Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2014

Thưa Ngài, xin cứu con với...

Chúa Nhật XIX – TN -A
Thưa Ngài, xin cứu con với…
Người ta thường nói: “Sức khỏe là vàng”. Thật vậy, cuộc sống của một đời người, không ai là không mong muốn cho mình có được một cơ thể tráng kiện trong một tinh thần minh mẫn. Buổi sáng thức giấc, qua khung cửa sổ, nhìn thấy bầu trời xanh bao la, ai trong chúng ta lại không hơn một lần thốt lên rằng, “ôi! cuộc đời vẫn đẹp sao…”.
Muốn là vậy mãi, thế nhưng, không ai có thể biết rằng, biết đâu, bất ngờ vài ngày sau, ta bị bịnh, thình lình ta bị mất sức khỏe. Ta tự hỏi, chuyện gì thế! Ta có biết rằng, môt số vi-rút nguy hiểm đang tấn công ta. Nó tấn công các cơ quan trọng yếu trong cơ thể ta. Không kịp thời điều trị, những con vi-rút đó có thể tiêu diệt sức khỏe của ta, đôi khi có thể dẫn đến cái chết…
Không có sức khỏe tốt  khi bị nhiễm trùng, ta có nguy cơ ngã bịnh rất nhanh. Y học cho biết, nếu cơ thể yếu do suy dinh dưỡng, ta dễ dàng mất sức đề kháng, và chỉ cần một sự nhiễm trùng nhẹ, nó vẫn có thể gây cho ta tử vong.
Làm sao để tránh khỏi nguy cơ mất sức khỏe? Thưa, không gì tốt hơn là ăn uống đấy đủ chất dinh dưỡng và chắc chắn là chúng ta sẽ phải làm đủ mọi cách để tránh khỏi bị nhiễm vi-rút hay vi trùng.
Vâng, con người là một tổng hợp gồm thể xác và linh hồn. Và tất nhiên, con người còn có một niềm tin, tin vào một Đấng Tối Cao nào đó. Với chúng ta là người Ki-tô hữu, Đấng Tối Cao đó chính là Thiên Chúa.

Cho nên, ngoài việc thận trọng cho việc gìn giữ sức khỏe thể xác, chúng ta cũng cần thận trọng gìn giữ sức khỏe linh hồn để có thể “vững mạnh trong đức tin” (Tt 2, ..2). Vì thế, có bao giờ chúng ta cảnh giác trước những hiểm nguy do sự hoài  nghi về một niềm tin mà chúng ta đang tin tưởng?
Lịch sử con người đã cho thấy, sự hoài nghi một khi đã xâm chiếm tâm hồn và lòng trí, nó sẽ gây hại niềm tin và sự liên hệ giữa con người và Thiên Chúa.  Sự hoài nghi của nguyên tổ Adam và Eva là một ví dụ rõ nét.

Sự hoài nghi thường dẫn đến sự đổ vỡ. Sự hoài nghi dễ dẫn đến chia ly. Sự hoài nghi là bước đầu cho sự bất trung và bội phản. Sự hoài nghi làm suy yếu niềm tin. Câu chuyện “Đức Giê-su đi trên mặt nước” được ghi lại trong Tin Mừng Thánh Mát-thêu, cho chúng ta thấy rõ tác hại của sự hoài nghi như thế nào.

**
Câu chuyện được kể lại rằng: hôm ấy, sau biến cố Đức Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho hơn năm ngàn người ăn, các môn đệ, theo lệnh truyền của Đức Giêsu, nhổ neo con thuyền, trực chỉ ra khơi để “qua bờ bên kia” Biển Hồ. 

Chỉ là một cuộc ra khơi như mọi cuộc ra khơi trước kia. Tuy nhiên, cuộc ra khơi lần này có chút khác biệt, sự  khác biệt, đó  là, lần ra khơi này không có mặt Đức Giêsu cùng đi theo. Riêng Đức Giê-su, hôm đó, sau khi giải tán đám đông “Người lên núi một mình và cầu nguyện”.
Tối đến, đang khi Đức Giê-su “vẫn ở đó một mình” thì ngoài kia, ngoài biển khơi “xa bờ đến cả mấy cây số” chiếc thuyền của các môn đệ “bị sóng đánh vì ngược gió”.

Thưa bạn, nếu bạn là một trong số mười hai môn đệ trên con thuyền hôm đó, bạn sẽ nghĩ gì trước cảnh bị sóng đánh dồn dập như thế? Phải chăng, bạn sẽ nghĩ rằng, “Ôi! thầy Giê-su ơi! Chúng con gặp nạn này là bởi Thầy ‘bắt’ chúng con xuống thuyền qua bờ bên kia trước”? (x. Mt 14, 22)

Vâng, không thấy Mát-thêu, một nhân chứng trên con thuyền hôm ấy, nói gì, nhưng chúng ta có thể tưởng tượng rằng, chắc hẳn các môn đệ sẽ vô cùng bối rối; như trước kia cũng đã một lần phải bối rối vì một trận cuồng phong nổi lên trong lúc thuyền của các ông đang làm một cuộc hải hành trên Biển Hồ.

Nhớ, hôm ấy, “Một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước”. Các ông sợ hãi đến độ tưởng rằng Thầy và trò “chết đến nơi rồi…”. Chỉ đến khi Đức Giêsu “ngăm đe gió và truyền cho biển: Im đi. Câm đi…”. Lúc đó các ông mới cảm thấy “nhột nhạt” trước lời trách cứ của Thầy mình: “Sao nhát thế, hỡi những người kém lòng tin” (x.Mt 8, 26)

Còn hôm nay, vâng, hôm nay, có vẻ như lòng tin của các ông cũng kém không thua gì lần trước. Theo lời kể của thánh Mát-thêu, thì: “Vào khoảng canh tư. Đức Giêsu đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ”. 

