Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2016

Xin cho con biết tự hạ…

Chúa Nhật XXII -TN – C 
 
Xin cho con biết tự hạ…
 
Trong bảy mối tội đầu, chúng ta được dạy: “thứ nhất chớ kiêu ngạo”. Vâng, được dạy như thế, thế nhưng, có bao giờ chúng ta tự hỏi, tại sao ‘sự kiêu ngạo’ lại là thứ tội được xếp hàng đầu? Thưa, vì nó chính là mối tai họa nguy hiểm nhất, khủng khiếp nhất cho con người. 
 
Thật vậy, có lẽ không ai trong chúng ta lại không ngậm ngùi nhớ tới tai họa đau thương mà nguyên tổ Adam và Eva xưa, đã gây ra. Cũng chỉ vì “kiêu ngạo” muốn bằng Thiên Chúa, hai ông bà đã nhẹ dạ cả tin, nghe lời con rắn “là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng”, xúi giục ăn “trái cây ở giữa vườn” mà Thiên Chúa đã bảo “không được ăn”, để rồi hai ông bà (cùng đám hậu duệ con cháu sau này), phải đón nhận sự trừng phạt của Thiên Chúa, một sự trừng phạt là cái chết, như một bài học để đời. 
 
Ấy thế mà, bài học đó, vẫn không làm cho con người hôm nay bớt đi tính kiêu ngạo, sự tự cao tự đại. Vẫn còn đó những con người với bản tính kiêu căng tự phụ, nên đã gây ra hai cuộc đại chiến thế giới, theo lịch sử cận đại đã ghi lại, minh chứng cho điều này. 
 
Con người quên rằng: “Kiêu căng đưa đến sụp đổ, ngạo mạn dẫn đến té nhào” (Cn 16, 18). Thánh Kinh còn cho biết: “Chúa quở trách kẻ kiêu ngạo” (Tv 119, 21). 
 
Còn với Đức Giê-su thì sao? Thưa, thật nhẹ nhàng, Ngài có lời khuyên: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 14, 11). 
 
Lời khuyên này đã được Đức Giêsu công bố trong dịp Ngài tham dự một buổi tiệc, tại nhà một thủ lãnh nhóm Pharisêu. 
 
Vâng, hôm đó, khi chứng kiến cảnh “khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi”, Đức Giêsu, qua một dụ ngôn, Ngài đã dạy cho mọi người một bài học căn bản về thuật xử thế trong giao tiếp đời thường.
“Khi anh được mời đi ăn cưới” ư! Ngài dạy rằng: “Đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng: ‘xin ông nhường chỗ cho vị này’ Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối”… 
 
Thưa quý vị, quý vị đã có lần nào bị như thế chưa? Nếu có, có phải là “mất mặt bầu cua” không nhỉ! Điều căn bản, nói theo ngôn ngữ bây giờ, của “văn hóa tiệc tùng”, Đức Giêsu có lời dạy, rằng “khi anh được mời, thì hãy vào chỗ ngồi cuối, để cho người đã mời anh phải đến nói: Xin mời ông bạn lên trên kia cho…” và Ngài kết luận “Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn”… 
 
Nói cách khác, hãy khiêm nhường và hạ mình, đó chính là nguyên tắc căn bản mà Đức Giêsu muốn nói đến, khi Ngài nhấn mạnh: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”. Đừng “tôn mình lên”, nhưng hãy “hạ mình xuống”. 
 
** Vâng, Đức Giê-su đã không lớn tiếng quở trách, nhưng thật khiêm nhường qua những lời mời gọi “hãy hạ mình xuống”. Thế nhưng, lời mời gọi này lại “chói tai” đối với những ông kẹ Phariseu cũng như các thầy thông luật, tại bữa tiệc hôm đó. 
 
Họ là khách V.I.P đấy nhé! Vip-Phariseu và Vip-thông luật đàng hoàng. Thế nên, tại sao lại không dành “cỗ nhất”, (ồ! không… phải nói là chọn “gối nhất” mới đúng, đúng là vì, theo phong tục Do Thái, họ không ngồi ăn, nhưng là nằm, nằm trên những bộ ghế dài mà ăn), vì chỗ “nhất” trong bữa tiệc, thường là chỗ gần chủ nhà. 
 
Vào thời Đức Giê-su, thứ bậc trong bữa tiệc được ấn định tùy theo danh giá, chức vị hay tài sản của vị khách đó. Thế nên, chẳng có gì ngạc nhiên khi các vị khách mời hôm đó, “cứ chọn cỗ nhất mà ngồi”. 
 
Dù sao, cũng phải nhìn nhận rằng, hôm đó, Đức Giê-su đã có một lời truyền dạy thật “hiền lành và khiêm nhường”, sự hiền lành và khiêm nhường mà chính Ngài đã một lần mời gọi: “Hãy học cùng Ta, vì ta hiền lành và khiêm nhường” (x.Mt 11, 29). 
 
*** Thật ra, điều căn bản, qua lời truyền dạy “hạ mình xuống”, mà Đức Giê-su hướng tới cho một tương lai, và mọi người sẽ được mời gọi tham dự, đó chính là “Bàn Tiệc Thiên Quốc”. 
 
Thì đây, tiếp theo lời truyền dạy cho những vị khách được mời, Đức Giê-su đưa ra thêm một lời truyền dạy cho kẻ “đã mời Ngài”, rằng: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em hay bà con hàng xóm, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi”. 
 
Tại sao Ngài lại đưa ra lời truyền dạy như thế? Thưa, là bởi, tính chất mới mẻ của Nước Trời không có chuyện “bánh ít cho đi, bánh quy cho lại”. 
 
Ngược lại, Bàn Tiệc Thiên Quốc, phải được “mở rộng” cho tất cả mọi người. Cho cả “những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù”… dẫu rằng: “Họ không có gì đáp lễ”. Sau đó, Đức Giê-su nói tiếp: “Như thế… mới thật có phúc”. Và cuối cùng, Ngài kết luận, ơn phúc đó “sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại”. 
 
Vâng, có gì đó, giống như lời Kinh Thánh xưa đã dạy: “Được đặt làm chủ tọa ư? Con đừng có lên mặt, giữa thực khách, hãy xử sự như một người đồng bàn, lo cho người ta, rồi mới ngồi vào chỗ. Chu toàn mọi bổn phận xong, con hãy yên vị và chung vui với mọi người” (Hc 32, 1-2). 
 
“Lo-cho-người-ta, rồi mới ngồi vào chỗ”, phải chăng cũng là một cách “tự-hạ-mình”!
 
**** Đừng “tôn mình lên”, nhưng hãy “hạ mình xuống”. 
 
Đừng nghĩ rằng, tôi chỉ là một phàm nhân đầy tội lỗi và yếu đuối, thật khó mà thực thi đời sống tự hạ mình. Cũng đừng nghĩ rằng, tự hạ mình thiên hạ sẽ coi ta là kẻ nhu nhược. 
 
Là một Kitô hữu, nghĩ như thế thật là nguy hiểm. Nghĩ như thế chẳng khác nào chúng ta hãy còn tơ tưởng, còn nặng lòng với danh vọng, với chức vụ, với chiếu nhất chiếu nhì. Mà một khi còn tơ tưởng, còn nặng lòng với “danh vọng, chức vụ, chiếu nhất, chiếu nhì” thì làm sao có thể kềm hãm được lòng ham muốn, sự ganh tị trong tâm hồn chúng ta. 
 
“Ganh tị”. Vâng, đừng quên, nó là mầm mống gây ra tội ác. Câu chuyện anh em nhà Giacóp là một ví dụ điển hình. Chỉ vì ganh tị với Giuse, những người anh của ông đã bán ông cho lái buôn rồi sau đó dàn dựng lấy máu dê thấm vào chiếc áo của ông, để rồi cha của ông sau khi nhận được tấm áo đó đã nghĩ rằng “Giuse đã bị thú dữ xé xác” (St 37, 33). 
 
Với thánh Phaolô, ngài nói “Tôi báo trước cho mà biết, như tôi đã từng bảo: …làm điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Trời” (Gl 5, …22). Cho nên, đừng bao giờ để những cám dỗ của thời đại tác động lên cuộc đời ta, khiến cho ta trở nên “kiêu ngạo, nói lộng ngôn, xấc xược, lên mặt kiêu căng…” (2Tm 3, 2-4), nhưng hãy nhìn vào Chúa Giêsu mà học lấy “sự hiền lành và khiêm nhường” của Ngài.
 
Đây, bài học thứ nhất. Trong bữa tiệc ly, có hình ảnh “tự-hạ-mình” nào đẹp hơn hình ảnh “Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giêsu đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau” (Ga 13, 4-5)!!! 
 
Và, đây, bài học tiếp theo. Có hình ảnh tự-hạ-mình nào đẹp hơn hình ảnh Đức Giê-su “Hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”? (x.Pl 2, 8). Không, tự hạ mình không khó, chỉ cần nhận ra chính mình là ai. 
 
Và, đó là phương cách mà thánh nữ Monica đã thể hiện. Có thể nói rằng, suốt cuộc đời của vị thánh nữ này là một bản trường ca tự hạ mình. Tự hạ mình trước những sai quấy của mẹ chồng, của chồng, của con. 
 
Làm được như thế, vì bà biết mình là ai. Làm được như thế, vì bà biết mình là một người Công Giáo. Chính phương cách tự-hạ-mình như thế, thánh nữ Monica đã “làm thay đổi chồng, con và biến đổi người con trụy lạc, ham chơi, ham lạc thú là Augustinô trở nên người con tốt, người con đẹp cho Giáo Hội” (nguồn; internet).
 
