Thứ Bảy, 14 tháng 8, 2021

 

Mẹ là gương mẫu đời ta

“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”.



Chúa Nhật XX – TN – B


Mẹ là gương mẫu đời ta

Trong kho tàng thánh ca Việt Nam, có một bài ca mỗi khi được cất hát lên, tiếng nhạc nghe thì du dương và lời ca nghe thì trìu mến. Bài ca này mang tên: “Kìa bà nào”.

Chúng ta cùng nghe lại bài thánh ca này nhé: “Kìa bà nào đang tiến lên như rạng đông. Kìa bà nào đang tiến lên như rạng đông. Đẹp như mặt trăng, rực rỡ như mặt trời. Oai hùng như đạo binh xếp hàng vào trận. Bà là ai.”

Những lời ca tiếp theo, tác giả bài thánh ca đã phác họa chân dung người phụ nữ này “Như huệ giữa chòm gai. Như hồng thiêng mầu nhiệm. Như đền vua vinh hiển. Như thành thánh Salem”.

Chưa hết, chân dung người phụ nữ này còn được miêu tả “Như hào quang Thiên Chúa. Như mùa xuân không úa. Như vì sao mai rạng. Như chính cửa thiên đàng”.

Phác họa chân dung xong, tác giả cho biết, người phụ nữ này “Dư đầy ơn Thiên Chúa. Tay tràn ơn cứu thế. Đấng từ bi nhân hậu hằng tiếp đón lời cầu”.

Theo những gì tác giả bài thánh ca mô tả, người phụ nữ này quả là “Hồn Xác Vẹn Tuyền”. Vâng, một người bạn của tôi (không phải là người Công Giáo) sau khi nghe bài thánh ca này, đã nói lên tâm tư của anh ta, như thế.

Sau khi nói lên tâm tư của mình, anh ta hỏi tôi: “Bà này là ai?” Tôi trả lời: “Thì tác giả nói rồi đó. Nói tới năm lần tên của bà: tên là Bà-là-ai”. Trả lời xong tôi tự hỏi, sao tác giả không cho chúng ta biết tên của người phụ nữ trong bài thánh ca này nhỉ!

Sao tác giả không thêm bốn chữ, sau ba chữ “Bà là ai” rằng: “Thưa bà là Maria!” Thêm vài nốt nhạc cũng dễ hát thôi! Thêm như thế, những lời ca tiếp theo đâu cần câu hỏi bà-là-ai nữa, mà chỉ cần cất tiếng ca: “Maria như hào quang Thiên Chúa… Như chính cửa Thiên Đàng”.

Dạ, thưa quý vị, “tám” một chút cho vui thôi!

Tuy đặt câu hỏi “Bà là ai”, nhưng tác giả đã cho chúng ta (là người Công Giáo) câu trả lời. Câu trả lời được xuất hiện ở gần cuối bài ca, đó là lời ca rằng: “Bà là ai… Dư đầy ơn Thiên Chúa”. Ai là người “dư đầy ơn Thiên Chúa” nếu không là Đức Maria. Đức Maria đã được sứ thần Gapriel gọi là: “Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”, kia mà!

Vâng, điều này đã được xác thực trong Tin Mừng thánh Luca, tại phân đoạn có tiêu đề: “Truyền tin cho Đức Maria” (x.Lc 1, 26-38).

**
Câu chuyện được ghi lại, rằng: “Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Maria”.

Nhắc đến Ga-li-lê, tôi lại nhớ đến một bài thánh ca của Lm. Thành Tâm. Bài thánh ca với lời ca rằng: “Ga-li-lê! Nhắc ta nhớ ngày xưa. Ngày Chúa ta Sống thân phận chúng ta. Vì thương ta bao năm trời đây đó. Làm chứng nhân: Tình thương của Cha”.

Vâng, cái “ngày xưa” ấy tại Ga-li-lê, khi sứ thần Chúa “vào nhà trinh nữ” một lời “tung hô câu đường hạ ngớp châu sa” đã được ngài cất lên, rằng: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”.

Thưa bạn, nếu hôm nay, bạn nhận được lời chúc tụng này, bạn có bối rối không! Với Đức Maria, thánh sử Luca cho biết: “Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì”.

Đang lúc Đức Maria cảm thấy “Run như run thần tử thấy long nhan”. Đang lúc Mẹ bối rối đến độ: “Run như run hơi thở chạm tơ vàng”. Rất trìu mến, sứ thần Chúa cất lời trấn an: “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa” (x.Lc 1, 30).

