Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2016

Hãy là chứng nhân về những điều này.

Hãy là chứng nhân về những điều này.

Chúa Nhật hôm nay (08/05/2016), toàn thể Giáo Hội mừng kính trọng thể Chúa Giê-su lên trời. Giáo Hội Công Giáo tin rằng: Đức Giêsu “…Người đã từ trời xuống thế. Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria, và đã làm người. Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng ta, thời quan Phongxiô Philatô; Người chịu khổ hình và mai táng, ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh. Người lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha, và Người sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết…”

Niềm tin “Chúa Giê-su lên trời” không do Giáo Hội tự đặt ra, nhưng do chính các tông đồ truyền dạy. Thánh Luca, người được biết đến là môn đệ thánh Phao-lô, có ghi lại biến cố này như sau: Đức Giê-su “Người được cất lên ngay trước mắt các (môn đệ), và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa” (x.Cv 1, 9-11)

** Thật ra, những ngày đầu, sau khi Đức Giê-su Phục Sinh, có thể nói, các môn đệ vẫn chưa nghĩ rằng, rồi đây Thầy của mình sẽ “lên trời”. Chứng kiến tận mắt sự Phục Sinh của Ngài, với hai môn đệ trên đường về Emmau, tâm hồn họ vẫn chỉ quanh quẩn trong niềm vui “nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh”.

Còn mười một vị trong nhóm mười hai ư! Vâng, có thể nói, sự kiện Thầy Giê-su Phục Sinh đã đem đến cho các ông niềm vui khôn tả, với tin tưởng và hy vọng rằng, đã đến lúc “Thầy khôi phục vương quốc Israerl”.

Nhưng… không… đó không phải là điều Đức Giêsu sẽ thực hiện. Bốn mươi ngày qua, kể từ khi sống lại từ cõi chết, Đức Giêsu không ngừng hiện ra với các môn đệ. Nhưng, mỗi khi hiện ra với các ông, Ngài chưa một lần có những lời nói hay việc làm ngụ ý như thế. Trái lại, Đức Giêsu đã cảnh báo với các ông rằng: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt…”

Điều Đức Giêsu chú trọng đến, đó là những lời dạy dỗ và giải thích Kinh Thánh. Thật vậy, trong lần hiện ra cuối cùng, Đức Giêsu khuyến cáo các ông rằng “Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách luật Môsê, các sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm”.

Không thấy tác giả Tin Mừng nói Đức Giê-su đã trích dẫn chương nào, đoạn nào trong sách Thánh Vịnh, nhưng chúng ta có thể nghĩ rằng, chắc hẳn, Ngài đã nói đến chương 68, câu 19: “Ngài đã lên cao… ở bên cạnh CHÚA TRỜI”. Và như thánh sử Luca cho biết, Ngài đã “mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh” (Lc 24, 44-45).

Mở trí cho các ông, để các ông biết rằng: Đức Giê-su đã Phục Sinh. Nhưng, Ngài không Phục Sinh chỉ để quanh quẩn và cùng các ông “lang thang trên đồi vắng, qua rừng sâu”, tiếp tục thi thố những phép lạ, thu phục nhân tâm, hầu khôi phục vương quốc Israel, nơi trần thế này.

Mở trí cho các ông, để các ông nhớ lại những gì Ngài đã nói với các ông, trong bữa tiệc mừng lễ Vượt Qua, trước lúc tử nạn, rằng: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi… Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.” Và rằng: “Thầy ra đi thì có lợi cho anh em” (Ga 16, 7). Lợi gì? Thưa, như lời Đức Giê-su đã hứa, đó là: “…dọn chỗ cho anh em… để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (x.Ga 14, 2-3)

Và, cuối cùng, mở trí cho các ông, để các ông hiểu đến tầm quan trọng về “Đấng Bảo Trợ” mà các ông sẽ “nhận được”, đó chính là “sức mạnh của Thánh Thần khi người ngự xuống” trên các ông. Trở lại câu chuyện Đức Giê-su lên trời. Vâng, Kinh Thánh đã chép rằng, “Đức Giê-su dẫn các ông tới gần Bê-ta-ni-a, rồi giơ tay chúc lành các ông. Và khi đang chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời” (x.Lc 24, 50-51).

Chứng kiến tận mắt sự kiện này, câu chuyện được kể tiếp rằng, các môn đệ “trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỉ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa” (Lc 24, 52).

*** Qua biến cố Đức Giê-su lên trời, thánh Phao-lô đã để lại cho chúng ta một lời chia sẻ sâu sắc, rằng: “Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, mà Người đã biểu dương nơi Đức Ki-tô, khi làm cho Đức Ki-tô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt bên hữu Người trên trời” (Ep 1, …19-20). “Người” ở đây, thánh Phao-lô ngụ ý nói đến “Chúa Cha”.

Nhắc đến điều này để làm gì? Thưa, để nói rằng: sẽ thật là ấu trĩ khi nghĩ rằng sự lên trời của Đức Giêsu có nghĩa là “Ngài bay bổng lên không trung và các tầng mây quyện quanh thân Ngài.” – Suy nghĩ như thế là một cách suy nghĩ vô ý thức. Trong Kinh Thánh, từ ngữ “trên trời” có nghĩa là chỉ nơi Thiên Chúa hiện diện. “Lên trời” là đi vào sự hiệp thông tuyệt hảo và vĩnh cửu với Chúa Cha và được chia sẻ với Chúa Cha quyền năng và vinh quang. Như có lời được ghi trong Thánh Vịnh: “Sấm ngôn của ĐỨC CHÚA ngỏ cùng Chúa Thượng tôi: Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân con”.

Còn với Lm. Charles E.Miller, qua một bài giảng, đã hướng chúng ta đến “lời chỉ bảo sau hết” của Đức Giê-su, (lời chỉ bảo: chính anh em là chứng nhân về những điều này), khi ngài giảng rằng: “Ta phải nhìn nhận rằng, Chúa Giê-su đã làm tốt phần việc của Người để thực hiện kế hoạch của Chúa Cha. Rày là đến phần chúng ta. Anh chị em phải là những người nhận trách nhiệm về sứ vụ của Giáo Hội”.

Ai… ai sẽ là “những người nhận trách nhiệm về sứ vụ của Giáo Hội?”. Thưa, không nhất thiết phải là một giáo sĩ, một giám mục hay một linh mục mới có thể nhận trách nhiệm, mà là tất cả mọi người Ki-tô hữu.

Theo tông huấn Giáo hội tại Châu Á ở số 45, do Đức Gioan Phaolo II viết, thì: “Như Công đồng Va-ti-can II đã chỉ rõ, ơn gọi của người giáo dân đặt họ ngay vào trong thế giới để thi hành những phận vụ đa dạng nhất, chính tại đây họ được mời gọi truyền bá Tin Mừng của Đức Giê-su Ki-tô (x. Hiến chế “Ánh sáng muôn dân”, 31).

Do ơn sủng và do tiếng gọi của bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức, mọi giáo dân đều là nhà truyền giáo; và địa bàn truyền giáo của họ là cả một thế giới rộng lớn và phức tạp như: chính trị, kinh tế, công nghiệp, giáo dục, truyền thông, khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật và thể thao… Tôi xin gửi lời cám ơn của toàn thể Giáo hội đến họ, và tôi khuyên tất cả các giáo dân hãy nhận lấy vai trò riêng của mình trong đời sống và sứ mạng của Dân Chúa, là làm chứng cho Đức Ki-tô ở bất cứ nơi nào mình có mặt”. (nguồn: Tông Đồ Giáo Dân Thực Hành). “…Làm chứng cho Đức Ki-tô ở bất cứ nơi nào mình có mặt”.

Vâng, không nhất thiết chúng ta phải có mặt ở Phi Châu, ở Trung Đông hay một nơi nào đó trên thế giới. Trước nhất và quan trọng nhất, đó chính là trong gia đình chúng ta. Chắc hẳn ai trong chúng ta đều biết rằng, gia đình là rường cột xã hội, là nền tảng cộng đồng, là chiếc nôi sự sống, là nhà giáo dục đầu tiên, và tất nhiên cũng là một tập hợp để hình thành Giáo Hội. Thế nên, hãy tự hỏi mình rằng: “Tôi có là một chứng nhân cho Đức Ki-tô, ngay trong gia đình tôi?”

Mà, “làm chứng nhân” ngay trong gia đình nào có khó chi!