Trở lại câu chuyện dụ ngôn. Vâng, như đã nói ở trên, sử dụng dụ ngôn bữa tiệc trần thế, Đức Giêsu còn muốn hướng mọi người chuẩn bị cho một bữa tiệc khác thịnh soạn hơn. Đó là “bữa tiệc Nước Trời”. 
 
Là một Kitô hữu, trong sự chờ đợi ngày được “mời đến dự tiệc cưới Con Chiên” (Kh 19,9); Chúng ta thật là diễm phúc vì “được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa” ngay tại trần thế này. Một bữa tiệc được chủ nhân Giêsu đãi bằng “Mình và Máu Thánh của Ngài”. Đó chính là “Bữa Tiệc Thánh Thể”.
Thế nhưng, sẽ thật khó để mà tham dự “bàn tiệc thánh”, nếu chúng ta không tự-hạ-mình “thú nhận cùng Thiên Chúa là Cha toàn năng và cùng anh chị em” về những sự kiêu căng, ích kỷ, ghen ghét, hận thù của chính mình. 
 
Và cuối cùng, hãy dâng lời thú nhận đó lên Thiên Chúa, bằng lời nguyện, rằng “Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết con, xin cho con biết Chúa… Xin cho con biết tự hạ, biết tán dương Chúa và chỉ nghĩ đến Chúa” (Augustino). Vâng, “xin cho con biết tự hạ” Amen. 
 
Petrus.tran

Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2016

Hãy chiến đấu để qua cửa hẹp…

Chúa Nhật XXI – TN – C
 
Hãy chiến đấu để qua cửa hẹp…
 
Petrus.tran
 
Lm. Tanila Hoàng Đắc Ánh, trong một lần giảng, có kể một câu chuyện, đó là chuyện sinh hoạt đời thường của mình. Ngài kể rằng: Hồi sống ở Giê-ru-sa-lem để nghiên cứu Kinh Thánh. Một hôm, có việc phải đổi tiền Do Thái để tiêu xài. Khi đến quầy thu đổi ngoại tệ, và sau khi giao dịch xong, ngài trở về. 
 
Thế nhưng, trên đường về, thì biết rằng, người nhân viên giao dịch đưa dư một số tiền khá lớn. Thế là, ngài quay trở lại và trả lại số tiền dư. Người nhân viên sau một phút ngạc nhiên, ông ta thốt lên hỏi: “Có phải ông là người Công Giáo!”. 
 
Thay cho câu trả lời, Lm. Ánh hỏi lại ông ta: “Tại sao ông lại hỏi như vậy?” Ông ta đáp: “Vì tôi thấy, thường chỉ có người Công Giáo mới làm những việc tốt như vậy.” Lm. Ánh hỏi tiếp: “Vậy ông theo đạo nào?”. Ông ta đáp: “Đạo Hồi”. Lm Ánh lại hỏi: “Đạo Công Giáo tốt, sao ông không theo?”. Ông ta trả lời: “Tôi biết chứ. Nhưng đạo Công Giáo không cho lấy nhiều vợ. Theo đạo Hồi, tôi được phép lấy bẩy vợ”… 
 
Đúng, đạo Công Giáo có nhiều người tốt. Theo đạo (CG) không có chuyện “năm thê bảy thiếp”, chỉ được phép “một vợ một chồng”, và không được ly dị. 
 
Theo đạo (CG), hay nói đúng hơn, theo Chúa còn được dạy phải có tâm hồn nghèo khó, sống hiền lành và khao khát nên người công chính. Đối với tha nhân, phải có lòng “xót thương người”, phải “yêu người như chính mình ta vậy” v.v... 
 
Vâng, theo Chúa, có thể nói tóm gọn trong bốn chữ, đó là: “phải vào cửa hẹp”.
 
** Phải-vào-cửa-hẹp… vâng, đó chính là lời truyền dạy của Đức Giê-su trong một dịp Ngài “đi ngang qua các thành thị và làng mạc mà giảng dạy”. 
 
Hôm ấy, không hẹn mà gặp, có một người đến gặp Đức Giê-su. Người này đến gặp Ngài để làm gì? Thưa, người này tìm đến không phải để tranh luận hay xin Đức Giêsu làm một phép lạ nào đó, nhưng là để hỏi Ngài một vấn đề có liên quan đến sự cứu độ.
 
Khi đã diện đối diện với Đức Giê-su, người này cất tiếng hỏi rằng “Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không?” (x.Lc 13, 23).
 
Tại sao người này lại nghĩ “người được cứu thoát thì ít?” Thưa, là bởi, đối với người Do Thái xưa, họ nghĩ rằng, chỉ có dân tộc của họ, một dân tộc được Thiên Chúa chọn làm “dân riêng” của Người, mới là những người được hưởng ơn cứu thoát. 
 
Thế nhưng, với Đức Giê-su, đó không phải là điều Ngài truyền dạy. Thiên Chúa, qua lời truyền dạy của Ngài, là một Thiên Chúa của tình yêu, “…yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3, 16-17). Thiên Chúa, mà Đức Giê-su rao giảng, là một Thiên Chúa, “…sẽ tập họp mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ; họ sẽ đến và được thấy vinh quang của (Người)” (x.Is 66, 18) 
 
Hỡi người Israel kia ơi! Thiên Chúa, qua lời Ngôn sứ Isaia, là một Thiên Chúa như thế đấy. Tập họp mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ (để) họ sẽ đến và được thấy vinh quang của Người, cớ sao lại dám nghĩ rằng “người được cứu thoát thì ít”! 
 
Không, “ơn cứu độ” không là của riêng ai, không chỉ là sự độc quyền của dân tộc Israel, nhưng còn là cho “tất cả thiên hạ, (họ) sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa” (Lc 13, 29). 
 
Hôm đó, thay vì trả lời nhiều hay ít, Đức Giê-su nói với người đã tìm đến gặp mình, rằng: “Hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào…” Còn chuyện những người được cứu thoát, “nếu ít” ư! Đức Giê-su cho biết: vì họ “tìm cách vào mà không thể được”. Không thể, chỉ vì họ là “những quân làm điều bất chính”. 
 
*** “Cửa hẹp”… Vâng, có bao giờ chúng ta tự hỏi, “cửa hẹp” mà Đức Giê-su nói ở đây, hẹp cỡ nào? Có lẽ, không gì tốt hơn là hãy tìm đến “bác thợ mộc Giê-su” và chúng ta sẽ có câu trả lời. 
 
Thì đây, với bác thợ mộc Giê-su, “cửa hẹp” mà Ngài đã nói đến, không phải là cánh cửa bằng gỗ, nhưng nó được thiết kế bằng chính trạng thái tâm hồn của ta. 
 
Tâm hồn ta có sẵn sàng bước qua cánh cửa “hạ mình xuống”, hay không? Có chấp nhận bước qua cánh cửa mang hình dáng “nên như người phục vụ”? Có vui vẻ sơn lên cánh cửa đó màu hồng của lòng thương xót: “Hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi”, hay không? 
 
Cửa-hẹp, với nhà thiết kế Giê-su, nó còn được trang trí bởi những chùm hoa-thánh-linh, hoa “bác ái, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ”. 
 
Nói một cách tổng quát, “cửa hẹp” mà chúng ta sẽ bước qua, đó chính là cánh cửa “Từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9, 23). 
 
**** Người được chọn không ít đâu! Vấn đề của chúng ta hôm nay, đó là, tôi có sẵn sàng “chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào”, hay không? 
 
Mà, dù muốn hay không, trong cuộc sống, như lời Louis Evely nói: “không phải lúc nào cũng chỉ có niềm vui, còn có sương mù và giá lạnh nữa”. 
 
Sương mù và giá lạnh đó là gì? Phải chăng là “cửa hẹp” trong đời ta? 
 
Thưa, đúng vậy. Đúng, cửa hẹp đó, có thể là một căn bệnh nan y, có thể là sự “ra đi” của một người thân nào đó trong gia đình mình. Và có thể là một sự đổ vỡ trong hôn nhân “thôi là hết em đi đường em, tình duyên mình chỉ bấy nhiêu thôi”… 
 
Cửa hẹp đó, cũng có thể là một cuộc làm ăn thất bại, và không thể không nói tới những bất công, những thói xấu, sự trịch thượng của một ai đó, gây ra cho ta, nơi ta sinh sống, hay nơi ta làm việc, hằng ngày v.v…
 
Chán nản tuyệt vọng, than thân trách trời, trách Chúa… Chúa ơi! Sao con khổ thế này!?
Đừng… đừng nản lòng, với niềm tin, hãy coi những biến cố đó như là những lời “sửa dạy” của Thiên Chúa, trong cuộc sống thường nhật của mỗi chúng ta. 
 
Thật vậy, tác giả thư Do Thái, với cảm nghiệm của bản thân, đã cho lời khuyên, rằng: “Anh em hãy kiên trì để cho Thiên Chúa sửa dạy. Người đối xử với anh em như với những người con. Thật vậy, có đứa con nào mà người cha không sửa dạy?” 
 
Đừng… đừng tuyệt vọng… “Tôi ơi! đừng tuyệt vọng”. Vì, như lời tác giả thư Do Thái đã khuyên, rằng: “Vả lại, chúng ta có cha trần thế sửa dạy mà chúng ta vẫn tôn kính, thì chúng ta lại càng phải tùng phục Cha trên trời để được sống”. Và, cuối cùng, ngài cho thêm một lời khuyên: “Thiên Chúa sửa dạy là vì lợi ích của chúng ta, để chúng ta được thông phần vào sự thánh thiện của Người.”
 
