyện có liên quan đến hôn nhân gia đình và sự sống lại. Và khi đã đứng trước mặt ông thầy Giêsu, họ đã tuôn những “théc méc” đó, rằng: “Thưa Thầy, ông Môse có viết cho chúng ta điều luật này: Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dõi cho anh hay em mình…”

Ôi! tưởng chuyện gì, hóa ra là chuyện về luật “thế huynh” cũ rích từ thời Môse.  Vâng, điều luật đó, đối với Đức Giêsu, chẳng có gì là lạ, bởi đây là  luật lệ của Do Thái giáo và rất phổ biến ở Cận Đông. Đức Giêsu là người Do Thái, hẳn nhiên Ngài không lạ lẫm về luật lệ này.

Thế nhưng, hôm đó, nhóm Xa-đốc đã làm cho điều luật đó trở nên “lạ kỳ”. 

Vâng, chuyện thật lạ kỳ khi họ nói tiếp với Đức Giêsu, rằng: “Vậy nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết. Người thứ hai, rồi người thứ ba đã lấy người vợ góa ấy. Cứ như vậy,  bảy anh em chết đi mà không để lại đứa con nào. Cuối cùng người đàn bà ấy cũng chết”.

Theo bạn, đây là câu chuyện thật hay do nhóm Xa-đốc”phịa” ra! Không thấy thánh sử Luca nói đến. Thế nhưng, dù thật hay phịa thì câu chuyện này như một sự thách thức mà nhóm Xa-dốc muốn thách thức Đức Giêsu.
Họ thách thức Đức Giêsu điều gì? Thưa, họ thách thức Ngài về việc “chuyện gì sẽ xảy ra ở thế giới bên kia, thế giới của sự chết…?”
Thật vậy, sau khi kể xong câu chuyện, một câu hỏi đã được họ đặt ra, một câu hỏi khiến cho ai nghe cũng phải khó nuốt. Họ hỏi Ngài rằng: “Vậy, trong ngày sống lại, người đàn bà  sẽ là vợ ai?” (Lc 20, 33)
Đúng, quả là một câu hỏi khó nuốt. Thế nhưng, có khó nuốt thì cũng chỉ khó nuốt đối với những ai chưa biết gì về “cuộc sống đời sau”. 

Với Đức Giêsu, Đấng “từ trời mà xuống” - Đấng đã tuyên bố rằng “Ta  là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Ta, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.”, thì có gì ngăn trở Ngài biết đến những gì sẽ xảy ra ở “cuộc sống đời sau”!

Hôm đó, để trả lời cho câu hỏi,  Đức Giêsu đã nói rằng, “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chống” (Lc 20, 34-35) 

Với sự sống đời sau, Đức Giêsu nói tiếp: con người sẽ “không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần” (Lc 20, 36)

***
Tưởng chúng ta nên biết, những chú-học-trò-Xađốc chỉ công nhận “ngũ kinh”, năm cuốn đầu bộ Cựu Ước. Đó là một thiếu xót lớn. 

Thật vậy, nếu họ đọc tất cả những sách trong Kinh Thánh,  chắc hẳn họ sẽ tin có sự sống đời sau và chắc chắn họ sẽ  “dựa vào Lời Chúa hứa mà hy vọng sẽ được Người cho sống lại”(2Mcb 7,14). 

Thì đây, sách Macabe có chép rằng  “Có bảy anh em bị bắt cùng với bà mẹ”. Vua Antiokho bắt họ phải “ăn thịt heo là thức ăn luật Môse cấm”(2Mcb 7,1). 

Đối với người Do Thái, luật Môse chính là luật của Đức Chúa. Chính vì thế, bảy anh em không thi hành lệnh vua. Thế là vua ra lệnh giết họ. Một người trong bảy anh em trước khi chết đã lớn tiếng nói rằng: “Vua là một tên hung thần, vua khai trừ chúng tôi ra khỏi cuộc đời hiện tại, 
nhưng bởi lẽ chúng tôi chết vì Luật pháp của Vua vũ trụ, nên Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời” (2Mcb 7, 9).

Thiên Chúa “Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời”. 

Đó không phải là một lời hứa xuông. Đức Giêsu, qua những phép lạ “cho con trai một bà góa thành Nain sống lại”, rồi đến “cho con gái ông Gia-ia sống lại”, kế đến sự kiện “anh Lazaro đã chôn trong mồ được bốn ngày” được sống lại, và cuối cùng là chính Ngài, chính Ngài cũng đã sống lại từ cõi chết, như là những minh chứng cho lời phán hứa nêu trên.

****

“Một thời để chào đời, một thời để lìa thế…”.  Là một tín hữu Công Giáo, với tháng mười một hàng năm, nên chăng gọi đó là tháng để chúng ta nghĩ đến “một thời để lìa thế”.!

Và khi nói đến “một thời để lìa thế”, có bao giờ chúng ta tự hỏi “Khi tôi không còn nữa. Sẽ lấy được những gì. Về bên kia thế giới”?

Phải chăng đó là sự “cực hình lửa thiêu đốt”? Hay, phải chăng đó là một tấm vé  ngồi “vào lòng ông Apraham”?

Thưa, câu trả lời phụ thuộc vào hiện thực của đời sống, đời sống của chính mỗi chúng ta, như có lời đã chép “sống sao chết vậy”.
Đúng vậy, Kinh Thánh cũng có chép rằng,  “Trong ngày mệnh chung, trả cho con người theo lối họ đã  sống, đối với Đức Chúa, là chuyện thật dễ dàng” ( Hc 11, 26).

Vì thế, hãy ghi khắc câu Kinh Thánh này vào tâm hồn chúng ta, bởi, “cái lối” mà chúng ta đã và đang sống chính là “tiêu chuẩn” chính là “thước đo” và là “câu trả lời” trước tòa phán xét, nơi Thiên Chúa sẽ chọn “những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết” (Lc 20, 34-35)

Tuy nhiên, để được thỏa lòng về những lời hứa ban của Chúa, điều quan trọng, trước tiên, đó là chúng ta phải tin và tuyên xưng rằng “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”.

