Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2016

Đức Giê-su: Chúa của sự sống.



Chúa Nhật X - TN – C

Đức Giê-su: Chúa của sự sống.

Cuộc nội chiến đẫm máu ở Syria đã kéo dài được 5 năm. Theo báo cáo của một tổ chức xã hội tại Luân Đôn, cuộc chiếc này đã cướp đi sinh mạng của hơn 11.000 trẻ em, trong đó có nhiều em thiệt mạng vì bị tra tấn và hành hình.

Chúng ta hãy nghe tổ chức nghiên cứu The Oxford Research Group thông báo, rằng: hầu hết trong số 11.420 trẻ em thiệt mạng là do nổ bom, và rất nhiều em khác bị bắn chết. Các trẻ em nam là mục tiêu chính của những kẻ giết người, theo tiết lộ của báo cáo mang tên "Stolen Futures: The Hidden Toll of Child Casualties in Syria." (tạm dịch: “Tương lai bị đánh cắp: Con số chưa kể về trẻ em thiệt mạng tại Syria”).

Không chỉ con số thương vong trong bản báo cáo làm mọi người ghê sợ, mà còn là cách mà những trẻ em này mất mạng trong cuộc xung đột này”, tác giả Hana Salama chia sẻ trong một bài phát biểu.

Theo như báo cáo, có hơn 1.000 trẻ em bị hành hình (764 em) hoặc bị bắn tỉa (389 em). Khoảng 112 em khác thậm chí phải chịu tra tấn dã man trước khi bị giết. (nguồn: internet).
Đứng trước thảm trạng này, người đứng đầu Giáo Hội Công Giáo, ĐTC Phanxicô không thể không chạnh lòng thương xót. Thế nên, ngài đã kêu gọi mọi tín hữu hãy cùng nhau cầu nguyện cho trẻ em Syria cách đặc biệt vào thứ Tư sắp tới, ngày Quốc tế Thiếu nhi (01/06). ĐTC đã đưa ra lời mời gọi này sau khi ngài đọc Kinh Truyền Tin chung với khách hành hương tại quảng trường thánh Phê-rô hôm Chúa Nhật vừa rồi, 29/05/2016.

Nói tới trẻ em, có thể nói rằng, đó là thành phần luôn được Đức Giê-su bày tỏ tình yêu thương và  lòng thương xót của Ngài một cách đặc biệt. 

Thật vậy,  chuyện kể rằng, một lần nọ, khi có người  dẫn trẻ em đến với Ðức Giêsu, để Người đặt tay trên chúng và cầu nguyện. Các môn đệ đã la rầy chúng. Nhưng Ðức Giêsu nói: “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời thuộc về những ai giống như chúng.” Rồi Ngài đã đặt tay trên chúng.
Và một câu chuyện khác, một câu chuyện sống động về lòng thương xót của Đức Giê-su đối với trẻ em, đó là câu chuyện Ngài đã “cho con trai một bà góa thánh Nain sống lại”, như một điển hình.
**
Vâng, câu chuyện đã được thánh sử Luca kể như sau: Hôm đó, Đức Giêsu cùng với các môn đệ đi đến một thành có tên là Nain. Ngoài các môn đệ, còn có “một đám rất đông cùng đi với Người” (Lc 7,11). 

Khi Đức Giê-su đến gần cửa thành, thì cũng là lúc “người ta khiêng một người chết đi chôn”. Người chết là “con trai duy nhất” của một người đàn bà, và nghiệt ngã thay, người đàn bà đó lại là “một bà góa”.

Một bà góa, có nghĩa là chồng bà ta đã chết, lại thêm hôm nay người con duy nhất cũng chết thì quả là thật đắng cay. Cuộc đời bà ta, giờ đây coi như “chỉ thấy một chân trời tím ngắt… chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất… và nước mắt”.

Thật vậy, vào thời đó, đối với các góa phụ, đa số họ đều có một cuộc sống rất khó khăn, khó khăn là bởi quan niệm trọng nam khinh nữ, cho nên, họ có rất ít cơ hội để tìm kiếm việc làm. Thế nên,  hỏi sao tương lai bà góa này không “đầy nước mắt”!