Và, thật ngỡ ngàng thay khi sứ thần tiếp tục nói với Đức Maria rằng: “Này đây bà sẽ thụ thai sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên người, và triều đại người sẽ vô cùng vô tận”.

Nghe tới đây, Đức Maria làm sao nhỉ! Phải chăng, lúc này Mẹ cảm thấy: “Linh hồn tôi ớn lạnh!” Vâng, rất ớn. “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào được, vì tôi không biết đến việc vợ chồng”. Đức Maria đã đáp lời sứ thần Chúa, như thế.

Một lời chối từ quá hợp lý. Thế nhưng, với Thiên Chúa thì không. Người đã chọn ai, thì người đó không có lý do gì để từ chối. Xưa kia, khi tuyển chọn Môsê, dù ông ta đã từ chối với lời biện bạch, rằng: “con không phải là kẻ có tài ăn nói, vì con cứng miệng cứng lưỡi.”

Nhưng, Thiên Chúa không chấp nhận lý lẽ của Mô-sê.

Sự kiện này, sách Xuất hành ghi rằng: “ĐỨC CHÚA phán: Ai cho ngươi có mồm có miệng? Ai làm cho nó phải câm phải điếc, cho mắt nó sáng hay phải mù lòa? Há chẳng phải là Ta, ĐỨC CHÚA đó sao? Vậy, bây giờ ngươi hãy đi, chính Ta sẽ ngự nơi miệng ngươi, và Ta sẽ chỉ cho ngươi phải nói những gì.” (x.Xh 4, 10-12).

Ông Mô-sê phải đi. Nhờ đó, hôm nay chúng ta có Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời.

Rồi đến trường hợp ngôn sứ Giêrêmia. Khi Đức Chúa đặt ông “làm ngôn sứ cho chư dân”, ông thoái thác viện lý do, rằng: “con đây còn quá trẻ, con không biết ăn nói”. Nghe vậy, Đức Chúa làm sao nhỉ! Thưa, Người phán với Giê-rê-mi-a: “Đừng nói ngươi còn trẻ! Ta sai ngươi đi đâu, ngươi cứ đi. Ta truyền ngươi nói gì, ngươi cứ nói. Đừng sợ chúng, vì Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi… Rồi ĐỨC CHÚA giơ tay chạm vào miệng (Giê-rê-mi-a) và phán: Đây Ta đặt lời Ta vào miệng ngươi. Coi, hôm nay Ta đặt ngươi đứng đầu các dân các nước” (x.Gr 1, 4-10) Gê-rê-mi-a đã đi.

Trở lại trường hợp Đức Maria. Sứ thần Chúa nói gì khi Mẹ từ chối! Thưa, chỉ một lời nói, một lời nói khiến cho những ai có lòng “kính sợ” Thiên Chúa cũng đều phải cất lời xin vâng.

Hôm ấy, sứ thần Chúa nói: “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”.

Ít phút trước đó, Đức Maria được củng cố lòng tin qua lời công bố của sứ thần, rằng: “Thánh Thần sẽ ngự xuống bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.”

Một… một chứng cứ hùng hồn về việc, không có gì mà Thiên Chúa không làm được, cũng đã được sứ thần Chúa minh chứng: “Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng.”

“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”. Đức Maria đã trả lời như thế. Mẹ không một lời thoái thác. Mẹ “xin vâng”.

***
Chúa Nhật hôm nay 15/08. Như một truyền thống đẹp, Giáo Hội mừng kính lễ “Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời”.

“Giáo hội Công giáo định sự kiện này là một “tín điều” (điều phải tin) do Giáo hoàng Piô XII ban hành vào ngày 1 tháng 11 năm 1950 qua Hiến chế ”Munificentissimus Deus” (Thiên Chúa vô cùng vinh hiển).

Trong hiến chế này, Giáo hoàng Piô XII tuyên bố: “Sau khi hoàn tất cuộc đời dương thế, Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa vừa vô nhiễm vừa mãi mãi đồng trinh, đã được đưa vào vinh quang thiên quốc cả hồn lẫn xác”, bởi những lý do: Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa; thân xác Đức Giêsu sinh ra từ thân xác Đức Maria (“caro Jesu est caro Mariae”); thân xác Đức Maria không hề sa sút nhưng vẫn trinh khiết vẹn toàn và bởi đó thật xứng đáng nếu thân xác ấy không bị hư nát sau khi chết; và vì đã liên kết chặt chẽ với Đức Ki-tô trong sứ mạng cứu độ của Người ở trần gian, nên Đức Maria cũng thật xứng đáng được chia sẻ tình trạng vinh quang của thân xác.”