Thế nhưng, thật đáng tiếc, các ông lại không nhận ra Ngài. Các ông hồ nghi không biết có phải là Thầy Giê-su không? Rất có thể các ông đã hồ nghi rằng, Thầy Giê-su là một con người bình thường như mọi người, sao Ngài lại có thể đi trên mặt biển?

Vâng, như lời Victor Hugo nói: “Lòng nghi ngờ là chứng mục nát của trí tuệ”. Hôm đó, trí tuệ của mười hai người môn đệ đã “mục nát” đến độ không còn nhận ra khuôn mặt đầy quyền năng của Đức Giê-su, thay vào đó, các ông đã hoảng hốt bảo nhau “Ma đấy!”.

Nghe thế, nhưng Đức Giê-su không trách móc các ông,  có lẽ, Ngài thấu hiểu nỗi lòng của các ông. Nỗi lòng của những con người đang phải sống trong một xứ sở đầy dẫy những tên biệt phái “ma đầu giáo chủ” luôn rình rập, chực chờ hãm hại Ngài cũng như các môn đệ của Ngài.

Với lòng cảm thông sâu sắc, Đức Giêsu  xóa tan sự hoài nghi nơi các môn đệ bằng một lời nói đầy quyền uy  “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”. Và hơn thế nữa, Ngài còn làm một phép lạ vô tiền khoáng hậu, đó là, cho ông Phê-rô,  theo như lời cầu xin của ông, được “đi trên mặt nước mà đến với Ngài”. 

“Chính Thầy đây, đừng sợ!”. Vâng, chỉ một lời khẳng định ngắn ngủi của Thầy Giê-su, Phê-rô cùng với các đồng môn của ông như bước ra khỏi cơn mê u tối của sự hoài nghi. Và khi  Đức Giê-su lên thuyền, các ông bái lạy Người và nói: “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa”.

***   
Phêrô hôm ấy, khi xin đi trên mặt nước để đến với Thầy Giê-su, ông ta đã được Ngài chấp nhận với lời mời gọi “Cứ đến”. Thế nhưng chỉ vì kém tin nên “khi thấy gió thổi tới” ông sợ. Và vì “hoài nghi” vào lời nói “cứ đến”của Đức Giê-su nên ông đã nghĩ rằng, mình đang bị “con ma da” kéo chìm! 

Có lẽ, vì hoảng hốt nên ông quên có lời Kinh Thánh đã chép rằng: ““Giữa cảnh gian truân, tôi đã kêu cầu Chúa. Chúa đáp lời và giải thoát tôi. Có Chúa ở cùng tôi, tôi chẳng sợ gì”. (Tv 118, 5-6).

Chưa “kêu cầu Chúa”, Phêrô “bắt đầu chìm”. Và khi Phêrô la lên “Thưa Ngài, xin cứu con với”, Đức Giê-su  thực hiện lời hứa “liền đưa ta nắm lấy ông”. Thiên Chúa, như lời thánh Phao-lô nói: “Điều gì Người đã hứa thì Người cũng có đủ quyền năng thực hiện” (Rm 4, …21). 

Vâng, hôm đó, nhờ vào quyền năng của Đức Giê-su, và giữ đúng lời hứa, Đức Giê-su đã cùng Phê-rô tay-nắm-tay cùng bước “lên thuyền”. 

****
Như các môn đệ xưa đi trên con thuyền “bị sóng đánh và ngược gió”, hôm nay, con thuyền cuộc đời của mỗi chúng ta cũng không thoát khỏi những cơn sóng hung hãn của trần gian, những cơn sóng có khả năng làm cho niềm tin của  mỗi chúng ta tan vỡ.

Những cơn sóng đó chính là những “làn sóng chủ nghĩa” – chủ nghĩa duy vật vô thần – chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa “mác-lê” những loại chủ nghĩa cho rằng không có Thượng Đế hoặc nếu có thì “Thượng Đế đã chết rồi!”…

Những cơn sóng đó, chính là những trào lưu cổ võ cho một nền “văn hóa sự chết”, một nền văn hóa “sống chung – sống thử”, một nền “văn hóa phá thai”, một nền văn hóa, như lời Lm. Đỗ Trung Thành OP  nói: “làm cho con người đang dần dần đánh mất phẩm giá cao quí mà Thượng Đế ban tặng, biến con người trở nên ‘thú dữ’ giết hại lẫn nhau, thậm chí đó là những người thân yêu nhất của mình, ngay cả ‘giọt máu’ khi còn ‘trứng nước’…”.

Nói tắt một lời, đó là những cơn sóng đi ngược với giá trị sự sống: sự sống tự nhiên và sự sống siêu nhiên mà Thượng Đế đã ban cho con người.

Chúng ta sẽ phải làm gì? Phải chăng là run rẩy sợ hãi, là im lặng đồng lõa? Hay chúng ta sẽ lớn tiếng, như Phê-rô xưa đã lớn tiếng kêu lên “Thưa Ngài, xin cứu con với!” – “Thưa Chúa, xin cứu chúng con và con cháu chúng con!”