Trở lại câu chuyện bà góa.  Xin hỏi, nếu là bạn, bạn sẽ làm gì trước tình cảnh này? “Ignore – phớt tỉnh Ăng-lê”! Hay bạn sẽ thực hiện lời Kinh Thánh đã dạy, rằng: “Đừng ngoảnh mặt không nhìn những ai đang than khóc, với những người sầu khổ, con hãy biết chia buồn” (x.Hc 7,34)

Tạ ơn Chúa. Đức Giê-su đã cho chúng ta câu trả lời. Vâng, Đức Giê-su đã không làm ngơ. Trái lại, Ngài đã đem lại cho người đàn bà góa một sự “bất ngờ” không tưởng.

Thật vậy, ngay khi “trông thấy bà”, chuyện kể tiếp rằng: “Chúa chạnh lòng thương xót”.

Và, không đợi bà góa đó cất lời xin xỏ, Đức Giêsu  đã nói với người đàn bà góa, rằng: “Bà đừng khóc nữa!”. 

Đừng khóc nữa! Nếu lời nói này thốt ra từ miệng của một ai đó, chắc hẳn, đó chỉ là một lời an ủi, mà thôi. Nhưng, nó được thốt ra từ miệng một người từng tuyên bố: “Tôi đến là để chiên được sống và sống sung mãn”, thế nên, nó đã mang đến một niềm hy vọng. 

Và quả thật niềm hy vọng đó đã  “vươn lên trong màn đêm, trong u sầu”.

Hôm đó, trong khung cảnh u sầu, Đức Giê-su,  “Người lại gần, sờ vào quan tài… và nói “Này người thanh niên, tôi bảo anh: hãy trỗi dậy”. Kinh ngạc thay! mọi người hiện diện nơi đó đều thấy “Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói”.

Và thật xúc động làm sao khi Đức Giê-su “trao anh ta cho bà mẹ”. 

Khép lại câu chuyện, thánh sử Luca cho biết: nhiều người khác đã lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa rằng: ‘Một vị ngôn sứ đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân người’. 

***   
Câu chuyện này đã xảy ra hơn hai ngàn năm. 

Có lẽ, hôm nay, sẽ chẳng bao giờ xảy ra chuyện Đức Giê-su hiện đến tái thực hiện những gì Ngài đã thực hiện tại Nain, năm xưa.  

Có lẽ, hôm nay, sẽ chẳng bao giờ xảy ra chuyện Đức Giê-su hiện đến một đám tang của một tín hữu Công Giáo nào đó,  “sờ vào quan tài”, và nói với  người đã chết, “ này bạn, tôi bảo anh, hãy chỗi dậy”  v.v…

Thế  nhưng, có một chuyện, dù đã qua hơn hai ngàn năm, nó vẫn tiếp tục xảy ra, xảy ra cho đến ngày tận thế, đó là Thiên Chúa vẫn tiếp tục “viếng thăm dân người.”

Ngài vẫn tiếp tục đi đến thành kia, có thể là  Saigon, có thể là Hà Nội, có thể là Huế, có thể là một thành phố nào đó trên khắp thế giới này… để “viếng thăm dân Ngài”. Viếng thăm, không phải để  “sờ vào quan tài” của ai đó, nhưng là  để  “sờ vào tâm hồn” mỗi chúng ta. 

Người con của bà góa tại Xarepta, con gái của ông trưởng hội đường tên là Gia-ia, người bạn thân thiết của Đức Giê-su là anh Lazarô và chàng thanh niên con bà góa  ở Nain, những người này đã chết và được  cho sống lại, nhưng hôm nay họ cũng đã chết. 

Cho nên, điều hôm nay chúng ta cần nhớ, đó là: tất cả những gì Thiên Chúa, qua ngôn sứ Êlia, đã thực hiện tại Xarépta và sau này Chúa Giêsu thực hiện tại Nain, không chỉ là để gửi đến mọi người một thông điệp: Thiên Chúa là “Chúa của sự sống” mà còn là để “Mặc Khải Con của Người” và để “loan báo Tin Mừng về Con của Người” một Tin Mừng rằng “Ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống đời đời” (x.Ga 3, 16). 

