Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2022

Chúa là Cha chúng ta

 

Chúa là Cha chúng ta

“Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người, Người sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần”. (Lc 3, 16).



Lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa

Chúa là Cha chúng ta

Bạn có nhớ ngày mình sinh ra? Bạn có nhớ ngày mình “chịu phép rửa”? Với câu hỏi thứ nhất, chắc hẳn đa số mọi người trong chúng ta đều có thể trả lời.

Còn câu hỏi thứ hai? Câu hỏi thứ hai, “khó quá” chăng! Vâng, đúng là khó. Là khó, thế nên, Lm. Jude Siciliano trong một bài giảng, Ngài có nói vui rằng: “Tôi chắc rằng một số đông trong chúng ta không ai nhớ được ngày rửa tội của mình!...”

Vâng, rất có thể ngay cả ngày sinh của mình, cũng có người không nhớ. Đây là trường hợp có một số người, trong cuộc di cư 1954 từ Bắc vào Nam, đã bị thất lạc giấy tờ, và họ đã làm giấy khai sinh lại, với ngày tháng năm sinh mới. Hoặc, có một số nam thanh niên (trước 1975) khai rút tuổi để khỏi phải đi quân dịch. Rồi theo năm tháng, những người rơi vào hai trường hợp nêu trên, cũng quên mất ngày-tháng-năm sinh chính thức của mình.

Ngày sinh hay ngày chịu phép rửa, là một ngày trọng đại. Đức Giê-su (vì thời đó chưa có niên lịch), nên không rõ ngày sinh chính thức của Ngài. Tuy nhiên, Giáo Hội theo truyền thống, cũng đã ấn định một ngày rõ ràng, và hôm nay, cả thế giới đều nhìn nhận, đó là ngày 24/12.

Còn ngày Đức Giê-su chịu phép rửa ư! Thưa, chúng ta không biết. Nhưng, cũng theo truyền thống, đó là sau Chúa Nhật lễ Hiển Linh, toàn thể Giáo Hội cử hành lễ kính “Chúa Giê-su chịu phép rửa”.

Chúa Giê-su thật sự đã chịu-phép-rửa. Ngài đã chịu phép rửa, không phải trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem hay tại hội đường, nhưng là tại sông Gio-dan. Sự kiện này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Luca.

**

Tin Mừng thánh Luca thuật lại rằng: “Hồi đó, dân đang trông ngóng, và trong thâm tâm, ai nấy đều tự hỏi: biết đâu ông Gio-an lại chẳng là Đấng Messia!” (x.Lc 3, 15).

Người dân đã tự hỏi như thế. Và, ông Gio-an đã trả lời mọi người, rằng: “Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người, Người sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần”. (Lc 3, 16).

Thật vậy, ông Gio-an đã làm phép-rửa-trong-nước. Và, “khi toàn dân đã chịu phép rửa”, Người-sẽ-làm-phép-rửa-trong-Thánh-Thần, đó chính là Đức Giê-su, bất ngờ xuất hiện và “cũng chịu phép rửa” do ông Gio-an làm.

Có ngạc nhiên không, nhỉ! Thưa, chắc phải vậy. Phải vậy, bởi chính ông Gio-an cũng đã ngạc nhiên. Theo thánh sử Mát-thêu ghi lại, thì ông Gio-an “một mực can” Đức Giê-su. Ông nói: “Chính tôi mới cần Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi” (Mt 3, 14).

Vâng, cũng qua thánh sử Mát-thêu, chúng ta được biết Đức Giê-su đã trả lời ông Gio-an, rằng: “Bây giờ cứ thế đã”.

Cứ-thế-đã, thưa quý vị, đó là lý do ông Gio-an phải “chiều ý Ngài” Và rồi, hôm ấy tại dòng sông Giodan đã xảy ra nhiều điều huyền diệu.

Điều huyền diệu đầu tiên, đó là: “đang khi (Đức Giê-su) cầu nguyện, thì trời mở ra và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dạng chim bồ câu”. Điều huyền diệu kế tiếp, đó là: “Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con” (Lc 3, 22).

***

“Bây giờ cứ thế đã”… Đức Giê-su đã nói như thế. Thế nên, đừng ngạc nhiên về việc Chúa Giêsu, có tội tình gì đâu, thế mà Ngài đã “chịu phép rửa”, một phép rửa tỏ-lòng-sám-hối-để- được-ơn-tha-tội.