Petrus.tran   

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2013

Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con.



Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con.

Là người Công Giáo, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đều biết, năm nay (2013) được gọi là năm “Đức Tin”. Gọi năm nay là năm đức tin nghĩa là sao?

Thưa, theo nội dung tông thư  “Cửa Đức tin” (CĐT-Porta Fidei), năm nay, Giáo hội gọi là năm đức tin: là nhằm “tạo cơ hội thuận tiện để đưa toàn Giáo hội bước vào một giai đoạn suy tư đặc biệt và tái khám phá đức tin” (CĐT số 4), là vì “cuộc khủng hoảng về đức tin đã ảnh hưởng tới nhiều người”, là vì “chúng ta không thể chấp nhận cho muối lạt đi và ánh sáng bị che khuất”,  để “làm công việc Chúa muốn là tin vào Đấng Người sai đến” (CĐT số 3)

“Tái khám phá đức tin… không thể chấp nhận cho muối lạt đi và ánh sáng bị che khuất” và “làm công việc Chúa muốn là tin vào Đấng Người sai đến”, có thể nói là một công việc không giản dị chút nào, nhất là hôm nay, chúng ta phải làm công việc đó trong bối cảnh một thế giới đầy sự cám dỗ, với một nền văn hóa thế tục, với một xã hội đầy sự dối trá, khủng bố đức tin, cổ súy vô thần, v.v…

Trước những nan đề nêu trên, chúng ta sẽ phải làm gì? Phải chăng là, chúng ta hãy nhìn các môn đệ, là những người có nhiều trải nghiệm về những khát khao “khám phá đức tin”, về một quyết tâm trở nên “muối cho đời” và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình  “làm công việc Chúa muốn là tin vào Đấng Người sai đến”, để noi theo các ngài? Thưa, đúng vậy.

**
Vâng, bối cảnh đời sống của các môn đệ xưa cũng không sáng sủa hơn chúng ta,   cũng đầy dẫy sự cám dỗ, cũng dối trá, cũng khủng bố đức tin v.v… Thế nhưng, mỗi khi phải đứng trước những “cơn ba đào nhiều phen nguy biến” các môn đệ luôn đi đến một quyết định, đó là quyết định tìm đến Thầy Giêsu.

Nhớ, một lần kia, Đức Giêsu cùng các môn đệ có một cuộc hải trình trên biển hồ. Và “Đang khi các ngài đi thuyền, thì Đức Giêsu ngủ. Một trận cuồng phong ập xuống hồ; các ngài bị ngập nước và lâm nguy” (Lc 8, 23)

Nếu là bạn… bạn sẽ làm gì? Với các môn đệ, dù là những tay ngư phủ lão luyện, nhưng các ông không cậy sức mình, các ông nghĩ đến Đức Giêsu, đến bên Ngài và cầu cứu “Thầy ơi! Thầy! Chúng ta chết mất!”.   

Và quả thật, quyết định đầy khôn ngoan của các ông “lại gần đánh thức Người dạy” đã được đáp ứng. Sự nguy biến phần xác của các ông đã được Đức Giêsu giải thoát.

Thế nhưng, nếu các môn đệ chỉ nghĩ đến sự cứu thoát phần xác thì không có gì đáng để chúng ta noi theo.

Sau biến cố hãi hùng đó, các môn đệ nhận ra mình đúng là “những người kém lòng tin”. Chính vì thế, trong một dịp, khi Thầy và trò bên nhau, các tông đồ thưa với Chúa Giêsu rằng: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con”. (Lc 17, 5)

Xin thêm lòng tin cho chúng con, các môn đệ nghĩ đến sự yếu đuối phần hồn. Ðến bên Đức Giêsu và  “xin thêm lòng tin”, không phải vì các môn đệ mất niềm tin, nhưng là muốn Thầy Giêsu ban thêm sức mạnh, “sức mạnh thuộc linh”, môt sức mạnh để biến các ông thành “men trong bột”, thành muối cho đời.

Vâng, hôm đó, đáp lại lời xin của các môn đệ, Đức Giêsu nói: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì, dù anh em có bảo cây dâu này: Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời anh em”. (Lc 17, 6)

Đừng nghĩ rằng Đức Giêsu cường điệu hóa vấn đề. Đây chỉ là một cách nói, một cách nói để chứng tỏ “sức mạnh của đức tin”. 

Hôm đó, Đức Giêsu không chỉ cho các môn đệ thấy “sức mạnh của đức tin”, Ngài còn cho các ông thấy “nét đẹp của đức tin”. Nét đẹp của đức tin, đó là sự tha thứ và sự phục vụ - “Phục vụ cách khiêm tốn”.

Về sự tha thứ, Đức Giêsu dạy rằng: “Nếu người anh em của anh xúc phạm đến anh, thì hãy khiển trách nó; nếu nó hối hận, thì hãy tha cho nó. Dù nó xúc phạm đến anh một ngày đến bảy lần, rồi bảy lần trở lại nói với anh: ‘Tôi hối hận’, thì anh cũng phải tha cho nó” (Lc 17, 3-4)

Về sự phục vụ ư! Không dài dòng văn tự, Đức Giêsu nói thẳng với các môn đệ rằng: “Khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17, 10).

Có quá khó để thực hiện “nét đẹp của đức tin”? Thưa không, sẽ không quá khó “Nếu…” Vâng, nếu chúng ta “có lòng tin lớn bằng hạt cải”.

***

Thật ra, còn một nhân vật đặc biệt nữa, một nhân vật đã biểu lộ “sức mạnh đức tin”, đã trở nên “muối cho đời” và hiến trọn đời mình để “làm công việc Chúa muốn là tin vào Đấng Người sai đến”, mà chúng ta cần noi theo, đó chính là Đức Maria.

Nói tới Đức Maria, chúng ta không thể không nhớ tới hai chữ “xin vâng”. Chỉ hai chữ xin vâng, Đức Maria đã để lại cho muôn thế hệ một tấm gương sắt son về “sức mạnh của đức tin” và sự “phục vụ cách khiêm tốn”.  