*****
“Thưa Ngài, xin cứu con với!”. Đúng, Thiên Chúa sẽ cứu chúng ta, nếu chúng ta nhận ra Thiên Chúa và để cho Người lên con thuyền cuộc đời của mỗi chúng ta.

Làm thế nào để nhận ra Thiên Chúa và để cho Người lên con thuyền cuộc đời của chúng ta?

Thưa, trước hết, đó là phải tránh xa những điều có thể đem đến cho chúng ta sự hoài nghi, bởi khi niềm tin trong trạng thái hoài nghi, chúng ta sẽ trở nên hoang mang, phân vân. Đó chính là lúc chúng ta  dễ bị những thứ triết lý trần  tục dụ dỗ, dễ bị những loại chủ nghĩa đạo đức giả của Xa-tan đầu độc.

Kế tiếp, như cơ thể, dù đang trong tình trạng nghỉ ngơi, nó cũng cần được liên tục cung cấp  năng lượng để thực hiện các tiến trình hóa học, một tiến trình thay thế các mô tế bào.

Đúc tin của chúng ta cũng giống như thế. Không thường xuyên cung cấp thức ăn thiêng liêng, đức tin của chúng ta sẽ chẳng khác nào một cơ thể suy dinh dưỡng, một dấu hiệu dẫn đến suy nhược và kết quả đó là cái chết. Về điều này, khi còn tại thế, Đức Giê-su đã nói “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời từ miệng Thiên Chúa phán ra” ( Mt 4, 4)

Và cuối cùng, như Phê-rô xưa cất tiếng thưa với Đức Giê-su “Thưa Ngài… xin truyền cho con”, thì hôm nay, chúng ta cũng hãy cất tiếng thưa với Ngài rằng: “Lạy Chúa! Con chẳng đáng… nhưng xin Chúa phán một lời…”

Nếu ngày xưa “khoảng canh tư Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ và nói: Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ”, thì ngày nay, Đức Giê-su vẫn đứng đó, 24/24 giờ, trên bàn Tiệc Thánh – trong ngôi nhà tạm, qua môi miệng linh mục, Ngài nói “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian. Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa”.

Vâng, chúng ta đang sống trong một xã hội “mạnh vì gạo bạo vì tiền”, một xã hội đầy dẫy bất công và bạo lực, một xã hội mà mạng người còn thua mạng con chó, một xã hội cổ võ cho một nền văn hóa sự chết v.v…  Với một xã hội như thế, con thuyền cuộc đời của mỗi chúng ta chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đức tin của mỗi chúng ta chắc chắn sẽ bị thử thách. Nó không chỉ ảnh hưởng và thử thách trực tiếp đến chúng ta mà còn tác hại đến con em chúng ta. 

Chính vì thế, đừng chần chờ gì nữa, đừng để tới lúc chúng ta “bắt đầu chìm”, mà ngay bây giờ, ngay khi chúng ta vừa đọc xong bài viết này, hãy cất tiếng nguyện xin Đức Giê-su, nguyện rằng: “Thưa Ngài, xin cứu con với”. Amen

petrus.tran


Petrus.tran   

Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

Hãy “đem lại đây cho Thầy!”



----------------------------
Chúa Nhật XVIII – TN – A

Hãy “đem lại đây cho Thầy!”

Lòng trắc ẩn nghĩa là gì? Thưa, lòng trắc ẩn là một biểu lộ của tình cảm, của lòng thương xót trước cảnh đau khổ của nhân loại. Lòng trắc ẩn biểu lộ sự quảng đại và lòng bao dung. Lòng trắc ẩn không ngần ngại cho đi một cách nhưng không. Lòng trắc ẩn không ngần ngại tận hiến. 

Trong Kinh Thánh, lòng trắc ẩn và lòng thương xót có một mối tương quan mật thiết với nhau. Để có thể hình dung ra lòng trắc ẩn và lòng thương xót của Thiên Chúa, Kinh Thánh đã dùng đến hình ảnh tình yêu thương của một người mẹ dành cho đứa con sơ sinh của mình.

Giữa đêm khuya, đứa bé sơ sinh khóc. Có bà mẹ nào mà không vội choàng dậy! Có bà mẹ nào được ngủ say! Có bà mẹ nào mà không phân biệt được tiếng khóc khát sữa của con! Và cho dù đứa bé khóc vì bất cứ lý do gì, có người mẹ nào mà không đáp ứng, có người mẹ nào mà không cầm lòng!

Lòng trắc ẩn và lòng thương xót của người mẹ đối với con ruột mình là một trong những tình cảm tha thiết nhất của con người. Tuy nhiên, lòng trắc ẩn và lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho con người còn cao hơn thế nữa, như lời ngôn sứ Isaia đã nói: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49, 15).

Với Thiên Chúa, quả thật Người “chẳng quên ta bao giờ” và Đức Giê-su, Con Một của Người, chính là người đã thể hiện lòng trắc ẩn và lòng thương xót một cách hoàn hảo trong những ngày Ngài còn tại thế. 

Thật vậy, hơn hai  mươi thế kỷ trước, Con Một Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Ngài tên là Giêsu, người ta gọi Ngài  là Giêsu người Nazareth. 

Đức Giê-su, sau ba mươi năm sống ẩn dật tại quê nhà, Ngài bắt đầu khởi sự ra đi rao giảng Tin Mừng. Có thể nói rằng, sự xuất hiện của Ngài đã gây một tiếng vang lớn. Tiếng vang đó đã được đồn vang khắp xứ Xyri. Người ta đồn rằng, Ngài không chỉ có những lời giảng dạy đầy uy quyền, nhưng còn đầy lòng trắc ẩn và lòng thương xót.