Vâng, Đức Giê-su chẳng có tội-tình-gì. Trong thư gửi tín hữu Do Thái, tác giả cũng đã có lời truyền dạy như thế, lời truyền dạy rằng: “Chúng ta có một vị Thượng Tế… Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Dt 4, 15).

Đức Giê-su “không phạm tội”. Nhưng Ngài vẫn chấp nhận cùng-chịu-phép-rửa, Ngài sẵn sàng “dìm mình xuống” (hồi đó dìm mình xuống nước là nghi thức chịu phép rửa), là để gánh-lên-tội-lỗi-trần-gian.

****

Chúa Nhật hôm nay (09/01/2022), toàn thể Giáo Hội long trọng cử hành lễ kính “Chúa Giê-su chịu phép rửa”. Cử hành lễ kính này, không chỉ để nhìn lại một biến cố lịch sử, một biến cố của những nhiệm mầu, nhưng còn là để nhớ đến việc mỗi chúng ta cũng đã “làm phép rửa” một phép rửa được nâng lên thành “Bí Tích – Bí Tích Rửa Tội”.

Nhớ đến việc đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội để chúng ta tái-khám-phá một ân huệ, một ân huệ chúng ta “được gọi là con Thiên Chúa”.

Được-gọi-là-con-Thiên-Chúa, điều này “không phải bởi sức anh em”, thánh Phao-lô nói: “mà là một ân huệ của Thiên Chúa” (x.Ep 2, 8).

Thế nên, sẽ thật là nghiêm túc khi chúng ta cảnh giác và tránh xa trước những việc “thờ quấy, phù phép”, là những việc sẽ làm cho chúng ta dần xa rời ân huệ được “Thiên Chúa ở cùng”.

Đừng để những “việc do tính xác thịt gây ra”, đại loại như: dâm bôn, ô uế, phóng đãng v.v… ngự trị tâm hồn chúng ta. Nó… chính nó là thủ phạm làm cho chúng ta mất đi ân huệ “được nhìn thấy Thiên Chúa”.

Cuối cùng, đừng để những “bụi bặm của trần gian” những bụi bặm của ích kỷ, của hận thù, của bất hòa, của nóng giận, của tranh chấp, của chia rẽ, của bè phái, của ganh tỵ, v.v… là những nguyên nhân làm cho chúng ta xúc phạm đến ân huệ mình “được gọi là con Thiên Chúa”.

Ngoài việc “được gọi là con Thiên Chúa”, Lm Charles E.Miller còn xem “Bí Tích Rửa Tội là bước đầu trong cuộc hành trình của chúng ta lên Giê-ru-sa-lem với Đức Ki-tô để thông phần Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người”.

“Nhà Thờ”, Lm. Charles nói tiếp: “Là Giê-ru-sa-lem của chúng ta”. Thế nên, sẽ thật khôi hài khi chúng ta đã “chịu phép rửa” nhưng lại không thích đến Nhà Thờ.

Không đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ, Lm Charles E.Miller có thêm lời chia sẻ, rằng: “cũng giống như tay chơi vĩ cầm mà chẳng bao giờ mó tới cây đàn của mình”.

Quy tụ nơi đây, nơi nhà thờ, chúng ta được đồng hành cùng Đức Giêsu qua Thánh Thể. Và, đây… đây chính lúc chúng ta nhận thêm một ân huệ nữa, ân huệ “tôi sống không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).

Đức Kitô sống trong tôi, chẳng phải đó chính là nguồn lực để tôi không còn ngại ngùng “vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”, đó sao!

Vâng, còn đó… còn rất nhiều cây thập tự mà chúng ta cần phải như “ông Simon gốc Kyrene”, cúi xuống gánh vác cùng với Đức Giê-su. Đó chính là cây-thập-tự-bác-ái, cây-thập-tự-nhẫn-nhục, cây-thập-tự-từ-tâm, cây-thập-tự-trung-tín, cây-thập-tự-hiền-hòa, cây-thập-tự-tiết-độ.

Khi chúng ta “vác” những cây thập tự nêu trên, điều gì sẽ xảy ra! Thưa, có phần chắc, chúng ta sẽ tạo ra một bức tranh tuyệt hảo, một bức tranh “anh em hòa thuận, láng giềng thân thiết, vợ chồng ý hợp tâm đầu” (x.Hc 25, 1).