Vâng, chỉ cần một cử động của tâm hồn, một tâm hồn gắn bó với Đức Giê-su Ki-tô, với lời nguyện: “Xin Người soi lòng mở trí” như xưa “Người (đã) mở trí cho các môn đệ hiểu Kinh Thánh”, để chúng ta thấy rõ “đâu là niềm hy vọng… đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú… đâu là quyền lực vô song Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu” (x.Ep 1, 18). Đâu là “Niềm hy vọng… gia nghiệp vinh quang phong phú… quyền lực vô cùng lớn lao Thiên Chúa sẽ thi thố cho chúng ta?” 

Thưa, rất rõ ràng, tất cả những điều đó đã được Đức Giêsu gói gọn trong một bài giảng, một bài giảng chúng ta quen gọi là “bài giảng trên núi” (x.Mt 5, 1-12).

Nói cách khác, sống một cuộc sống dựa vào những lời dạy của Đức Giêsu trong “bài giảng trên núi”, những lời truyền dạy như: “hiền lành, khao khát nên người công chính, xót thương người, có tâm hồn trong sạch, xây dựng hòa bình” v.v… đó chính là một cuộc sống “chứng nhân” trong gia đình, tuyệt hảo nhất.

Hãy tưởng tượng, khi đức tính “hiền lành” hiện diện trong tâm hồn mỗi thành viên trong gia đình, điều gì sẽ xảy ra? Phải chăng là sự “nóng giận” sẽ bị đẩy lui? Khi sự sự nóng giận bị đẩy lui, phải chăng, sẽ không dẫn đến bất hòa, khó dẫn tới bất đồng? Cũng vậy, với tất cả thành viên trong gia đình đều có “tâm hồn trong sạch”, điều gì sẽ xảy ra? Phải chăng là sẽ chẳng có ai sống “dâm bôn, phóng đãng”? Phải chăng sẽ không có cảnh “ông ăn chả, bà ăn nem”? Phải chăng là chẳng cần dùng đến “tường lửa” để chặn những trang web đen?

Có lẽ, mỗi chúng ta đều cất tiếng trả lời, rằng: “Đúng vậy”. Vậy thì, hôm nay, sau khi mừng kính trọng thể lễ Chúa Giê-su lên trời, chúng ta đừng như các môn đệ xưa, “đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi” nữa, mà hãy nhìn vào quyển Kinh Thánh, nơi có những lời truyền dạy của Ngài, (tám mối phúc thật, chẳng hạn), và tự hỏi: Tôi có là “chứng nhân về những điều (Ngài dạy)?”

Vâng, đó là lời-chỉ-bảo-sau-hết Đức Giê-su đã truyền dạy cho các tông đồ xưa, và cho chúng ta, hôm nay, rằng: “Anh em hãy là chứng nhân về những điều này”.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2016

Đức Giê-su: cội nguồn của sự bình an.

Chúa Nhật VI – PS – C

Đức Giê-su: cội nguồn của sự bình an.

Hôm nay bạn có bình an không? Hay bạn đang cảm thấy có điều gì đó bất an? Vâng, quả là một câu hỏi khó trả lời, khó là bởi, chúng ta đang sống trong một xã hội đầy bất an và bất ổn, những bất an và bất ổn đến từ muôn phía. Có những bất ổn đến từ thiên nhiên như: động đất, mưa bão, sóng thần, môi trường ô nhiễm, khiến nảy sinh bệnh tật chết chóc. Có những bất an do con người gây ra, như: chiến tranh, tai nạn giao thông v.v… hỏi, kiếm đâu ra sự bình an!

Thật ra, ngay từ ngàn xưa, thế giới này, không ngày nào mà không có bất an và bất ổn. Và, lịch sử con người, có thể nói: là một lịch sử của triền miên những bất an và bất ổn.

Trong viễn cảnh đó, có bao giờ chúng ta tự hỏi: Ở đâu mới thật sự có an bình? Ở đâu mới thật sự đem đến cho ta sự bình an đích thật? Làm thế nào để tôi có sự bình an trong một thế giới đầy bất an và bất ổn?

Vâng, Kinh Thánh, và điển hình là câu chuyện về vua David, cho ta câu trả lời. Thật vậy, David là một con người cũng đã từng trải nhiều sự bất ổn trong cuộc đời mình, (sự truy sát của vua Sao-lê, và sau này đã bị chính con ruột mình là Apsalon, phản nghịch), ông ta đã để lại cho hậu thế một lời khuyên, rằng: “Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi. Hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn”.

“Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi…”, thật vậy, kinh nghiệm này, không chỉ có ở David, nhưng còn có ở các vị ngôn sứ xưa kia. Chính ngôn sứ Isaia cũng đã khẳng định, rằng: Trong Thiên Chúa; “Người là Đấng Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn đời, là Chúa Bình An.” (Is 9, 5)

“Trong Thiên Chúa – Chúa Bình An”, đó là một hồng phúc Thiên Chúa ban cho con người. Ngay trong đêm Con Thiên Chúa giáng trần, muôn vàn thiên binh cùng với thiên sứ đã đồng thanh cất tiếng loan báo hồng phúc đó: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”.

Lời ca vang đó đã được Đức Giê-su, Con Một Thiên Chúa, tiếp tục tác động qua chính cuộc sống của mình, để con người nhờ đó, có được sự bình an.

Thật vậy, trong những ngày ra đi rao giảng Tin Mừng, Đức Giê-su đã cho mọi người thấy, Ngài thật sự là “Chúa Bình An”, khi cất tiếng mời gọi mọi người, rằng: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ”. Ngài đã cho mọi người thấy mình chính là “Chúa của Bình An”, khi lớn tiếng khẳng định: “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (x.Ga 10, 10).

Còn các môn đệ, thì sao? Vâng, họ là những người khiến cho Đức Giê-su trăn trở nhất. Là tập hợp của những con người nhiều cá tính, mạnh mẽ lẫn yếu đuối, can đảm lẫn nhát đảm, thì lại càng cần có được sự bình an.

Thế nên, trước giờ phút từ biệt, giờ phút mà Đức Giê-su sẽ “đi dọn chỗ” cho các ông, “để Ngài ở đâu, các ông cũng ở đó”. Vâng, hôm đó, Đức Giê-su, Chúa của bình an, đã thổ lô với các môn đệ, rằng: “Thầy để lại bình an cho anh em”.

Mười một con người (Giuđa đã bỏ đi), “những người bé nhỏ của Đức Giê-su”, họ đã nghe rõ mồn một lời Ngài công bố: “Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi” (x.Ga 14, 27)
**
“Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi”. Có thể nói, Đức Giê-su đã ban cho các môn đệ một thứ bình an rất đặc biệt, đó là: “bình an của lòng thương xót”.

Thì đây, hãy nhìn xem, làm sao Đức Giê-su không thương xót được, khi tâm hồn các môn đệ lúc đó, đúng là… đúng là các ông đang “xao xuyến và sợ hãi”. “Có một người trong anh em sẽ nộp Thầy”. Và rồi đến anh cả Simon Phê-rô: “Anh sẽ thí mạng vì Thầy ư? Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: gà chưa gáy, anh đã chối Thầy ba lần”.

Và, bốn mươi ngày, sau khi Thầy Giê-su Phục Sinh, hồng phúc “bình an của lòng thương xót” thật sự ngự trị trong con người các môn đệ.

Chuyện được ghi lại, rằng: hôm đó, Đức Giê-su đã hiện đến và nói với các ông: “Bình an cho anh em. Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: anh em hãy nhận lấy Thánh Thần…” (x.Ga 20, 21).

Chính nhờ có sự bình an của lòng thương xót, sau này, với tác động của Thánh Thần Chúa, các tông đồ đã tỏ lòng thương xót của mình đến những người tín hữu (không phải gốc là người Do Thái), bằng một quyết định: “quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác (như cắt bì), ngoài những điều (thật) cần thiết”.

Cũng như Thầy Giê-su đã chúc bình an cho các ông. Các ông cũng đã chúc những người tín hữu của mình, lời chúc “Chúc anh em an bình” (x.Cv 15, …29).

***
Xưa, Đức Giê-su nói với các tông đồ: “Thầy ban cho anh em bình an của Thầy”. Rồi đến các tông đồ nói với các tín hữu tiên khởi: “Chúc anh em an bình”.

Và, hôm nay, là các linh mục. Trong thánh lễ, trước lúc mời các tín hữu “dự tiệc chiên Thiên Chúa”, các vị chủ tế có lời chúc đến mọi người, rằng: “Bình An của Chúa hằng ở cùng anh chị em”. Cộng đồng tín hữu đáp: “Và ở cùng cha”.