Trong thánh kinh không có bằng chứng trực tiếp nào về việc Đức Maria lên trời. Hội Thánh Công Giáo rút ra kết luận đó từ cách gọi ‘Đức Maria đầy ân sủng’ được ghi trong Tin mừng Luca (Lc 1,28). Vì đầy ân sủng nên Mẹ được gìn giữ khỏi phải chịu hậu quả của tội lỗi, tức là thân xác không phải hư nát sau khi chết và thân xác được hạnh phúc trên trời ngay cả khi ngày tận thế chưa đến. Khi đặt niềm tin vào việc Đức Maria lên trời, Hội thánh không dựa vào Kinh Thánh mà dựa vào truyền thống được kể lại. Đây chắc chắn là giáo lý đã được mạc khải, bởi vì các giám mục Công Giáo trên toàn thế giới đã nhất trí tin rằng, đó là một phần trong mạc khải của Thiên Chúa.” (nguồn: internet).

****
Thật đúng là vậy. Đức Maria – Đấng đầy ân sủng đã lên trời cả hồn lẫn xác. Mẹ lên trời cả hồn lẫn xác chỉ nhờ hai chữ “xin vâng”. Mẹ không xin vâng theo kiểu vâng-mà-không-vâng. Mẹ không vâng theo kiểu người con thứ hai (dụ ngôn hai người con) nghe lệnh người cha bảo đi làm vườn nho, liền thưa rằng: “Thưa ngài, con đây! Nhưng rồi lại không đi” (x.Mt 21 28-29).

Mẹ xin vâng suốt cả cuộc đời. Có thuở nào một vị Cứu Chúa của muôn dân mới sinh ra đã phải “nằm trong máng cỏ”! Thế mà Mẹ vẫn xin vâng. Chưa kể đến cuộc “vượt biên” trốn sang Ai-Cập “vì Hêrôđê sắp tìm giết hài nhi”. Mẹ cũng xin vâng.

Và có buồn không kia chứ, khi gia thất của một quân vương lại phải từng bước chân âm thầm lao nhọc vất vả ở Nazareth ba mươi năm có lẻ… Mẹ cất tiếng vâng lớn hơn.

Đức MARIA không “đào ngũ”. Đức Maria vẫn tiến bước, từ Cana với niềm vui của đôi tân hôn cất tiếng “hứa yêu nhau trao câu thề chung sống muôn đời”, cho đến Golgotha với nỗi sầu bi nhìn con mình chết dần chết mòn, “chỉ vì tình yêu (nên đã) chịu nhục thân, chết cho trần gian”. Mẹ vẫn vâng với sự “hớn hở vui mừng” vì Mẹ tin rằng “Phận nữ tỳ hèn mọn” của mình, Thiên Chúa “Người (vẫn) đoái thương nhìn tới”.

Bước đi trên con đường như thế, chẳng phải là bước vào “cửa hẹp và đường chật” đó sao! Mà, Con của Mẹ đã nói gì về việc vào cửa hẹp và đường chật, nhỉ! Chẳng phải Giê-su con Mẹ đã tuyên phán rằng: “đưa đến sự sống”, đó sao!

“Sự sống” này, đã được Đức Giê-su mô tả là: được sống “cùng tất cả các ngôn sứ được ở trong Nước Thiên Chúa”(x.Lc 13, …28).

Vậy, việc tin Đức Maria “hồn xác lên trời” chẳng phải là một niềm tin tất yếu!

*****
Đức Maria đã được vinh hiển trên trời. Và, chắc hẳn không ai trong chúng ta lại không muốn được cùng hưởng sự vinh hiển như Đức Maria.

Vâng, muốn được vinh hiển như Đức Maria nào có khó gì đâu! Rất giản dị, chỉ cần “dõi bước theo Mẹ” và lòng chúng ta sẽ “quyết noi gương Mẹ”.

Nói đến chuyện “dõi bước theo Mẹ”, có lẽ nhiều người trong chúng ta tự hào là “tháng hoa” năm nào mà tôi không có mặt bước-theo-Mẹ vào những buổi rước “kiệu Đức Mẹ”!

Còn nói đến việc “noi gương Mẹ”, có lẽ không ít người tự hào nói rằng: Ồ! Mẹ chính là “thần tượng” của tôi. “Tượng” Đức Mẹ ư! Chưa chắc nhà nào có tượng Đức Mẹ được trang hoàng lộng lẫy như tượng Đức Mẹ nhà tôi!

