Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2018

Hãy sám hối để được ơn tha tội…


Chúa Nhật II – MV – C

Hãy sám hối để được ơn tha tội…

Là một tín hữu Công Giáo, chắc hẳn không ai trong chúng ta lại không biết ngày 25/12 hằng năm là ngày toàn thể Giáo Hội long trọng kỷ niệm Chúa Giê-su Giáng Sinh. Để tiến hành kỷ niệm ngày Chúa Giê-su Giáng Sinh, Giáo Hội  dành riêng bốn tuần lễ, và được gọi một cách đặc biệt là Mùa Vọng, như một sự chuẩn bị cho ngày lễ trọng đại này.

Trong bốn tuần lễ này, có thể nói, là bốn tuần của những lời mời gọi, những lời mời gọi mà Giáo Hội muốn người tín hữu nghe lại, hầu củng cố thêm cho đời sống đức tin của mình.

Lời mời gọi thứ nhất, (chúng ta đã được nghe tuần trước), đó là “hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn”. Và, hôm nay, qua phần Phụng Vụ Lời Chúa, Giáo Hội gởi đến người tín hữu lời mời gọi thứ hai, mời gọi rằng: “hãy tỏ lòng sám hối”.

Nói tới việc kêu gọi sám hối, có thể nói rằng, ông Gio-an chính là người lớn tiếng kêu gọi mạnh mẽ nhất. Ông đã coi việc này như là điều kiện tiên quyết để được ơn tha tội.


** Ông Gio-an là ai? Thưa, trước hết, theo truyền thống, chúng ta còn gọi ông là Gio-an Tẩy Giả. Còn theo Kinh Thánh cho biết,  ông là con của ông Dacaria, một vị tư tế thuộc nhóm Avigia, và bà Elisabeth cũng thuộc dòng tộc tư tế Aharon. Mẹ của ông “tuy là người hiếm hoi… và đã cao niên”, nhưng Thiên Chúa đã nhận lời cầu xin của cha ông là Dacaria, đã cho ông ra đời  cách đặc biệt.

Sau khi sinh được tám ngày, lúc ông Gioan chịu phép cắt bì và đặt tên, thì Dacaria, cha của ông, được tràn đầy Thánh Thần và nói: “Hài nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao, con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người” (Lc 1,76).

Và quả thật, ba mươi năm sau đó, trong khi ông Gio-an đang sống trong hoang địa, và khi có lời Thiên Chúa phán cùng ông, Kinh Thánh  chép rằng: “ông liền đi khắp vùng ven sông Gio-dan, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” (x.Lc 3, 3)

Lời kêu gọi của ông gợi nhớ lời tiên tri được chép trong sách ngôn sứ Isaia, rằng : “Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng. Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy được ơn cứu độ của Thiên Chúa”.  Theo thánh sử Mát-thêu, lời tiên tri này chính là nói về ông. (x.Mt 3, 3).

Tất cả… tất cả lời rao giảng của ông đều quy hướng về một Đấng Mê-si-a,  Đấng mà ông đã nói; “tôi không đáng cởi quai dép cho Người”. Tất cả lời rao giảng của ông đều là lời mời gọi “hãy tỏ lòng sám hối”.

*** 
Như đã nói ở trên, trước ngày kỷ niệm mừng Chúa Giê-su Giáng Sinh, chúng ta có bốn tuần chuẩn bị gọi là Mùa Vọng. Và hôm nay, chúng ta bước vào Chúa Nhật II – Mùa Vọng.

Như vậy, một phần tư thời gian của Mùa Vọng đã trôi qua. Một phần tư thời gian đã trôi qua, có còn quá sớm, hay đã tới lúc chúng ta cần bắt tay ngay vào việc chuẩn bị cho một ngày Giáng Sinh một cách tốt đẹp nhất!

Đã... đã tới lúc. Thật vậy, nếu đi rảo quanh một vài giáo xứ, mọi sự chuẩn bị gần như đã hoàn tất. Tại những giáo xứ thuộc quận tám như: Bình An, Bình An Thượng v.v… một nơi có truyền thống trang trí hang đá Giáng Sinh. Từ trong nhà cho đến ngoài phố, người người tất bật dọn dẹp đường sá, những đống rác đổ bừa bãi được dọn dẹp, những vũng nước đọng bên lề đường được quét sạch và lấp đầy v.v…  Cuối cùng, những hang đá Giáng Sinh bắt đầu xuất hiện. Những hình ảnh liên quan đến Noel bắt đầu được trưng bày rất bắt mắt. 
Qua những hình ảnh đó, qua những công việc đó, một cách nào đó, phải chăng chúng ta đã  “dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi”?

Thưa không sai nhưng chưa đủ, chưa đủ là bởi những việc làm đó chỉ là “bề nổi”, điều quan trọng, quan trọng hơn đó là “chiều sâu”, chiều sâu của tâm hồn, của trái tim, nói cách khác, đó là chiều sâu của đức tin của mình. 

Dọn sạch rác rưởi lề đường, quét sạch những vũng nước đọng để có chỗ thiết kế một hang đá Giáng Sinh, với những ngọn đèn lung linh, có tượng thiên thần bé nhỏ quỳ bên tượng Chúa Hài đồng Giêsu, có cây thông cao vút với những trái châu lung linh muôn sắc muôn màu v.v… Vâng, đó là một truyền thống tốt đẹp.