Thế nên, hãy coi việc bước vào những cánh cửa hẹp đó, như là một cuộc “rèn luyện”, một cuộc rèn luyện mà Kinh Thánh gọi là rất cần thiết để “gặt được hoa trái là bình an và công chính” (Dt 12, …11) 
 
Có được sự bình an và công chính, đó chính là hành trang để chúng ta bước vào cửa hẹp. 
 
Vì vậy, đừng vì bất cứ lý do gì mà chúng ta không thực hiện lời Đức Giê-su đã truyền dạy: “Hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào…” Hãy tin, trong cuộc chiến đấu này, chúng ta không đơn độc. Qua việc tham dự bàn Tiệc Thánh Thể, Đức Giê-su vẫn cùng đồng hành với chúng ta, một sự đồng hành “làm cho những bàn tay bủn rủn, những đầu gối rã rời, (của chúng ta), nên mạnh mẽ”. (x.Dt 12, 13).
 
Cũng là cuộc chiến đấu này, Lm. Charles E. Miller thêm cho chúng ta một lời khuyên, ngài khuyên rằng: “chúng ta phải là những người trung tín, luôn kết hiệp với Đức Ki-tô trong nhiệm thể của Người là Giáo Hội. Đây là cách bảo đảm rằng chúng ta sẽ vượt qua mọi cuộc tranh chấp, mọi điều phiền toái trên cõi đời này, để bước vào vương quốc vĩnh cửu trên trời”.
 
Vâng, rất bảo đảm, bảo đảm trong ngày phán xét, Đức Giê-su, người mục tử nhân lành, sẽ không nói với chúng ta “Các anh đấy ư! Ta không biết các anh từ đâu đến”. Trái lại, Ngài sẽ nói: Các anh đấy ư! Hãy cùng đồng bàn với “Apraham, Isaac và Giacop cùng tất cả các ngôn sứ trong Nước Thiên Chúa”. 
 
Thưa Bạn…
 
Bạn có muốn được như thế không? Nếu muốn, tôi và bạn, chúng ta hãy ngước lên thánh giá Chúa Ki-tô và cùng khấn nguyện, rằng: “Lạy Chúa, xin Ngài cùng đồng hành với chúng con trong cuộc “chiến đấu để qua cửa hẹp”, cánh cửa hẹp mà Ngài đã truyền dạy chúng con hãy bước vào. Amen.

Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2016

Chúng ta cùng thắp bùng lên!

Chúa Nhật XX - TN – C 
 
Chúng ta cùng thắp bùng lên!
 
Niềm tin Ki-tô giáo, có thể nói rằng, là một niềm tin luôn phải đương đầu với nhiều sự bách hại. Niềm tin của người Ki-tô hữu, còn là một niềm tin luôn phải đối diện với những bắt bớ, tù đày và chết chóc. 
 
Thật vậy, nói tới bạo lực, bắt bớ, khủng bố, chết chóc đối với Ki-tô giáo, thì, nó đã có ngay từ những ngày đầu sơ khai của Giáo Hội. 
 
Theo sách Công Vụ Tông Đồ thuật lại, thì, ông Tê-pha-nô chính là người đầu tiên bị bắt bớ và bị giết chết vì niềm tin vào Chúa của mình. Rồi sau đó, như lịch sử Giáo Hội ghi lại, đã có lúc Giáo Hội bị bắt hại hàng trăm năm. Và, gần đây nhất, “…vào khoảng 9 giờ 45 sáng ngày 26-7-2016, hai tên khủng bố đã lẻn vào cửa sau thánh đường Saint-Etienne-du-Rouvray, gần Rouen ở mạn tây bắc Pháp. Trong cuộc tấn công, hai tên khủng bố dùng dao sát hại cha Jacques Hamel, 86 tuổi đang dâng lễ và làm bị thương một tín hữu khác”. 
 
Phản ứng về sự kiện trên đây, Cha Lombardi, giám đốc phòng báo chí Tòa Thánh, ra thông cáo nói rằng: “Lại một tin khủng khiếp, thêm vào một loạt những vụ bạo hành trong những ngày này làm cho chúng ta kinh hoàng xúc động, gây ra đau khổ vô biên và lo âu. Chúng tôi theo dõi tình hình và chờ thêm các thông tin để hiểu rõ hơn những gì đã xảy ra”.(nguồn: radiovatican.va)
 
 Vâng, đúng là thật “khủng khiếp”, thật “đau khổ vô biên và lo âu”. Nhưng, không có gì ngạc nhiên về những khủng khiếp, đau khổ và lo âu đó. Vì, trong những ngày còn tại thế, Đức Giê-su đã có lời khuyến cáo: “Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét”. 
 
Tiếp theo lời khuyến cáo, một ngày nọ, không dài dòng văn tự, Đức Giê-su đã nói với các môn đệ, rằng: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ” (Lc 12, 51). 
 
Sự chia rẽ đó, không xảy ra ở đâu xa, nhưng, ở ngay trong một nơi tưởng chừng như là “tổ ấm”, đó là gia đình. Hôm ấy, Đức Giê-su cảnh báo rằng: “Từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ, mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng”. 
 
 ** Thoạt nghe những lời như thế, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng phải nản lòng. Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng tự hỏi: Phải chăng những lời nói đó mâu thuẫn với những gì Đức Giêsu giảng dạy? Phải chăng, những lời nói đó tố cáo Đức Giêsu là một con người hiếu chiến? Phải chăng những lời nói đó như là một lời tuyên chiến với thế giới con người? 
 
Xin thưa, hiểu như thế chẳng khác nào mấy ông thầy bói mù xem voi. Mỗi ông nhận xét về con voi theo cảm xúc riêng của mình. Hiểu như thế là hiểu một cách lệch lạc về thông điệp mà Đức Giêsu muốn công bố. 
 
 
Trong ba năm ra đi rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu luôn rao giảng một thứ Tin Mừng cứu độ. Và thông điệp mà Đức Giêsu muốn gửi đến cho nhân loại đó chính là thông điệp về tình yêu. Tình yêu mà Đức Giêsu nói đến, đó là một thứ tình yêu thương “người liều mạng sống vì người mình yêu”. Tình yêu mà Ngài nói đến còn là một thứ tình “yêu thương kẻ thù nghịch”. 
 
 Không, Đức Giê-su không dạy mọi người hiếu chiến. Trái lại, Ngài đã truyền dạy, rằng: “Anh em đã nghe dạy rằng: ‘mắt đền mắt, răng đền răng’. Còn Thầy, Thầy bảo anh em; đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa” (Mt 5, 38). 
 
 
Thật vậy, chính cái chết của Đức Giêsu trên đồi Golgotha, với lời cầu nguyện rằng “Lạy Cha xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” đã chứng thực cho những lời Ngài giảng dạy.
 
 *** Thế thì tại sao Đức Giê-su lại tuyên bố, rằng, Thầy “đem sự chia rẽ” đến thế gian? Thưa, Ngài nói như thế không phải là để chia rẽ giữa con người với con người, nhưng chính là để “rẽ” con người ra khỏi Satan. Con người, như lời thánh Phao-lô mô tả, luôn bị giằng co giữa thiện và ác. Thật mỉa mai khi “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm”(x.Rm 7, 19) 
 
Vì sao con người lại có sự giằng co như thế? Thưa, thánh nhân trả lời, đó là do: “tội vẫn ở trong tôi”. Thế nên, Đức Giê-su khi nói “đem chia rẽ đến” thế gian, chính là để “rẽ” con người ra khỏi vũng lầy tội lỗi, để nhờ đó, con người, như lời tác giả thư Do Thái nói, “cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình”(x.Dt 12, ..1) 
 
Nói tắt một lời, với thông điệp này, Đức Giê-su mời gọi những ai đến với Ngài, phải có một sự lựa chọn giữa “thiện và ác”, dù sự lựa chọn đó có phải rơi vào tình trạng “cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ, mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng”. 
 
**** Thế nên, giờ đây, điều mà chúng ta cần hỏi, cần biết, đó là, chúng ta đã “rẽ” ra khỏi Satan, ra khỏi “gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình”? 
 
Vâng, hãy để một phút hồi tâm, và tự hỏi, là một môn đệ của Đức Giê-su, chúng ta đã rẽ-ra-khỏi “những việc do tính xác thịt gây ra như:dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén”, hay chưa? Hay ta cho rằng: rẽ-ra-khỏi những việc do tính xác thịt gây ra, quá khó! 
 
Hãy nhớ rằng, thánh Phao-lô có nói: “những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa”. 
 
Và đây, có rất nhiều tấm gương nhân đức, trong Giáo Hội, đã có thể “rẽ” ra khỏi sự những việc do tính xác thịt nêu trên. Đầu tiên là Tê-pha-nô, người tử đạo tiên khởi, chính ngài đã “rẽ” sự hận thù đối với những kẻ bắt bớ và kết án mình, ra khỏi tâm hồn bằng lời cầu nguyện đầy lòng thứ tha, rằng: “Lạy Chúa xin đừng chấp họ tội này”, như một điển hình. 
 
Chúng ta cũng đừng quên tấm gương cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Ngài đã thực thi trọn vẹn “những ước mong” mà Đức Giêsu đã nói với các môn đệ năm xưa, rằng; “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên”. 
 