Tham dự “kiệu Đức Mẹ” là một truyền thống đẹp. Thế nhưng, sẽ chẳng đẹp gì nếu những buổi rước kiệu đó chỉ là những buổi “rước phô trương thanh thế” – “rước cạnh tranh”, rằng thì-là-mà giáo xứ tôi rước “hoành tráng” hơn giáo xứ bạn. (Chuyện này có nha!).

Phô trương có khác gì kiêu căng! Coi chừng, Đức Maria, trong bài ca Magnificat, có nói: “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng”.

Tham dự kiệu Đức Mẹ đẹp nhất, đó là chúng ta hãy “kiệu” bài ca Magnificat vào trong con tim của mình. Nói cách khác, đó là chúng ta đang “dõi bước theo Mẹ”.

Còn việc trang hoàng tượng Đức Maria thì sao nhỉ! Có “tượng” mà không có “thần” thì chẳng ích gì? Không có “thần” như Mẹ đã có thì chẳng được ơn ích gì. “Thần” Mẹ đã có chính là “Thánh Thần Chúa (đã) ngự xuống trên (Mẹ)” năm xưa.

Chỉ khi có “thần” như Mẹ đã có, hay nói rõ hơn, chỉ khi chúng ta có Thánh Thần Chúa ngự vào trong tâm hồn. Vâng, chỉ khi đó chúng ta mới có thể “nghe được lời Chúa nói”, như xưa kia, khi Đức Maria có “Thánh Thần Chúa ngự xuống trên bà”, lập tức Mẹ hiểu được lời Thiên Chúa qua sứ thần Gáp-ri-en và đáp “xin vâng”.

Để có thể bước theo Mẹ và noi gương Mẹ, chúng ta đừng nhìn, đừng trông vào một ai khác. Nói rõ hơn chúng ta đừng nhìn vào thế gian, nơi mà satan và con cái chúng đang ra sức tô vẽ, dụ dỗ mọi người rằng: đây chính là thiên đàng – thiên đàng hạ giới, thế nhưng, thật ra đó chỉ là nơi dẫn đưa chúng ta đến: dối trá, gian lận, vị kỷ, hận thù, tranh chấp, chia rẽ, bè phái v.v… Nói tắt một lời, nhìn vào nơi đó chúng ta chỉ thấy “nghi ngờ và chết chóc”.

Để có thể bước theo Mẹ và noi gương Mẹ, chỉ có một cách tốt nhất, đó là: chúng ta hãy cùng nhau: “trông lên Mẹ là gương mẫu của đời ta”.

Petrus.tran

Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2021

Đức Giê-su: Bánh hằng sống từ trời xuống

 

Đức Giê-su: Bánh hằng sống từ trời xuống

Đức Giê-su: Bánh hằng sống từ trời xuống 

Đức Giê-su: Bánh hằng sống từ trời xuốngNhững ngày tháng vừa qua, Việt Nam nói chung và Saigon nói riêng, đã và đang phải chống chỏi sự bùng phát dịch bệnh Covid 19 mỗi ngày một nghiêm trọng. Và đó là lý do để chính phủ ban hành lệnh giãn cách xã hội. Nhiều chỉ thị được ban hành, nhằm hạn chế vấn đề đi lại, nhằm giảm nguy cơ lây lan dịch bệnh.

Do bởi hạn chế đi lại nên việc tích trữ lương thực, thực phẩm là điều không thể tránh khỏi. Chưa bao giờ chợ búa, siêu thị lại nhốn nháo việc mua bán như hôm nay. Nói chung, tỉnh thành nào có lệnh giãn cách, thì nơi đó cảnh tranh nhau mua sắm lương thực, thực phẩm hết sức ồn ào nhộn nhịp.

Lo tích trữ cái ăn, để nuôi thể xác, điều đó không sai. Tuy nhiên, là người Công Giáo, chúng ta phải hiểu rằng, đó là điều cần thiết, nhưng không phải là điều quan trọng. Không quan trọng bởi, nếu chỉ chú tâm đến việc ăn để nuôi thể xác, đến một lúc nào đó ăn hoài, ăn mãi rồi cũng chán (thì đây! mấy hôm nay, vì bị phong tỏa, nhiều gia đình nghèo chỉ ăn mì gói, than rằng: ăn hoài chán quá! Mà có ăn cao lương mỹ vị đi chăng nữa, thì ăn mãi cũng chán, phải không, thưa quý vị!). Đó là chưa nói, đến khi già yếu bệnh hoạn, lúc đó, có làm gì được ngoài việc “nằm” nhìn người khác ăn, mà  thôi.