Thật vậy, hãy nhìn xem, chỉ là một cô thiếu nữ thôn dã, lại là cư dân của Galilê, gọi là Nazareth, một địa danh được biết đến như là một nơi “chẳng có cái gì hay cả…”. Ấy thế mà cô Maria lại được tuyển chọn để cưu mang một Quân Vương. Người mà sứ thần Gaprien nói là  “Con Đấng Tối Cao. Người sẽ trị vì nhà Giacop đến muốn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1, 31-33). 

Nghe những lời loan báo đó chẳng khác nào cô Maria phải xỏ chân vào một đôi giầy chật. Hãy nghe cô Maria bối rối cất tiếng thở than. Ôi ! “việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng”. 

Thế nhưng, chính sức mạnh của đức tin, tin vào lời sứ thần, rằng “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”, cô Maria đã không ngần ngại “xin vâng” để trở nên “người nữ tỳ của Chúa” chấp nhận để Thiên Chúa làm những điều “như lời sứ thần nói”. (Lc 1, 38).

Có sức mạnh của đức tin, nét đẹp của đức tin nơi cô Maria được tỏ lộ, không chỉ là người nữ tỳ của Chúa, cô Maria còn là người nữ tỳ của tha nhân, người nữ tỳ “phục vụ cách khiêm tốn”. Ba tháng ở lại nhà bà Elizabeth là một minh chứng điển hình.
****
Trở lại với “Năm Đức Tin” - Năm Đức Tin được khai mạc vào ngày 11/10/2012 và sẽ bế mạc vào ngày 24/11/2013, lễ Chúa Kitô Vua. Như vậy, nếu tính từ Chúa Nhật hôm nay (06/10/2013) thì  chỉ còn khoảng bảy Chúa Nhật nữa, năm đức tin sẽ kết thúc. 

Vâng, hơn mười tháng trôi qua, hãy tự hỏi lòng mình rằng, tôi đã “tái khám phá đức tin”, quyết tâm trở nên “muối cho đời” và sẵn sàng hết lòng, hết sức, hết trí khôn  để “làm công việc Chúa muốn là tin vào Đấng Người sai đến”?

Đừng nghĩ rằng, đây là một câu hỏi thừa thãi. Không thừa thãi, bởi qua câu hỏi này, nó sẽ giúp chúng ta nhìn lại chính con người của mình, con người một Kitô hữu, hôm nay. 

Hôm nay, hãy tự hỏi lòng mình, rằng: “tôi có tên trong danh sách những người kém lòng tin”? Hôm nay, hãy tự hỏi lòng mình, rằng “tôi có như các tông đồ (xưa), thưa với Chúa Giêsu: Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con”?!
Tại sao chúng ta phải tự hỏi lòng mình như thế? Thưa, là bởi, nếu chúng ta “kém lòng tin” và không màng tới việc đến với Chúa Giêsu “xin thêm lòng tin”, có phần chắc, chúng ta sẽ không thể thực thi những gì tông thư “Cửa Đức Tin” chỉ dạy. 

Cũng là một chữ “nếu”… Nhưng, không phải là chúng ta nói, mà là Đức Giêsu nói với chúng ta “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải”?      
        
 “Lòng tin – Đức tin” đó chính là ơn sủng của Thiên Chúa. Một ơn sủng mà khi chúng ta nhận được, thánh Phaolô khẳng định, ơn sủng đó, sẽ “khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương và biết tự chủ” (2 Tm 1, …7).

Một khi chúng ta “được đầy sức mạnh, tình thương và biết tự chủ”… thì, điều gì sẽ xảy ra? Thưa, có phần chắc, chúng ta đủ sức để “bảo cây dâu này: Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời (chúng ta)”.
Vâng, chỉ là một cách ví von như Chúa Giêsu đã ví von khi xưa. 

Nói cách khác, một khi chúng ta “được đầy sức mạnh, tình thương và biết tự chủ”… thì “cây dâu” mang tên “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” sẽ nở rộ, không chỉ nở rộ trong mảnh đất tâm hồn chúng ta, mà nó sẽ “bật rễ lên” và lan tỏa đi khắp tứ phương thiên hạ.

“Lòng tin – Đức tin”… Vâng, thánh Phaolô khẳng định “Ân sủng đó, Người đã ban cho chúng ta từ muôn thuở trong Đức Kitô Giêsu”( 2 Tm 1, …9).

Vậy, là một Kitô hữu – là môn đệ của Đức Kitô Giêsu, đừng chần chờ gì nữa mà hãy đến với Chúa Giêsu và thưa với Ngài rằng : “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con” 

Petrus.tran
 


















Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013

Đừng vô cảm...



***
Đừng vô cảm…

Kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam rất phong phú. Có thể nói rằng, nó là một kho tàng tốt cho việc giáo dục con người xưa cũng như nay. Thật vậy, có ai trong chúng ta lại không hơn một lần được dạy dỗ rằng, "thương người như thế thương thân", hoặc "một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ", hay "một miếng khi đói bằng gói khi no" v.v...

Tiếc thay! có vẻ như, những lời dạy dỗ tốt đẹp đó ngày càng xa rời cuộc sống của không ít người hôm nay. 

Nhớ, ngày 13/10/2011, tại thành phố Phật Sơn, Nam Hải, Trung Quốc. Một bé gái ba tuổi tên Yue Yue đang chơi trong khu chợ, có một chiếc xe tải đi qua, chiếc xe đó cán lên người cô bé. Nhiều người qua lại nơi đây, thấy, nhưng họ vẫn dửng dưng bỏ đi. Theo dõi trên clip, có khoảng 20 người qua lại nơi tai nạn xảy ra, nhưng không ai dừng lại cứu cô bé. 