Đức Giê-su, qua các linh mục, Ngài vẫn tiếp tục ban bình an cho chúng ta, và vẫn là một thứ bình an không theo kiểu thế gian.

Vâng, có bao giờ chúng ta tự hỏi, thế nào là sự bình an “không theo kiểu thế gian?

Phải chăng, đó chính là một sự bình an không dựa trên “sức mạnh của họng súng?” Không dựa vào “quyền lực của thế gian?” Không thỏa hiệp với bạo quyền? Không cúi đầu trước dối trá? Không quay lưng trước sự thật?

Thưa, đúng vậy. Sự bình an “không theo kiểu thế gian”, đó là đặt Đức Giê-su chính là trọng tâm của cuộc đời mình. Tại sao? Thưa, vì Ngài “là đường, là sự thật và là sự sống”, là cội nguồn để có sự bình an đích thực, cho cuộc đời này.

Làm thế nào để biết tôi đã đặt Đức Giê-su chính là trọng tâm của cuộc đời mình?

Thưa, nguyên tắc căn bản, đó là: siêng năng cầu nguyện, đọc Thánh Kinh, tham dự Tiệc Thánh Thể, (và cuối cùng,) thể hiện lòng thương xót với tha nhân. Bởi, bình an của Đức Giê-su ban cho ta, đó là: “bình an của lòng thương xót”.

Điển hình cho những người đã áp dụng vào “nguyên tắc căn bản” nêu trên, đó là cộng đoàn tín hữu tiên khởi. Vâng, các vị đó đã: “chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng”. Và, kết quả mỹ mãn, đã được thánh sử Luca gói gọn trong năm chữ: “được toàn dân thương mến” (x. Cv 2, 42-47)

Sẽ là sai lầm khi chúng ta cho rằng, để có được một cuộc sống bình an, cần chọn cho mình “con đường rộng rãi và thênh thang”, một con đường được mô tả là đầy cảnh đẹp, với những lạc thú, có tiếng nhạc xập xình, đủ thứ trò mua vui tiêu khiển. Thay vì nghe theo Lời Chúa (Thánh Kinh) chọn “con đường hẹp”, một con đường đầy gai góc và đá sỏi, nhiều đau khổ, nhiều hy sinh và từ bỏ v.v…

Tại sao? Thưa, bởi vì, con đường rộng rãi thênh thang, như lời Thánh Kinh nói: “thì đưa đến diệt vong”, trái lại, con đường hẹp “thì đưa đến sự sống”, tất nhiên, một sự sống an bình.

Một ví dụ điển hình về một con người đã chọn cho mình “con đường rộng rãi thênh thang”, để rồi tuyệt vọng, và cuối cùng dẫn đến cái chết.

Con người đó chính là siêu sao điện ảnh Mỹ: Marylin Monroe. Ngày 5 tháng 8 năm 1962, cô Marylin Monroe đã tự tử. Tại sao cô ta lại tự kết liễu đời mình? Phải chăng là vì cô ta nghèo túng, và không có danh vọng? Thưa không, trong bức thư tuyệt mạng, người ta chỉ thấy lời thở than của cô ta, rằng, “Tôi không tìm thấy sự bình an”. Thế đấy!

Một ví dụ khác, về một con người chọn “con đường hẹp”, nhưng cuối cùng, đã trở thành một con người bất tử và được cả thế giới ngưỡng mộ, (một con người đã làm những việc phi thường), con người đó chính là Mẹ Teresa Calcutta.

Tại sao bà ta chỉ là một con người tầm thường mà lại là người làm được những việc phi thường? Thưa, rất giản dị, bà ta đã có được sự “bình an của lòng thương xót”. Thật đáng để chúng ta noi theo.
Không có sự bình an, sẽ nảy sinh sự bất an, dễ dẫn tới bất hòa, khó ngăn cản bất đồng, điều tất yếu sẽ xảy ra, ở phạm vi lớn, đó là: chiến tranh, bạo lực. Ở phạm vi cá nhân, đó là: tình yêu, hôn nhân gia đình dễ đổ vỡ.

Vâng, xin mượn một nhận xét rất dí dỏm của một tờ báo, xuất bản vào những thập niên cuối của thế kỷ trước, để kết luận, rằng: “thế kỷ 20 nhiều người giàu hơn, mập hơn, nhưng không hạnh phúc hơn”.
****

Giờ đây, chúng ta hãy để một phút thinh lặng và tự hỏi mình rằng: đã bao nhiêu năm là Ki-tô hữu: “Tôi đã thật sự bình an trong Chúa”?

Nếu chưa? Hãy tự hỏi điều gì khiến tôi không có sự bình an trong Chúa? Phải chăng là vì “tội lỗi” ngăn cản chúng ta tiếp cận với Ngài?

Vâng, có phần đúng đấy. Điển hình là nguyên tổ Adam và Eva. Ông bà, khi “nghe thấy tiếng Đức Chúa… (liền) trốn vào giữa cây cối trong vườn”, cũng chỉ vì đã phạm tội.

Rồi đến trường hợp người con của ông ta là Cain. Anh ta đã “phải trốn tránh để khỏi giáp mặt (Thiên Chúa)” cũng chỉ vì phạm tội. (x.St 4, …14).

Nếu biết rằng, chính tội lỗi đã ngăn cản chúng ta tiếp cận Thiên Chúa, thì, đừng chần chờ gì nữa, chỉ cần một động tác của tâm hồn. Vâng, một động tác như động tác của người con thứ trong dụ ngôn người cha nhân hậu, cất tiếng lên thưa với Chúa, rằng: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha”.

Hãy nhìn xem, điều gì đã xảy ra sau lời thú tội chân thành như thế? Thưa, Đức Giê-su cho biết: 

“Người cha liền bảo các đầy tớ: mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng” (x.Lc 15, 11- 30)

Vâng, trong câu chuyện, Đức Giê-su không nói ra, nhưng chúng ta có thể tin rằng, người con thứ, sau khi có sự tái hợp mật thiết với người cha, anh ta đã có được sự bình an, “bình an của lòng thương xót”.

Cuối cùng, thưa bạn, bạn có biết người cha trong câu chuyện này, Đức Giê-su muốn ám chỉ đến ai? Phải chăng là chính Ngài! Thưa, đúng vậy.

Vậy thì, có gì để chúng ta nghi ngờ rằng: Đức Giê-su chính là “Chúa của Bình An”. Là “cội nguồn của sự bình an”.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2016

Yêu thương: dấu hiệu người môn đệ của Chúa.

Yêu thương: dấu hiệu người môn đệ của Chúa.

Giáo lý Công Giáo dạy rằng: Đạo Đức Chúa Trời có mười điều răn.
Thứ nhất: Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến người trên hết mọi sự. Thứ hai: Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ. Thứ ba: Giữ ngày Chúa Nhật. Thứ bốn: Thảo kính cha mẹ. Thứ năm: Chớ giết người. Thứ sáu: Chớ làm sự dâm dục. Thứ bảy: Chớ lấy của người. Thứ tám: Chớ làm chứng dối. Thứ chín: Chớ muốn vợ chồng người. Thứ mười: Chớ tham của người.

Mười điều răn ấy tóm về hai này mà chớ: trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen.

“Mến Chúa và Yêu người”. Vâng, nó như hai mặt của đồng tiền, và luôn phải song hành trong đời sống đức tin của người Ki-tô hữu.
Thánh Gio-an, trong thư thứ nhất đã viết, rằng: “Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa, mà họ không trông thấy”. (x.1Ga 4, 20)

Còn với Đức Giê-su ư! Với Ngài, cũng vậy. Để chứng tỏ là một con người hoàn thiện, người ấy không chỉ “tuân giữ” các điều răn (mến Chúa), mà còn phải “bán tài sản… và đem cho người nghèo” (yêu người).

Vâng, đây là điều Đức Giê-su đã công bố trước một người thanh niên giàu có, khi anh ta đến gặp Ngài, xin bí quyết, “phải làm gì để được hưởng sự sống đời đời”. (x. Mt 19, 16-22).

Có thể nói rằng; “Yêu người”, hay nói rõ hơn, tình yêu thương giữa con người với con người, luôn là điều được Đức Giê-su coi trọng, coi trọng như là một “điều răn mới”.

Tại sao? Thưa, thứ nhất là bởi, thời đó, trước một “rừng” luật lệ, và, riêng về luật yêu thương, Đức Giê-su đã thấy có một sự “ích kỷ” nào đó qua việc thực thi. Thế nên, trong một lần giảng dạy về tình yêu thương, Ngài đã có những lời dạy dỗ rất mạnh mẽ; “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em”.