Thấy kẻ ốm đau tật nguyền, Đức Giê-su chữa lành. Thấy kẻ bị áp bức, bị xử sự một cách bất công, Ngài lớn tiếng bênh vực. Chính vì thế, bất cứ nơi đâu có sự hiện diện của Đức Giêsu, lập tức dân chúng tìm mọi cách đến để đi theo Ngài. Dù có phải vất vả bằng những chuyến bộ hành gian nan, họ vẫn tìm đến với Ngài.

Một ngày nọ, dù đã biết “Đức Giêsu đi thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt”. Nhưng dân chúng vẫn cứ đổ xô “từ các thành đi bộ mà theo Người”.(Mt 14,13).

Hôm đó, cứ tưởng rằng dân chúng tìm gặp Đức Giê-su để chia buồn về việc người anh họ của Ngài là Gioan Tẩy giả, vừa mới bị bạo chúa Hêrôđê chém đầu, chỉ vì đã ngăn cản ông ta làm một điều xấu. 

Thế nhưng, sự thật thì không phải vậy. Dân chúng tìm đến Ngài chỉ vì trong cộng đồng của họ có một số các bệnh nhân cần được chữa lành. Phần Đức Giê-su, khi “Ra khỏi thuyền, Ngài trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương xót”.

Vâng, Thiên Chúa là tình yêu. Hôm đó, tình yêu thương của Thiên Chúa đã được thể hiện qua Giêsu-Con-Một-Người. Có thể nói rằng, hôm đó, lòng trắc ẩn và lòng xót thương của Thiên Chúa đã được Đức Giêsu thể hiện một cách trọn vẹn qua Đức Giê-su. Kinh Thánh thuật lại rằng, Đức Giê-su đã “chữa lành các bệnh nhân của họ” (Mt 14, …14)

Cứ sự thường, sau những phép lạ, đoàn dân lại lũ lượt kéo nhau ra về. Thế nhưng, lần này, chiều đã tàn, mà  đoàn dân có vẻ như chưa muốn giải tán. Các môn đệ của Đức Giêsu không khỏi bối rối và lo lắng. Một bản tường trình ngắn gọn đã được các ông thưa lên Đức Giê-su với lời gợi ý , rằng: “Nơi đây hoang vắng… vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào làng mạc mua lấy thức ăn”.

Quá đúng. Theo đúng “logic” thì nên giải tán đám đông, phần ẩm thực cho họ tự túc, nhẹ gánh nặng, Thầy và trò còn có thời gian nghỉ ngơi sau nhiều ngày mệt nhọc. Hợp lý quá đi chứ!

Thế nhưng, Đức Giê-su  lại truyền cho các ông rằng: “Họ không cần đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn”.  

“Chính anh em hãy cho họ ăn”.  Vâng, một khẩu lệnh gần như bất khả thi. Chỉ có “vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá”… Ai ăn ăn nhịn đây, thưa Thầy!

Ai ăn ai nhịn ư! Không, với Đức Giê-su, Ngài đã có kế hoạch, không một người nào phải nhịn ăn. Tất cả mọi người sẽ được no đủ. 

Như xưa kia ngôn sứ Isaia nói với dân Do Thái về lòng thương xót của Đức Chúa với dân của Người, rằng “Hãy chăm chú nghe Ta, thì các ngươi sẽ được ăn ngon, được thưởng thức cao lương mỹ vị”. Hôm đó, Đức Giê-su đã nói với các môn đệ rằng: “Đem lại đây cho Thầy”.

Vâng, chỉ cần một sự vâng nghe của các môn đệ, một chiều hoàng hôn tím như bừng sáng lên. Từng “nút thắt” của nan đề đã được Đức Giê-su tháo gỡ một cách ngoạn mục. Từng băn khoăn lo lắng của các môn đệ đã được Ngài hóa giải một cách nhẹ nhàng.

Chỉ với năm-chiếc-bánh-và-hai-con-cá. Đức Giêsu đã thỏa mãn cơn đói cho “năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con” (Mt 14,21).

Hãy để cho trí tưởng tượng bay bổng về chốn hoang vắng năm xưa, nơi hơn năm ngàn người “ai nấy đều ăn và được no nê”. Vâng, hãy tưởng tượng rằng, họ vừa ăn vừa cất cao tiếng hát “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi. Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng lo sợ gì ”.

Cũng hãy để cho trí tưởng tượng hướng về nhóm mười hai. Chắc hẳn, nhìn hơn năm ngàn người được ăn no nê, lại còn dư “mười hai giỏ bánh đầy”, các môn đệ không thể không cảm nhận được quyền năng của  Đức Giêsu. Và chắc hẳn, giờ đây, các ông đã nhận ra “lòng trắc ẩn” của Đức Giêsu, khi Ngài nói với các ông rằng, dân chúng “không cần đi đâu cả” và hãy lấy năm chiếc bánh và hai con cá mà “đem lại đây cho Thầy”.