Với mười ba năm “tù không tội”, trong đó có chín năm biệt giam, chỉ thấy máu và nước mắt, ấy thế mà Ngài chưa một lần khơi dậy ngọn lửa hận thù, trái lại, qua Ngài, người ta đã thấy “ngọn lửa tình yêu”, và ngọn lửa tình yêu đó đã “bùng lên” nơi con tim Nguyễn Hoàng Đức, một đảng viên CS, người đã từng là cán bộ phòng tôn giáo của bộ công an. 
 
Có lẽ, chuyện tuy đã cũ, nhưng có gì ngăn cản chúng ta nhắc lại, nhất là nhắc lại để mỗi chúng ta coi đó như là tấm gương mẫu mực cho việc “rẽ” ra khỏi sự những việc do tính xác thịt, mà chúng ta cũng phải thực thi. Hãy tìm đọc lại bài viết với tựa đề “Con đường đức tin vào Nước Chúa qua cây cầu Hồng y FX. Nguyễn Văn Thuận” của Nguyễn Hoàng Đức. 
 
Vâng, bài viết đó như là một lời chứng, chứng thực cho việc vị cố hồng y đã thực thi hoàn hảo tình yêu thương và lời mời gọi tha thứ mà Thầy Giêsu đã giảng dạy. 
 
Nói cách khác, cố hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận chính là bàn tay nối dài của Đức Giêsu để “ném lửa vào mặt đất”, không phải ngọn lửa hận thù mà là ngọn lửa tình yêu, ngọn lửa đó đã “bùng lên” không chỉ nơi nhà văn Nguyễn Hoàng Đức, mà còn nơi nhiều người khác nữa. 
 
 Cho nên, đừng chủ bại mà nghĩ rằng, tôi chỉ là người trần mắt thịt, trước một xã hội hôm nay đầy cám dỗ và quyến rũ, đầy mưu ma chước quỷ, để “bùng lên” ngọn lửa tình yêu, quả là một thách thức lớn. Để có thể vượt qua thách thức này, tác giả thư gửi Do Thái có lời khuyên: “Hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin” Phải "thắp bùng lên" ngọn lửa tình yêu, vì như lời C. S. Lewis có nói: “Trong vũ trụ, không hề có mảnh đất trung lập, mỗi phân vuông, mỗi tích tắc đều được Chúa nhận là của Người, rồi bị Satan nhận làm của nó”.(nguồn; internet) 
 
Vâng, Satan đã “nhận làm của nó”, thế nên, đừng ngạc nhiên khi hôm nay đâu đâu cũng xảy ra thảm cảnh, “ba chống lại hai, hai chống lại ba”. Đừng ngạc nhiên khi chúng ta phải chứng kiến cảnh chia rẽ hay chống đối, trong gia đình cũng như ngoài xã hội chỉ vì để bảo vệ đức tin, chân lý hay sự thật.
Điều quan trọng, đó là, trong việc tranh luận để bảo vệ đức tin, chân lý hay sự thật, chúng ta có dùng lời lẽ “dịu dàng và khiêm nhường”, hay không! 
 
Đừng quên, lời-dịu-dàng, Kinh Thánh nói: “khiến cơn giận tiêu tan”. Còn sự khiêm nhường thì sao? Thưa, sách xưa có câu: “sự khiêm nhường thì người ta càng phục”. Dịu dàng và khiêm nhường”. 
 
Đó… đó chính là dầu để thắp lên ngọn lửa tình yêu, một ngọn lửa, xưa kia, Chúa Giêsu đã “ước mong phải chi lửa ấy đã thắp bùng lên”. Vâng, các môn đệ xưa, đã thắp bùng lên. Và, hôm nay, là tôi và bạn, “chúng ta cùng thắp bùng lên”, chứ! 
 
Petrus tran

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2016

Thật là phúc…

Chúa Nhật XIX - TN – C 
 
Thật là phúc…
 
Chúng ta thường nghe nói: “thế gian ai học được chữ ngờ”. Vâng, quả thật là kỳ lạ, không “học được” nhưng lại là chữ được nhắc nhiều nhất trong vốn liếng tiếng nói của con người. 
 
Thì đây, khi gặp bất cứ chuyện gì xảy ra trong cuộc đời mình, vui, chúng ta thường hay nói: Ô! Thật bất ngờ quá! Còn buồn, chúng ta luôn cất tiếng than van: Ôi! quả thật, tôi không ngờ. 
 
Thế nên, đã có thơ rằng: “Ai ơi nhớ lấy vài điều; Dù hay, dù giỏi... không qua chữ NGỜ. Chữ NGỜ luôn nhớ trong lòng; Trước sau cẩn trọng, đục trong khó lường”(nguồn: internet). 
 
** “Bất ngờ hay không ngờ”, đó cũng là đề tài được Đức Giê-su khuyến cáo rất nhiều lần trong những ngày Ngài ra đi loan báo Tin Mừng. Thật vậy, đến thế gian, Đức Giê-su không chỉ loan báo cho mọi người về một Tin Mừng cứu độ, Tin Mừng về một Thiên Chúa “yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”, mà Ngài còn truyền dạy mọi người phải “cẩn trọng” trong việc ngày “Con Người sẽ đến”. 
 
Một ngày nọ, Đức Giê-su loan báo, rằng, sẽ có một ngày “Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến. Người sẽ sai các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương, từ chân trời này đến chân trời khác” (x.Mt 24, 30-31). 
 
Và, để cho mọi người phải luôn sẵn sàng, Đức Giê-su tiếp lời, rằng: Ngày ấy sẽ xảy ra vào “chính giờ phút anh em không ngờ”. Làm thế nào để không rơi vào tình trạng “bất ngờ hay không ngờ”, trong ngày Con-Người-sẽ-đến? Vâng, rất cẩn trọng, Đức Giê-su đã khuyên mọi người, rằng: “Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về”. 
 
Hôm đó, Đức Giê-su đã mượn câu chuyện “ông chủ đi dự tiệc cưới” để dạy cho các môn đệ một bài học về sự tỉnh thức và sẵn sàng. Vâng, theo phong tục Do Thái, tiệc cưới thường kéo dài trong bảy ngày và thậm chí có thể kéo dài hai tuần, vì thế, việc ông chủ về thật khó đoán, nó sẽ xảy ra “bất ngờ hay không ngờ”. 
 
Và, để có thể không rơi vào tình trạng bất ngờ hay không ngờ, Đức Giê-su khuyến cáo rằng: “Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn”. 
 
Lời khuyến cáo “hãy thắt lưng” hàm ý nghĩa gì? Thưa, qua lời khuyên này, Đức Giê-su muốn nhấn mạnh đến sự “sẵn sàng”, sự sẵn sàng của một chiến binh nại nịt vũ khí sẵn sàng chiến đấu, một hình ảnh không người Do Thái nào lại không hơn một lần trải nghiệm. 
 
Còn việc “thắp đèn cho sẵn” ư! 
 
Rất có thể, khi nói lên điều này, Đức Giêsu muốn các môn đệ hãy nhớ lại dụ ngôn “mười cô trinh nữ”, một dụ ngôn không chỉ đề cập đến sự sẵn sàng, mà còn là một lời cảnh báo về sự “tỉnh thức”. 
 
Hôm đó, sau những lời khuyến cáo, Đức Giê-su kết thúc với lời khuyên: “Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông ta đã không để nó khoét vách nhà mình đâu. Anh em cũng vậy, hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người đến” (x.Lc 12, 39-40) 
 
Có thể kết luận rằng, qua câu chuyện này, Đức Giê-su đã dạy cho các môn đệ, (và ngày nay là cho chúng ta), một bài học, bài học rằng, sẽ không có gì phải than thở “Ôi! thật tình tôi không ngờ”, trong ngày Con Người sẽ đến, nếu chúng ta “tỉnh thức và sẵn sàng”. 
 
** Chưa hết, khi nghe Đức Giêsu nói xong câu chuyện này, thánh Phêrô liền hỏi: “Lạy Chúa! Chúa nói dụ ngôn này cho chúng con hay cho tất cả mọi người?” 
 
Vâng, cứ sự thường, sau mỗi lần nói về một dụ ngôn nào đó, Đức Giê-su luôn có lời giải thích. 
 
Tuy nhiên, Ngài đã không có lời giải thích đối với dụ ngôn này. Tại sao? Thưa, ý nghĩa quá rõ ràng. “Ông chủ” là ai nếu không là Đức Giê-su! Người đầy tớ là ai, nếu không là các môn đệ (và cũng là chúng ta hôm nay)! 
 
Thế nên, hôm ấy, thay cho lời giải thích, (cũng như thay cho câu trả lời cho Phê-rô), Đức Giê-su đáp, rằng: “Vậy thì ai là người quản gia trung tín, khôn ngoan, mà ông chủ sẽ đặt lên coi sóc kẻ ăn người ở, để cấp phát phần thóc gạo đúng giờ đúng lúc?”. 
 
Vâng, có thể nói rằng, qua lời nói này, Đức Giê-su muốn đặt lên vai người đầy tớ một yêu cầu nữa, đó là “trách nhiệm” Đừng quên, đã có lần, Ngài nói: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa” (x.Lc 9, 61) 
 
Người đầy tớ với vai trò là người quản gia, phải làm tròn trách nhiệm được giao, bởi, có như thế, người đó mới có thể được nhìn nhận là kẻ tỉnh thức và sẵn sàng, và hơn thế nữa, như lời Đức Giê-su nói: “Khi chủ về mà thấy đầy tớ ấy đang làm như vậy, thì thật là phúc cho anh ta”. 
 
**** Trở lại câu hỏi của Phê-rô. Vâng, mặc dù Đức Giêsu không trả lời câu hỏi của tông đồ Phêrô, nhưng chắc hẳn ai trong chúng ta cũng hiểu rằng, Ngài nói “dụ ngôn này” cho-tất-cả-mọi-người-kể-cả-chúng-ta, hôm nay. 
 