Thế nhưng, sẽ thật sự thêm tốt đẹp, đó là hãy dọn dẹp con đường, “con đường tâm hồn” của ta, một con đường đầy những “rác rưởi của tội lỗi”, một con đường đầy những quanh co của dối trá, một con đường lồi lõm của sự kiêu căng, của sự ngạo mạn, một con đường đầy những hố sâu của sự chia rẽ, của những đam mê v.v…

Chưa hết, sẽ thật sự thêm tốt đẹp, đó là chúng ta cần thiết kế một hang-đá-tâm-hồn được trang trí bởi những “dây đèn Lời Chúa”, với những “trái châu Thánh Thần” và quan trọng hơn cả, đó là: lắng nghe lời kêu gọi của ông Gio-an Tẩy Giả, kêu gọi, rằng: “hãy tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội”.
****
Đừng… đừng coi nhẹ lời kêu gọi này. Không coi nhẹ là bởi, hôm nay, tuy  chúng ta chuẩn bị cho việc mừng lễ kỷ niệm ngày Đức Giê-su Giê-su đến thế gian lần thứ nhất. Thế nhưng, trong sâu thẳm của đức tin, chúng ta lại đang đón ngày Người đến thế gian lần thứ hai, đến “để phán xét kẻ sống và kẻ chết”.

Thế nên, hãy để một vài giây phút hồi tâm và hãy tự hỏi lòng mình rằng: “Đã có bao nhiêu Mùa Vọng đi qua đời ta, đã bao nhiêu lần chúng ta thực thi lời kêu gọi của ông Gioan tiền hô “Hãy tỏ lòng sám hối”? Đã có bao nhiêu lần Mùa Vọng đi qua đời ta, đã bao nhiêu lần chúng ta “Thú nhận cùng Thiên Chúa là Cha toàn năng, cùng tất cả anh chị em. Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng lời nói, việc làm và những điều thiếu sót?”

Có một điều chúng ta hay lầm lẫn, đó là, nhiều khi chúng ta nghĩ rằng, mình sống ăn-ngay-ở-lành không làm gì nên tội, không gian dâm, không trộm cắp, không bất công với ai, thì có gì phải “sám hối”.

Theo tiêu chuẩn con người, chúng ta có thể là người vô tội. Nhưng trước mặt Thiên Chúa thánh khiết, mọi người đều là tội nhân. Thánh Thần Chúa qua miệng lưỡi tông đồ Phaolô, đã nói rằng: “Vì mọi người đều đã phạm tội, mất hết sự vinh hiển của Thiên Chúa” (Rm 3, 23).

Còn vua David, ông nhận rõ điều này nên đã cất tiếng thở than: “Lúc chào đời con đã vương lầm lỗi. Đã mang tội khi mẹ mới hoài thai.” (Tv 51, 7).

Vâng, qua lời nói của thánh Phao-lô và qua lời thú nhận của vua David, có quá đủ để chúng ta nhận ra rằng: tôi cần tỏ lòng sám hối!

Câu trả lời là của  mỗi chúng ta. Thế nhưng, đừng quên, chỉ những ai thật sự sám hối, người đó mới có thể: “thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa”.

Đó là lời ông Gio-an Tẩy Giả nói. Còn Đức Giê-su… Đức Giê-su trong những ngày ra đi rao giảng Tin Mừng, Ngài cũng đã không ngừng cất tiếng kêu gọi: “Anh em hãy sám hối”.

Thưa quý ông bà và anh chị em, là một Ki-tô hữu, có ai trong chúng ta lại không muốn mình được “thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa”! Thế nên, ngay hôm nay, đừng chần chờ gì nữa, mà hãy đến tòa cáo giải “tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội”.

Vâng, chúng ta “hãy sám hối để được ơn tha tội”.

Petrus.tran









Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2018

Hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn.


Chúa Nhật  I – MV – C

Hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn.

Cuộc đời của con người là một chuỗi dài của sự chờ đợi và hy vọng. Sự chờ đợi và hy vọng đó, có thể là một công việc, có thể là một ngôi nhà khang trang, có thể là một sự thành công nào đó, có thể là một tương lai giàu sang phú quý v.v…

Người Ki-tô hữu cũng không là ngoại lệ. Tuy nhiên, ngoài sự chờ đợi và hy vọng thuộc về những gì ở thế gian, người Ki-tô hữu còn chờ đợi và hy vọng về một tương lai, tương lai của đời sau.

Nói rõ hơn, người Ki-tô hữu còn chờ đợi và hy vọng về một  ngày Đức Giê-su: “Người sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết…” Nói tắt một lời, đó là sự chờ đợi về một ngày tái lâm của Ngài.
Đây không phải là sự chờ đợi và hy vọng mơ hồ, nhưng nó đã được chính Đức Giê-su khẳng định.

Thật vậy, Kinh Thánh Tân Ước có ghi rằng: Chúa Giê-su, trong bữa tiệc ly,  đã nói với các môn đệ, rằng: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó”.