Người xưa có nói: “miếng ăn là miếng tồi tàn”. Rất tồi tàn vì cái ăn thường dẫn đến cái tội… tội “ăn tham – ăn cắp – ăn trộm – ăn hối lộ”. Chỉ có “ăn chay” là không phạm tội thôi! Thế nên, điều quan trọng đó là: ngoài việc nuôi thể xác, chúng ta còn cần  nhớ đến phần nuôi dưỡng linh hồn.

Xưa kia, khi dân chúng Do Thái tìm đến Đức Giê-su để mong được “ăn bánh no nê”, ngay lập tức Ngài đã có lời khuyến cáo, rằng: “Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực hay hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh” (x.Ga 6, 27).

Lương-thực-thường-tồn ở đâu mà có! Thưa, đây không phải là thứ lương thực do con người làm ra, nhưng là thứ lương thực “bởi trời”,  là thứ lương thực “Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian”.

Vâng, Thiên Chúa đã ban cho thế gian lương thực thường tồn, qua Con Một của Người, là Đức Giê-su. Tại Ca-phac-na-um, Đức Giê-su đã tuyên phán: “Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi,chẳng khát bao giờ… Tôi từ trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi,  nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi… Ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết”(x.Ga 6, 35…40)

Thưa quý vị, quý vị có tin không? Xưa, người Do Thái không tin. Giữa  họ và Đức Giê-su đã có một cuộc tranh luận gay gắt. Cuộc tranh luận này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an.(x.Ga 6, 41-51)

Vâng, người Do Thái không tin. Họ “xầm xì phản đối, bởi vì Đức Giê-su đã nói: ‘Tôi là bánh từ trời xuống’…”. Mà làm sao tin cho được, khi họ biết rõ ràng về “sơ yếu lý lịch” của Đức Giê-su! Hôm ấy họ đã nói rằng: “Ông này chẳng phải là ông Giê-su con ông Giu-se đó sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta đều biết cả, sao bây giờ ông ta lại nói: ‘Tôi từ trời xuống’?”

Phản ứng của Đức Giê-su thế nào, nhỉ! Thưa, rất quả quyết. Ngài đã nói với người Do Thái, rằng: “Các ông đừng có xầm xì với nhau!”

Hôm đó, dù cho họ có xầm xì phản đối, Đức Giêsu vẫn nói lên thông điệp từ trời, một thông điệp của tình yêu, rằng: “Thật tôi bảo thật với các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. Tôi là bánh trường sinh. Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc, nhưng đã chết. Còn bánh này là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì khỏi phải chết.”

Không quanh co úp mở, Đức Giê-su khẳng định: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (x.Ga 6, 51). “Bánh tôi ban tặng chính là thịt tôi đây…” Hồi ấy, người Do Thái hầu hết không ai tin vào lời tuyên phán của Đức Giê-su. Vâng, đúng là khó tin, nhưng đó là “những lời chân lý của Người”.

Con người chỉ có thể đón nhận lời chân lý này trong “đức tin”.  Nhờ đức tin con người mới có thể “nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha”, đón nhận giáo huấn của Chúa Cha “ai tin thì được sự sống đời đời”,  con người sẽ tin vào lời tuyên phán (nêu trên) của Đức Giê-su.

Tiếc thay! Ngày nay, cũng còn rất nhiều người không tin như người Do Thái, xưa. Họ không tin “bánh” Đức Giê-su ban tặng “chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Thế nhưng, họ lại tin vào những loại “bánh” cũng được làm bởi thịt, “thịt thai nhi” nhất là những “thai nhi con so”, họ chế biến thành một thứ lương thực để cải lão hoàn đồng, để trường sinh bất lão…

Có một câu chuyện, tuy đã được đăng tải khá lâu, nhưng thiết tưởng hôm nay chúng ta cũng nên biết. Đó là chuyện về Bác sĩ Hướng Văn, trong bài viết “sự thật về thuốc trường sinh kinh dị”, phần mở đầu được viết như sau: “Trong các nỗ lực tìm kiếm thuốc đẩy lùi cái chết, kinh dị nhất là những “thuốc trường sinh” được điều chế từ các bộ phận cơ thể người. Thuốc thịt người từ thời Trung Hoa cổ đại cũng đã được nhà tự nhiên học Li Shih-chen đề cập đến trong cuốn sách Y dược Trung Quốc xuất bản năm 1597. Thuốc bào chế từ rau thai nhi (tử hà sa) thì trong truyền thống y học Trung Quốc được sử dụng khá phổ biến. Một phương thuốc khác cũng được đề cập nhiều trong lịch sử là “Giọt lệ của Hoàng đế”, nó trở nên nổi tiếng nhờ sự cuồng tín của vua Charles II nước Anh. Thuốc được làm từ bột sọ người, được tán dương là tăng cường sức khỏe và sự cường tráng để trường sinh.” (nguồn: suckhoedoisong.vn)