Thế nên, là một Ki-tô hữu, tất cả chúng ta đều là “người đầy tớ trong vai trò quản gia… mà ông chủ đã đặt lên coi sóc… coi sóc tất cả tài sản cùa mình”. 
 
Nói rõ hơn, tất cả chúng ta đều là “người đầy tớ trong vai trò quản gia… mà Thiên Chúa đã đặt lên coi sóc… coi sóc tất cả tài sản cùa Người”. 
 
Những “tài sản” đó là gì? 
 
Phải chăng, đó là những ngôi thánh đường? 
 
Phải chăng, đó là những cơ sở vật chất của Giáo Hội? Thưa, không sai. 
 
Tuy nhiên, vẫn còn đó những “tài sản”, những tài sản không phải có được do tiền bạc, do quyền lực đem lại, nhưng là do chính Đức Giê-su và các tông đồ, cũng như do chính “Máu các thánh tử đạo”, để lại, những tài sản đó chính là “kho tàng đức tin”, chính là “cộng đồng dân Chúa”, chúng ta cần “coi sóc” hơn. 
 
Vì thế, trước một xã hội đầy gian xảo, dối trá và lừa lọc, trong vai trò là “người quản gia”, chúng ta luôn phải tỉnh thức không mê ngủ trước cám dỗ của lợi lộc, của tiền bạc, của danh vọng, những thứ chỉ là phù vân, chóng qua. 
 
Vì thế, trước một xã hội chìm ngập trong tội lỗi, những thứ tội như: dâm bôn, phóng đãng, hận thù, bất hòa, nóng giận, ghen tuông, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén v.v… trong vai trò là người quản gia, chúng ta phải thắp lên ngọn đèn bác ái, nhẫn nhục, từ tâm, hiền hòa, tiết độ. 
 
Nói cách khác, chúng ta phải là tấm gương mẫu mực về sự “trung tín”, trung tín trong việc thực thi lề luật của Chúa và “khôn ngoan” trước những cám dỗ của thế gian. 
 
Đừng nghĩ rằng, đó là nhiệm vụ bất khả thi. 
 
“Đức tin” vâng, tác giả thư Do Thái khẳng định rằng “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng”. Vì thế, đừng sợ. Để có thể trở nên “người quản gia trung tín khôn ngoan”, hãy học phương cách của tông đồ Phao lô, đó là: “Hãy sống tiết độ, mặc áo giáp là đức tin và đức mến, đội mũ chiến là niềm hy vọng ơn cứu độ”. 
 
Mà, người nào “sống tiết độ”, theo thánh Phao-lô thì, người đó chính là người đã nhận được hoa quả của “Thần Khí” . 
 
Và, một khi có Thần Khí Chúa, có lẽ nào chúng ta không nhận ra đâu là “ý chủ - ý Chúa”, và đâu là ý thế gian. 
 
Và, một khi đã nhận ra “Ý Chủ- Ý Chúa”, có lẽ nào ta lại để cho tâm hồn mình ngập tràn ý tưởng “Chủ ta còn lâu mới về… mà cứ say sưa chè chén”! Có lẽ nào ta lại nghĩ rằng “Chúa ta còn lâu mới tái lâm”, để rồi cứ chìm ngập trong bóng tối tội lỗi!. 
 
Không! Hãy tỉnh thức, tỉnh thức để nhìn Người đang cảnh báo chúng ta, qua những “dấu chỉ của thời đại” như: động đất, sóng thần, chiến tranh, dịch bệnh v.v… Vì thế, phải luôn sống trong tình trạng sẵn sàng.
 
Phải luôn sống như một người quản gia trung tín và đầy trách nhiệm. Bởi vì, lỡ hôm nay “ông chủ về”… lỡ, ngay giây phút này “Chúa đến”, thì sao? 
 
Có lẽ, chẳng ai trong chúng ta muốn mình trở thành kẻ “khôn ba năm, dại một giờ”. Có lẽ không ai trong chúng ta muốn mình “chung số phận với những tên thất tín”. 
 
Vậy, tại sao, ngay giây phút này, chúng ta không ngước lên thánh giá Chúa Ki-tô, một Chúa Ki-tô đầy lòng thương xót mà khấn nguyện, rằng: Lạy Chúa “Nơi nào có nản chí sờn lòng, xin cho con gieo niềm hy vọng. Nơi nào có buồn sầu khổ đau, xin cho con biết đem lại niềm vui. Nơi nào có khó khăn nghèo túng, xin cho con biết cách chia sẻ cách vui lòng” (theo thánh Phan-xi-co Assisi)
 
Thực thi tốt những lời nguyện nêu trên, hãy tin, Đức Giê-su sẽ nói với ta rằng: “Thật là phúc cho con”. 
 
Petrus.tran

Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2016

Hãy nương cậy nơi Chúa.

Chúa Nhật XVIII – TN – C
 
Hãy nương cậy nơi Chúa.
 
Cuộc sống của con người là một chuỗi dài của những ước mơ. Bên cạnh những ước mơ, còn đó là những định hướng cho tương lai của mình. Những ước mơ và sự định hướng đó thành công hay thất bại luôn phụ thuộc vào khát khao của ta có cháy bỏng hay không. 
 
Nó cũng không loại trừ ta phải có sự tự tin, sự kiên trì và có kế hoạch. Khi nói tới kế hoạch, có thể nói rằng, mỗi người là một cách thức riêng tư. Và cứ sự thường thì, dựa vào sự hiểu biết của mình, người ta luôn nghĩ rằng, tốt nhất là hãy nương cậy vào vào một ai đó (có thế lực) như một bảo đảm cho thành công của mình. 
 
Thế nhưng, với cuộc sống hôm nay, nói theo nhận xét của người Roma xưa “Homo homini lupus - Con người đối xử với nhau chẳng khác gì chó sói”, thì ai sẽ là người để ta nương cậy? Tạ ơn Chúa, Kinh Thánh cho ta biết, có một Đấng có thể điều khiển được kế hoạch của ta theo ý Người, mà chúng ta không thể làm khác đi được. 
 
Thật vậy, nếu người xưa cho ta biết “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”, thì, Kinh Thánh nói rõ hơn, rằng : “Hãy hết lòng tin tưởng vào ĐỨC CHÚA, chớ hề cậy dựa vào hiểu biết của con. Hãy nhận biết Người trong mọi đường đi nước bước. Người sẽ san bằng nẻo đường con đi” (Cn 3, 5-6) 
 
Đức Giê-su, trong những ngày còn tại thế, Ngài cũng đã không ít lần truyền dạy mọi người hãy phó thác mọi kế hoạch cho cuộc sống của mình vào Thiên Chúa. Rõ nét nhất, đó là câu chuyện một người đến xin Ngài làm thẩm phán để chia gia tài. 
 
Vâng, chuyện được kể rằng: Một hôm, có một người trong đám đông đến gặp Ngài. Người này gặp Đức Giêsu để xin Ngài chữa bệnh ư! Thưa không, người này đến xin Ngài đứng ra dàn xếp việc “chia gia tài”… 
 
Chia gia tài ư! Vâng, theo truyền thống Do Thái, rabbi chính là người có thẩm quyền phân xử và có lẽ người này nghĩ rằng Đức Giêsu cũng là một rabbi, nên đã đến với Ngài và nói “Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi”. 
 
Thế nhưng, thật đáng tiếc, Đức Giêsu đã từ chối, từ chối bằng một câu trả lời như trách khéo, rằng “Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện, hay người chia gia tài cho anh?” (Lc 12,14). 
 
Tại sao Đức Giêsu không phân xử? Thưa, khi đến gặp Ngài, qua câu nói: “bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi”, vâng, có vẻ như người này muốn áp đặt, muốn ra lệnh Đức Giêsu phải thực hiện rốt ráo điều anh ta xin. 
 
Mà, Đức Giê-su đến thế gian nào phải để làm thẩm phán hay quan tòa của thế gian! 
 
Giêsu đến thế gian là để “loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn… công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa”. 
 
Muốn Giê-su trở thành một rabbi sao! Được thôi! Nhưng Rabbi-Giêsu, sẽ không là thẩm phán, Ngài “là đường, là sự thật và là sự sống”, nói tắt một lời là để “ai tin vào Người thì được sự sống muôn đời”. 
 
Chia gia tài để số tiền đó thuộc về ta ư! Đúng vậy… “Đồng tiền là tiên là phật. Là sức bật của tuổi trẻ. Là sức khỏe của tuổi già. Là cái đà của phát triển. Là nổi điên của kẻ giàu. Là nỗi đau của kẻ yếu. Là điểm yếu của kẻ tham. Là đam mê của kẻ trộm. Là nỗi hỗn độn của thị trường. Là chặng đường của doanh nhân. Là cái cân của công lý. Có tiền là hết ý”, thế thì cớ sao không đòi chia gia tài?
Thế nhưng, đồng tiền như thế, đồng tiền có mua được sự sống đời đời?
 
Chính vì thế, Đức Giêsu cho người này một lời khuyên, Ngài khuyên rằng, “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu”. 
 
Và sau đó, Đức Giêsu đã kể một dụ ngôn, dụ ngôn nói về “người phú hộ thu tích của cải cho mình”. Dụ ngôn được kể rằng, “Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, mới nghĩ bụng rằng: Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa màu!”. 
 