Tiếp đến là bởi, Ngài cũng đã phải chứng kiến chính những người môn đệ của mình rơi vào vòng xoáy của sự ganh tị và vị kỷ. Các ông, tuy là những người môn đệ cùng một Thầy, nhưng lại không có được tình yêu thương của kẻ đồng môn.

Không ai có thể hiểu được vì sao các môn đệ lại tranh cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả và tại sao hai người con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan lại “muốn Thầy thực hiện cho hai anh em một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang”!

Đứng trước thực trạng này, ngoài những lời dậy dỗ về tình yêu thương (nêu trên), Đức Giê-su có thêm một lời dạy dỗ bằng hành động. Hôm đó, trong bối cảnh của một buổi tiệc mừng lễ Vượt Qua, và trong lúc các môn đệ còn đang băn khoăn về một kẻ trong nhóm họ phản bội, Đức Giêsu lên tiếng “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy...”.

Vâng, có thể nói, những lời Đức Giêsu gọi các môn đệ như thế, đã nói lên cái nhìn thấu suốt của Ngài về các ông. Là những tập hợp của nhiều cá tính, họ cần phải được học cách yêu thương.

Cách yêu thương họ cần học đã được Đức Giêsu dạy rằng: "...Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người..." (Mt 20, 17-28). Và Ngài đã thực thi lời dạy, qua cử chỉ rửa chân cho họ, hôm đó.

Hôm đó, nhìn những người môn đệ của mình, Ngài đã nói với họ bằng những lời đầy tha thiết, “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau, anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.

**
“Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau.” Mới ở chỗ nào? Thưa, mới ở chỗ “phẩm chất”, mới ở chỗ mang tính tích cực, của điều luật.

Thì đây, chúng ta hãy xem. Người xưa dạy rằng, “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân - cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác”, nhưng luật Chúa Giêsu, thì “tất cả những gì chúng con muốn người ta làm cho mình, thì chính các con cũng hãy làm cho người ta.” (x.Mt 12,12).

Vâng, đó chỉ là một ví dụ điển hình, cái “mới” của điều luật, tuyệt vời nhất, chính là người làm ra điều luật, là người đã dám thực thi điều luật một cách tuyệt đối.

Hãy nhìn xem, trên đồi Golgotha, cái chết của Đức Giêsu đã chứng minh cho điều Ngài đã giảng dạy: “Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu, người liều mạng sống vì người mình yêu”.

***
Hôm đó, kết thúc lời truyền dạy, Đức Giêsu nhấn mạnh, rằng, “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau”.

Vâng, với các môn đệ xưa cùng với những tín hữu tiên khởi, thiên hạ đã không nhận ra họ là môn đệ của Đức Giê-su, qua biểu tượng thánh giá đeo trên cổ.

Nhưng, họ đã làm cho mọi người nhận biết họ là môn đệ của Chúa Giêsu qua việc: “Hợp nhất với nhau và để mọi sự làm của chung... đồng tâm nhất trí. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ” (Cv 2, 44-46).

Với chúng ta hôm nay, hãy tự hỏi lòng mình, chúng ta sẽ làm gì để “mọi người nhận biết (mình) là môn đệ của Chúa Giêsu”?

Phải chăng là đi nhà thờ, là siêng năng tham dự Tiệc Thánh, v.v…?
Thưa, rất tốt. Nhưng, sẽ là tốt hơn, nếu trong cuộc sống thực tế hàng ngày, chúng ta chính là “nhân tố” làm cho “láng giềng thân thiết… anh em hòa thuận… vợ chồng ý hợp tâm đầu”.

Thực hiện điều này có quá khó? Thưa, sẽ rất khó, nếu chúng ta không dẹp bỏ được những thói xấu như: nóng giận, ganh tỵ, say sưa, chè chèn v.v…

Thế nhưng, sẽ rất dễ dàng, nếu chúng ta luôn có được một tâm hồn nhân hậu, bác ái, một đức tính hiền hòa, nhẫn nhục v..v.. Nói rõ hơn, đó là “hoa trái của Thánh Linh. (x.Gl 5, 22-23)

Vâng, chúng ta hãy để một phút hồi tâm và tự hỏi mình, rằng, chúng ta đã hội đủ những đức tính (hoa trái) này chưa! Và chúng ta đã sẵn sàng “tiến lên hy sinh vì tình yêu”!

Hay chúng ta cho rằng: Ôi! sống trong một xã hội tràn ngập những con người “sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi… lương tâm không bằng lương tháng” v.v… Khó quá! Khó thực hiện quá!

Câu trả lời sẽ là do mỗi chúng ta. Thế nhưng, hãy nhớ rằng: đã là người môn đệ của Đức Giê-su, dù ở không gian hay thời gian nào, dù có sống trong một thể chế nào, biểu lộ tình yêu thương bằng cách trở thành “nhân tố” làm cho “láng giềng thân thiết… anh em hòa thuận… vợ chồng ý hợp tâm đầu”, chính là điều, như lời Kinh Thánh nói: làm “đẹp lòng Chúa và người ta” (x. Hc 25, 1)

Mà… “Làm-đẹp-lòng-Chúa-và-người-ta”, hãy tin, thiên hạ sẽ nghĩ về chúng ta, rằng: “Ồ! Ông (bà) này là người Công Giáo chắc!”

Vâng, có phần chắc, thực hiện tốt những điều nêu trên, “mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy”.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2016

Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi...

Kính chào quý bạn hữu.

Một ngày mới của một tuần mới lại đến. Có ai trong chúng ta lại không muốn được "trò chuyện" với nhau! Và có cuộc trò chuyện nào vui hơn là được "trò chuyện cùng Thiên Chúa".

Vì thế, mời quý bạn hữu cùng petrus.tran bước vào khung trời của Thánh Kinh, bắt đầu từ vườn Eden cho tới Giê-ru-sa-lem, để nghe Thiên Chúa đã nói gì với ta. Và rồi, ta sẽ nói gì với Thiên Chúa.

Kính chúc quý bạn hữu cùng toàn thể gia quyến, một tuần mới an lành.

petrus.tran

***********************
Chúa Nhật IV - PS – C
Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi...

Thiên Chúa nói chuyện với con người. Và con người cũng đã trò chuyện cùng Thiên Chúa. Thiên Chúa lắng nghe con người và con người cũng đã lắng nghe Thiên Chúa.

Thật vậy, nơi vườn Eden năm xưa, Thiên Chúa và con người đã từng sóng đôi bên nhau trò chuyện. Thiên Chúa đã nói với con người, rằng: “Hãy sinh sôi nảy nở… và thống trị mặt đất”. Con người đã nghe lời Thiên Chúa phán truyền: “Hãy làm bá chủ chim trời cá biển và mọi giống vật trên mặt đất”.

Thiên Chúa còn nói với con người, rằng: “Ta ban cho các ngươi mọi thứ có mang hạt giống trên khắp mặt đất, và mọi thứ cỏ trái mang hạt giống, để làm lương thực cho các ngươi”. Sau đó Người nói tiếp: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn, nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn”. Con người đã nghe và biết rằng: “…ngày nào ăn… chắc chắn sẽ phải chết”.

Buồn thay! Trong một khoảng khắc “rong chơi cuối trời quên lãng”, con người quay ra “nói chuyện” với Satan, đôi tai con người xoay qua “nghe” Satan nói. Và rồi, những lời đường mật của Satan đã làm cho con người sa ngã và phạm tội bất tuân.

Kết cuộc, con người mất đi những gì Thiên Chúa đã ban cho, để rồi, “nghe thấy tiếng ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa… con người sợ hãi… và lẫn trốn”(x.St 3, 8-10)

Tuy nhiên, Thiên Chúa, như lời Kinh Thánh nói: “Người chậm giận và giàu tình thương, chẳng trách cứ luôn luôn, không oán hờn mãi mãi”.

Thế nên, dù con người vì phạm tội và mất đi mối tương giao với Thiên Chúa, Thiên Chúa vẫn không vì thế mà quên lãng con người. Người vẫn tìm cách “kết nối” lại mối tương giao đó.