Cuộc “viếng thăm” của Đức Giê-su hôm nay, nếu Ngài có “sờ và chạm” thì đó là sờ và chạm vào tâm hồn chúng ta. Nếu có nâng chúng ta ra khỏi cái chết, nói theo cách nói của Lm Charles E. Miller, thì Đức Giê-su sẽ “nâng ta dậy từ cái chết do tội lỗi gây ra” 

Nói về cuộc viếng thăm này, thánh Phao-lô khẳng định, đó chính là “ân sủng của Người – Người đã đoái thương” (x.Gl 1, 15-16)

****
Vâng, chúng ta đang sống trong một xã hội cổ vũ cho một nền “văn hóa sự chết”. Có lẽ không cần mất nhiều thì giờ để diễn giải nền văn hóa sự chết là nền văn hóa như thế nào. Chỉ cần nói tắt một lời, đó là một nền văn hóa chối bỏ việc “Thiên Chúa vẫn viếng thăm dân Người”.

Chối bỏ việc “Thiên Chúa vẫn viếng thăm dân Người”, xã hội hôm nay nhận được gì? Thưa, “sự chết”. Chết-lương-tâm, chết-công-bằng, chết-nhân-hậu, chết-từ-tâm, chết-trung-tín, chết-hiền-hòa, chết-tiết-độ v.v…  

Chẳng cần đi  đâu xa, những cái chết nêu trên, đã và đang xảy ra hằng ngày, ngay trên chính quê hương Việt Nam chúng ta, một Việt Nam được xây dựng trên nền tảng chủ thuyết vô thần.

Thì đây, có mỉa mai không, khi hôm nay, đi đâu cũng nghe  người ta nói: “Nhân phẩm ngày nay xuống giá rồi. Chỉ còn thực phẩm giá cao thôi. Lương tâm còn rẻ hơn lương thực. Chân lý, chân giò cũng thế thôi”!!!

Là một Ki-tô hữu, chúng ta phải làm gì để thoát khỏi những cái chết nêu trên? Thưa, đừng rời xa “người mẹ thiêng liêng”, một người mẹ đã được Đức Giê-su ban cho, đó chính là “Giáo Hội”. 

Vâng, Giáo Hội, Lm Charles E. Miller chia sẻ, chính là “một bà mẹ hiền nuôi dưỡng chúng ta bằng lời Kinh Thánh và Mình Máu Thánh Đức Ki-tô”.

Được nuôi dưỡng bằng “Kinh Thánh và Mình Máu Thánh Đức Ki-tô”, chúng ta còn được hưởng một đặc ân từ Thiên Chúa vào ngày sau hết, ngày mà hết thảy mọi người trên trái đất này “phải chết”. Vâng, ngày đó, cũng theo lời Lm Charles E. Miller chia sẻ, “Chúa Giê-su sẽ không sờ vào quan tài của chúng ta, cũng chẳng bảo những người khiêng dừng lại, mà sẽ vươn ra với đôi tay đầy uy lực của Người, để nâng ta dậy từ cõi chết trong ngày sống lại”. 

Thưa Bạn, bạn có tin như thế không? Câu trả lời, hẳn là, dành riêng cho mỗi chúng ta. Thế nhưng, đừng quên, đã có nhiều người tin, và họ đã “loan truyền khắp cả Giu-đê và vùng lân cận”. 

Thế nên, có gì ngăn cản chúng ta tin, tin Đức Giê-su chính là “Chúa của sự sống”.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2016

Chính anh em…



Chúa Nhật IX – TN - C

Lễ Mình Máu Chúa Ki-tô.   

Chính anh em…

Đức Giê-su từng nói: “Tôi đến là để chiên được sống và sống dồi dào”. Thật vậy, trong ba năm ra đi rao giảng Tin Mừng, đã có lần, khi nhìn thấy đoàn dân đông đúc kéo đến, Ngài không khỏi “chạnh lòng thương xót” và đã thốt lên với các môn đệ rằng: “họ như bầy chiên không người chăn dắt”.