Ơ kìa! Chuyện nhà nông mùa màng bội thu và lo ngại kho bãi không còn chỗ chứa thì có gì để lên án! Đúng, đúng là không có gì đáng lên án, mà còn phải khen nhà phú hộ là khôn ngoan biết lo xa với những dự tính như “xây những cái kho lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó”. Kinh Thánh chẳng đã khen “Người khôn ngoan biết để dành” đó sao! 
 
Thế nhưng, điều cần nói ở đây, đó là nhà phú hộ kia, trước những thu hoạch đạt được, lại dương dương tự đắc coi trời bằng vung, cho rằng, tất cả “của cải ê hề, dư xài nhiều năm”, mà ta có, không liên quan gì đến trời đất gì cả, chỉ duy nhất một người sở hữu đó là “ta”. 
 
Đáng trách hơn, ông ta ngạo mạn vung vít rằng, “Hồn ta hỡi… cứ ăn uống vui chơi cho đã!” Ông ta không cần biết, ai đã tạo dựng “hồn-ta”? 
 
Ai… ai đã “cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính”?. Vâng, quả là một lời tuyên bố rất kiêu căng ngạo mạn. Ông ta quên rằng: Kinh Thánh có nói “Sự kiêu ngạo đi trước sự bại hoại theo sau”. 
 
Qua câu chuyện dụ ngôn, Đức Giê-su cho chúng ta biết, sau lời tuyên bố đó, Thiên Chúa đã lên án ông ta rằng: “Đồ ngốc!” Vâng, đúng là ngốc thật, vì như lời Thiên Chúa nói tiếp, thì giả như “Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?” 
 
Thiên Chúa không chúc dữ người giàu có. Trái lại, giàu có là ơn phúc Thiên Chúa ban. Thật vậy, sách sáng thế ký đã kể rằng, “ông I-xa-ác đã gieo vãi trong đất ấy, và năm đó ông thu hoạch gấp trăm lần, ĐỨC CHÚA đã chúc phúc cho ông, và ông trở nên giàu có, mỗi ngày một giàu thêm, giàu vô kể… khiến cho người Phi-li-tinh phải ghen tị”. Và còn Gióp nữa, ông ta được mệnh danh là người giàu có số một trong số các con cái Phương Đông (x.G 1, 2) 
 
Điều Đức Giê-su muốn truyền dạy, qua dụ ngôn nảy, đó là: “Kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó”. 
 
**
“Đồ ngốc” phải chăng, đó cũng là lời Chúa Giêsu nói với chúng ta hôm nay? Đúng vậy, nếu chúng ta chỉ biết “thu tích của cải cho mình mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa”. 
 
Vâng, trong thư thứ nhất gửi cho Ti-mô-thê, thánh Phao-lô có lời cảnh báo cho những ai làm giàu trước mặt thế gian, rằng: “Còn những kẻ muốn làm giàu thì sa chước cám dỗ, sa vào cạm bẫy và nhiều ước muốn ngu xuẩn độc hại; đó là những thứ làm cho con người chìm đắm trong cảnh hủy diệt tiêu vong”. 
 
Và sau đó ngài nói tiếp: “Thật thế, cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã xa lạc đức tin và chuốc bao nỗi đau đớn sâu xé”(x.1Tim 6, 9-10). 
 
Thực tế trong cuộc sống hôm nay, điều cảnh báo của thánh Phao-lô đã xảy ra nhan nhản khắp nơi, không chỉ ngoài xã hội mà ngay cả trong đời sống giáo hội. 
 
Trở lại dụ ngôn “nhà phú hộ”. Vâng, qua dụ ngôn này, thông điệp Đức Giê-su đưa ra, đó là, trước hết hãy nương cậy vào Thiên Chúa. Trong những ngày còn tại thế, chính Ngài đã từng có lời truyền dạy, rằng: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia. Người sẽ thêm cho” (x.Mt 6, 33)
 
Với Lm. Charles E. Miller, ngài cho thêm lời khuyên “Chúng ta có thể và phải cầu nguyện cho các nhu cầu cá nhân của mình và của những người thân, đồng thời cũng nhớ đến lời thánh Phao-lô nhắc nhớ: ‘anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới”. 
 
Thế nào là hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới? Thưa, đó là: “đừng xòe tay ra nhận, rồi nắm lại khi phải cho đi” (Hc 4,31). 
 
Phải chăng, lời Kinh Thánh này như là một kế hoạch tốt nhất cho việc xây cất kho lẫm cho cuộc đời mình? 
 
Thưa, đúng vậy. Bởi, như lời Đức Giê-su đã nói “Mỗi lần các người làm như thế cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi làm cho chính Ta vậy”. 
 
Làm-cho-chính-Ta-vậy, có khác nào là “làm giàu trước mặt Thiên Chúa”! 
 
Vâng, chúng ta có quyền lựa chọn, hoặc theo kế hoạch của nhà phú hộ, hoặc theo kế hoạch của Đức Giê-su truyền dạy. Nhưng, có một điều chúng ta cần nhớ, đó là, đừng để sự lựa chọn của chúng ta trở thành nguyên cớ, mà sau này, nơi tòa phán xét, quan tòa Giêsu sẽ nói với chúng ta rằng “Đồ ngốc!”
 
Thưa bạn, bạn có sợ vào ngày sau hết Đức Giê-su sẽ nói với mình câu nói đó? Nếu sợ, điều tốt nhất của chúng ta hôm nay, đó là, mỗi khi chúng ta đưa ra một kế hoạch nào đó cho cuộc đời mình, thì “Hãy ký thác đường đời cho Chúa. Nương cậy vào Người, Người sẽ ra tay”(x.Tv 37, 5)
 
Petrus.tran

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2016

“Lạy Cha...”

Kinh Lạy Cha: thông điệp của tình yêu.

Là một tín hữu Công Giáo, hẳn rằng, không ai trong chúng ta lại không biết đến lời cầu nguyện được mang tên là kinh Lạy Cha. Thế nhưng, nếu được hỏi, kinh Lạy Cha tác giả là ai, có phần chắc, không ít người trong chúng ta không biết đến. Ai là tác giả kinh Lạy Cha? Thưa, chính là Đức Giê-su. Điều này đã được ghi lại trong tin mừng thánh Luca.

Vâng, tin mừng thánh Luca kể lại rằng: “Có một lần Đức Giêsu cầu nguyện và khi Người cầu nguyện xong thì có một người trong nhóm môn đệ…” đến bên Đức Giêsu.

Người này là ai và tại sao lại đến một mình? Phải chăng là để “thỏ thẻ” riêng tư với Đức Giêsu xin đặc ân này, đặc ân kia, như anh em nhà Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an có lần đến bên Ngài xin được ngồi bên tả, bên hữu Thầy, khi Thầy được vinh quang? Thưa, không thấy thánh sử Luca nói đến tên. Còn chuyện “xin” thì đúng là có.

Thế nhưng, điều anh ta xin, không phải xin một điều gì đó cho cá nhân anh ta, mà là xin cho “chúng con”, xin cho tất cả những người bạn đồng môn của mình.

Anh ta xin gì! Thưa, đến bên Đức Giêsu, anh ta nói: “Thưa Thầy xin dạy chúng con cầu nguyện, cũng như ông Gioan đã dạy môn đệ của ông”. Xin-Thầy-dạy-cầu-nguyện-ư!

Ô hay! Chẳng lẽ trước kia các Rabbi Do Thái không dạy các ông cầu nguyện sao!

Thưa không phải, hầu hết các tín hữu Do Thái đều biết cầu nguyện. Theo truyền thống, họ cầu nguyện ba lần mỗi ngày và bốn lần trong ngày lễ Sabát hoặc các ngày lễ quan trọng khác. Ngoài các buổi cầu nguyện chung, người Do Thái còn cầu nguyện riêng và đọc kinh tạ ơn cho những sinh hoạt khác, trong ngày.

Thế thì, vì sao người môn đệ đó lại xin Đức Giêsu dạy cầu nguyện? Xin thưa, Do Thái giáo có nhiều hệ phái khác nhau và tùy theo mỗi hệ phái, cách thức cầu nguyện cũng khác nhau. Các khác biệt có thể kể đến như: “kinh đọc, mức độ thường xuyên của các buổi cầu nguyện, số lượng kinh cầu trong các buổi phụng vụ, cách sử dụng nhạc cụ và thánh ca, các lời kinh cầu theo ngôn ngữ tế lễ truyền thống hoặc tiếng địa phương” (nguồn: internet).

Mười hai môn đệ là một tập hợp của nhiều vùng miền khác nhau, rất có thể, giữa các ông, với sự bảo thủ theo hệ phái, đã không có một sự thống nhất trong việc cầu nguyện. Nay, sau nhiều lần chứng kiến hình ảnh Thầy-của-mình cầu nguyện với một tâm hồn ngây ngất hướng lòng lên Chúa Cha,vâng, chắc hẳn hình ảnh linh thiêng đó đã in đậm vào tâm trí các ông với những câu hỏi “vì sao”?

Vì sao! Vì sao mỗi lần Thầy Giêsu cầu nguyện, trời và đất như có sự tâm giao? Vì sao chỉ một lời Thầy Giêsu cầu nguyện “thì trời mở ra và Thánh Thần ngự xuống trên Người…” (Lc 3, 22).
Vì sao cứ hỏi vì sao! Vì sao cứ hỏi vì sao trên trời, hay sao!