Này nhé! Hãy nhớ, ba điều nêu trên “cả ba đều đẹp lòng Đức Chúa”. Đẹp lòng Đức Chúa thì sao, nhỉ! Thưa, hãy tin, vào ngày phán xét, Đức Chúa sẽ nói với chúng ta, như xưa đã nói với Đức Giê-su tại sông Gio-dan, rằng: “Con là con của Cha”.

“Con là con của Cha”. Vâng, đó là niềm hạnh phúc lớn. Hạnh phúc được kết nạp vào gia đình Thiên Chúa. Thế nên, đừng vì lý do nào đó mà chúng ta không đến nhà thờ. Bởi vì nhà thờ là nơi chúng ta hiệp nhất mật thiết với Đức Giê-su (là một thành viên của gia đình Thiên Chúa) qua Bí Tích Thánh Thể.

Lm.Charles E.Miller gọi sự mật thiết này “mật thiết đến nỗi định mệnh của Người cũng là định mệnh của chúng ta”.

Do vậy, đã là một Ki-tô hữu, đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, đừng để định mệnh của mỗi chúng ta nằm trong sự kiềm tỏa của Satan. Hãy để định mệnh của mỗi chúng ta nằm trong sự quan phòng của Chúa. Bởi vì “Chúa là Cha của chúng ta”.

Petrus.tran

Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2021

Đi nào… chúng ta cùng đi

 

Đi nào… chúng ta cùng đi

“Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến” (x.Mt 2, 13).



Chúa Nhật Lễ Hiển Linh

Đi nào… chúng ta cùng đi

Tin Mừng thánh Mát-thêu có hai câu chuyện, cứ đến mùa Giáng Sinh, chúng ta lại được nghe đến. Hai câu chuyện này đều được ngài ghi tại chương thứ 2. (Mt 2, 1-18).

Một câu chuyện nói về cuộc thảm sát con trẻ tại Belem, do Hê-rô-đê phát động. Hê-rô-đê là vua cai trị miền bắc Galilê, chỉ vì “thấy mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa, (ông ta) đùng đùng nổi giận, nên sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Belem và toàn vùng phụ cận”.

Vâng, câu chuyện rất thương tâm, thương tâm khi cả một đạo quân của tên bạo chúa này, võ trang tận răng, đã tàn sát những con trẻ “từ hai tuổi trở xuống”, là những con trẻ chẳng hiểu vì sao, mình phải chết.

Một câu chuyện khác, và chính câu chuyện này, khơi nguồn cho việc bạo chúa He-rô-đê gây ra cuộc tàn sát nêu trên. Đó là câu chuyện: “Các nhà chiêm tinh đến bái lạy Đức Giê-su Hài Nhi”.

**

Vâng, chi tiết câu chuyện với những diễn biến của nó, đã được thánh Mát-thêu kể lại như sau: “Khi Đức Giêsu ra đời tại Belem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem” (x.Mt 2, 1-2).

Rồi khi đã đến Giê-ru-sa-lem, quý ông chiêm tinh lớn tiếng hỏi: “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu?”. Tiếp theo câu hỏi gây hoang mang cho không ít người, là lời loan báo đầy chấn động: “Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”.

Lời loan báo đầy chấn động đã làm cho “vua Hê-rô-đê bối rối”. Còn Giê-ru-sa-lem thì sao, nhỉ! Thưa: “Cả thành cũng xôn xao”.

Trong cơn bối rối, chuyện kể tiếp, rằng: “Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu?”

Rất nhanh chóng, nhanh hơn một cú click chuột trên computer, quý ngài thượng tế và kinh sư, trả lời: “Tại Belem, miền Giu-đê”. Vâng, quý ngài thượng tế và kinh sư công bố như thế là dựa vào “sách ngôn sứ, có chép, rằng: Phần ngươi, hỡi Belem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì nơi ngươi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2, 6).

Qua lời công bố của các thượng tế và kinh sư, mấy nhà chiêm tinh đã biết được nơi mình sẽ phải đến. Đó là Belem miền Giu-đa.

Belem miền Giu-đa… Let’s go – Đi nào… Từng đoàn lạc đà cùng mấy nhà chiêm tinh tiếp tục cuộc hành trình.