Qua phép lạ này, người viết chợt nhớ đến một bài thơ của  một thi nhân tên là “TT.C”, rằng: “Bánh của người nghèo; Chia cho bạn nghèo. Bánh của tình yêu… Nhân loại vẫn thiếu. Bánh Chúa bẻ ra; Quy tụ cả nhà. Bánh ăn đi đường – Để về quê hương”

**
Thánh sử Mát-thêu khi thuật câu chuyện Đức Giê-su hóa bánh ra nhiều, có viết rằng: Đức Giêsu “cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng”.(Mt 14, 19)

Tại sao? Tại sao Đức Giê-su không gọi  một ông hay một bà nào đó trong đám đông dân, như là một người đại diện, để trao của ăn  cho dân chúng? Vâng, “trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng ”, có phần chắc, Đức Giê-su muốn nói với các môn đệ, rằng,  trong tương lai, họ chính là những người thừa kế vai trò và sứ mạng coi sóc và chăn dắt đoàn chiên của Ngài.

Người môn đệ, hay nói đúng hơn, người mục tử của Đức Giêsu không có chuyện, chỉ vì “nơi đây hoang vắng” và chỉ “có năm chiếc bánh và hai con cá” mà để chiên của mình “tản lạc không người chăn dắt”…

Người mục tử của Đức Giêsu phải là cánh tay nối dài của Ngài.  Phải tiếp tục dang rộng đôi tay “Chăm sóc chiên con của Thầy”. Phải tiên phong trong việc “Chăn dắt chiên của Thầy”.(Ga 21,16-17). Nói tắt một lời, người môn đệ phải là người cộng tác tích cực với Chúa trong chương trình cứu độ.

Vẫn biết rằng, bất cứ thời điểm nào, người môn đệ của Chúa cũng đều phải đối diện với những nan đề của thời đại. Nhưng có phải vì thế mà người môn đệ thoái thác sứ vụ của mình!

Hãy nhìn ngôn sứ Êlisa. Ngài chính là một mẫu mực cho vai trò của người mục tử. Tuy chỉ có “hai mươi chiếc bánh lúa mạch và cốm đựng trong bị”, nhưng nhờ tin tưởng vào Lời Thiên Chúa phán “Họ sẽ ăn và sẽ còn dư”, nên ông ta đã bảo tiểu đồng “Cứ phát cho người ta ăn”. Và quả thật “họ đã ăn và vẫn còn dư, như lời ĐỨC CHÚA phán” (2V 4,44).

Cũng vậy với người mục tử hôm nay, hãy tin tưởng vào Lời Thiên Chúa. Hãy tin tưởng vào Lời Đức Giêsu. Hãy mang tất cả những nan đề của thời đại, những “gian trân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo” v.v… mà đem lại đây cho Thầy Giêsu.

Chỉ khi mang tất cả mọi nan đề, đem-lại-đây-cho-Thầy-Giêsu, vâng, khi đó, người mục tử mới có thể tràn đầy hy vọng rằng, sứ vụ của mình sẽ “toàn thắng”. Tất nhiên, sự toàn thắng đó là “nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta” (Rm 8, 37). 

***
Trở lại câu chuyện  “Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều”, có lẽ nhiều người trong chúng ta, sau khi đọc xong câu chuyện này,  cũng sẽ lại như những người dân chúng xưa kia, tiếp tục  xuýt xoa về những dấu lạ Đức Giêsu đã làm, về quyền năng mà Ngài đã thực hiện, để rồi tìm cách “bắt Ngài đem đi mà tôn làm vua” như xưa kia người ta cũng đã dự định như thế.. 

Nhưng, nếu chỉ có thế thì có lẽ nên “chấm hết” bài suy tư này. Chúng ta nên nhớ rằng, hành động bắt Ngài đem đi mà tôn làm vua của người Do Thái xưa đã dẫn đến kết cuộc là,  Đức Giêsu phải “lánh mặt…” (Ga 6, ..15)

Vâng, qua biến cố này, Đức Giêsu không chỉ chứng tỏ quyền năng của Ngài trên đời sống của nhân loại, nhưng Ngài còn muốn gửi đến mọi người một thông điệp về lòng trắc ẩn, về tình liên đới, lòng quảng đại và tình bác ái. 


Thật vậy, việc không tán thành ý kiến của các môn đệ về việc để dân chúng “vào thôn xóm và làng mạc chung quanh mà mua gì ăn” chính là bài học về lòng trắc ẩn, tình liên đới, lòng quảng đại, tình bác ái mà Đức Giêsu muốn dạy dỗ cho mọi người ở mọi thời đại.
Đức Dalai Lama đã nói: “Yêu thương và lòng trắc ẩn là những thứ thiết yếu, không phải xa hoa. Không có yêu thương và lòng trắc ẩn, nhân loại không thể tồn tại”.

Từ lời nói của Đức Dalai Lama, chúng ta có thể nói rằng: lòng trắc ẩn, tình liên đới, lòng quảng đại và tình bác ái chính là “niềm hy vọng của sự sống cho mọi người”. 

Người cha, trong “dụ ngôn người cha nhân hậu” nếu không có lòng trắc ẩn, lòng quảng đại”, có phần chắc, người con thứ sẽ không có cơ hội để đón nhận “niềm hy vọng của sự sống” cho chính bản thân của anh ta. 

Điều thật đáng tiếc của thời đại hôm nay, đó là, vẫn còn đó một số người, vẫn luôn tìm cách triệt tiêu “niềm hy vọng của sự sống cho mọi người”, cách này cách khác. 