Rồi cũng trong năm 2011, tại Saigon, vào ngày 07/10, một vị bác sĩ, trong lúc lái xe bất cẩn, đã gây ra một tai nạn hàng loạt khiến cho hai người chết và mười bảy người khác bị thương. Điều đáng tiếc là, khi tai nạn xảy ra, những người hiếu kỳ thay vì đưa nạn nhân cấp cứu, họ lại nhảy vào “hôi của” cướp đồ nạn nhân…  

Tại sao lại có những chuyện như thế xảy ra? Thưa, đó chính là do “sự vô cảm”, sự vô cảm đã chế ngự con người, nó làm cho con người trở nên ích kỷ, dửng dưng, không rung động, không cảm xúc trước nổi đau, hoạn nạn của người khác... 

Nói đến sự “vô cảm”, có thể nói, hàng ngày, nó đã gây ra biết bao nhiêu “… điều trông thấy mà đau đớn lòng”, từ chuyện một chú bé “cuộc sống đói rách bơ vơ…Hỏi ai ai cho nương nhờ! Chuỗi ngày tăm tối bơ vơ…” cho tới chuyện, có những đại gia, tỷ phú… đã dám chi hàng tỷ đồng chỉ để “ăn một bữa trưa” theo sở thích của mình.

Niềm tin Kitô giáo không dạy con người sống vô cảm. Niềm tin Kitô giáo dạy rằng, một Kitô hữu không chỉ mến Chúa nhưng còn phải yêu thương người. 

Thương người có mười bốn mối, thương xác bảy mối: “Thứ nhất cho kẻ đói ăn.  Thứ hai cho kẻ khát uống. Thứ ba cho kẻ rách rưới ăn mặc. v.v…”
Vâng, “cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc” cũng chính là điều Chúa Giêsu luôn đem ra khuyên dạy và đề cao.   

Thật vậy, với sự giàu có,  Ngài đã khuyên dạy rằng: “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi” (Mt 6, 19-21). Với những người, có “rất nhiều của cải”, như trường hợp ông thủ lãnh nhà giàu, Đức Giêsu khuyên “hãy bán tất cả những gì ông có mà phân phát cho người nghèo và ông sẽ được một kho tàng trên trời”.   

Và để cho mọi người cảm nhận rõ lời khuyên đó, Đức Giêsu đã dạy cho họ một bài học qua dụ ngôn “ông nhà giàu và anh Lazaro nghèo khó” (x.Lc 16, 19-31).

Dụ ngôn được kể rằng: “Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình”.(x.Lc 16, 19)  Câu chuyện sẽ không có gì để nói, nếu “trước cổng ông nhà giàu” không có “một người nghèo khó… nằm (ở đó)”. Người nghèo khó đó tên là Lazaro, anh ta trông thật thảm thương. Trên cơ thể anh ta “mụn nhọt đầy mình”. 

*Thưa bạn, bạn có bị “ghẻ” bao giờ chưa! Tôi đã bị. Năm học lớp đệ thất (lớp sáu bây giờ), chân tay của tôi  “mụn nhọt đầy mình”, phải nói rằng, nhức nhối khủng khiếp. Thế nhưng, cái nhức nhối của thể xác không sánh bằng cái nhức nhối tinh thần. Cái nhức nhối tinh thần, đó là sự cô đơn, một lớp học gần bốn mươi học sinh, nhưng không có một người nào muốn đến gần tôi. Thật ra, cũng có người đến, nhưng họ đến chỉ để nói với tôi rằng “đồ ghẻ tàu!”. 

Với “ngưòi nghèo khó tên là Lazaro” ư! Có phần chắc, anh ta cũng nhức nhối, anh ta không chỉ nhức nhối thể xác bởi mụn nhọt, bởi cái dạ dày “thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no”, anh ta còn nhức nhối tinh thần. Từ tâm can, anh ta nhận ra "sự vô cảm" của ông nhà giàu, phải chi ông ta đến và chỉ nói “đồ ghẻ La Mã” có lẽ anh ta cũng vui vui chút ít!    

Sự vô cảm của ông nhà giàu, có thể ví như “cục lơ Pháp”, đã được ông ta “thoa” lên “cây cơ” là đám mụn nhọt và sự đói khát trong nỗi cô đơn của anh Lazaro. Vâng, chỉ là một cách diễn tả, kết thúc hồi một, buồn thay! chỉ có “mấy con chó… đến liếm ghẻ chốc anh ta”.
 
Với hồi hai, như người ta thường nói “mồm chó vó ngựa”. Anh Lazaro, phần vì đói, phần vì mồm những con chó liếm vào những vết ghẻ của anh ta… Ôi! vết thương của anh ta, không nhiễm trùng mới là chuyện lạ! Lazaro chết, có phần chắc, vì đói và vì nhiễm trùng. Sau đó, “ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn” (Lc 16, 22).  

Và như lời một bài kinh đã viết “sự chết chỉ là sự biến đổi chứ không hề tiêu tan”. Cuộc đời Lazaro được biến đổi, anh ta không còn cô đơn bên “mấy con chó” nhưng tràn đầy hạnh phúc “trong lòng tổ phụ”.

Còn ông nhà giàu ư! Chuyện được kể tiếp rằng: “Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta…” - ông nhà giàu - lại là kẻ mong Lazaro “đừng-vô-cảm” trước sự đau khổ của ông ta.

Trước kia, nơi trần gian, Lazaro “thèm những thứ trên bàn ăn của ông rớt xuống mà ăn cho no”… Nay, dưới âm phủ, ông nhà giàu “thèm” được Lazaro “nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi (ông) cho mát, vì ở đây (ông) bị lửa thiêu đốt khổ lắm” (Lc 16, 24).

Kết thúc dụ ngôn, như đã nói ở trên, anh nhà nghèo tên là Lazaro được ở “trong lòng tổ phụ”. Còn ông nhà giàu thì “Phải chịu khốn khổ” (Lc 16, …23).

**
Qua dụ ngôn này, có thể nói rằng, “sự vô cảm” chính là con đường dẫn chúng ta đến “âm phủ”. Chính vì thế, là một Kitô hữu, chúng ta đừng quên rằng, những gì chúng ta làm hôm nay, ở đời này, sẽ là “tấm chiếu khán” đưa chúng ta đến đời sau, nơi “hỏa ngục” hay “thiên đàng”.  