Cũng theo vị bác sĩ này cho biết, Hàn Quốc đã có lúc thu giữ hàng ngàn viên thuốc con nhộng thẩm lậu qua biên giới làm từ bột thịt người. Cơ quan Hải quan Hàn Quốc cho kiểm nghiệm các viên thuốc ấy, thấy có tới 97 – 99% thành phần tương ứng với ADN của người.

Phóng viên Daily Mail (Anh) đóng giả bệnh nhân tìm mua thuốc, đã đột nhập được vào điểm bán thuốc, cũng là nơi cất giữ bào thai và xác trẻ sơ sinh, nằm ở một thị trấn nhỏ miền Bắc Trung Quốc.

Đây cũng chính là địa điểm bán thuốc thành phẩm, đồng thời là nơi mua bán “nguyên liệu” đặc biệt đó để sản xuất thuốc. Loại thuốc độc đáo này được cho là rất bổ, tăng khả năng tình dục, tăng sinh lực, kéo dài tuổi thọ.

Đài truyền hình SBS của Hàn Quốc đã đăng tải một bộ phim tài liệu cáo buộc các công ty dược Trung Quốc phối hợp với các phòng khám nạo phá thai để tạo ra những viên thuốc từ bào thai đã chết. Nhà chức trách Trung Quốc đã ra lệnh tiến hành mở cuộc điều tra về việc sản xuất thuốc từ bào thai hoặc hài nhi mới chết. Tuy nhiên, theo báo Wall Street Journal thì cho tới giờ, Trung Quốc vẫn giữ im lặng”.

Thật đáng buồn, nhỉ! Buồn vì có những kẻ muốn đi ngược lại chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Và, đáng buồn hơn, đó là: có những người anh em cũng mang danh là “Christian”, nhận Jesus Christ là Cứu Chúa của mình, thế mà họ cũng “xầm xì”, như người Do Thái xưa đã xầm xì, rằng thì-là-mà làm gì có chuyện bánh Đức Giê-su ban tặng “chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”

Thật đáng tiếc!  Nơi Bàn Tiệc Thánh (họ không dùng chữ Thể), những người anh em đó, không công nhận: “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh  em.” Họ tròn xoe đôi mắt, trước lời Đức Giê-su nói với các môn đệ, trong bữa tiệc ly năm xưa, nói rằng: “Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (x.Lc 22, 20)

Bây giờ, chúng ta cùng nghe lại lời Đức Giê-su đã tuyên phán: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (x.Ga 6, 51).

Vâng, Giáo Hội Công Giáo, trải qua nhiều thế kỷ vẫn đặt niềm tin vào lời tuyên phán của Đức Giê-su. Nơi Bàn Tiệc Thánh Thể, Giáo Hội Công Giáo vẫn lớn tiếng tuyên xưng, rằng: “Đây là mình Thầy. Đây là máu Thầy”.  Giáo Hội Công Giáo vẫn tiếp tục “làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy”, mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm… cho đến ngày tận thế.

Đây… đây là “mầu nhiệm đức tin”. Đức Giê-su, qua Giáo Hội, đã truyền dạy như thế. Đức Giê-su, nơi bàn tiệc Thánh Thể, Ngài vẫn ngọt ngào tuyên phán: “Thật, tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời”.

Vâng, Đức Giê-su vẫn nói với những ai đến với bàn tiệc Thánh Thể, rằng: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống”.

Petrus.tran

 

Thứ Sáu, 30 tháng 7, 2021

Bánh trường sinh là Mình Thánh Chúa.

 

Bánh trường sinh là Mình Thánh Chúa

“Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ”.



Chúa Nhật XVIII – TN – B


Bánh trường sinh là Mình Thánh Chúa

Ăn (hay uống), đó là điều không thể thiếu cho sự sống của con người. Khi nói đến ăn, có người quan niệm: ăn để sống. Tuy nhiên, có người lại cho rằng: sống để ăn. Làm được nhiều tiền để làm gì? Đi cày cật lực để làm chi? Để hưởng thụ, để ăn… ăn để sướng, chứ gì nữa!

Chính vì quan niệm “sống để ăn – ăn để sướng”, cho nên những người thuộc trường phái này xem miếng ăn là quan trọng. Vì cho là quan trọng, nên chẳng may “mất ăn một miếng”, ngay lập tức họ sẽ “lộn gan lên đầu”.