Thật vậy, tác giả thư gửi tín hữu Do Thái cho biết: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử”. Người Thánh Tử đó chính là Đức Giê-su.
Thiên Chúa, qua Thánh Tử Giê-su, đã “trở nên người phàm và cư ngụ giữa (con người)” để kết nối lại mối tương giao giữa con người với Thiên Chúa, một mối tương giao như “người mục tử với đàn chiên”

Thật vậy, trong những ngày ra đi rao giảng Tin Mừng, Thánh Tử Giê-su đã lớn tiếng nói với mọi người rằng: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành” (Ga 10, 11&14)

Với người Do Thái thời đó, khi nói tới hai chữ “mục tử”, không ai lại không hiểu vai trò và sứ mạng mà người mục tử sẽ phải gánh vác.

Sứ mạng đó là gì? Với Đức Giê-su, đó là: “tìm chiên lạc nhà Israel”.
**
Vâng, trong những ngày ra đi rao giảng Tin Mừng, đã có lần, khi nhìn thấy đoàn dân đông đúc kéo đến. Đức Giêsu không khỏi “chạnh lòng thương xót!”. Một lần khác, khi nhìn đoàn dân lũ lượt đi theo, Đức Giêsu đã phải thốt lên với các môn đệ rằng : “họ như bầy chiên không người chăn dắt” (Mc 6,34)

Nguyên nhân nào, Đức Giê-su lại có cái nhìn về những người đi theo Ngài như thế? Thưa, nguyên nhân gần, đó là: họ đang phải sống trong sự bất công trước ách thống trị của chính quyền thuộc địa Roma. Đồng thời, họ còn phải oằn vai gánh nặng với những luật lệ do “các kinh sư và người Pharisieu” đặt ra hết sức phi lý.


Thì đây, hãy nhìn xem, có phi lý không kia chứ! Các ngài kinh sư và Pharisieu, họ chỉ biết “ngồi trên tòa Môse giảng dạy… rủ cho được một người theo đạo, nhưng khi họ theo rồi, lại làm cho họ đáng xuống hỏa ngục…”.

Chính vì thế, Đức Giê-su đã nhìn những người đi theo mình như là những con chiên bị những kẻ “chăn thuê” dẫn dắt. Thế nên, hôm đó, Ngài đã nói lên một thông điệp, thông điệp rằng: “Tôi phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử” (x.Ga 10, ...16)

Trước đám đông cử tọa, Đức Giê-su tuyên bố: “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào”, cuối cùng, Ngài đã nói lên lòng mong đợi của một người mục tử nhân lành, rằng: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi”(x.Ga 10, 27-28)

“Ban cho sự sống đời đời”. Vâng, đó chính là nguyên nhân xa, một nguyên nhân đã làm cho Thiên Chúa “chạnh lòng thương xót” đến nỗi đã sai Con Một Người xuống thế gian, để thế gian được nghe, được nói, được trò chuyện với Thiên Chúa, qua Đức Giê-su.

Thật vậy, trong thông điệp của Đức Giê-su, người Mục Tử nhân lành”, trước đông đảo cử tọa, Ngài đã tuyên bố rằng: “Tôi và Chúa Cha là một”.

***
“Tôi là mục tử nhân lành”, với thông điệp này, nó gợi cho ta nhớ tới Thánh Vịnh 100, 3: “Chính Người đã dựng nên ta, ta thuộc về Người, ta thuộc dân Người, là đoàn chiên Người dẫn dắt”. Ở một chương khác, cũng sách Thánh Vịnh, chúng ta được nghe“…ta là dân Người lãnh đạo, là đoàn chiên tay Người dẫn dắt”(Tv 95, 7).

Với dân Do Thái xưa, tiêu biểu là vua David, thì đó là một hồng phúc. Chính ông ta đã cảm nhận được điều đó, nên đã thốt lên: “CHÚA là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ”. Ông ta, từng là người chăn chiên, ông ta biết, cuộc sống của chiên sẽ như thế nào là do người chăn như thế nào. Mà, người chăn, là một Thiên Chúa giàu tình thương, thì sao lại không là hồng phúc!

Với chúng ta hôm nay, thì sao? Chúng ta, cùng quan điểm vua David, hay như môt số người Do Thái xưa, nhìn Đức Giê-su như là “kẻ điên khùng”, khi nghe thông điệp “người Mục Tử nhân lành, một thông điệp mà Ngài đã công bố?(x.Ga 10, 16-21)
Vâng, Skip Heittzig trong một bài viết mang tựa đề “The good sherperd and his happy sheep”, đã có câu trả lời, rằng: “Chúa gọi chúng ta là chiên vì Ngài biết bản chất của con người. Với bản năng thích hùa theo đám đông, sự sợ hãi và nhút nhát của chúng ta, sự bướng bỉnh và ngu dại của chúng ta và bản chất chống nghịch của chúng ta, chúng ta rất giống những con chiên, hơn nữa chiên không thể tự mình sống còn. Chúng đòi hỏi sự quan tâm thường trực, sự giải cứu và sự chăm sóc của người chăn, nếu không chúng sẽ chết”.
Skip Heittzig chia sẻ tiếp, rằng: “Dù vậy, điểm quan trọng ở đây không phải chúng ta giống như những con chiên, nhưng đúng hơn, chúng ta có một người chăn tuyệt vời”.
Cuối cùng, Skip Heittzig kết luận, “Đó là điều để khoe khoang, hãy nhìn xem Đấng chăn giữ tôi là ai? Hãy xem ai là người kiểm soát cuộc đời của tôi?”
***
Thưa bạn, bạn có đồng ý, đây là một câu trả lời đáng để cho chúng ta suy nghĩ? Nếu có, hãy để tâm hồn mình một phút trong thinh lặng, và tự hỏi: là một Ki-tô hữu, “Chúa có phải là người kiểm soát cuộc đời của tôi? Và tôi đã có được những giây phút “nghe tiếng Ngài gọi”?
Vâng, quả là một câu hỏi không dễ trả lời. Không dễ, như lời mô tả của Ron Rolheiser,OMI, là bởi: “Chúng ta bị bao vây bởi rất nhiều tiếng gọi. Hiếm có giây phút nào trong đời sống mà chúng ta không có ai hay không có cái gì đang gọi tới, ngay cả trong giấc ngủ, những giấc mơ và những cơn ác mộng cũng bắt chúng ta phải chú ý.
Và mỗi một tiếng gọi đều có nhịp điệu và thông điệp riêng của nó. Một số giọng mời gọi chúng ta bước vào, hứa hẹn một cuộc sống tươi đẹp nếu chúng ta làm cái này hay cái nọ, mua sản phẩm này hay ý tưởng kia; một số giọng đe dọa chúng ta. Một số giọng dẫn dắt chúng ta đến gần với thù hận, cay đắng và tức giận, có những giọng khác đòi hỏi chúng ta cố gắng hướng tới thương yêu, lòng biết ơn và tha thứ.
Một số tiếng gọi nói với chúng ta rằng chúng đùa cợt và vui nhộn, chứ không phải là chuyện nghiêm túc, lại có những tiếng gọi khác tuyên bố hùng hồn rằng mình là cấp bách và quan trọng, là tiếng gọi của chân lý không thể kỳ kèo, tiếng gọi của Thiên Chúa”.

Ôi, quả là quá nhiều “tiếng gọi”…

Vậy, chúng ta phải làm gì để nhận ra, đâu là tiếng gọi của Thiên Chúa?

Vâng, ngài Ron Rolheiser,OMI cho ta câu trả lời: “có nhiều nguyên tắc từ Chúa Giê-su, Thánh Kinh, và từ những mạch nguồn sâu thẳm của truyền thống Ki-tô của chúng ta vốn có thể giúp ích cho chúng ta” Và rồi ngài chia sẻ tiếp: “Tiếng gọi của Thiên Chúa được nhận ra trong những lời thì thầm và giọng khẽ, cũng như trong sấm chớp và bão giông”.

Đúng vậy, Samuel như một điển hình. Kinh Thánh kể rằng, đã có lần Đức Chúa thì thầm gọi Samuel trong đêm thanh vắng. Lần đầu tiên, Samuel không nhận ra. Sau, nhờ lời chỉ dẫn của Thầy Ê-li, Samuel đã nhận ra, nghe lời thầy dạy, Samuel cất tiếng nói với Chúa: “Lạy Đức Chúa... tôi tớ Ngài đang lắng nghe”.

Và Thánh Kinh, cũng vậy, đó chính là nơi có rất nhiều “tiếng gọi” của Chúa mà chúng ta sẽ được nghe, nếu chúng ta tiếp cận.