**
Thầy lại đến! Vâng, khẳng định cho lời tuyên bố này,  Đức Giêsu đã không ít lần nói với các môn đệ, cách này cách khác, “khi nào” chuyện Thầy-lại-đến, sẽ xảy ra.

Có lần, Ngài cho biết, “cũng như thời ông Nô-ê, sự việc xảy ra cách nào, thì trong những ngày của Con Người, sự việc cũng sẽ xảy ra như vậy”.

Sau đó, Ngài nói tiếp “Sự việc cũng xảy ra giống như vậy trong thời ông Lót: thiên hạ ăn uống, mua bán, trồng trọt, xây cất. Nhưng ngày ông Lót ra khỏi Sơ-đôm, thì Thiên Chúa khiến mưa lửa và diêm sinh từ trời đổ xuống tiêu diệt tất cả. Sự việc cũng sẽ xảy ra như thế, ngày Con Người được mặc khải” (x.Lc 17, 26-30).

Rồi, qua Tin Mừng thánh Luca, chúng ta được biết, Đức Giêsu cũng đã loan báo rằng: “Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao… dưới đất muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn siêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu”, sau đó Ngài nói tiếp: “Bấy giờ, thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến” (Lc 21, 25-27).


Chuyện quan trọng là thế, thế nên, sau những lời cảnh báo, Đức Giê-su có lời khuyến cáo mạnh mẽ đến với các môn đệ (cũng như cho chúng ta hôm nay), Ngài khuyến cáo rằng: “Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người” (x.Lc 21, 36)

***  
Theo lịch Phụng Vụ, hôm nay chúng ta lại bắt đầu bước vào Mùa Vọng. Theo suy nghĩ của không ít người, cứ đến Mùa Vọng, chúng ta thường để tâm hướng đến Lễ kỷ niệm Chúa Giê-su Giáng Sinh.
Vâng, Đức Giê-su đã đến rồi. Và, chúng ta luôn tưng bừng mừng kỷ niệm ngày “Đức Giê-su Giáng Sinh”. Cứ nhìn vào những “Mùa Vọng” của quá khứ (và chỉ nay mai trong tương lai), chúng ta thấy gì? Phải chăng,  từ trong nhà cho đến ngoài phố, không đâu là không có sự chuẩn bị chu đáo, không đâu là không nhộn nhịp “Mừng ngày Chúa sinh ra đời. Nào mình nắm tay tươi cười… Mừng ngày giáng sinh an hòa... Mừng hạnh phúc cho muôn nhà. Từ thành phố hay đồng quê, muôn nơi cất tiếng hát ca vang lừng…” !!

Được như vậy cũng tốt, vì đó là truyền thống đẹp. Thế nhưng, nếu chỉ để tâm hướng đến việc kỷ niệm Chúa Giê-su đã giáng sinh, e rằng chưa đủ. Tại sao? Thưa, là bởi, điều  đó không phải là cứu cánh cho cuộc sống của chúng ta.

Cứu cánh cho cuộc sống của chúng ta là gì? Thưa, nó đã được nhắc đến qua ba trong bốn tuần của Mùa Vọng. Đó là : sự tái lâm của Đức Giê-su, việc tỏ lòng sám hối và cuối cùng là sự kiện có một Đấng sẽ đến để “làm phép rửa… trong Thánh Thần và lửa”.

Và, như chúng ta được biết, Mùa Vọng, dịch từ tiếng La tinh “Adventus”, có nghĩa là “đến”. Vọng là trông mong, là mong đợi và hy vọng điều sắp đến.

Thế nên, Mùa Vọng là mùa cho sự trông mong và hy vọng , trông mong và hy vọng hướng về một tương lai rằng: “Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa… Người lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha, và Người sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết, Nước Người sẽ không bao giờ cùng”.

Điều trông mong và hy vọng này đã được củng cố thêm, qua lời chia sẻ của Lm Charles E Miller: “Hướng về tương lai là một phần không thể tách rời của cuộc đời. Do vậy, Mùa Vọng phản ánh cuộc sống theo nghĩa mùa này  cũng hướng về tương lai bằng hai cách. Thứ nhất, Mùa Vọng chuyên chú trông đợi một tương lai bất định và có vẻ xa vời, lúc Đức Ki-tô sẽ ‘lại đến’ thế gian kiện toàn vương quốc của Người. Anh chị em có thể gọi đây là ngày lễ tốt nghiệp của thế giới chúng ta”.
Và, thứ hai, ngài Charles chia sẻ tiếp: “Mùa Vọng hướng nhìn về tương lai qua việc chuẩn bị đón mùng ngày 25/12, ngày Đức Ki-tô giáng trần”.

Cuối cùng, ngài kết luận: “Chúng ta trông mong và hy vọng  vững vàng nơi ngày quang lâm của Đức Ki-tô vì chưng đã chấp nhận sự kiện Người đến lần thứ nhất với một lòng tin mạnh mẽ. Những gì Thiên Chúa hứa trong thời  Cựu Ước đã được Đức Ki-tô làm trọn khi Người đến lần thứ nhất, và những gì Thiên Chúa hứa sau đó sẽ thành hiện thực trong ngày Đức Ki-tô lại đến lần thứ hai”.

****
Qua phần Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay, chúng ta được nghe lại lời cảnh báo và khuyến cáo của Đức Giê-su về ngày Ngài tái lâm.