Đức Giê-su không chỉ nói, Ngài đã hành động, hành động như một vị chủ chăn nhân lành. Câu chuyện xảy ra tại Bét-xai-đa, nơi Đức Giê-su cùng nhóm mười hai dự định nghỉ ngơi sau những ngày ra đi vào “các làng mạc loan báo Tin Mừng và chữa bệnh”, như một điển hình.
**
Câu chuyện được kể rằng: Hôm đó, khi biết Đức Giê-su và các môn đệ đến Bét-xai-đa, không rõ vì cớ gì mà nhiều người biết, thế là người này rỉ tai người kia, và kết quả là có rất đông người “đi theo Người”.

Nhìn họ đến với mình, Đức Giê-su không khỏi chạnh lòng thương xót, thế nên, “Người tiếp đón họ”. Và cũng như bao lần khác, Ngài “nói với họ về Nước Thiên Chúa”, đồng thời “chữa lành những ai cần được chữa” (x.Lc 9, 11)

Cứ sự thường, tới đây,  mọi người giải tán ra về. Còn hôm nay, có vẻ như đám đông dân chúng không bận tâm, họ vẫn cứ thản nhiên quây quần bên Đức Giê-su.

Trong khi đó, nhóm mười hai bắt đầu hốt hoảng… Không hốt hoảng sao được. Số lượng người đi theo Đức Giê-su hôm đó, theo các môn đệ thống kê, khoảng năm ngàn người.  Mà lại, “ngày đã bắt đầu tàn rồi”.

Vấn đề bây giờ thật khẩn cấp. Đó là ẩm thực… “Năm ngàn người đàn ông” chứ có ít ỏi gì.

Chính vì thế các ông “gợi ý” với ông Thầy của mình rằng nên giải tán đám đông này bằng cách “Hãy để họ vào các làng mạc và nông trại quanh đây, tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn”.

Các môn đệ chưa kịp dứt lời thì Đức Giêsu nói một cách quyết liệt rằng: “Chính anh em hãy cho họ ăn” (Lc 9, 13).

Ôi! tệ thật… Chỉ có “vọn vẹn năm cái bánh và hai con cá”, thế mà Thầy mình lại bảo “chính anh em” làm công việc “cứu đói”, thì có phải là đội đá vá trời!

Vâng, hôm đó, trong khi các môn đệ đang lúng túng  vì số lương thực quá ít ỏi,  thì, Đức Giê-su rất bình thản, Ngài : “cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho đám đông” (Lc 9, 16).

Vâng lời Thầy, các ông dọn ra… sau khi các ông “bảo họ ngồi thành từng nhóm khoảng năm mươi người một”.



Câu chuyện kể tiếp rằng: “Mọi người đều ăn, và ai nấy đều no nê. Những miếng vụn còn thừa, người ta thu lại được mười hai thúng”. (Lc 9,17).

Hôm đó, các ông… các ông đã thấy rõ “năng lực và quyền phép” của Thầy mình.

***
Phải chăng Đức Giêsu dùng năng lực và quyền phép biến hóa năm chiếc bánh và hai con cá chỉ với ý nghĩ là để nuôi năm ngàn người ăn trên lãnh vực “thuộc thể”!

Thưa không, bởi nếu chỉ có thế thì cũng chẳng khác gì phép lạ manna xưa thời Mosê “đã ăn… và đã chết”.

Nhớ, bốn mươi ngày trong hoang địa, ăn chay và cầu nguyện, và sau đó là cảm thấy đói, thế nhưng, Đức Giê-su vẫn không bị Satan cám dỗ về cái ăn. Trái lại, Ngài đã cho tên cám dỗ thấy (và bây giờ là mỗi chúng ta), thiếu ăn phần thuộc thể không quan trọng bằng thiếu ăn phần thuộc linh. Thế nên, Ngài đã truyền dạy:  “Đã có lời chép rằng: Người ta không chỉ sống nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra”.