Bởi từ Thánh Kinh, chúng ta mới được biết, rằng: có một người Mục Tử Nhân Lành, người đó chính là Đức Giê-su, một Giê-su Phục Sinh, đã hy sinh chính mạng sống mình vì “đàn chiên”, một Giê-su Phục Sinh, vẫn đứng đó, nơi bàn Tiệc Thánh và cất tiếng mời gọi những “con chiên” yêu dấu của mình, rằng: hãy đến để nhận lấy một thứ cỏ, không phải là thứ cỏ dại, nhưng là thứ cỏ đem lại sự sống đời đời, thứ cỏ mang tên “Mình Máu Thánh Chúa Ki-tô”.

Và, quan trọng hơn hết, qua Thánh Kinh, chúng ta luôn thấy một Đức Giê-su Phục Sinh, vẫn tiếp tục nói lên lòng mong đợi của một người mục tử nhân lành, rằng: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi”.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2016

Chúa đó, phải không, thưa Ngài!

Chúa Nhật III – PS – C

Chúa đó, phải không, thưa Ngài!

Bốn mươi ngày sau Phục Sinh, Đức Giê-su đã hiện ra rất nhiều lần với các môn đệ. Mỗi lần hiện ra, công việc mà Ngài cho là ưu tiên hàng đầu, đó là củng cố đức tin cho các ông.

Có lúc, để vực dậy niềm tin cho các môn đệ, Đức Giê-su đã “mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh”. Có lần, như trường hợp hai môn đệ trên đường Emmau, Ngài “giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả sách Thánh”. Lại có khi, để họ nhận ra Ngài, Đức Giê-su đã thể hiện bằng cử chỉ “bẻ bánh”. Và, đặc biệt hơn cả, đó là, làm phép lạ. Câu chuyện về phép lạ với “mẻ cá đầy”,  được Đức Giê-su thực hiện ở Biển hồ Ti-bê-ri-a như một điển hình.(x.Ga 21, 1-19).

**   
Vâng, chuyện là thế này. Sau sự kiện Đức Giê-su hiện ra để chứng thực cho sự Phục Sinh của Ngài với tông đồ Tô-ma, các môn đệ cùng nhau trở về Biển hồ Ti-bê-ri-a.
Tại Biển Hồ, thánh sử Gio-an cho biết: “ông Simon Phê-rô, ông Tô-ma gọi là Đi-dy-mô, ông Na-tha-na-en người Cana miền Ga-li-lê, các người con ông Dê-bê-đê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau”.

Hôm đó, như một người thủ lãnh, ông Phêrô khởi xướng một cuộc hải hành đánh bắt cá. Tất cả mọi người cùng hưởng ứng. Con thuyền lướt sóng ra khơi trong niềm hy vọng của hơn bán tiểu đội. Họ, kẻ lái, người chèo, người thả lưới… Nhưng, than ôi! kết quả chỉ là con số zero.   Câu chuyện kể rằng: “Đêm ấy, họ không bắt được gì cả”.(x.Ga 21, …3)

Hãy để cho mình một chút tưởng tượng. Mà tại sao không tưởng tượng nhỉ! Có lẽ… có lẽ đêm đó, đứng trước nỗi thất vọng của mọi người, anh cả Phê-rô nhìn sao trời, cất tiếng thở than não nề, rằng: “Ai đã từng đêm thức đêm mới biết đêm dài. Mới nghe lòng mình chợt buồn vì thương nhớ ai”.

Vâng, chắc hẳn đêm đó ông Phê-rô “chợt buồn vì thương nhớ” đến Đức Giê-su. Phải chi, có  Thầy ở đây nhỉ! Hẳn rằng, Thầy sẽ “cứu bồ” các ông, như đã từng cứu các ông năm xưa, một cú cứu ngoạn mục. Hồi ấy, suốt cả đêm, họ cũng không đánh bắt được gì. Thế nhưng, sau khi nghe lời Thầy “chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới”. Ông nhớ như in, rằng: hôm đó, ông và các bạn đồng nghiệp đã “bắt được rất nhiều cá, đến nổi hầu như rách cả lưới”(x.Lc 5, …6) Còn đêm nay… coi như “lốc”. Sáng bảnh mắt rồi, còn gì nữa mà chài với lưới!

Vâng, sáng hôm đó, đang khi các ông đem thuyền về neo bến cũ, thì, có bóng dáng “Đức Giê-su đứng trên bãi biển”. Thế nhưng, không một ai nhận ra Ngài. Ngay cả khi Ngài hỏi “Các chú có gì ăn ư!” Các ông vẫn điềm nhiên trả lời: “Thưa không”.

Không có gì ư! Thế rồi, cũng giống như lần trước,  Đức Giê-su khuyên các ông tiếp tục ra khơi với lời dặn dò: “Cứ thả lưới bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá”.

Thưa,bạn, nếu là bạn, bạn có nghe lời không? Có lẽ không ít người sẽ không nghe. Không nghe cũng đúng thôi, đúng là bởi, ai lại đi nghe lời một kẻ xa lạ, không quen biết mình. 

Thế nhưng, các môn đệ lại nghe lời. Chuyện kể rằng: “các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá.

Tới đây thì mắt các ông mở ra. Và người đầu tiên chính là: “người môn đệ được Chúa thương mến”. Người này nói với Phê-rô: “Chúa đó”.  

Chúa đó ư! Bằng động tác thuần thục của một ngư phủ, ông Phê-rô “vội khoác áo vào, vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển”. Còn các môn đệ khác thì, “chèo thuyền vào bờ, kéo theo lưới đầy cá”. 

Vâng, “lưới đầy những cá lớn đếm được một trăm năm mươi ba con”.  Các ông cùng với Đức Giê-su, (vì các ông biết rằng đó là Chúa), đã có một bữa “cá đuối nướng” đầy thi vị. 

Thế nhưng, nếu Đức Giê-su dùng phép lạ để chỉ thỏa mãn cơn đói thuộc thể, thì có gì đáng nói! Còn những bữa ăn “thuộc linh” thì sao đây! 

Ai… ai sẽ là người tiếp nối công việc Ngài đã thực hiện trong bữa tiệc ly, “cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra (và) trao cho…?” Ai sẽ là người, làm như Ngài đã làm tại biển hồ Ti-bê-ri-a: “cầm lấy bánh trao cho.. rồi cá (nữa)?”


Thế nên, hôm đó, tại biển hồ Ti-bê-ri-a, Đức Giê-su “bàn giao” nhiệm vụ cho các môn đệ, đại diện là tông đồ Phê-rô, bằng những lời gửi gắm đầy trách nhiệm,rằng: “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy… Hãy chăn dắt chiên của Thầy… Hãy chăm sóc chiên của Thầy”. 

Ba lần nhắn nhủ như ba lần khẳng định, là anh… là anh và chỉ là anh Phê-rô. Anh Phê-rô, anh phải như là một thủ lãnh của các thủ lãnh, để tiếp tục lèo lái con thuyền, không phải con thuyền mà anh đang sở hữu để lưới cá, nhưng là “Con Thuyền Giáo Hội”, để “lưới người”.

Vâng, hôm đó, mặc dù có sự hiện diện hai anh em nhà Dê-bê-đê (là hai người muốn được ngồi bên tả và bên hữu Thầy”,  nhưng không thấy họ phản đối điều gì cả.
Mà, có gì để phản đối kia chứ! Hãy nhìn xem! một tông đồ Phê-rô, sau khi đã lãnh nhận trách nhiệm, người ta phải kinh ngạc vì ông  đã “làm cho Giêrusalem ngập đầy  giáo lý của các ông” (x.Cv 5, 28)

*** 
Thánh Vịnh 121 có chép: “Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi, ơn phù hộ tôi đến từ nơi nao? Ơn phù hộ tôi đến từ ĐỨC CHÚA, là Đấng dựng nên cả đất trời”. 

Vua David đã cảm nghiệm được điều này. Và, các môn đệ cũng thế. Trong lúc quá bế tắc cho sự sinh tồn của mình, các ông đã “ngước mắt” nhìn ra bãi biển, nơi Đức Giê-su đang đứng đó. Và các ông đã nhận được “ơn phù hộ” từ một Đức Giê-su Phục Sinh. 

Nhắc đến điều này để làm gì? Thưa, là để chúng ta nhớ rằng, cũng như các môn đệ xưa, công cuộc mưu sinh của chúng ta hôm nay, không phải là không có những lúc ngặt nghèo, không phải là không có những hôm “không kiếm được đồng xu teng nào cả”. 