Thế nên, không gì tốt hơn là, mỗi chúng ta hãy để một phút thinh lặng và tự hỏi: tôi đã chuẩn bị những gì cho ngày Chúa Giê-su tái lâm? Tôi  có “tỉnh thức và cầu nguyện luôn”?

Đừng bao giờ xem câu hỏi này là một câu hỏi thừa thãi. Không thừa thãi là bởi, trước một xã hội cổ võ cho một nền văn hóa sự chết, chỉ một phút “ngủ mê” chúng ta sẽ dễ dàng rơi vào cạm bẫy của những cám dỗ mà satan và bè lũ của chúng giăng ra. 
Với…  với những lời cám dỗ rất nhẹ nhàng: Có Thiên Chúa đấy, nhưng còn lâu Ngài mới trở lại trong vinh quang! Và rồi, chính lời cám dỗ có cánh này đã ru ngủ biết bạn nhiêu bạn trẻ…

Rồi, rất ngọt ngào: Cứ vui chơi đi… “Chơi cho lịch mới là chơi… chơi cho đài các cho đời biết tay”, thế nhưng ta nào có biết,  ta nào có biết, tại trung tâm “Mai Hòa” điều gì đang chờ đợi chúng ta, sau một thời gian “xả láng”! 

Vâng, đó chính là “thân bại danh liệt”, đó chính là một “hình hài như một pho tượng”.  Đó là chưa nói đến, trước tòa phán xét, (nếu chúng ta tin), có phần chắc, Đức Giê-su sẽ nói với chúng ta, rằng: “Hỡi tên đầy tớ tồi tệ…hãy quăng nó ra chỗ tối tăm…”

*****
“Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn”. Vâng, có lẽ không ít người trong chúng ta sẽ cảm thấy âu lo về lời truyền dạy này. Với lời truyền dạy này, phải chăng ta không còn thời gian để ngủ! Thưa, Đức Giê-su không có ý như thế, qua lời truyền dạy này.

“Tỉnh thức luôn” không có nghĩa là không được ngủ. Dụ ngôn “năm cô trinh nữ khôn ngoan và năm cô trinh nữ khờ dại” chính là câu trả lời cho chúng ta. (x.Mt 5, 1-13)

Tỉnh thức không có nghĩa là không ngủ, nhưng là “sẵn sàng”. Câu chuyện đã cho chúng ta biết, tất cả mười cô đều ngủ, trước khi chàng rể đến, nhưng khi các cô tỉnh thức, thì năm cô đã sẵn sàng, còn năm cô kia thì vẫn còn “mê ngủ - không sẵn sàng”.

Về điều này, chúng ta hãy nghe Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô chia sẻ trong giờ kinh Truyền Tin, cách đây không lâu, rằng: “Đây là ý nghĩa của việc khôn ngoan và cẩn trọng: điều đó không phải là đợi chờ đến phút cuối cuộc đời để cộng tác với ân sủng của Thiên Chúa, mà hãy làm thế ngay từ bây giờ. Thật tốt lành để suy nghĩ một chút: ngày hôm nay sẽ là ngày cuối cùng. Nếu là ngày hôm nay, thì tôi đã chuẩn bị thế nào? Nhưng tôi phải làm điều này và điều đó...Người ta phải chuẩn bị như thể hôm nay là ngày cuối: điều này sẽ tốt cho mọi người.”( Joseph C. Pham  Chuyển ngữ từ ZENIT)

Vâng, sẽ tốt cho mọi người,  sẽ tốt cho chúng ta, nếu chúng ta luôn “sẵn sàng”, một sự sẵn sàng được minh chứng qua đời sống đức tin, một đời sống đức tin sống động sinh nhiều hoa trái, hoa trái “bác ái, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ”(x.Gl 5, 22-23)

Đức Giê-su sẽ tái lâm, dù chúng ta chưa thấy điều này xảy ra. Chưa xảy ra, không có nghĩa là không xảy ra.  Vậy, cớ gì chúng ta không khôn ngoan như “năm cô khôn ngoan”!

Nói rõ hơn, để cho sự chờ đợi và hy vọng của chúng ta đạt kết quả mỹ mãn, không gì tốt hơn là hãy xem “ngày hôm nay sẽ là ngày cuối cùng”, và đừng quên thực hành lời truyền dạy của Thầy Giê-su:  “tỉnh thức và cầu nguyện luôn.”

Petrus.tran




Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2018

HÃY CHỌN ĐỨC GIÊ-SU…


Chúa Nhật XXXIV – TN – B   

LỄ ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ VUA.