Giàu có ư! Tốt, vì đó là ơn phúc Chúa ban.  Giàu có không phải là một cái tội. Câu chuyện dụ ngôn trên không thấy một câu hay một chữ nào lên án về việc “giàu có” của ông nhà giàu. Hãy nhìn xem sự giàu có của ông Gióp khi xưa. Kinh Thánh có chép rằng, Ông ta có “một đàn súc vật bảy ngàn chiên dê, ba ngàn lạc đà, năm trăm đôi bò, năm trăm lừa cái”. Chính Xatan cũng phải công nhận Đức Chúa đã “ban phúc lành cho công việc do tay (Gióp) làm, và các đàn gia súc của (Gióp) lan tràn khắp xứ” (G 1, 10).

Chỉ có điều, nếu giàu có thì, hãy nghe tông đồ Phaolô nói: “Đừng tự cao tự đại, cũng đừng đặt hy vọng vào của phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng”(1Tm 6,17). Thánh nhân thêm một lời khuyên rằng : “Phải làm việc thiện và trở nên giàu có về các việc tốt lành, phải ăn ở rộng rãi, sẵn sàng chia sẻ. Như vậy (sẽ) tích trữ cho mình một vốn liếng vững chắc cho tương lai”.

Cho nên,  khi ta giàu có,  “Hãy rộng lượng với kẻ nghèo hèn, đừng chần chừ khi phải bố thí. Hãy đón tiếp kẻ khó nghèo, vì họ túng quẫn, đừng để họ ra về tay trắng” (Hc 28, 8-9). Hãy nhớ, sự giàu có không ngăn cách ta đến bên “lòng tổ phụ” Apraham, sự vô cảm mới chính là “hố sâu” , là “vực-thẳm-lớn” ngăn cách ta với ngài, sau này,  cũng như với những người anh em, những người đồng loại, ngay hôm nay.

Nếu hôm nay, trong cuộc sống thường nhật,  chúng ta “không vô cảm”  với những người anh em, những người đồng loại, những người mà họ đói chúng ta cho ăn, họ khát chúng ta cho uống, họ rách rưới chúng ta cho mặc, họ bịnh hoạn chúng ta thăm viếng v.v… thì, sau này, trong ngày phán xét, Chúa cũng sẽ không nhìn chúng ta bằng ánh mắt “vô cảm”.  

Trái lại, Ngài sẽ nói với chúng ta rằng, “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các người đã cho Ta ăn; Ta khát, các người đã cho Ta uống… Ta là khách đau yếu, các ngươi đã thăm viếng…”(Mt 26, 34-36).

 “Ta” là ai? Thưa, Ta là “họ”. “Họ” là ai? Thưa, họ là những người chúng ta “không vô cảm”. 

Nói tắt một lời, để đời sau, chúng ta không phải lớn tiếng kêu, “Lạy tổ phụ Apraham, xin thương xót con”, thì đời nay, nguyên tắc sống của chúng ta chỉ cần gói gọn trong ba chữ “đừng vô cảm”.     
                                      
Petrus.tran



Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

Chúa luôn sẵn sàng...



****

Chúa luôn sẵn sàng…

Một nhà truyền giáo có nói: “Nếu chẳng may toàn bộ Kinh Thánh bị thất lạc, và chỉ còn giữ được một câu trong Phúc Âm thánh Gioan, điều đó vẫn đủ để chúng ta trình bày cho thế giới biết rằng, có một Thiên Chúa là tình yêu”.

Câu Kinh Thánh đó chính là câu Chúa Giêsu nói với một thủ lãnh của người Do Thái tên là Nicôđêmô, rằng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3, 16).  

Đúng vậy, từ khi Adam và Eva phạm tội, con người bị  trục xuất ra khỏi vườn Eden với án phạt là sự chết, thế nhưng không vì thế mà Thiên Chúa bỏ rơi con người. 

Theo thời gian, qua các ngôn sứ và tiên tri, Thiên Chúa không ngừng chuyển tải đến con người những thông điệp nói lên tình yêu thương, lòng bao dung và sự tha thứ. Thiên Chúa vẫn luôn cho con người thấy, Người là Đấng “từ bi nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương”, vẫn luôn cất tiếng mời gọi con người “Hãy đến mà biện luận. Tội các người, dầu có đỏ tựa son, cũng hoá trắng như tuyết; có thẩm tựa vải điều, cũng hoá như bông”.

Đến khi Đức Giêsu, Con Một Thiên Chúa, trở nên người phàm và cư ngụ giữa thế gian, tình yêu thương của Thiên Chúa càng thêm sáng tỏ. 

Thật vậy, sự xuất hiện của Đức Giêsu với những lời giảng dạy, qua những dụ ngôn rất đời thường,  đã phác họa chân dung một Thiên Chúa mới, một Thiên Chúa không phải là hung thần chỉ biết luận phạt, nhưng là một Thiên Chúa thể hiện sự bao dung, tình yêu thương và sự tha thứ, một Thiên Chúa “đến để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” và để “cứu cái gì đã hư mất” (Mt 18,11).

Có ba dụ ngôn đã được Đức Giêsu, cùng một lúc, kể ra,  với mục đích dập tắt những lời “xầm xì” của một nhóm người Pharisêu khi họ thấy Ngài đồng bàn với  nhóm người thu thuế và các người tội lỗi, những người đã có lần Đức Giêsu tuyên bố rằng, “họ sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21, 31)

**
Câu chuyện đã được kể lại rằng: hồi ấy, có một số người thu thuế và các người tội lỗi thường lui tới với Đức Giêsu để nghe Người giảng. 

Chuyện sẽ chẳng có gì xảy ra nếu không có nhóm người Pharisêu và các kinh sư, những ông kẹ được xem là những kẻ tọc mạch, kiếm chuyện.