Có một số phụ huynh, chỉ vì thiếu lòng trắc ẩn và lòng xót thương trước người con ngổ ngáo, quậy phá, họ đã không ngần ngại đưa người con đó vào cái gọi là “trường giáo dưỡng”. Than ôi! họ đã không biết rằng, những nơi đó chính những nơi giáo dục con em mình bằng dùi cui, bằng cơ bắp, bằng những tiếng chửi thề… những nơi đủ khả năng để triệt tiêu “niềm hy vọng của sự sống cho mọi người”

Không chỉ ngoài xã hội mà trong giáo hội vẫn còn một số ít người vô tình chôn vùi “niềm hy vọng của sự sống cho mọi người”.
Thế giới của chúng ta đã bước vào thế kỷ hai mươi mốt, thế mà một cô gái lỡ làng lại phải quỳ gối trước mặt cộng đoàn trong nhà thờ để mà thú nhận tội “có thai ngoài giá thú” của mình… 

Xin hỏi, phải chăng vị “thẩm quyền” của ngôi nhà thờ đó không có lòng trắc ẩn và sự bao dung?  Phải chăng vị “thẩm quyền” đó chưa một lần đọc Phúc Âm thánh Gioan - đoạn thứ tám, từ câu thứ nhất đến câu thứ mười một?

Lòng trắc ẩn, tình liên đời, lòng quảng đại, tình bác ái, sự bao dung không dung dưỡng tội lỗi nhưng là nhịp cầu để “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm”. 

Cứ thử tưởng tượng, nếu chúng ta đem tất cả những điều nêu trên làm kim chỉ nam cho cuộc sống hôn nhân gia đình… Vâng, chắc chắn rằng, lời hứa “hứa yêu nhau trao câu thề chung sống muôn đời” là điều luôn được tôn trọng. Chắc chắn rằng, không có người vợ hoặc người chồng nào phải đau khổ mà cất tiếng ca “Biết bao lần em (anh) đã hứa. Hứa cho nhiều rồi lại quên. Anh (em) biết tin ai bây giờ”…

Là một người Kitô hữu, có thể Chúa gọi tôi làm giám mục hoặc linh mục hoặc tu sĩ,  có thể Chúa gọi tôi làm cha, làm mẹ trong một gia đình v.v… Dù là ơn gọi nào, vâng, thánh Phaolô có lời khuyên rằng “anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi…” Ngài nói tiếp  “… để chia sẻ cùng một niềm hy vọng” (Ep 4, 4). 

Không phải chia sẻ niềm hy vọng nào khác, mà chính là chia sẻ “niềm hy vọng của sự sống cho mọi người”.

Vâng, khi ta chia sẻ “niềm hy vọng của sự sống cho mọi người” chính là lúc ta đã nối dài cánh tay của Đức Giê-su bằng chính cánh tay của ta.

Đừng nghĩ rằng, để nối dài cánh tay của Đức Giê-su bằng chính cánh tay của ta, chúng ta phải giàu có như Bill Gates, như Rockefeller, như những ông hoàng Ả-rập v.v… Và phải tin chắc rằng, Đức Giêsu không khuyến kích cái ý nghĩ điên rồ của cô Katie-Ann Lamb, 21 tuổi, sinh viên Đại học Newcastle. Đã cùng với mười hai nữ sinh khác, chụp những bức ảnh nude nghệ thuật cho các báo ở Anh và Australia , in thành sách ảnh, lịch để bán và chuyển tiền vào quỹ ủng hộ cho các bệnh nhân.(nguồn internet).

Hãy nhớ lại coi. Bà góa chỉ với “hai đồng bạc” dâng cúng, thế mà đã được Đức Giêsu cho rằng “đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”(Mc 12, 43).

Vấn đề không phải là “con số”. Nhưng vấn đề là chúng ta có cầm hai-đồng-bạc mà “đem đến cho Chúa” không!

Các môn đệ xưa đã cầm năm chiếc bánh và hai con cá mà “đem đến cho Thầy Giêsu”. Kết quả ra sao, chúng ta đã rõ.

Còn chúng ta hôm nay… Nếu chúng ta cũng cầm những gì, dù là nhỏ bé nhất, dù chỉ là một nụ cười, dù chỉ là một sự thứ tha, dù chỉ là một chút hy sinh, của chúng ta, mà “đem đến cho Chúa”… Hãy tin rằng, không chỉ là năm ngàn người, nhưng sẽ còn hơn thế nữa, họ sẽ được no nê, không chỉ no nê cơm bánh, mà họ còn no nê lòng trắc ẩn, lòng xót thương, lòng quảng đại và lòng bao dung của chúng ta. 

Xưa, các môn đệ đã vâng lệnh Chúa truyền mà đem năm cái bánh và hai con cá “lại đây cho Thầy”. Nay, chúng ta cũng đem những tấm lòng nhận hậu của mình “lại đây cho Chúa” chứ!
Vâng, đừng chần chờ gì nữa, hãy vâng lệnh truyền của Chúa mà “đem lại đây cho Thầy”

Petrus.tran

Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014

Cứ để cả hai cùng lớn lên…



Chúa Nhật XVI – TN – A

Cứ để cả hai cùng lớn lên…

Kiên nhẫn nghĩa là gì? Theo Wikipedia thì, kiên nhẫn hay nhẫn nại là trạng thái của sự chịu đựng trong những hoàn cảnh khó khăn. Có nghĩa là kiên trì đối mặt với sự chậm trễ hoặc hành động khiêu khích, không biểu hiện sự khó chịu hoặc giận dữ một cách tiêu cực.  

Có thể nói rằng, kiên nhẫn là một đức tính được người đời ca tụng nhiều nhất. Kiên nhẫn là một nhân đức thiết yếu. Thiếu nó, chúng ta không thể sống nổi giữa một thế giới đầy bất toàn. Cato the Elder nói: “Kiên nhẫn là đức tính lớn nhất trong mọi đức tính.” 