HÃY CHỌN ĐỨC GIÊ-SU…

“Ba Lan chính thức tôn vinh Chúa Giêsu Kitô là Vua trị vì nước mình.” Vâng, đây là tựa đề một bản tin được đăng tải vào ngày 28/11/2016, trên trang mạng phanxico.vn .  Tác giả bản tin cho biết rằng: “Trong một nghi lễ cử hành tại Nhà thờ lòng thương xót Chúa ở Krakow, Tổng thống Andrzej Duda,  cùng với các Giám mục Ba Lan, chính thức tuyên bố Chúa Kitô là Vua nước Ba Lan”.
Trong nghi lễ ông Tổng thống có lời nguyện, rằng: “Vua bất diệt mọi thời đại, Chúa Giêsu Kitô, là Chúa và Đấng Cứu độ, chúng con cúi đầu trước Chúa, Vua vũ trụ, chúng con nhìn nhận quyền thống trị của Chúa trên toàn Ba Lan, trên những sự sống trên quê hương chúng con và toàn thế giới. Chúng con nguyện xin cho chúng con thờ phượng Chúa quyền năng và vinh quang, Với đức tin và đức mến, chúng con kêu lên: Lạy Chúa Kitô, xin thống trị chúng con!” (J.B. Thái Hòa chuyển dịch)
Nghi lễ tôn vinh Chúa Kitô là Vua nước Ba Lan đã diễn ra vào ngày 19-11, với sự hiện diện của Tổng thống Andrzej Duda, và sau đó được cử hành lại tại mọi nhà thờ chính tòa và các giáo xứ của Ba Lan trong ngày chúa nhật 20-11.
Đức Giê-su là Vua, nước Balan đã tuyên xưng như thế.  Còn, đối với những người không tin? Thưa, họ xem Đức Giê-su chỉ là một vĩ nhân, một người có lòng tốt,  hoặc là một người sáng lập ra một tôn giáo nào đó.
Với những người tin thì sao? Thưa, đại đa số tin  Ngài là Đấng Cứu Độ, đã xuống thế làm người, đã chết để chuộc tội cho nhân loại, và là người sẽ thi ân giáng phúc cho những ai cầu xin Ngài.
Thế nhưng, trong đời sống thường nhật … thì hỡi ơi! Không ít người đã có một đời sống rất dửng dưng: “đường Chúa, Chúa đi Chúa đi… đường tôi, tôi đi tôi đi…”, họ đâu có coi Đức Giê-su là vua-của-đời-tôi!
Là một Ki-tô hữu, cớ gì chúng ta không tuyên xưng Đức Giê-su là Vua!!
Mà, thật vậy, có rất nhiều câu chuyện trong  Kinh Thánh cho biết Đức Giê-su là Vua. Câu chuyện Thiên Chúa sai sứ thần Gabrien đến gặp Đức Maria để loan báo chương trình cứu độ thế gian như một điển hình.
Hôm ấy, sứ thần đã gặp một trinh nữ tên là Maria và báo tin rằng: “bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu, Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua David, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1, 31-33)
Cũng là chuyện được ghi trong Kinh Thánh, có một nhóm người tôn vinh Ngài là Vua. Nhóm người đó chính là “mấy nhà chiêm tinh”. Chuyện kể rằng: Khi thấy “có vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông”, và các vị chiêm tinh đó tin rằng:  “Đức Vua dân Do Thái mới sinh”, thế là họ đã có một cuộc hành trình tìm kiếm để “bái lạy Người”.
Bắt đầu từ phương Đông, họ đến Giê-ru-sa-lem, ở đó họ được các thượng tế và kinh sư cho biết, tại  “Belem, miền đất Giu-đa… là nơi vị lãnh tụ… sẽ ra đời”. Nhờ lời chỉ dẫn đó, họ đã đến tận nơi, “và sấp mình thờ lạy”. (x.Mt 2, 6…11)
Rồi, trong những ngày thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng, có không ít người tôn vinh Đức Giê-su như là một vị Vua – Vua của đời họ, khi lớn tiếng nói: “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít”.
Tiếp đến, đỉnh điểm của lời tôn vinh, đó là hôm Ngài cùng các môn đệ lên Giê-ru-sa-lem, chuyện kể rằng: “nghe tin Đức Giê-su tới… họ cầm nhành lá thiên tuế ra đón Người và reo hò: Hoan hô! Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Chúc tụng Vua Ít-ra-en” (Ga 12, 12-13).
** Chúng ta cũng không thể quên cuộc thẩm vấn giữa Phi-la-tô và Đức Giê-su vào hôm các thượng tế giao nạp Ngài cho quan tổng trấn. Cuộc thẩm vấn hôm ấy, cũng chỉ xoay quanh việc Đức Giê-su có phải là Vua!
Hôm ấy,  tổng trấn Phi-la-tô đã đưa ra một câu hỏi thăm dò, rằng: “Ông có phải vua dân Do Thái không?” Thay vì trả lời, Đức Giê-su đặt ra một câu hỏi với quan tổng trấn, rằng: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?”
Lịch sử Israel 1000 năm trước CN, Thiên Chúa đã mặc khải cho vua David thấy Người sẽ lập một vị vua cai trị toàn bộ địa cầu. Mặc khải đó đã được David ghi lại như sau: “Chính Ta đã đặt vị quân vương Ta tuyển chọn, làm trị vì Si-on, núi thánh của Ta. Tân vương lên tiếng: Tôi xin đọc sắc phong của CHÚA. Người phán bảo tôi rằng: ‘Con là con của Cha’, ngày hôm nay Cha đã sinh ra con. Con cứ xin, rồi Cha ban tặng muôn dân nước làm sản phẩm riêng, toàn cõi đất làm phần lãnh địa” (Tv 2, 6-8) 
Thế nên, không ngạc nhiên khi Phi-la-tô trả lời, rằng: “Tôi là người Do Thái sao?”. Và, càng không ngạc nhiên khi Đức Giê-su tiếp lời: “Nước tôi không thuộc thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này”.
Với lời giải thích rất rõ ràng như thế, thế nhưng dường như Phi-la-tô vẫn chưa hiểu ra sứ mạng của Đức Giê-su, vì thế, ông ta đã hỏi tiếp: “Vậy ông là vua sao?”.
Là-vua-sao! Rất ngắn gọn, Đức Giê-su đáp lời: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật”.
Vâng, sự thật đó, hơn bảy trăm năm trước, đã được ngôn sứ Mikha tiên báo: “Phần ngươi, hỡi Belem Epratha… từ nơi ngươi… sẽ xuất hiện một vị có sứ mạng thống lĩnh Israel ” (x.Mk 5, 1).
Đừng quên, Kinh Thánh còn cho biết một điều rất hệ trọng đến  tương lai của chúng ta,  đó là: Đức Giê-su sẽ “đến trái đất lần thứ hai” với tư cách là VUA của tất cả các vua, là CHÚA của các chúa. Người sẽ trị vì đời đời trên trái đất này.
Chúng ta hãy nghe tác giả thư gửi tín hữu Phi-lip: “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn vàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ;  và để tôn vinh Thiên Chúa, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giê-su Ki-tô là Chúa” (x.Pl 2, 9-11)
*** Thật ra, vào ngày 11 tháng 12 năm 1925, để đối phó trào lưu con người chủ trương tiêu diệt Thiên Chúa, hô hào trục xuất Thiên Chúa ra khỏi gia đình, ra khỏi xã hội, ra khỏi quốc gia, Đức Giáo Hoàng Piô XI cũng đã thiết lập một ngày lễ tôn vinh CHÚA GIÊSU KITÔ VUA như một cách minh định rằng: Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, và là Thiên Chúa thật, Ngài là Vua vũ trụ, Vua muôn loài, là Vua của tất cả mọi người, của mọi dân tộc, của mọi quốc gia.
Tôn vinh Chúa Ki-tô là vua, Giáo Hội không chủ trương khôi phục lại loại vương quốc kiểu phong kiến như xưa, loại vương quốc chỉ sản sinh những vị vua “thống trị (dân) một cách tàn bạo và hà khắc”, hoặc những hôn quân vô đạo “chỉ biết lo cho mình” (x.Ed 34,…8)
                                                                                                