Vâng, có thể đó là lý do khiến các ông khao khát được chính ông Thầy của mình, chứ không phải “ông Gioan tu rừng”, dạy cho các ông cách cầu nguyện. Đáp lại lòng khao khát của các môn đệ, Đức Giêsu đã dạy rằng: “Khi cầu nguyện, anh em hãy nói: Lạy Cha, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển, Triều đại Cha mau đến, xin Cha cho chúng con ngày nào có lương thực ngày ấy; xin tha tội cho chúng con, vì chính chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con,và xin đừng để chúng con xa chước cám dỗ”.

** Có gì khác biệt giữa bài cầu nguyện mà Đức Giêsu đã dạy các môn đệ, (và hôm nay là cho chúng ta), với những bài cầu nguyện theo truyền thống đạo Do Thái?

Thưa có, khác biệt thứ nhất và quan trọng nhất, đó là, qua bài cầu nguyện, Đức Giêsu đã cho các môn đệ biết rằng, Thiên Chúa không phải là một “ông thần” xa lạ và ngăn cách, nhưng là một Thiên Chúa rất gần gũi với con người, một Thiên Chúa là “Cha”, một người Cha không còn bị ngăn cách bởi “các thần hộ giá với lưỡi gươm sáng lóe”, nhưng là một người Cha sẵn sàng ban cho những ai đến “cầu xin”, sẵn sàng tiếp đón những ai đến “tìm” và sẵn sàng tiếp nhận những ai đến “gõ cửa”.

Thật rõ ràng khi hôm đó Ngài đã nói về một Thiên Chúa Cha đầy lòng thương xót, rằng: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy. cứ gõ thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho”. 

Và, như một cách nhấn mạnh về thông điệp này, Đức Giê-su đã làm một so sánh rất thực tế, rằng: “Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, thì thay vì cá lại lấy rắn mà cho nó? Hoặc nó xin trứng lại cho nó bò cạp? Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?”

Khác biệt thứ hai cũng không kém phần quan trọng, đó là, qua bài cầu nguyện, Đức Giêsu đã “nâng cấp tình người” lên một bậc. Nếu luật xưa đã dạy “không báo oán, không cưu thù” thì nay, qua bài cầu nguyện, Đức Giêsu dạy rằng, chẳng những không báo oán ,không cưu thù mà còn phải “tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con”.

Vâng, có thể kết luận rằng, bài cầu nguyện Đức Giêsu đã dạy cho các môn đệ khi xưa, chính là một thông điệp, thông điệp về tình yêu thương của Thiên Chúa đối với con người.

*** “Lạy Cha”. Vâng, Đức Giêsu,qua Giáo Hội, Ngài vẫn tiếp tục dạy chúng ta lời kinh nguyện mẫu mực này. Sẽ không thể là một người Kitô hữu đúng nghĩa, nếu một ai đó trong chúng ta không biết, không thuộc bài kinh cầu nguyện này.

Tại sao? Xin thưa, bởi vì, chính trong lời kinh này nhắc nhở chúng ta nhớ đến điều răn quan trọng nhất của người Kitô hữu, đó là “mến Chúa và yêu người”.

Thật vậy, khi đọc những lời cầu nguyện đầu của bài kinh này, một cách nào đó, nhắc nhở chúng ta hãy đặt Thiên Chúa trên hết tất cả những danh dưới gầm trời này. Và đó cũng chính là một lời mời gọi chúng ta “yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn” của ta.

Còn lời những lời cầu nguyện tiếp theo thì sao? Thưa, những lời kinh nguyện này mời gọi chúng ta “yêu người”, một cách thức yêu người rất nhân bản. Thật vậy, ta không thể nói tôi “yêu người” khi ta không “tha lỗi” vô điều kiện cho những ai “mắc lỗi” với chúng ta.

Khó đấy! nhưng đó là một lời cầu nguyện, một lời cầu nguyện do chính Đức Giê-su truyền dạy, và chúng ta đọc mỗi ngày.

Vâng, về điểm này, ĐTC Phanxico, trong bài giảng lễ sáng ngày thứ năm 16.06.2016, tại nguyện đường Santa Marta, có lời chia sẻ, rằng: “Trong kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu dạy chúng ta tha cho những ai lỗi phạm với chúng ta như Cha tha cho chúng ta, nên đây là lời kinh đem đến ý thức anh chị em với nhau, ý thức chúng ta là một gia đình. Thay vì hành xử như Cain thù ghét em trai mình, điều quan trọng là chúng ta phải biết tha thứ, quên đi những lỗi phạm với chúng ta, hãy có thái độ lành mạnh biết nói rằng ‘thôi quên đi’ và đừng tích tụ những cảm giác hiềm khích, phẫn uất hay muốn báo thù”.

Và, ngài nói tiếp: “khi đọc kinh Lạy Cha, chúng ta có thể cảm nhận Chúa đang nhìn mình và lời kinh này phải là đá tảng cho đời sống cầu nguyện của chúng ta”. (nguồn: INTERNET)

Thế nên, mỗi khi đọc bài kinh cầu nguyện này, đừng đọc như một “con vẹt”, như là để “trả bài” trước mặt Thiên Chúa. Đọc như thế, có thể nói rằng, chúng ta đang biến mình thành “cái máy cassette tụng kinh”, đọc như thế có khác nào “lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời”. Vâng, Đức Giêsu nói: “Đừng bắt chước họ”. (Mt 6, 8).

Chúng ta đã được dạy rằng, khi đọc những bài kinh nguyện mẫu, hãy “miệng đọc lòng suy” và đừng quên lời thánh Phaolô dặn dò rằng, hãy đem tất cả tâm tình của một người con trải-lòng-ra “cầu khẩn, van xin và tạ ơn mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều (chúng ta) thỉnh nguyện” (Pl 4, 6).
Một khi chúng ta đọc kinh nguyện trong một tâm tình như thế, hãy tin, không có lý do gì Cha-chúng-ta-là-Đấng-ở-trên-trời, lại không nhậm lời, và như lời Đức Giêsu đã nói: “Lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?”

Có thể kết luận rằng, khi đọc Kinh Lạy Cha dù là ở “tư thế đứng, có lúc dang tay ra, có lúc ngước mắt lên trời, có lúc nắm tay người bên cạnh… bất luận tư thế hay cử chỉ của chúng ta là thế nào trong lúc đọc kinh Lạy Cha, anh em phải nhận ra mình được diễm phúc biết bao khi xưng hô với Thiên Chúa, theo cách của Chúa Giêsu (đã xưng hô trong vườn cây dầu) khi gọi Thiên Chúa là “Abba, Lạy Cha”. (trích lời giảng của Lm Charles E. Miller) “

Lạy Cha, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển”. Vâng, hãy đọc với tất cả tâm tình “miệng đọc lòng suy”. Nếu không đọc với tâm tình như thế, thì, những lời kinh nguyện của chúng ta, dù được đọc hàng triệu lần, thì cũng chỉ như: “Dã tràng se cát biển đông. Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì”. Nói, theo cách nói nhà đạo, “chẳng sinh ơn ích gì”.

Petrus.tran                          

Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2016

Có Chúa: đó là chọn lựa tốt nhất.




Có Chúa: đó là chọn lựa tốt nhất.
Chúa Nhật XVI - TN – C
 

Thăm viếng là một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống con người. Có những cuộc thăm viếng đem lại cho ta niềm vui. Vui, vì người đến thăm viếng, họ đem cho ta niềm vui và hy vọng. Cũng có những cuộc thăm viếng để lại nơi ta nỗi buồn. Buồn, vì người thăm viếng để lại nơi ta những âu sầu, lo lắng.

Nói tới sự viếng thăm,  mà không nói tới sự hiếu khách, quả là một sự thiếu xót. Kinh Thánh đã có lời khuyên: “Anh em đừng quên tỏ lòng hiếu khách, vì nhờ vậy, có những người đã được tiếp đón các thiên thần mà không biết” (Dt 13, 2).

Ông Gióp, một nhân vật nổi tiếng thời Cựu Ước,  chính là mẫu người điển hình về lòng hiếu khách. Bất cứ ai, dù là người xa lạ, ông ta vẫn tỏ lòng hiếu khách “mở cửa đón mời”, khi họ đến viếng thăm. (G 31, 32). 

Với người Việt Nam, lòng hiếu khách được thể hiệu rất thịnh tình, “khách đến nhà không gà cũng vịt”.  Có khách đến nhà, quen hay lạ, thân hay sơ… chủ nhà dù nghèo khó cũng tiếp đón chu đáo và tiếp đãi một cách thịnh tình, với quan niệm, đói năm chứ không đói bữa…

Là người Ki-tô hữu, sự thăm viếng và lòng hiếu khách là điều rất tế nhị. Thánh Luca, qua câu chuyện hai chị em Mác-ta và Maria, không chỉ cho chúng ta thấy rõ điều đó, mà còn như là một kim chỉ nam cho đời sống đức tin của mình.  (x.Lc 10, 38-42)

**
Chuyện được kể lại rằng: Hôm đó,  trong lúc Đức Giêsu cùng các môn đệ đang rảo bước đi trên đường, bỗng nhiên, có một người phụ nữ tiến đến, người phụ nữ này tên là Mác-ta. Cô ta ngỏ ý mời “Người vào nhà”.

Việc cô Mác-ta mời Đức Giêsu vào nhà mình cứ tưởng rằng sẽ đem lại cho cô ta niềm vui và hạnh phúc.

Thế nhưng, thực tế lại không phải là như thế. Niềm vui Chúa đến và hạnh phúc được phục vụ Chúa đã biến cô Mác-ta cứ như một con rối. 