Cùng đi với mấy nhà chiêm tinh, không phải là quý ngài kinh sư và biệt phái, càng không phải là Hê-rô-đê, nhưng là “một ngôi sao” - “ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ…” Ngôi sao đã “dẫn đường cho họ, đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại.” (x.Mt 2, …9).

Kỳ lạ thật! Phải chăng đây là “dấu lạ” đầu tiên được Hài Nhi Giê-su thực hiện! Vâng, người viết đã nghĩ như thế. Này nhé, cùng thời điểm trên, tại Belem, chẳng lẽ chỉ có mình Hài Nhi Giê-su sinh ra, sao!

Bao nhiêu con trẻ đã sinh ra! Muốn biết, chúng ta hãy cùng nhau tham khảo tài liệu được đăng trên trang mạng conggiao.info (http://conggiao.info/co-bao-nhieu-thanh-anh-hai-da-bi-giet-boi-vua-herode-d-43753).

Vâng, chúng ta cùng đọc nhé. “Theo Bách Khoa Công Giáo thì ‘Lễ điển Hy Lạp khẳng định Hêrôđê đã giết 14.000 hài nhi, Syria thì nói rằng 64.000, trong khi nhiều nguồn khác thời trung cổ cho là con số lên đến 144.000”.

Tuy nhiên, những con số này đã phóng đại quá mức dân số Bêlem và các vùng lân cận thời Chúa Giêsu.

Chuyên gia Willim F. Albright ước tính tổng dân số toàn Bêlem thời Chúa Giêsu sinh ra là khoảng 300 người. Số các trẻ nam sơ sinh từ hai tuổi trở xuống vì thế chắc chắn chỉ vào khoảng 6 đến 7 mà thôi. Như vậy, cả Bêlem và các vùng lân cận chỉ có tối đa 20 bé trai dưới hai tuổi vào lúc đó, tức là con số các Thánh Anh hài ở mức 10-20 vị”.

Sáu đến bảy. Hoặc mười đến hai mươi. Vậy mà, “ngôi sao” lại chỉ dừng chính nơi “Lãnh tụ chăn dắt Israel ra đời” tên là Giê-su, “thân mẫu là bà Maria”, thánh Mát-thêu ghi rõ như thế, thế nên không gọi là “dấu lạ” sao được, nhỉ!

Vâng, hôm ấy khi ngôi sao “dừng lại” nơi Hài Nhi Giê-su sinh ra, chuyện kể rằng: “(Các nhà chiêm tinh) vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến” (x.Mt 2, 13).

***

Các nhà chiêm tinh, đã “đi đến nơi”. Thế họ có “về đến chốn”? Thưa có. Nhưng, hành trình “trở về mái nhà xưa” của quý ngài chiêm tinh cũng là một bài toán khó giải. Khó giải vì lời “dặn dò dễ thương” của vua Hê-rô-đê.

Vâng, ông kẹ Hê-rô-đê, hôm gặp các nhà chiêm tinh ở Giê-ru-sa-lem, đã “bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện.” Hỏi xong, ông ta dặn rằng: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người”.

“Để tôi cũng đến bái lạy Người”. Vâng, lời dặn khôi hài quá, phải không, thưa quý vị?

Trên thế gian này, từ cổ chí kim, có vị lãnh tụ nào “phấn khởi” khi nghe tin có thằng nhóc nào vừa mới sinh ra, sau này sẽ trở thành lãnh tụ… một nguy cơ cướp chiếc ghế quyền lực muôn năm của mình, có vị vua nào “hồ hởi” khi nghe tin có chú bé nào vừa mới sinh ra, sau này sẽ là vua, một nguy cơ truất phế ngai vàng muôn năm của mình, thế mà mình vẫn muốn đến “bái lạy” thằng nhóc đó, không! Đúng là chuyện tề thiên đại thánh...

Không thấy thánh sử Mát-thêu nói gì, nhưng chúng ta có thể tin rằng, các nhà chiêm tinh đã cảm thấy “sao sao đó” về lời dặn dò của Hê-rô-đê. Có thể là vậy.