Đức Giêsu, khi thực hiện phép lạ này, Ngài như muốn chuẩn bị tinh thần cho các môn đệ,  để sau này ngay tại bàn tiệc trong lễ Vượt Qua, các ông hiểu được ý nghĩa của việc “hóa Bánh” một tấm bánh mang đến sự sống đời đời..

Thật vậy, tại nơi bữa tiệc Vượt Qua. Cũng vẫn là những cử chỉ quen thuộc. Đức Giêsu “cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói; Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy… ” (Mt 26, 26).

Giờ đây, bánh không còn là bánh nữa. Nhưng là “Mình Thầy, hiến tế vì anh em”. Cũng vậy, rượu không còn là rượu. Nhưng là “Máu Thầy, máu Giao Ước đổ ra cho muôn người được tha tội”.


     Một  Giao Ước mới được lập ra. “Cho đến khi Triều Đại Thiên Chúa đến” (x.Lc 22,18).

Và đó là lý do, hôm nay,  toàn thể Giáo Hội mừng kính trọng thể Mình Máu Chúa Ki-tô.

Cho nên, thật là sai lầm khi một số người cho rằng Bí Tích Thánh Thể là do Giáo Hội tự nghĩ ra.

“Bí tích Thánh Thể không do Giáo Hội,  không do bất cứ ai bịa ra. Chính Chúa Kitô thiết lập. Thánh lễ ngày nay tái diễn và làm sống lại Thánh lễ Chúa Kitô đã dâng khi xưa trên thánh giá để tiếp tục chuyển ơn cứu rỗi cho mọi người, mọi thời và mọi nơi.


Chính Đức Giêsu đã nói đi nói lại nhiều lần: “Thịt Ta thật là của ăn, máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta  thì sẽ được sống đời đời”(Ga 6,54-55).



Ngay cả khi Đức Giêsu biết rõ ràng, rằng: Khi Ngài nói ra những điều ấy, người ta sẽ không tin, sẽ nhạo cười và sẽ bỏ đi. Ngài vẫn cứ nói. Điều đó cho thấy vấn đề Đức Giêsu nói ra quan trọng và cần thiết như thế nào.” (trích bài giảng của Lm. Giuse Đinh lập Liễm)

****
Trở lại với câu chuyện Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều. Dù câu chuyện đã xảy ra hơn hai ngàn năm, là một Ki-tô hữu, hãy nhớ rằng, nó vẫn còn tính thời sự đối với chúng ta.


 Nói rõ hơn, lời Đức Giê-su nói với các môn đệ xưa: “Chính anh  em hãy cho họ ăn”, cũng là lời Ngài nói với chúng ta, hôm nay.


“Họ” là ai? Thưa, đó là những người “ngồi quanh đây trán in vết nhăn”. Không phải năm ngàn người. Không phải bốn ngàn người, mà là rất nhiều triệu…triệu người Việt Nam chúng ta.


Họ đang nhăn nhó vì vẫn chưa được chúng ta bảo ngồi lại “thành từng nhóm năm mươi người”. Họ vẫn còn lang thang rên rỉ ở vỉa hè, ở xó chợ. Họ đói khát sự công bằng và bác ái. Họ đói khát chân lý và sự thật. Họ đói khát sự sống đời đời. Họ đói khát lời Đức Chúa Trời. Nói tắt một lời họ đói khát “Tình Yêu Thương Của Thiên Chúa”.


Ai sẽ cho họ ăn? Thưa, có phần chắc, nếu Đức Giê-su hiện đến, Ngài sẽ nói: “Chính anh  em hãy cho họ ăn”.


Thật vậy, chính chúng ta phải là nhà sản xuất ra  những loại lương thực “bác ái, nhân hậu, từ tâm, hiền hòa, trung tín,  tiết độ”, là những loại lương thực có thể thỏa mãn những cơn đói, nêu trên..   


Hãy tin, Đức Giê-su, qua việc ban ơn Chúa Thánh Thần, Ngài vẫn luôn đồng hành với chúng ta trong chương trình “thỏa lấp những cơn đói” của thời đại.