Hôm ấy “những người Pharisêu và các kinh sư”  khi chứng kiến Đức Giêsu thao thao bất tuyệt trước nhóm người thu thuế và tội lỗi, ngứa mắt, họ xầm xì với nhau “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng”...
Ôi trời! tại sao họ lại xầm xì như thế? Phải chăng họ tự ái khi thấy Đức Giêsu, chỉ là một anh thợ mộc, nhưng lại được mọi người thán phục về lời những giảng của Người!  

Không thấy chuyện này được nhắc đến, nhưng những lời xầm xì của nhóm Pharisêu và các kinh sư thì không sai. Những người lui tới với Đức Giêsu, hôm đó, đúng là “phường tội lỗi”, họ có rất nhiều “cái rác tội lỗi”.  

Thế nhưng, đáng tiếc là các ông ông Pharisêu và các kinh sư, hôm đó,  chỉ thấy “cái rác trong con mắt người anh em, mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không để ý tới” (Mt 7,3).

Cái rác-tội-lỗi nơi người thu thuế có đấy, còn cái-xà-gồ-trách-nhiệm của các ông sao các ông lại bỏ qua? Lẽ ra, là Pharisêu, những người am hiểu Thánh Kinh, các ông phải có “trách nhiệm” giảng dạy cho phường-tội-lỗi nhận biết Thiên Chúa là ai chứ! Không làm, các ông lại còn hậm hà hậm hực…

Đón tiếp phường-tội-lỗi thì đã sao! Thiên Chúa đã chẳng “cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu  cũng như người tốt và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” đó sao! (Mt 5, 45). Vâng, có lẽ các ông Pharisêu và các kinh sư đã quên rằng, Thiên Chúa “Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác” (Lc 6, …35).

Hôm đó, mặc cho những lời xầm xì, Đức Giêsu tiếp tục lời giảng dạy bằng  ba dụ ngôn. Ba dụ ngôn đó là: “dụ ngôn con chiên bị mất”,  “dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất” và đặc biết nhất, đó là “dụ ngôn người cha nhân hậu” (x. Lc 15, 1-31)

***
Ba dụ ngôn này, với nhóm Pharisêu và các kinh sư, nó chính là câu trả lời cho những lời xầm xì của họ. 

Còn với nhóm bị cho là “phường tội lỗi”, ba dụ ngôn này,  có thể ví nó giống như một chiếc smartphone cao cấp, đã đem đến cho họ hình ảnh một Thiên Chúa, một Thiên Chúa “công bằng” giữa một bên là  bóng mây của lưỡi-gươm-luận-phạt và bên kia là ánh sáng của tình yêu, lòng bao dung, sự tha thứ. 

Thật vậy, với “dụ ngôn con chiên bị mất”, ánh sáng của tình yêu, một tình-yêu-vô-giá đã được thể hiện.  

Không vô giá sao được khi người mục tử đã “để lại chín mưoi chín con kia ngoài đồng hoang” để đi tìm một con chiên lạc. Không vô giá sao được, khi người mục tử “tìm được (chiên) rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai”. Không vô giá sao được, “về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại và nói: ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó” (x.Lc 15, 506). 

Vâng, đừng cho rằng Đức Giêsu “cường điệu hóa” vấn đề. Đây chỉ là “dụ ngôn” và cũng như những dụ ngôn khác, thông điệp chính mà Đức Giêsu muốn nói đến, đó chính là “sự tuyệt đối”. Tình yêu của Thiên Chúa là “nhưng không tuyệt đối”. 

Với “dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất” ư! Vâng, vấn đề không phải là “con số” giữa “chín và một”, giữa “nhỏ và lớn” nhưng là cái “giá trị”, nhất là khi nói đến “giá trị của sám hối trở về”.  Điều này đã được Đức Giêsu chứng minh khi Ngài nói “Tôi nói cho các ông hay: giữa triều thần Thiên quốc, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (x.Lc 15, 10). 

Còn “dụ ngôn người cha nhân hậu” thì sao? Thưa, đó chính là một bản concerto hoàn chỉnh, một sự hoàn chỉnh không thể hoàn chỉnh hơn với những giai điệu của lòng bao dung, sự tha thứ nơi Thiên Chúa qua hình ảnh “người cha nhân hậu”. 

Thật vậy, khi phần dạo đầu của bản concerto vang lên, người cha, với cảm xúc đầy bi thương  khi nghe người con thứ  “xin cho con phần gia tài con được hưởng”, ông ta đã lặng lẽ “chia của cải cho hai con”… 

Rồi đến phần hai, khi người người con thứ đang dìm tâm hồn mình chìm theo điệu nhạc “phóng đãng” không màng đến sự “ phung phí tài sản của mình” thì người cha đau đớn thả hồn theo điệu nhạc u uất đợi chờ…
Một bản concerto có ba phần, và thường thì, 
phần thứ ba chính là lúc nhạc cụ solo và dàn nhạc đã tìm được tiếng nói chung. Bản concerto mang tên “người cha nhân hậu” với phần ba, cũng đã tìm được tiếng nói chung. 

Chàng con thứ trong vai nhạc công solo đã trúc lên tiếng kèn thống hối “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha”… Tiếng kèn thống hối đó đã hòa chung với giai điệu bao dung và tha thứ của người cha, trong âm vang của sự rộn rã, người cha “chạy ra ôm cổ anh ta hôn lấy hôn để... đem áo đẹp nhất mặc cho... xỏ nhẫn vào tay và xỏ dép vào chân cậu”... 

Bốn âm điệu cuối “mở tiệc ăn mừng” như một tấm nơ hồng đính lên tâm hồn “cha và con”, để rồi, tận trong cung lòng người cha, một giai điệu rộn rã vang lên “con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15, …32).

****
Ba dụ ngôn nêu trên, có thể nói rằng, đó là một câu chuyện hay nhất, một “best story” của Phúc Âm thánh Luca. Nó hay ở chỗ có quá nhiều điều để chúng ta phải học. Nó còn hay ở chỗ, mỗi người chúng ta đều có thể thấy một nét phảng phất nào đó chính mình trong câu chuyện này. 