Với những người thuộc trường phái “ăn để sống”, họ xem “miếng ăn là miếng tồi tàn”. Chính vì cái sự tồi tàn đó, nhà thơ Nguyễn Công Trứ đã phớt lờ cao lương mỹ vị. Đối với ông: “Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch”, thế là đủ. Và ông quan niệm rằng: “Người quân tử ăn chẳng cầu no”.

Ăn chẳng cầu no hay ăn để sướng và ngay cả ăn để sống, xét cho cùng cũng chỉ là những quan niệm tương đối dưới cái nhìn của thế gian.

Ăn chẳng cầu no, với ba bữa chỉ là rau ư! Suy dinh dưỡng… bịnh rồi chết. Ăn để sướng ư! Vâng, cứ “tự sướng” đi… tự sướng như nguyên tổ Adam và Eva “thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn”, hái ăn… rồi cũng chết. Ăn để sống ư! Tốt đấy, để sống nhưng sẽ “sống” như thế nào, đây!

Dưới ánh sáng đức tin, đức tin Công Giáo, chúng ta được Đức Giê-su truyền dạy rằng: “Anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây. Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó”.

Trong một lần bị Satan cám dỗ về miếng ăn, Ngài đã tuyên bố rằng: “Người ta sống không chỉ bởi cơm bánh, nhưng còn nhờ vào lời miệng Thiên Chúa phán ra”.

Rồi, một lần nọ, tại Ca-phác-na-um, khi đối diện với nhóm đông dân chúng tìm đến, họ tìm đến với mong muốn một lần nữa được cho ăn uống no nê, Đức Giê-su đã có một cuộc chuyện trò thẳng thắn với họ, Ngài nói rằng: “Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh”.

**
Cuộc trò chuyện đó đã được ghi chi tiết như sau: Hôm đó, sau biến cố hóa bánh ra nhiều cho năm ngàn người ăn, Đức Giê-su “lánh mặt, đi lên núi một mình, (vì) Ngài biết dân chúng “sắp đến bắt mình đem đi mà tôn lên làm vua” (Ga 6, 15).

Về phần các môn đệ, các ông “xuống bờ Biển Hồ, rồi xuống thuyền đi về phía Ca-pha-na-um bên kia Biển Hồ”. Hôm ấy, Đức Giê-su không đi cùng với các môn đệ. Cho đến khi thuyền đi được chừng năm sáu cây số, thật ngạc nhiên, các ông thấy “Đức Giê-su đi trên mặt biển và đang tới gần thuyền”.

Vâng, thánh sử Gio-an kể rằng: “Các ông hoảng sợ”. Đúng, các ông sợ, vì hôm đó “Biển động và gió thổi mạnh”, thế mà Thầy lại “đi trên mặt biển”… Ôi! đáng sợ làm sao!

Nhìn thấy sự sợ hãi trên khuôn mặt các môn đệ của mình, Đức Giê-su lên tiếng nói: “Thầy đây mà, đừng sợ”. Nhận ra đúng là Thầy Giê-su, các môn đệ “muốn rước Người lên thuyền”, thế nhưng, “ngay lúc đó thuyền đã tới bờ, nơi các ông định đến” (x.Ga 6, 21).

Nơi các ông định đến đó là Ca-pha-na-um. Đến Ca-pha-na-um cứ tưởng là Thầy và trò được nghỉ ngơi đôi chút. Nhưng không, ở bên bờ bên kia, “khi dân chúng thấy Đức Giê-su cũng như các môn đệ đều không có ở đó”, ngay lập tức “họ xuống thuyền đi Ca-pha-na-um tìm Người”.

Kinh Thánh có chép rằng: “Các ngươi tìm ta, và gặp được, khi các ngươi tìm ta hết lòng” (Gr 29, 13). Và quả thật, hôm đó, tấm lòng của họ đã được đáp ứng. Ở bên kia Biển Hồ, họ gặp Đức Giê-su. Gặp Người, họ nói: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?”

Vâng, chỉ là một câu hỏi xã giao, bình thường! Ấy thế mà, Đức Giê-su đã trách họ. Trách họ, bởi Đức Giê-su đã nhìn thấu suốt tấm lòng họ, một tấm lòng thực dụng, thực dụng bởi một lần nữa sẽ được ăn no nê.