“Họ” còn là ai? Thưa, gần nhất, đó là những người con, người cháu của chúng ta.



Vâng, có thể nói rằng, chưa bao giờ chúng ta phải chứng kiến một thế hệ trẻ tăng trưởng chiều cao thể xác một cách bất thường, nhưng lại “lùn tâm linh – thiểu năng tâm hồn”, một cách tệ hại.

Vì sao? Phải chăng, vì họ quá dư thừa một thứ “man-na ăn vào rồi cũng chết”, nhưng lại thiếu một thứ “lương thực thường tồn” đem lại sự sống đời đời”?



Thưa, đúng vậy.  Chúng ta quá quan tâm đến thể xác con em mình. Chúng ta không tiếc rẻ tiền bạc, thời gian lo cho con em mình phát triển tài năng, học thức. Đó là điều tốt. Thế nhưng, một con người thiểu năng tâm hồn cũng như lùn tâm linh, có phần chắc, xã hội cũng như Giáo Hội, chỉ rặt những con người, sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi. (Việt Nam, thời xã nghĩa hôm nay, như một minh chứng điển hình).


Trách nhiệm thuộc về ai, nếu không phải là chính chúng ta!

Thế nên, việc của chúng ta hôm nay, đó là hãy đưa con em mình đến nơi chúng có thể nhận lãnh lương thực thường tồn.

Nơi đó là nơi nào? Thưa, nhà thờ. Nơi mà, mỗi ngày có một thánh lễ sẽ được cử hành.

Hãy nhớ rằng: Thánh Lễ là một phần không thể thiếu trong đời sống đức tin Công Giáo. Như, con người cần lương thực nuôi phần thuộc thể. Người Ki-tô hữu cũng cần lương thực nuôi phần thuộc linh.  Mà, lương thực nuôi phần thuộc linh kiếm ở đâu, nếu không là ở trong thánh lễ!


Trong thánh lễ, có hai “món ăn” người tín hữu sẽ được nhận lãnh để nuôi dưỡng phần thuộc linh. Đó là món ăn “Lời Chúa”  qua phần phụng vụ Lời Chúa, và món ăn “Mình Máu Thánh Chúa” nơi bàn Tiệc Thánh Thể.



Thế nên, hãy tự hỏi mình rằng: tôi đã làm tròn trách nhiệm của mình đối với con em của tôi?


Vâng, hơn hai ngàn năm đã trôi qua, hôm nay, Đức Giêsu, qua các Linh Mục,  Ngài vẫn  “ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho…”.


Ai sẽ là người được trao cho… Ai sẽ làm nhiệm vụ  “dọn ra cho đám đông”?  Thưa, chính chúng ta.
Chính chúng ta. Đó là lệnh truyền của Đức Giê-su: “Chính anh  em hãy cho họ ăn”.


Vâng, Chính anh em…


Petrus Tran

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2016

Sáng danh Thiên Chúa Ba Ngôi.



Chúa Nhật VIII – TN  

Sáng danh Thiên Chúa Ba Ngôi

Trước khi về trời, Đức Giê-su truyền cho  mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến một ngọn núi, ở đó, Ngài đã ban một huấn lệnh cuối cùng, huấn lệnh, rằng: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh  em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền dạy cho anh em.” (x.Mt 28, 18-20) 

Lời truyền dạy của Đức Giê-su “làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” không chỉ đem lại cho những ai lãnh nhận, được hưởng ơn cứu độ, nhưng, qua lời truyền dạy của Giáo Hội, người tín hữu còn được  lãnh hội một chân lý, chân lý  Một Chúa Ba Ngôi. Giáo lý Công Giáo dạy rằng : Chỉ có một Thiên Chúa nhưng có Ba Ngôi là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh thần.   

Và, đó là lý do, Chúa Nhật hôm nay, (22/05/2016), toàn thể Giáo Hội mừng kính trọng thể Lễ Chúa Ba Ngôi.