Tôn vinh Chúa Ki-tô là Vua, Giáo Hội muốn mời gọi người tín hữu hãy chỉ nhìn về một Giê-su, Ngài chính là một vị Vua mẫu mực, một vị Vua của tình yêu, một vị Vua “ưa sự nhân từ”, một vị Vua “hiền lành và khiêm nhường”, một vị Vua luôn “chạnh lòng thương xót”, một vị Vua không “dùng uy mà thống trị dân”, không “lấy quyền mà cai trị dân”, một vị Vua “đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ”.

Và, cuối cùng, là một vị Vua “đến để chiên được sống và sống sung mãn”. (Ga 10, 10)
****
Vâng, theo bản tin nêu trên, “Ba Lan chính thức tôn vinh Chúa Giêsu Kitô là Vua trị vì nước mình”, được hai năm.
Nhắc lại điều này để làm gì? Thưa, để xem đó như là một tiếng chuông cảnh tỉnh, cảnh tỉnh chúng ta rằng: Sau bao nhiêu năm là một Ki-tô hữu, thế nhưng tôi đã thật sự tiếp nhận Đức Giê-su chính là Vua của đời tôi?
Tôi đã thật sự tiếp nhận Đức Giê-su chính là Vua của đời tôi? Tôi có là thần dân của Vua Giê-su, một vị vua của Vương Quốc Nước Trời?
Hay miệng tôi xưng Chúa nhưng lòng không có Ngài? Nếu đúng là vậy, thì đó là một thảm họa của đời ta.
Thảm họa bởi, một tấm lòng “không có Chúa” , là một tấm lòng trống rỗng. Và, chính sự trống rỗng đó, chúng ta rất dễ bị lấp đầy bởi những thú vui của thế tục, đại loại như: dâm bôm-ô uế-phóng đãng,  như  rượu chè, như ham muốn tiền bạc, danh vọng,  quyền lực  v.v… là những thú vui rất quyến rũ, quyến rũ đến độ chúng ta sẽ trở thành nô lệ, cho những thú vui đó.
Nói cách khác, nó sẽ làm cho chúng ta trở thành thần dân của vương quốc thế tục.
Cho nên, nếu chúng ta đã “lỡ” nạp mình vào vương quốc thế tục, đừng thất vọng vì sự yếu đuối của mình, hãy can đảm đứng lên, và đừng lưu luyến nó, mà “hãy ra khỏi thành (vương quốc)  ấy đi, để khỏi thông đồng với tội lỗi của nó và hứng lấy những tai ương dành cho nó” (x. Kh 18, 4)
Thật ra, không đợi chúng ta tôn vinh Đức Giê-su là Vua, thì Ngài vẫn là Vua của chúng ta. Và, dù chúng ta không muốn là thần dân của Ngài, Ngài vẫn coi chúng ta là con dân của Ngài. Như Ngài đã có lời mời gọi “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở, thì Ta sẽ vào nhà người ấy… Ta sẽ cho ngự bên Ta trên ngai của Ta, cũng như Ta đã thắng và ngự bên Cha Ta trên ngai của Người” (x.Kh 3, 20-21)
Hãy luôn nhớ rằng, đã là người môn đệ của Chúa, dù chúng ta đang “ở trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian; sống ở giữa đời nhưng không sống như người đời”.
Cho nên, thật phải đạo khi hôm nay chúng ta hãy tự hỏi mình, rằng: “Tôi sẽ chọn là thần dân của nước nào? Của vương quốc thế tục hay là thần dân của Đức Giê-su, Người là Vua của Vương Quốc Nước Trời?”
Câu trả lời là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, đừng quên, sẽ có ngày: “Ai nấy sẽ thấy Người, cả những kẻ đã đâm Người. Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Người. Đúng thế! Amen!” (x.Kh 1, 8)
Vâng, đúng thế! Đừng chọn ai khác, mà “HÃY CHỌN ĐỨC GIÊ-SU”.
Petrus.tran





Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2018

SỐNG ĐẠO CHÍNH LÀ TỬ ĐẠO


Chúa Nhật XXXIII – TN – B 

SỐNG ĐẠO… CHÍNH LÀ TỬ ĐẠO.

Theo truyền thống, vào tháng mười một hàng năm, Giáo Hội dành riêng  ngày Chúa Nhật (thứ XXXIII – TN) để kính nhớ các thánh tử đạo Việt Nam.
Có lẽ, không ít người, (nhất là các bạn trẻ),  sẽ tự hỏi rằng: các vị thánh đó đã sống như thế nào, để hôm nay được gọi là tử vì đạo. 

Thưa, rất dễ hiểu. Các vị  là những người tin vào Chúa Giêsu, sống trung thành với những gì Chúa Giêsu, qua Giáo Hội, đã truyền dạy. Và, quan trọng hơn cả, đó là sẵn sàng chịu bắt bớ tù đày, chịu nhiều hình phạt khắc nghiệt, dẫu cho đó là cái chết, chỉ vì không từ bỏ niềm tin của mình.

Lịch sử Giáo Hội Việt Nam cho biết, có khoảng vài trăm ngàn vị tử đạo, kéo dài qua các triều đại:  “vua Lê - chúa Trịnh, Cảnh Thịnh và triều Nguyễn bởi các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức”. 

Có rất nhiều hình phạt dành cho những vị tử đạo. Nào là bị gông cùm, xiềng xích, bị nhốt trong cũi, bị đánh đòn, bị bỏ đói. Nặng hơn thì bị voi dầy, bị đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng. Tàn bạo hơn thì bị xử trảm, xử giảo (thắt cổ) hoặc bị thiêu sống. 

Ác liệt nhất là bị xử lăng trì (một hình thức phân thây ra từng mảnh) hay bá đao (bị xẻo từng mảnh thịt)… cho tới chết, đúng như tác giả thư gửi tín hữu Do Thái mô tả: “Có những người phải chịu nhạo cười và roi vọt, hơn nữa còn bị xiềng xích, và bỏ tù, họ bị ném đá, bị cưa đôi, bị chết vì gươm…” (x.Dt 11, 36-37)

Tổng cộng 117 vị đã được Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II tuyên thánh vào ngày 19/06/1988, và ngài An-rê Phú Yên được tôn chân phước vào ngày 5/3/2000. 

Một số người ghét Công Giáo cho rằng, những cái chết của các vị tử đạo chẳng qua cũng giống như những cái chết (cũng được gọi là tử đạo) của nhóm ISIS, mà thôi.
Nói như thế quả là lối nói đầy ác ý. Các thánh tử đạo Công Giáo, khi còn sống, họ đã sống “Thân ái với mọi người.  Tôn trọng nhà cầm quyền (vua quan). Sống Tin Mừng yêu thương. Có tình nghĩa với gia đình. Yêu kính Đức Maria”. 

Rồi, khi phải chết (tử đạo), thì các ngài đã chấp nhận “uống chén đắng”, không để ai liên lụy, không man trá và coi cái chết như là “thánh lễ cuộc đời”.  Chưa hết, các ngài còn tỏ lộ thái độ “bao dung tha thứ”. 

Các thánh tử đạo Công Giáo, sống và chết như thế, sao gọi là giống như nhóm ISIS, một nhóm lấy cái chết (càng nhiều càng tốt) của người khác, như là chiến tích cho sự tử đạo của mình!  

Cuộc đời của các thánh tử đạo Công Giáo là một cuộc đời của chứng từ, một hành trình sống kết hợp với ân sủng của Chúa, cho tới khi “phải” làm chứng cho Chúa bằng chính “máu đào” của mình. 

Ba vị thánh tử đạo, linh mục Gioan Đạt, thừa sai Gagelin Kính và linh Mục Đặng Đình Viên, như là những minh chứng điển hình.