Vào những lúc ấy,  không gì tốt hơn là hãy “ngước mắt” nhìn Đức Giê-su Phục Sinh. “Chính Chúa sẽ là người canh giữ bạn. Chính Chúa là Đấng vẫn chở che”. Vâng, đó chính là kinh nghiệm của Vua David.

****  
Hôm nay, Đức Giê-su Phục Sinh vẫn “đứng đó”, tất nhiên, chỗ đứng của Ngài không phải ở một bờ biển xa xăm nào đó trên thế giới này, nhưng là trong “ngôi nhà tạm”, một ngôi-nhà-tạm được đặt ngay giữa lòng “Con Thuyền Giáo Hội” và được tông đồ Phê-rô, mà hôm nay, đại diện là ngài đương kim Giáo Hoàng Phan-xi-cô, lèo lái.

Thế nên, để có thể “ngước mắt nhìn Đức Giê-su Phục Sinh”, không có phương cách nào tốt hơn là hãy bước lên “Con Thuyền Giáo Hội”. 

Trên Con Thuyền Giáo Hội, qua một vài cá nhân riêng lẻ, đôi lúc có vẻ như yếu đuối và cũng “vấp ngã” như Phêrô xưa kia. Nhưng sẽ thật sự sai lầm, nếu chỉ nhìn vào sự vấp ngã của một vài cá nhân lẻ tẻ đó,  mà có ý định rời bỏ Con Thuyền Giáo Hội.

Đừng quên rằng, trên Con Thuyền Giáo Hội, vào bất cứ thời điểm nào, vào bất cứ không gian nào, vẫn không thiếu những người như Mẹ Te-rê-sa Calcutta, hoặc như Lm. Macximilianô Kobe v.v…

Một bức thư ngỏ, tuy đã cũ, nhưng vẫn còn tính thời sự hôm nay. Đó là thư ngỏ của Linh mục Martin Lasarte, SDB, đã được gửi cho nhật báo The New York Times là một tờ báo lâu đời ở Mỹ, nổi tiếng là chống đạo Công Giáo, (điển hình là các linh mục), một cách có hệ thống, thư viết rằng: “hãy quan tâm đến hàng ngàn các linh mục khác, đã hiến đời mình và phục vụ hàng triệu trẻ em, thanh thiếu niên và các người bất hạnh nhất ở bốn phương trời của thế giới”.

Cũng trong bức thư ngỏ, ngài đã làm chứng rằng “Tôi phải di chuyển qua các con đường đầy mìn do chiến tranh trong năm 2002, để giúp đỡ các em nhỏ đang chết đói từ Cangumbe đến Lwena (Angola), bởi vì cả chính quyền không thể làm được và cả các tổ chức phi chính phủ không được phép làm.

Tôi đã chôn cất hàng chục trẻ em chết do việc dời chỗ vì chiến tranh. Chúng tôi đã cứu sống hàng ngàn người dân ở Mexico, nhờ một trung tâm y tế duy nhất hiện hữu trong một vùng có diện tích 90.000 km2, với việc phân phát thực phẩm và các loại giống cây trồng.

Chúng tôi đã có thể cung cấp giáo dục và trường học trong mười năm qua cho hơn 110.000 trẻ em. Cùng với các linh mục khác, chúng tôi đã cứu trợ cho gần 15.000 người ở các trại du kích quân, sau khi họ đã đầu hàng và giao nạp vũ khí, bởi vì thực phẩm của chính phủ và của Liên Hiệp Quốc không thể đến được với họ…”

Vâng, đó là những gì mà chúng ta nên quan tâm và New York  Times nên đăng tải, thay vì đăng tải vài vụ “vấp ngã” lẻ tẻ của một vài linh mục riêng lẻ, nếu quý báo còn chút lương thiện…

Cuối thư ngỏ, vị linh mục này có một lời cầu nguyện đầy chân thành được ghi lại như sau “Quá khứ của con, Lạy Chúa, con phó thác cho lòng Thương xót của Chúa; hiện tại của con, cho Tình yêu Chúa; và tương lai của con, cho sự Quan Phòng của Chúa”.

Vì thế, hôm nay, nếu người vấp ngã là chính ta, đừng vội ngã lòng, hãy nhớ rằng: Đức Giê-su, trên Con Thuyền Giáo Hội, Ngài vẫn luôn hiện diện qua các Bí Tích (Giải Tội và Thánh Thể), và chờ chúng ta “ngước nhìn”.

Vâng, nếu chúng ta “ngước nhìn” và đón nhận. Đức Giê-su Phục Sinh, qua vị linh mục, Ngài sẽ nói với chúng ta, như đã nói với người phụ nữ ngoại tình năm xưa, rằng: “Ta không lên án con đâu. Thôi cứ về đi và từ nay đừng phạm tội nữa”. 

Nếu chúng ta “ngước nhìn” và đón nhận. Đức Giê-su Phục Sinh, qua vị linh mục, Ngài sẽ nói với chúng ta, như đã nói với các môn đệ năm xưa, rằng: “Hãy cầm lấy mà ăn”.

Hơn hai ngàn năm đã trôi qua, mặc cho những phong ba bão táp, phong ba bão táp bởi những chủ thuyết vô thần, hiện sinh, bởi những phong trào hô hào Thiên Chúa đã chết rồi, bởi những nhà cầm quyền vô tôn giáo, Con Thuyền Giáo Hội không vì thế mà bị “cuốn theo chiều gió”, trái lại vẫn lướt sóng ra khơi. 

Nhờ đâu? Thưa, nhờ có sự hiện diện của Đức Giê-su Phục Sinh, trong ngôi nhà tạm, ngự trên Con Thuyền Giáo Hội. Thì đây, Đức Giê-su đã chẳng nói rằng: “Thầy ở lại với anh  em mọi ngày cho đến tận thế” đó sao!

Thưa bạn, bạn có tin không? Nếu tin, tôi và bạn, chúng ta hãy bước lên Con Thuyền Giáo Hội, đến bên “ngôi nhà tạm”, ngước nhìn” Đức Giê-su Phục Sinh mà cất tiếng thưa với Ngài, rằng: “Chúa đó, phải không, thưa Ngài”!

Petrus.tran

Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2016

Đừng vắng mặt như Thánh Tô-ma…

Chúa Nhật– II – PS – C

Đừng vắng mặt như Thánh Tô-ma…

“Chúa đã sống lại thật rồi”. Sự kiện này đã được  các môn đệ nói với ông Tô-ma, rằng: “Chúng tôi đã được thấy Chúa”. Thế nhưng, Tô-ma vẫn chưa tin. 

Không hiểu từ bao giờ, cứ mỗi mùa lễ Phục Sinh, nhắc đến Tô-ma, người ta thường nói, ông là kẻ “cứng lòng tin”. Có người còn phong cho ông là “ông tổ” chủ nghĩa thực chứng.

Có phải thế không? Hay,  tất cả mười môn đệ còn lại đều cứng lòng như ông?  Thưa, Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay, qua  trình thuật Tin Mừng Gio-an, sẽ cho chúng ta câu trả lời chính xác. (Ga 20, 19-31).

**
Vâng, theo thánh sử Gio-an kể lại, thì, chuyện xảy ra vào chiều ngày thứ nhất trong tuần. Hôm đó, các môn đệ của Đức Giêsu tụ họp trong một ngôi nhà. Các ông vẫn chưa thoát khỏi sự bàng hoàng về cái chết của Thầy mình. Các ông vẫn chìm  trong sự  sợ hãi và hoang mang.. 

Làm sao không sợ hãi khi nhóm thượng tế và các kỳ mục đã nham hiểm cho lính một số tiền lớn và bảo họ tung tin đồn rằng, vào ban đêm “các môn đệ của ông Giêsu đã đến lấy trộm xác” (Mt 28, 13). 

Vào thời đó, trộm xác là một tội rất nặng. Cho nên, hôm đó, “nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái”. 

Còn hoang mang ư! Vâng, hãy nhìn xem, nếu được tính từ hôm “thứ sáu sầu thảm”,  ngày Đức Giêsu bị đóng đinh trên cây thập tự tại núi Sọ, nay đã quá bốn mươi tám tiếng đồng hồ. Sắp hết ba ngày rồi… Thế mà, lời phán hứa của Thầy rằng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại” (Mc 9, 31)… Ôi! Sao vẫn chưa thấy ứng nghiệm! 

Vâng, đang lúc tâm hồn các môn đệ  “…như lá úa trong cơn mê chiều, nhiều cơn gió cuốn xoáy xoay trong hồn và cơn đau này vẫn còn đây”, thì… không ai có thể tin được, “Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: Bình an cho anh em”.