Biết là vậy, thế nhưng, trong cuộc sống thường nhật, mấy ai trong chúng ta có được sự kiên nhẫn tối thiểu. Trước những kẻ thù hoặc những kẻ vô tình hay hữu ý tìm cách hãm hại ta, bôi xấu ta, thường thì bên ngoài, ta có vẻ nhịn nhục, nhưng sự bực tức vẫn ngấm ngầm bên trong. Mà, nếu trong tâm vẫn còn sự tức giận thì chúng ta chưa phải là người có đức tính kiên nhẫn.

Jean Jacques Rousseau nói: “Patience is bitter, but its fruit is sweet - Sự kiên nhẫn đắng chát, nhưng quả của nó lại ngọt”.
“Sự kiên nhẫn đắng chát, nhưng quả của nó lại ngọt” ư! Thưa, đúng vậy. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng, những người “nhờ có đức tin và lòng kiên nhẫn” quả ngọt mà họ sẽ được được thừa hưởng, chính là “các lời hứa làm gia nghiệp” (x.Dt 6, 12)

Với  Đức Giê-su, khi còn tại thế, Ngài không chỉ đề cao mà còn khuyên răn mọi người hãy có lòng kiên nhẫn. Mượn một hình ảnh rất đời thường, hình ảnh “cỏ lùng và lúa”, Đức Giê-su đã cho thấy sự cần thiết cần phải có lòng kiên nhẫn,  dẫu cho có phải thi thố lòng kiên nhẫn trong một hoàn cảnh nghiệt ngã nào đó.

Câu chuyện “cỏ lùng và lúa”, mà Đức Giê-su đã kể, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (Mt 13, 24-43).
**
Chuyện được kể rằng: Vào một ngày nọ, Đức Giêsu trình bày cho dân chúng nghe một dụ ngôn như sau: “Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình”.
Vâng, thật tuyệt vời khi Đức Giê-su đã dùng phương pháp giáo dục có hiệu quả và rất phổ biến hiện nay, đó là  là phương pháp thính thị. Với hình ảnh “gieo giống tốt trong ruộng mình”, ai trong chúng ta lại không nhận ra rằng, rồi đây, khi mùa gặt đến,  người chủ ruộng sẽ gặt hái được những hạt lúa tốt chắc mẩy.

Nghĩ là như vậy, thực tế thì lại khác. Câu chuyện được kể tiếp rằng: “khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa rồi đi mất”.(Mt 13, 24-25).

“Gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa rồi đi mất” ư! Quả đúng là quân đểu giả, ném đá giấu tay. Ừ, mà tại sao kẻ thù không ở lại nấp vào chỗ kín nào đó chờ xem phản ứng của chủ ruộng?

Trả lời cho sự kiện này, Lm. Nguyễn Tầm Thường chia sẻ rằng: “Có thể kẻ thù bỏ đi vì biết chắc chắn cỏ sẽ mọc, nó đã biết trước thành công.  Nếu đấy là chuyện linh hồn ta, ta không có năng lực nào chống lại hay sao? Như vậy quá buồn.

Có thể kẻ thù vội bỏ đi, sợ chủ vườn nhận diện được nó. Nếu vậy, sự vắng mặt của kẻ thù là nguyên nhân thành công. Vắng mặt nguy hiểm hơn có mặt. Hình ảnh này cũng quá thực và quá thường trong cuộc sống.

Nhiều hoàn cảnh thấy như êm đềm nhưng thật sự không phải thế. Nhiều gia đình nhìn bề ngoài không bóng dáng sóng gió, thật sự không phải thế. Không nhận diện được bóng kẻ thù, bất chợt một ngày thấy cỏ lên cao, lúc ấy quá muộn cho một chuyện buồn rồi”. (*)

Trở lại câu chuyện cỏ lùng. Quả đúng là “quá muộn cho một chuyện buồn” đối với người chủ ruộng. Chuyện buồn đó chính là, “khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện”.

Đối với một nông gia, quả thật, đây là một điều hết sức phiền toái. Thật vậy, sự phiền toái đó biểu lộ qua thái độ của người đầy tớ trong dụ ngôn, khi anh ta đến gặp ông chủ của mình và nói: “Thưa ông, ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không ?”

Cứ sự thường, phải đi gom lại. Phải “nhổ” sạch cái đám cỏ lùng. Thế nhưng,  thật khó để mà  làm công việc này, khó là bởi, hình dáng cỏ lùng và lúa mì rất giống nhau. Thật vậy, theo sách vở ghi lại, cỏ lùng là một loại cỏ ở vùng Trung Đông, hình dáng rất giống cây lúa mì đến nỗi người địa phương gọi cây cỏ lùng nầy là cây lúa mì hoang. 

Gom chúng lại ư! Làm sao nhận diện… Ngộ nhỡ nhận lầm thì sao đây! 

Với quan điểm của ông chủ ruộng, ông ta còn có một nỗi sợ khác, ông ta: “sợ rằng khi gom cỏ lùng , các anh làm bật luôn rễ lúa”. Chính vì thế, ông ta đã đưa ra một quyết định rất khôn ngoan, đó là: “Đừng nhổ”.
***
Hôm đó, Đức Giê-su đã giải thích dụ ngôn như sau: “Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người. Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái ác thần. Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là ma quỷ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên thần”. 

Sau đó, Ngài nói tiếp: “Vậy, như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác mà tống ra khỏi Nước của Người, rồi quăng chúng vào hồ lửa. Ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời trong Nước của Cha họ.”