** 
Một Chúa Ba Ngôi hay có thể gọi là “Ba Ngôi Thiên Chúa”, đó là trung tâm điểm của đức tin Ki-tô giáo. Có người nói rằng, Ba Ngôi Thiên Chúa,  một danh từ thần học, tuy không được chép trong Thánh Kinh nhưng lại là “danh từ” rõ nghĩa nhất để diễn tả về Thiên Chúa trong Kinh Thánh. 

Tuy Kinh Thánh không trực tiếp nói về Mầu Nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa, nhưng, Kinh Thánh vẫn phảng phất đây đó những trình thuật, những thông điệp về Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Trước hết là ở chương một sách Sáng Thế Ký,  trình thuật đã mô tả “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Đất còn trỗng rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước”(x.St 1, 1-2).

Điều này đã nói lên một chân lý rằng, Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, hai ngôi trong Ba Ngôi Thiên Chúa cùng hiện diện nơi công trình sáng tạo. 

Cựu Ước là vậy, còn Tân Ước thì sao?  Thưa, Phúc Âm Matthêu, qua trình thuật biến cố Đức Giêsu chịu phép rửa tại sông Giodan, tác giả đã  cho chúng ta thấy hình ảnh Ba Ngôi Thiên Chúa thật rõ nét.

Thật vậy, “ Khi Đức Giêsu chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra”. Chúa Thánh Thần, lại một lần nữa, chính là “Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người”. Và Chúa Cha, từ trời cao, Người đã phán “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3, 16-17).

Qua lời phán của Chúa Cha từ trời cao, hình ảnh về một “Chúa Con” không ai khác chính là Đức Giê-su. Và chính Đức Giê-su, Ngài cũng đã hơn một lần khẳng định lại điều này, rằng “Ta với Cha là một… Ai thấy Ta là thấy Chúa Cha”. 

***
Nói về Một Chúa Ba Ngôi, người ta thường ví von qua  hình ảnh như: so sánh Ba Ngôi Thiên Chúa giống như H2O, tuy ở ba dạng thể: thể lỏng (nước lỏng), thể rắn (nước đá), và thể khí (hơi nước) nhưng tất cả đều được gọi là H2O.  Có người đã so sánh về một quả trứng. Nó có vỏ bọc, có lòng đỏ và có lòng trắng, nhưng cũng chỉ là quả trứng. Và họ cũng không quên hình ảnh về mặt trời nơi phát ra ánh sáng và sức nóng nhưng cũng chỉ được gọi là mặt trời.

Tuy nhiên, tất cả những so sánh đó cũng chỉ là những diễn tả môt cách khập khiễng về “Ba Ngôi Thiên Chúa”.
Giảng dạy về  Ba Ngôi Thiên Chúa, Đức Giêsu đã không dùng những ngôn ngữ “giới hạn” mà con người đã dùng. Vâng, Ngài đã dùng một thứ ngôn ngữ tuyệt diệu để diễn tả về Thiên Chúa Ba Ngôi, đó chính là ngôn-ngữ-tình-yêu… một thứ ngôn ngữ không giới hạn.

Thật vậy, với Chúa Cha, Đức Giê-su nói:  Thiên Chúa (Cha) “yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”. 

Và rằng: Với Chúa Con “(Ngài)đến thế gian, không phải để lên án thế gian… ”, nhưng đến thế gian là để cứu thế gian bằng chính cái chết của Ngài, như lời Chúa Con đã nói: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”.

Với Chúa Thánh Thần, hãy nghe tiếp những lời nói sau đây , và chúng ta sẽ nghe rõ cái ngôn ngữ tình yêu mà Đức Giê-su đã sử dụng để nói về Ba Ngôi Thiên Chúa. 

Hôm đó, Đức Giêsu đã nói: “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh  em đến sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến. Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh  em. Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy.”(x.Ga 16, 13-14).

Với những lời loan báo như thế, có gì để ngăn cản chúng ta, hôm nay, cất tiếng tuyên xưng: “Chúa là Thiên Chúa chân thật và hằng hữu, chúng con tôn thờ Ba Ngôi tuy riêng biệt, nhưng cùng một bản thể duy nhất và một uy quyền ngang nhau”.