Thật vậy, hôm đó, nào có phải chỉ một Thầy Giêsu đến, còn cả những người môn đệ của Ngài nữa, có tới cả mười hai người, quả là một gánh quá nặng, thế mà cái con bé Maria lại cứ thản nhiên “ngồi bên chân Chúa” chẳng màng đến bà chị đang “tất bật (ngược xuôi như con rối) lo việc phục vụ”.
Như giọt nước tràn ly, Mác-ta đến bên Đức Giêsu than thở:  “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao?”. 

Phụng phịu… Vâng,  Mác-ta, rất có thể đã  đến bên Đức Giê-su với khuôn mặt phụng phịu, nói: “Xin Thầy bảo nó giúp con một tay!”

Đáng tiếc thay! Lời cầu cứu của Mác-ta không được đáp ứng. Trái lại,  nó  bộc lộ  nơi cô nàng một sự mệt mỏi, nản lòng, nếu không muốn nói là tức giận.

“Mác-ta! Mác-ta ơi!” Sự thăm viếng của Thầy Giê-su trở thành gánh nặng của cô sao? Để tỏ lòng hiếu khách, hà tất phải mân cao cỗ đầy!

Kìa đấy! hãy nhìn ông Dakêu, khi được Đức Giêsu thổ lộ rằng “Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”, đâu thấy ông ta “tất bật” lo việc cơm nước cho Đức Giêsu! Trái lại, Dakêu vẫn có thể  tỏ lòng hiếu khách của mình thật chân tình chỉ bằng những giây phút “ta với ta” bên Ngài. 

Vâng, nói tới giây phút ta-với-ta, có lẽ không ai trong chúng ta lại không nhớ đến nhà thơ Nguyễn Khuyến. Qua một bài thơ, một bài thơ đã đi vào lịch sử văn học, ông ta cho chúng ta nhìn thấy lòng hiếu khách của mình rất chân thật và dễ thương làm sao. 

Thơ rằng: “Đã bấy lâu nay bác tới nhà, Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa. Ao sâu, sóng cả, khôn chài cá;  Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà. Cải chửa ra cây, cà mới nụ;  Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa. Đầu trò tiếp khách, trầu không có, Bác đến chơi đây, ta với ta”. 

Vâng, Dakêu không biết Nguyễn Khuyến, nhưng ông ta biết cách tỏ lòng hiếu khách của mình với Đức Giê-su “y chang” cung cách của Nguyễn Khuyến. Nghĩa là  chỉ ngồi bên Đức Giêsu “ta với ta”, ấy vậy mà, qua những giây phút tâm tình đó,  Đức Giêsu không chút phàn nàn về ông ta, trái lại, Ngài nói với Dakêu rằng “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này” (x. Lc 19, 9). 

“Mác-ta! Mác-ta ơi!” Không phải Thầy không thấy Mác-ta “đầu tắt mặt tối”. Không phải Thầy muốn “đì” Mác-ta nên không đả động gì đến lời yêu cầu của cô… 

Bảo nó giúp một tay ư! Ai lại làm thế! Nó đang “ngồi bên chân Chúa”, nó cũng đang tỏ lòng hiếu khách với Thầy bằng cách ngồi bên Thầy tâm tình “ta với ta”, kia mà! 

Hôm đó, Đức Giêsu đã cho Mác-ta biết rằng, Maria – cô em gái của nàng, “đã chọn phần tốt nhất”.

***
Qua câu chuyện này, đừng nghĩ rằng Đức Giê-su coi thường sự phục vụ. Chính Ngài đã nói “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em;  ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người” (Mc 10, 43).

Cô Maria đã phục vụ. Tuy nhiên, nếu cô ta, nói theo cách nói của tông đồ Phê-rô, “tiếp đón nhau mà không lẩm bẩm kêu ca”, thì hay biết mấy. (x.1Pr 4, 9).

Vâng, đó là một điều khó thực hiện. Hãy thử tưởng tượng, trong một cộng đoàn luôn xảy ra cảnh “ông nói gà bà nói vịt”, ai trong chúng ta có thể phục vụ cộng đoàn đó mà không-lẩm-bẩm-kêu-ca! Phục vụ cho những người già khó tính, hoặc những bệnh nhân aids hay bộc lộ tính khí thất thường v.v… thật khó để mà không có những lúc “lẩm bà lẩm bẩm”, phải không, thưa quý vị!

Phải làm sao để vượt qua thách thức này? Thưa, không gì tốt hơn là học lấy kinh nghiệm của thánh Phaolô. 

Trước những khó khăn và vất vả cho việc phục vụ dân ngoại, với kinh nghiệm bản thân, ngài chia sẻ, rằng: “Tôi vui mừng chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (x.Cl 1, 24)

Vâng, khi phục vụ, hãy nhớ rằng: tất cả là vì “lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh”.

**** 
Trở lại với cô Maria. 

Thánh sử Luca cho biết, “Cô này cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy”. 

Chúa đã truyền dạy điều gì với Maria? Thưa, thánh sử Luca không ghi lại. Tuy nhiên, qua cách diễn tả tư thế “ngồi bên chân Chúa”của cô Maria, thánh sử muốn nói với mọi người rằng, cô ta đang ngồi trong tư thế của một người môn đệ lắng nghe lời dạy dỗ và sẵn sàng đón nhận lệnh truyền của Thầy mình.

Khởi đầu cho sứ vụ loan báo Tin Mừng, trải qua bốn mươi ngày trong hoang địa, bị Satan cám dỗ về miếng ăn, Đức Giê-su nói “Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra”. 

Thế nên, đến với gia đình Mác-ta và Maria, chúng ta có thể tin rằng, Đức Giê-su đã nói với Maria về những gì có liên quan đến Lời Chúa. Hơn thế nữa, Ngài còn muốn biến cuộc thăm viếng của mình thành một bữa đại tiệc, “Đại Tiệc Lời Chúa”.

Và, như chúng ta đã thấy, Maria đã không bỏ lỡ cơ hội thưởng thức bữa đại tiệc này, thế nên, hỏi sao Đức Giê-su không thể không nói “Maria đã chọn phần tốt nhất”.

Muốn bày tỏ tinh thần phục vụ (đức ái) tốt nhất ư! Vâng, Lời Chúa sẽ như là “ngọn đèn”, sẽ như là “ánh sáng” chỉ đường dẫn lối, để chúng ta thực hiện.  

Cùng với cảm nghiệm này, tác giả Duy Thạch DVD, qua bài viết tựa đề “Chọn lựa nào là tốt nhất”, chia sẻ rằng:  “Mọi hành động của chúng ta đều phải dựa trên nền tảng của Lời Chúa thì mới đạt kết quả tốt đẹp. Nếu mỗi người chúng ta không có những giây phút lắng nghe, suy gẫm Lời Chúa thì làm sao biết được sự hướng dẫn của Chúa? Chúa Giêsu không phủ nhận mọi công lao vất vả của Mácta. Người cũng không dạy chúng ta cứ đến nhà thờ cầu nguyện suốt ngày và không cần làm gì cả. Người dạy chúng ta phải biết để tâm nghe tiếng Người, để cho lời Người hướng dẫn mọi hoạt động của chúng ta”. 

*****
Giờ đây, với chúng ta, chúng ta hãy tự hỏi: tôi cũng đã chọn phần tốt nhất như cô Maria, xưa kia? Tôi cũng sẵn sàng “ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy”. 

Đức Giê-su của hôm nay, Ngài vẫn luôn hiện diện nơi ngôi làng Bê-ta-ni-a, một Bê-ta-ni-a mới, đó chính là ngôi nhà thờ.  Vâng, với tư tưởng này, Lm Charles E. Miller chia sẻ rằng: “Theo một ý nghĩa thẳm sâu, Anh chị em phải hiểu rằng, trong thánh lễ, chúng ta cũng ngồi bên chân Chúa Giêsu ở phần phụng vụ Lời Chúa. Công Đồng Vatican II đã dạy rằng: ‘Chúa Kitô hiện diện trong Lời của Người, vì chính Người nói khi người ta đọc Thánh Kinh trong nhà thờ” (Hiến chế về Phụng vụ Thánh, số 7).

Chưa hết, điểm khác biệt nơi ngôi làng Bê-ta-ni-a mới này, Chúa Giê-su là người phục vụ ta, chứ không phải ta là người phục vụ Chúa. Thật vậy, tiếp tục lời chia sẻ, Lm Charles E. Miller cho biết “nơi bàn tiệc Thánh Thể, Chúa Giêsu phục vụ chúng ta “Mình và Máu Đức Kitô, không phải do Macta dọn ra mà do chính Người dọn ra”. 

Còn nơi bàn tiệc Lời Chúa ư! Vâng,  Ngài dạy chúng ta “lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11, 29)

Có lòng hiền hậu và khiêm nhường, có cuộc viếng thăm nào lại không đem lại niềm vui và sự hy vọng cho mọi người! Có lòng hiền hậu và khiêm nhường, có sự phục vụ nào lại  không để lại dấu ấn tình yêu thương!

Có niềm vui, có sự hy vọng và nhất là có tình yêu thương. Vâng, nhất là có tình yêu thương, ở đó có Đức Chúa Trời.
Có Đức Chúa Trời, đó chính là “chọn lựa tốt nhất”, tốt nhất cho chính cuộc đời của mỗi chúng ta. 

Cuối cùng, có Đức Chúa Trời trong chính cuộc đời ta, hãy tin, trong ngày phán xét, Thầy Giê-su sẽ nói với ta rằng: “Đó là chọn lựa tốt nhất”.

Petrus.tran

Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một.

  Chúa Nhật XXX – TN – A Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một Đọc các sách Tin Mừng, chúng ta được biết, sứ vụ rao giảng Tin Mừng của...