Chính vì thế, hãy để một phút thinh lặng và tự hỏi lòng mình rằng, tôi là ai trong số những nhân vật đã được Đức Giêsu nêu lên trong dụ ngôn? 

Có lẽ không ai trong chúng ta tự nhận mình là “người cha nhân hậu”, nhưng có phần chắc, trong một giai đoạn nào đó của đời người, rất có thể, có lúc, chúng ta trở thành người con thứ, với một chút sự bồng bột của tuổi trẻ, với một chút sự kiêu ngạo bởi nguyên tội Adam và Eva, với một ít gia tài là học vấn và kiến thức thời đại, cho rằng những giá trị truyền thống trong ngôi nhà Kitô giáo đã lỗi thời,  “trẩy đi phương xa” tìm đến những miền đất xa lạ, những miền đất đề cao tự do luyến ái, những miền đất cổ vũ tự do phá thai, những miền đất khuyến khích hôn nhân đồng tính v.v…

Rất có thể, có lúc, chúng ta chính là người con cả, sống khép kín trong ngôi nhà Kitô giáo, mặc cảm mình chỉ là kẻ “hầu hạ”, sợ sệt trước những giới răn mà quên rằng, đó chính là “sinh lộ”, là “đường, là sự thật và là sự sống”… 

*****
Những suy tư nêu trên, phải chăng là những suy tư tiêu cực? Phải chăng là những suy tư làm cho chúng ta phải buồn phiền? Thưa, không phải. 


Thật ra, nghĩ được như thế phải là niềm vui của chúng ta. Nhân ra tôi là ai trong ba dụ ngôn nêu trên phải là niềm vui của mỗi người Kitô hữu chúng ta.
Tôi là người chăn chiên, là người phụ nữ trong hai dụ ngôn “con chiên bị mất – đồng bạc bị đánh mất”, là “người cha nhân hậu” ư! Tất cả đều tốt. 

Tôi là người con thứ  hay tôi là người con cả ư? Quá tốt… quá tốt bởi vì tôi đã nhận ra mình là ai. Quá tốt, bởi tôi đã nhận ra mình là “người tội lỗi”. 

Có điều… có điều tôi cần biết, đó là, khi đã nhận ra mình là “người tội lỗi”, hãy vượt qua mặc cảm tự ti, và hãy như “các người thu thuế và các người tội lỗi” xưa, mà  “lui tới với Đức Giêsu để nghe Người giảng”(Lc 15, 1) 

Vâng, với chúng ta hôm nay, qua vị linh mục, Chúa Giêsu không chỉ giảng, không chỉ ban cho ta “Bí Tích hòa giải” Ngài còn ban cho ta một bữa tiệc, bữa tiệc không phải bằng “một con bê đã vỗ béo” nhưng là bằng “Mình và Máu Thánh” của chính Ngài.

Hãy nhớ, trong nhà thờ, nơi ngôi nhà tạm, “Chúa luôn sẵn sàng” chờ ta. 

Petrus.tran


Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013

Hãy thắp bùng lên...

Hãy thắp bùng lên…

Petrus Tran
Hơn hai tuần qua, thế giới Kitô giáo không ngừng nhận được những tin tức xấu. Bản tin thứ nhất được VietCatholic gửi đi vào ngày 13/08/2013 cho biết, “Một đám đông 4.000 người Hồi Giáo cướp phá các doanh nghiệp của các tín hữu Kitô trong thị trấn Bani Ahmed, ngoại ô thủ đô Cairo của Ai Cập, và đốt cháy nhà cửa của họ. Giáo phận Chính Thống Coptic địa phương đã cho biết như trên…”

Sau đó, bản tin viết tiếp “Sáng hôm sau, một đám đông bao vây nhà thờ Chính Thống Coptic, ngăn chặn không cho các Kitô hữu vào tham dự phụng vụ thánh. Hôm 9 tháng 8, giáo chủ Chính Thống Giáo Coptic Ai Cập là Đức Tawadros Đệ Nhị đã phải hủy bỏ một buổi gặp gỡ với các tín hữu tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Máccô ở thủ đô Cairo vì sợ cộng đoàn của ngài bị tấn công.Theo dự trù ban đầu Đức Tawadros Đệ Nhị sẽ trao đổi về Thánh Kinh và trả lời thắc mắc của các tín hữu trong buổi học hỏi Thánh Kinh do ngài chủ tọa.”

Bản tin thứ hai, được giật “tít” thê thảm hơn, “Ngày 14 tháng 8: Ngày kinh hoàng của các tín hữu Kitô tại Cairo - 23 nhà thờ bị người Hồi Giáo tấn công. Cuồng tín Hồi giáo tấn công 23 nhà thờ Thiên Chúa giáo ở thủ đô Cairo và khu vực lân cận vào ngày thứ Tư 14/8, một ngày trước Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.  Cha Rafic Greiche, phát ngôn viên của Giáo Hội Công Giáo tại Ai Cập cho biết, trong 23 nhà thờ bị tấn công 7 ngôi nhà thờ là thuộc Giáo Hội Công Giáo, 15 thuộc Giáo Hội Chính Thống Coptic và một thuộc Tin Lành. Cha Greiche nói rằng các Kitô hữu Ai Cập đang sống trong sợ hãi vì bạo lực Hồi giáo. Ngài đã chỉ trích các phương tiện truyền thông phương Tây đã lờ đi không tường trình về các cuộc tấn công nhắm vào các Kitô hữu.”

Cùng là người Ai Cập, tại sao họ lại hành động như thế? Tại sao họ lại đối xử với đồng hương của họ như vậy? Phải chăng là vì họ ghét những ai tin vào Chúa Giêsu Kitô?


 Nhắc đến điều này không phải để khơi thêm ngọn lửa hận thù nhưng là để thấy rằng, đúng như những gì Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ khi xưa, “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh  em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ” (Lc 12, 51).