****
Hôm nay, toàn thể Giáo Hội mừng kính trọng thể lễ Thiên Chúa Ba Ngôi.

Nếu… nếu chúng ta được mời đến một cộng đoàn, một nhóm nhỏ hoặc chỉ một người, để nói về Ba Ngôi Thiên Chúa… Vâng, chúng ta sẽ nói gì?

Phải chăng chúng ta sẽ ‘bổn cũ soạn lại” mượn những vật thể như quả trứng, nước hoặc mặt trời v.v… để diễn tả về một Ba Ngôi Thiên Chúa và kết thúc bằng câu chuyện thánh Augustino đi lang thang trên bờ biển rồi than thở rằng, Thiên Chúa là Đấng vô hình… rằng thì là mà Thiên Chúa cao xa làm sao nói hết về Người ?

Ôi ! Thiên Chúa là Đấng vô hạn sao ta lại dùng những vật thể hữu hạn để mà so sánh về Người! Và Thiên Chúa nào có cao xa… Người đã mặc lấy xác phàm và đang cư ngụ giữa chúng ta kia mà!

Vâng, không gì tốt hơn là tiếp tục sử dụng “ngôn ngữ tình yêu”, thứ ngôn ngữ được Đức Giê-su đã sử dụng, khi xưa.

Nói rõ hơn, đó là, hãy đem mối tương quan mật thiết giữa Ba Ngôi Thiên Chúa, một mối tương quan “hiệp nhất trong tình yêu”, làm hành trang cho cuộc sống đức tin của mình, bởi, chỉ có một cuộc sống như thế, chúng ta mới có thể nói về một “Thiên Chúa Ba Ngôi”, thực tế nhất.

Thật vậy, hãy tưởng tượng, trong cuộc sống thường nhật, trước những va chạm, những vu oan giá họa của người khác, chúng ta “chậm giận và hay tha thứ”, phải chăng hình ảnh về một “Đức Chúa Cha” đã được  chúng ta công bố  trước đôi mắt mọi người!

Hãy tưởng tượng, trong một cộng đoàn, chúng ta luôn sống trong tinh thần “phục vụ” hơn là “được phục vụ”, phải chăng, hình ảnh về một “Chúa Con” đã được chúng ta trình làng trước bàn dân thiên hạ!

Cuối cùng, hãy tưởng tượng, trong cuộc sống gia đình,  cũng như ngoài xã hội, hay trong Giáo Hội, trước nhiều thành viên, nhiều con người,  tính khí khác thường, chúng ta luôn “nhẫn nại, từ tâm, hiền hòa”, phải chăng, hình ảnh về một “Chúa Thánh Thần” không chỉ hiện diện trong ta, mà còn tỏa chiếu trên thế gian này!

Hỏi là vậy. Câu trả lời là của mỗi chúng ta. 

Thế nhưng, trước hết, hãy nhớ rằng: xưa, tại dòng sông Gio-dan, khi Đức Giê-su chịu phép rửa, từ trời cao, có tiếng phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta”. Thì, nay, nhờ Bí Tích Thanh Tẩy, Thánh Thần Chúa làm cho chúng ta nên nghĩa tử của Người, nhờ đó chúng ta được kêu lên: “Áp-ba! Cha ơi!” (x.Rm 8, …15)

Được gọi Thiên Chúa là “Cha ơi!”. Vậy, cớ gì chúng ta lại không sống một cuộc sống tương quan mật thiết giữa Ba Ngôi Thiên Chúa, một mối tương quan “hiệp nhất trong tình yêu”?

Bởi vì, sống như thế, trước hết, không chỉ là chúng ta tiếp tay vào công trình “sáng tạo, cứu chuộc, thánh hóa” của Ba Ngôi Thiên Chúa, đối với thế gian này, nhưng còn là để làm: “Sáng Danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần”.

Nói tắt một lời, đó là làm “Sáng Danh Thiên Chúa Ba Ngôi”.

Petrus.tran

Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một.

  Chúa Nhật XXX – TN – A Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một Đọc các sách Tin Mừng, chúng ta được biết, sứ vụ rao giảng Tin Mừng của...