Thầy đó ư! Lời Thầy đã ứng nghiệm rồi sao! Thưa, đúng vậy. Sự hoang mang và ngờ vực, sự sợ hãi và lo lắng của các ông được nhường chỗ cho: “niềm vui mừng vì được thấy Chúa”. Chính Đức Giêsu, chứ không là ai khác, “Người cho các ông xem tay và cạnh sườn”. Bàn tay và cạnh sườn in đậm dấu tích của vết đinh và mũi đòng.

Hôm đó, thật đáng tiếc, thiếu vắng tông đồ Tôma. Chính sự vắng mặt của ông đã khiến ông không tin sự kiện Đức Giêsu hiện đến với các bạn đồng môn của mình. Ông ta quan niệm, rằng: “Bách văn bất như nhất kiến Trăm nghe không bằng một thấy”. 
Thế nên, dù đã được các bạn đồng môn quả quyết “Chúng tôi đã được thấy Chúa”, ông vẫn không tin. Không tin, ông còn lớn tiếng nói rằng “nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20, 25).

Tám ngày sau, cũng giống như lần trước, mặc cho “các cửa còn đóng kín” Đức Giêsu hiện đến, Ngài đứng giữa các ông, cũng một lời chúc “Bình an cho anh em”, rồi Ngài bảo với ông Tôma rằng, “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy.” (Ga 20, 27).

Nghe thế, Tôma đứng sững như hình hài pho tượng, nghĩ đến những chữ “nếu… nếu tôi… nếu tôi…”, có lẽ lúc đó ông ta lẩm bẩm “nếu ngày đó mình đừng (không tin), thì ngày nay có đâu buồn đau, có đâu buồn đau”!!!
 
Đúng vậy, nếu hôm đó Tô-ma đừng thách thức thì hôm nay ông đâu có phải buồn đau nghe Đức Giê-su nói: “Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”.
 
Nhìn Thầy Giê-su, một Giê-su bằng xương bằng thịt, với tất cả dấu tích của cuộc khổ hình, sự hồ nghi đã biến khỏi tâm hồn của ông, hình ảnh một Đức Giê-su Phục Sinh rõ mồn một trước đôi mắt ông. Và rồi, ông đã cất tiếng nhìn nhận Đức Giê-su chính là: “…Chúa của con, …Thiên Chúa của con” (x.Ga 20, 28).
 
** *
Trước sự cứng lòng tin của Tô-ma, Đức Giê-su chỉ nói với ông một câu “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin.”Phải chăng, đây là lời Đức Giê-su trách cứ ông Tô-ma?
 
Thật ra, đâu chỉ có mình Tô-ma cứng lòng tin. Còn đó là cả nhóm mười người trong họ, dù đã nghe bà Maria Mác-đa-la nói “(Chúa) đang sống và bà đã thấy Người, các ông vẫn không tin”(x.Mc 16, 11)
 
Rồi đến hai môn đệ trên đường Emmau,theo lời họ kể, dù đã biết “có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi… ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy”… Ấy thế mà, hai vị vẫn chưa tin, họ khăn gói quả mướp trở về Emmau, quê mình.
 
Thì đây, dù đã đi bên cạnh Đức Giê-su suốt cả buổi chiều, rồi được nghe Ngài diễn giải Kinh Thánh, hai vị vẫn không nhận ra một Đức Giê-su Phục Sinh. Phải đợi đến khi Ngài mở đôi mắt tâm hồn, họ mới nhận ra Ngài qua cử chỉ “bẻ bánh”.
 
Lại còn bà Maria Mác-đa-la, “Trên đường bà thấy những gì? Xin kể cho chúng tôi nghe”. Vâng, bà ta đã thấy “Đức Giê-su đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giê-su… Bà tưởng là người làm vườn” (x.Ga 20, 14-15)
 
Vâng, kẻ đáng trách, chính là cả “Nhóm Mười Một”. Đức Giê-su,  trong một lần tỏ mình ra cho các ông, khi các ông đang dùng bữa, “Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người, sau khi Người trỗi dậy” (x.Mc 16, 14)
 
Dẫu sao, sự cứng lòng tin của Tô-ma, sự chậm tin của những môn đệ khác, đã chứng minh rằng:  họ không hề là những người có một đức tin “mù quáng, tin đại”, trái lại, họ là những người  có một niềm tin vào Đức Giê-su Phục Sinh, đích thực. Nói cách khác, các Ngài đã thật sự gặp được Đức Giê-su Phục Sinh.
 
Cuối cùng, nhờ sự cứng lòng tin của Tô-ma, nên các ông (và hôm nay là chúng ta) được Đức Giê-su tặng thêm một lời chúc phúc, “Phúc thay những người không thấy mà tin”.
 
*** *
Và bây giờ là đến chúng ta. Là một Ki-tô hữu, sau bao mùa Phục Sinh, hãy để tâm hồn mình một phút trong thinh lặng và tự hỏi, tôi đã tin rằng Đức Giê-su đã Phục Sinh? Tôi đã thật sự gặp Đức Giê-su Phục Sinh?
 
Nếu ta chưa gặp, phải chăng là vì ta tìm “Người sống ở giữa kẻ chết”? Nói cách khác, phải chăng là vì ta lo mải mê tìm những lạc thú trần gian… tìm những hư danh chóng qua v.v…?
 
Nếu ta chưa gặp, phải chăng là vì ta không lắng nghe tiếng Chúa Phục Sinh gọi tên mình,  như xưa kia Chúa Phục Sinh đã gọi tên bà Maria Mác-đa-la rằng: “Maria”? Ngược lại, hay ta để đôi tai của mình nghe những tiếng gọi của quyền lực, của danh vọng, của tiền bạc, là những thứ chỉ đưa ta tới chốn thung lũng âm u, nghi ngờ, chết chóc?
 
 
Đức Giê-su Phục Sinh không bao giờ ngừng gặp gỡ, cho dù đó có là giờ thứ hai mươi lăm. Cho dù ta chỉ là một người “cứng lòng tin” trong số cả triệu người đã tin, muốn được gặp Ngài

Để gặp gỡ, sẽ không bao giờ Ngài mệt mỏi bởi thời gian. Sẽ không bao giờ Ngài thất vọng về “con số”, dù đó chỉ là con số một. Thì đây, đã có một Phao-lô tại Damas, một Augustino thành Hippo, một Phanxicô Assisi, một Charles de Foucauld, một Pascal v.v…

Riêng Tông đồ Phao-lô, ngài đã làm chứng điều này. Ngài nói: “Người cũng đã hiện ra với tôi, (trước đó là hơn năm trăm anh em một lượt), là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non”(x.1Cor 15, 8)

Đừng bao giờ thắc mắc vì sao tông đồ Tô-ma,  lý do nào ngài đã “vắng mặt”, vào ngày thứ nhất trong tuần,  vì đó là điều không còn cần thiết. 

Nếu có hỏi, hãy hỏi mỗi chúng ta hôm nay, rằng:  Lý do nào khiến chúng ta “vắng mặt” trong ngày Lễ Chúa Nhật?

Chúa Giêsu Phục Sinh không quá thiên vị, Ngài vẫn đứng đó, đứng ngay “Bàn Tiệc Thánh” chờ đợi những ai tìm đến gặp Ngài.Ngài vẫn đứng ngoài cửa tâm hồn của ta và nói: “Này đây, Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng ta  và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta”(x.Kh 3, 20)

Vâng, để thấy Chúa Giê-su Phục Sinh, để Chúa Giê-su Phục Sinh gọi tên của mình, không nhất thiết phải  tìm  đến “ngôi mộ trống” ở Giê-ru-sa-lem năm xưa. Nơi cần đến, chính là ngôi nhà thờ, tại bàn Tiệc Thánh Thể,  nơi đây, Đức Giê-su Phục Sinh, qua vị linh mục, sẽ nói với chúng ta rằng: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian. Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa”.  

Đừng quên, lời phán hứa của Đức Giê-su, cho những ai đến tham dự bàn Tiệc Thánh, rằng “Ai ăn … sẽ được sống muôn đời”.

Thưa bạn, bạn có tin không? Vâng, câu trả lời là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, hãy nghe lời khuyên của  Lm Charles E. Miller, rằng: “Chúng ta đừng để mình trở thành kẻ đa nghi, và cũng đừng vắng mặt như Thánh Tô-ma”.

Vâng, đã là một Ki-tô hữu: “đừng vắng mặt như Thánh Tô-ma”.

Petrus.tran

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...