**

Vâng, một hôm, sau khi đã dùng dụ ngôn để cảnh báo các môn đệ về ngày giờ “Con Người sẽ đến”, Đức Giêsu tiếp tục cảnh báo các ông về những khó khăn, về những gian nan sẽ đến với các ông cũng như với những ai đón nhận đức tin, chân lý và sự thật. 

Những khó khăn và những gian nan đó đã được Đức Giêsu thẳng thắn loan báo rằng, “Từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ, mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng”.

***

Hiểu thế nào về những điều Đức Giêsu đã nói? Phải chăng những lời nói đó ngược lại với những gì Đức Giêsu giảng dạy? Phải chăng, những lời nói đó tố cáo Đức Giêsu là một con người hiếu chiến? Phải chăng những lời nói đó như là một lời tuyên chiến với thế giới con người!

Xin thưa, hiểu như thế chẳng khác nào thầy bói mù xem voi, hiểu như thế là hiểu một cách lệch lạc về thông điệp mà Đức Giêsu muốn công bố.

Trong ba năm ra đi rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu đã rao giảng những gì! Thưa, Ngài luôn rao giảng một thứ Tin Mừng cứu độ. Và thông điệp mà Đức Giêsu muốn gửi đến cho nhân loại đó chính là thông điệp về tình yêu.  Tình yêu mà Đức Giêsu nói đến, đó là một  thứ tình yêu thương “người liều mạng sống vì người mình yêu”, tình yêu mà Ngài nói đến còn là một thứ tình “yêu thương kẻ thù nghịch”.
 

  Không chỉ nói về tình yêu thương, Đức Giêsu còn nói đến lòng tha thứ. “Anh em đã nghe dạy rằng: ‘mắt đền mắt, răng đền răng’. Còn Thầy, Thầy bảo anh em; đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa” (Mt 5, 38).

Và đây, chính cái chết của Đức Giêsu trên đồi Golgotha, với lời cầu nguyện rằng “Lạy Cha xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” đã chứng thực cho những lời Ngài giảng dạy.

“Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh  em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ”. Đúng, Đức Giêsu đã nói như thế và nếu gọi đây là một lời tuyên chiến thì sự tuyên chiến mà Đức Giêsu đưa ra chính là tuyên chiến với Satan, với tội lỗi và với những gì thuộc về nó.

Nói tắt một lời, sự chia rẽ mà Đức Giêsu “đem tới”, không phải là để chia rẽ giữa con người với con người mà chính là để “rẽ” con người ra khỏi Satan, “rẽ” con người ra khỏi bóng tối tội lỗi, điều mà một khi  con người vướng phải, họ sẽ không thể thực hiện những ước mong, ước mong ngọn lửa đức tin sẽ bùng cháy lên, nhờ đó, họ sẽ có thể, như lời tác giả thư Do Thái đã nói, “cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình”(Dt 12, ..1)

****

Như vậy, giờ đây, điều mà chúng ta cần hỏi, cần biết, đó là, chúng ta đã “rẽ” ra khỏi Satan, ra khỏi  “gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình”? Nếu chưa, chúng ta sẽ phải làm gì?

Tạ ơn Chúa, cũng qua thư Do Thái, Thiên Chúa đã cho chúng ta một lời chỉ dẫn, một lời chỉ dẫn có thể xoay chuyển cục diện đời ta, có thể đem ta ra khỏi thung lũng âm u nghi ngờ của chết chóc. Vâng, lời chỉ dẫn rằng, “Hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin”

Đừng chủ bại mà nghĩ rằng, thế giới hôm nay, xã hội hôm nay đầy cám dỗ và quyến rũ, đầy mưu ma chước quỷ, để thực thi những điều trên, quả là điều bất khả thi.


 Vâng, chỉ là người trần mắt thịt, cố hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã thực thi trọn vẹn “những ước mong” mà Đức Giêsu đã nói với các môn đệ năm xưa.

Mười ba năm “tù không tội” với chín năm biệt giam chỉ thấy máu và nước mắt, ấy thế mà Ngài chưa một lần khơi dậy ngọn lửa hận thù, trái lại, qua Ngài, người ta đã thấy “ngọn lửa tình yêu”, ngọn lửa tình yêu đó đã “bùng lên” nơi con tim Nguyễn Hoàng Đức, một đảng viên CS,  người đã từng là cán bộ phòng tôn giáo của bộ công an.

Qua bài viết “Con đường đức tin vào Nước Chúa qua cây cầu Hồng y FX. Nguyễn Văn Thuận” của anh ta, nó như là một lời chứng, chứng thực cho việc cố hồng y Thuận đã thực thi hoàn hảo tình yêu thương và lời mời gọi tha thứ mà Thầy Giêsu đã giảng dạy.

Nói cách khác, cố hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận chính là bàn tay nối dài của Đức Giêsu để “ném lửa vào mặt đất”, không phải ngọn lửa hận thù mà là ngọn lửa tình yêu, ngọn lửa đó đã “bừng lên” không chỉ nơi nhà văn Nguyễn Hoàng Đức, mà còn nơi nhiều người khác nữa.

*****

Thật ra, sự chia rẽ hay sự chống đối, trong gia đình hay ngoài xã hội chỉ vì để bảo vệ  đức tin, chân lý hay sự thật không có gì quan trọng vì đó là điều  tất yếu phải xảy ra trong đời sống của một người môn đệ đã tin và theo Đức Giêsu.

Điều quan trọng, đó là, trong việc  tranh luận để bảo vệ  đức tin, chân lý hay sự thật, chúng ta có làm cho thế giới này, xã hội này, qua chúng ta, nhân loại thấy rõ dung nhan một Chúa Giêsu “hiền lành và khiêm nhường trong lòng” hay không!


Hãy nhớ, Kinh Thánh có chép rằng “Trong anh em cần có sự tranh luận để biết ai là kẻ đức độ”.  Đức độ! Vâng, đó chính là dầu để thắp lên ngọn lửa tình yêu, một ngọn lửa, xưa kia, Chúa Giêsu đã  ước mong phải chi các môn đệ của Ngài “hãy thắp bùng lên”

Petrus tran 


 

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...