Thì đây, theo lời tường thuật của thánh sử Gio-an, chúng ta được biết: “…có những thuyền khác từ Ti-be-ri-a đến gần nơi dân chúng đã được ăn bánh sau khi Chúa dâng lời tạ ơn”. Tới nơi, không thấy “nhà từ thiện” Giê-su, họ mới dong thuyền đến Caphanaun, đấy chứ!

Hôm ấy, Đức Giê-su đã trách họ rằng: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê”.

Trước đám đông còn đang tẽn tò về hành vi của mình, Đức Giê-su tiếp lời truyền dạy: “Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực hay hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận” (x Ga 6, 27).

Nếu… nếu là chúng ta hôm nay, có lẽ không một ai sẽ phản đối lời nói của Đức Giê-su. Nhưng, với các người Do Thái xưa, thật khó để mà họ “tin”. Làm sao họ có thể tin Ngài chính là “Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận”, trong khi rõ ràng họ thấy Đức Giê-su chỉ là “con ông Giu-se”!

Chính vì thế, họ đưa ra một câu hỏi bâng quơ: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” Làm gì ư! Vâng, hôm ấy, Đức Giê-su nói: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người sai đến”.

Đáng tiếc thay! Cuộc gặp gỡ giữa họ với Đức Giêsu, hôm đó, đã không có tiếng nói chung. Họ đòi Ngài “làm dấu lạ” cho họ thấy để họ tin.

Có lẽ, điều họ mong đợi, đó là, phải chi Đức Giê-su là Mô-sê tái thế, để họ lại được ăn một thứ “manna mới”, một loại bánh, như họ nói “Tổ tiên chúng tôi đã ăn manna trong sa mạc, như có lời chép: Người đã cho họ ăn bánh bởi trời”.

Đó là một sự mong đợi thấm đậm tinh thần thế gian. Sứ điệp Đức Giê-su muốn gửi đến họ, cũng như cho chúng ta hôm nay, đó là sự nhận biết về một loại bánh ‘bánh bởi trời, bánh đích thực” - “bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian”.

Hôm đó, tại Caphacnaum, Đức Giêsu dõng dạc tuyên bố trước cử tọa rằng: “Chính tôi là bánh trường sinh” (Ga 6, 35).

***
Thật ra, Đức Giêsu không phải là không quan tâm đến nhu cầu “thuộc thể” của con người. Không phải một lần, mà là đến những hai lần, Ngài đã hóa bánh ra nhiều cho mọi người ăn. Lần thứ hai đã được ghi trong Tin Mừng Mác-cô (x.Mc 8, 1-10).

Nếu Đức Giê-su đến thế gian chỉ để làm những việc chữa bệnh, hóa bánh ra nhiều v.v… thì hôm nay, có nhớ đến Ngài, cùng lắm, người ta cũng chỉ nhớ đến Ngài như một danh y hoặc một nhà từ thiện nào đó.

Vai trò và sứ vụ của Đức Giêsu đến thế gian, là “để ai tin… thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”. Vâng, chính Ngài đã tuyên phán rằng: “Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ”.

Đói và khát ở đây, Đức Giê-su muốn nói đến đói khát “lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh”, là thứ lương thực Ngài ban cho. Vâng, thật quá rõ khi chúng ta cùng nghe lại lời Ngài nói với dân Do Thái năm xưa, nói rằng: “Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận”.

Nói gì thì nói, là một tín hữu Công Giáo, cuộc sống của chúng ta phải được nuôi dưỡng bởi thứ “lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh”.

Thế nên, đừng quá lệ thuộc và quan trọng hóa những loại lương thực chỉ có thể nuôi thân xác, có ăn nhiều bao nhiêu, có ăn ngon bao nhiêu, rồi cũng chết.

Là một tín hữu Công Giáo, hãy nghĩ đến lương thực thường tồn, hãy tìm cách sở hữu lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, bởi đó chính là bánh Đức Giê-su ban cho và được Ngài gọi là “Bánh Trường Sinh”.

Chỉ cần… chỉ cần một động tác, động tác bước lên thuyền, con thuyền mang tên “Hội Thánh Công Giáo”. Trên con thuyền này, Đức Giê-su, qua các vị linh mục, Ngài tiếp tục “dâng lời chúc tụng, bẻ ra” và trao cho chúng ta.

Đức Giê-su, qua bàn tay các vị linh mục, Ngài nói: “Mình Thánh Chúa Ki-tô”. Vâng, Bánh trường sinh chính là Mình Thánh Chúa.

Petrus.tran

Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một.

  Chúa Nhật XXX – TN – A Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một Đọc các sách Tin Mừng, chúng ta được biết, sứ vụ rao giảng Tin Mừng của...