Hình ảnh “Người gieo giống, đồng ruộng,  hạt giống tốt, cỏ lùng, kẻ gieo cỏ lùng, mùa gặt, thợ gặt….” Vâng, chỉ với những hình ảnh đời thường, nhưng qua lời giải thích, Đức Giêsu đã trình bày cho mọi người thấy một chân lý ngàn đời, đó là: “Thiên Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu, Người đại lượng và chan chứa tình thương, Người không nỡ với ta như ta đáng tội và không trả cho ta theo lỗi của ta.” (Tv 103, 8-10)

Cho nên, đừng ngạc nhiên khi qua dụ ngôn,  Đức Giêsu khuyên “Đừng nhổ!”. Nhưng khuyên “đừng nhổ” không có nghĩa là không nhổ. Không nhổ là vì : “Chúa nương tay với muôn loài” (Kn 12,…16). Và rằng: Thiên Chúa nếu có muốn “trừng phạt” thì “Ngài trừng phạt chúng từ từ cho chúng có cơ may hối cải” (Kn 12,10).

Hôm đó, kết thúc phần giải thích dụ ngôn, Đức Giê-su, thêm một lần nữa, nhấn mạnh rằng: “Ai có tai thì nghe” (Mt 13, …43)

****
“Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện”.
Vâng, hôm nay, “kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người” vẫn tiếp tục gieo, và “kẻ thù đã gieo cỏ lùng là ma quỷ” vẫn tiếp tục thực hiện mưu đồ đem tối của chúng.

Thực tế đã cho chúng ta thấy điều đó đúng. Hôm nay, hạt giống tốt vẫn chỉ có mỗi hạt giống mang tên Ki-tô-hữu. Trái lại, cỏ lùng của ngày hôm nay thì rất đa dạng. Có thứ cỏ mang tên Marxist, có thứ cỏ mang tên Communism, có thứ cỏ mang tên “chủ nghĩa hiện sinh’, có thứ cỏ mang tên “văn hóa sự chết” v.v… và v.v…

Vấn đề của chúng ta hôm nay là gì? Thưa, đó là, hãy cảnh giác, như lời Lm Nguyễn Tầm Thường đã khuyên ta cảnh giác, rằng: “Mầu cỏ quá xanh, mầu lúa quá xanh.  Ta ngỡ cuộc sống là thế. Cái mơ hồ lẫn lộn màu xanh hạnh phúc và màu xanh ảo ảnh làm người ta lầm. Ông chủ không nhìn kỹ lúa mình, xa xa ngỡ màu xanh là chân thật của lúa. Chuyện ấy cũng quá thật trong đời sống tâm hồn. Ta thiếu hồi tâm rất nhiều trong đời sống. Chuyện cá nhân, chuyện gia đình, chuyện tôn giáo, chuyện đất nước.  Lúc đổ  vỡ mới nhìn ra, bấy giờ quá tiếc. Ôi! cỏ đã gieo lâu rồi”. (**) Quả thật lời khuyến cáo của Lm Tầm Thường không “tầm thường” chút nào.

Đừng để mình lung lạc niềm tin khi thấy “con cái Ác Thần” làm mọi điều gian ác, làm gương mù gương xấu, thế mà vẫn không bị “nhổ bỏ”, vẫn không bị “quăng vào lò lửa”. Đừng ganh tị khi ta thấy họ vẫn có một cuộc sống hưng thịnh, giàu sang…

Kinh Thánh có chép rằng: “Bọn bất nhân dầu sởn sơ như cỏ, phường gian ác có đua nở khoe tươi, cũng là để bị diệt trừ vĩnh viễn” (Tv 92,8).

Trước mặt quan lớn Philato, Đức Giêsu nói : “Nước tôi không thuộc về thế gian này”.(Ga 18,36). Cũng vậy, là một Kitô hữu, chúng ta tuy sống giữa thế gian, nhưng đừng bị lệ thuộc bởi thế gian và những sự xấu xa của nó.

Nếu trong dụ ngôn cỏ lùng, người chủ khuyên anh đầy tớ “đừng nhổ”. Thì hôm nay, thánh Phaolô cũng có một lời khuyên cho chúng ta: “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì là đẹp lòng Thiên Chúa, cái gì là hoàn hảo” (Rm 12,2).

Khi chúng ta “nhận ra đâu là ý Thiên Chúa”, đó chính là lúc hạt-lúa-đức-tin của chúng ta trở  thành cây lúa trĩu nặng những hạt-bác-ái, hạt-bình-an, hạt-nhẫn-nhục, hạt-từ-tâm. 

Một cây lúa trĩu nặng những hạt như thế, vâng, hãy tin rằng, chúng ta đủ tự tin để sống trên thửa ruộng trần gian này, chờ đến “mùa gặt”, một mùa gặt mà những loại “cỏ dại” sẽ bị “gom lại, bó thành bó mà đốt đi”, còn lúa thì sẽ được “thu vào kho lẫm” – kho lẫm Nước Trời. 

Còn hôm nay, hãy nghe lời Đức Giê-su phán: “Cứ để cả hai cùng lớn lên…”

Petrus.tran
----------------------
 (*) và (**) Nhổ Cỏ - tác giả Lm Nguyễn Tầm Thường.







Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một.

  Chúa Nhật XXX – TN – A Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một Đọc các sách Tin Mừng, chúng ta được biết, sứ vụ rao giảng Tin Mừng của...