Chuyện kể rằng: linh mục Gioan Đạt, khi ngài vừa dâng lễ xong thì quân lính vây bắt. Cha đã chạy thoát, nhưng vì để quên áo lễ, cha thấy quân lính tra tấn gia chủ nên ra nộp mạng và nói: "Vẫn biết tôi có thể thoát, nhưng như thế anh chị em sẽ bị khổ nhiều".

Với thừa sai Gagelin Kính ư! Vâng, ngài đã viết thư xin phép giám mục cho mình ra trình diện để tín hữu Bình Định được bình an.

Còn linh mục Đặng Đình Viên thì sao? Thưa, cha đã trốn an toàn trong vườn mía dày đặc, nhưng khi thấy quân lính đánh đập tra khảo con của chủ nhà, cha cũng tự động ra thế mạng. (trích: Chân dung các thánh tử đạo Việt Nam - Lm PX. Đào Trung Hiệu. OP).

Nếu xưa kia vào thời Cựu Ước, có chuyện ông Elêazaro không chấp nhận việc giả bộ ăn của cúng, để thoát án tử hình, thì ngày nay, các thánh tử đạo cũng không “man trá” qua việc khai lý lịch của mình. Đó là các linh mục :Tùy, Yến, Khanh, Hường, Thịnh… các ngài nhất định không khai man lý lịch là lang y (một hình thức ‘quá khóa’ trá hình), dù được hứa trả tự do.

Chỉ là phàm nhân yếu đuối, nhờ đâu mà các vị có sức chịu đựng, chịu đựng cho đến chết? Thưa,  đó là “nhờ đức tin”, cùng với “Ơn của Chúa”  các ngài đã vượt thắng được  sự sợ hãi, tù đày, chết chóc, để trở thành những vị tử vì đạo.

Vâng, có thể kết luận rằng: cái chết của các ngài không phải là cái chết của những kẻ cuồng tín, nhưng là cái chết để làm chứng, làm chứng cho tình yêu thương theo tinh thần Đức Giê-su.

**
Truyền thống người Việt chúng ta là “uống nước nhớ nguồn”. Và đó…  đó là lý do mà hôm nay toàn thể Giáo Hội Việt Nam long trọng “Mừng kính các thánh tử đạo Việt Nam”.

Mừng kính các ngài, trước là để chiêm ngắm lại những con người đã trở thành những “hạt giống”, những hạt giống một thời đã làm tăng thêm vẻ đẹp cho “Ngôi vườn Giáo Hội”, như lời ngài Tertuliano có nói: “Máu các vị tử đạo, là hạt giống sinh nhiều giáo hữu”. Và sau là, để xem đó như những tấm gương mẫu mực, những tấm gương mẫu mực hầu đem ra so sánh với “hạt giống đức tin” của mỗi chúng ta.

Vâng, điều mà chúng ta cần so sánh, đó là, hãy tự hỏi “hạt giống đức tin” của tôi, sau bao nhiêu năm  gieo trồng trong ngôi vườn Giáo Hội, nay có sinh được hoa trái?

Nói rõ hơn, hạt giống đức tin của tôi hôm nay, có sinh được hoa trái “bác ái”, như sự bác ái của ngài “y sĩ Phan Đắc Hòa”, một vị đã tử vì đạo? Chuyện kể rằng: ông ta luôn giúp người nghèo khổ, những bệnh nhân túng thiếu, không những ông chữa bệnh miễn phí cho họ, mà còn giúp đỡ  họ tiền bạc để mưu sinh.

Tất nhiên, ngoài hoa trái bác ái, chúng ta còn phải xem lại những hoa trái khác, những hoa trái “nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” có nở rộ trong ngôi vườn Giáo Hội, bởi chính hạt giống đức tin của mình!?

Đừng bỏ qua sự so sánh này. Bởi nó chính là bằng chứng sống động chứng tỏ chúng ta có thật là một “Martyr”, một “chứng nhân” của niềm tin và tình yêu thương, hay không.

Bởi vì ngày nay, tử đạo đâu cứ phải đổ “máu đào”, mà chính là phải trở thành “chứng nhân”, như có lời nói: “Con người thời nay tin vào các chứng nhân hơn là các thầy dạy. Tin vào kinh nghiệm hơn là đạo lý, tin vào đời sống và các sự kiện hơn là các lý thuyết”.

***
Đức Giê-su khi nói về ngày quang lâm, Ngài cho biết có vài “dấu chỉ” sẽ xảy ra, như: “mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển”.


Tiếp đến,  dùng một hình ảnh rất “trực quan sinh động”, Ngài nói tiếp rằng: “Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần. Cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, anh  em hãy biết là Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi”.

Nhắc đến điều này để làm gì? Thưa, là để củng cố thêm cho sự so sánh nêu trên. Nói rõ hơn, nhắc đến điều này là để chúng ta xem đó như một lời nhắc nhở cho người  “chứng nhân” của Thiên Chúa.  Một lời nhắc nhở, rằng: hoa trái của người chứng nhân chính là “dấu chỉ” về  cách sống đạo của người chứng nhân.

Bởi vì, “SỐNG ĐẠO CHÍNH LÀ TỬ ĐẠO”.

Petrus.tran











Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một.

  Chúa Nhật XXX – TN – A Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một Đọc các sách Tin Mừng, chúng ta được biết, sứ vụ rao giảng Tin Mừng của...