Hôm ấy, bài toán khó giải của các nhà chiêm tinh đã có lời giải. Lời giải quý ngài chiêm tinh nhận được qua một giấc mộng. Qua giấc mộng, các ông “được báo mộng là đừng trở lại gặp Hê-rô-đê nữa”. Vâng theo lời báo mộng, các nhà chiêm tinh “đã đi lối khác mà về xứ mình”.

****

Các nhà chiêm tinh, nói theo cách nói của các đồng chí nhà ta hôm nay, đã có một cuộc hành trình “thành công tốt đẹp”.

Vâng, rất thành công. Chỉ cần “một mùa đông giá, hang Belem Chúa sinh ra đời”, chỉ cần “một mùa” thôi… các nhà chiêm tinh đã gặp Hài Nhi Giê-su. Các ông đã “sấp mình thờ lạy Người”, đó là điều đáng để chúng ta ghi nhớ.

Ghi nhớ để tự hỏi mình rằng: Nay, qua biết bao “mùa sao sáng, đêm Noel Chúa sinh ra đời”… vâng, đã qua “rất nhiều mùa sao sáng” trong cuộc đời của mỗi chúng ta, chúng ta cũng đã gặp được “Giê-su Cứu Chúa đời ta”?

Hả! Chưa gặp được sao? Chưa… chưa gặp được, đó là do bởi chúng ta chưa có “lòng khao khát” như các nhà chiêm tinh xưa đã có “lòng khao khát”.

Xưa, chính nhờ lòng khao khát, các nhà chiêm tinh đã không quản ngại đường xá xa xôi, (theo tính toán của những nhà nghiên cứu là khoảng 2.000km), các ông đã “từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem…” để hỏi cho bằng được “Đức Vua dân Do Thái mới sinh ở đâu”. Cuối cùng, các ông đã gặp.

Nay, nếu chúng ta cũng có lòng khao khát… Nếu chúng ta có lòng khao khát đi tìm Giê-su Cứu Chúa, Thiên Chúa, qua môi miệng ngôn sứ Giê-rê-mi, có phán hứa rằng: “Các ngươi sẽ thấy… Ta sẽ cho các ngươi được gặp” (Gr 29, 13-14).

Vâng, chúng ta phải có lòng khao khát. Chúng ta phải “hết lòng kiếm”, lời Chúa, qua môi miệng ngôn sứ Giê-rê-mi, nói như thế.

Chưa… còn nữa. Ngoài lòng khao khát, các nhà chiêm tinh còn nhờ vào “ơn phước” Chúa ban. Ơn phước Chúa ban, chính là “ngôi sao dẫn đường”.

Ngôi sao dẫn đường cho chúng ta hôm nay chính là quyển Kinh Thánh (Lời Chúa). Thật vậy, vua David xưa đã chẳng từng nói: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước. Là ánh sáng chỉ đường con đi”, đó sao!

Là-ánh-sáng-chỉ-đường có khác nào ngôi-sao-dẫn-đường! Như đã nói ở trên, đây là ơn phước. Có bao giờ chúng ta nguyện xin Chúa cho mình “ơn phước” yêu mến việc “đọc – học” Kinh Thánh?

Hôm nay, hành trình tìm để gặp Chúa Giê-su không còn là tại “Belem, miền đất Giu-đa” năm xưa, nhưng là tại “Bàn Tiệc Thánh Thể”, chính nơi đây, ta sẽ gặp được “Giê-su Cứu Chúa”, một Đức Giê-su luôn lớn tiếng mời gọi: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (x.Kh 2, 20).

Không còn là chuyện phải cưỡi lạc đà đi trên 2.000km. Chỉ cần năm, mười phút “lội bộ”, nếu nhà gần thánh đường. Chỉ cần ba mươi phút trên chiếc “Future 125 Fi”, nếu nhà xa, là chúng ta có thể đến tham dự “Bàn Tiệc Thánh”

Sao! “Cô-vi 19” ngăn cản hả! Thì “Rước Lễ Thiêng Liêng”. Ai cản được!

Không gì có thể ngăn cản chúng ta tìm và gặp Chúa, nếu chúng ta có lòng khao khát. Không gì có thể làm “giảm” lòng khao khát của chúng ta, nếu chúng ta có Lời Chúa “làm ánh sáng chỉ đường ta đi”.

Bạn có tràn đầy lòng khao khát! Bạn có Lời Chúa làm ánh sáng chỉ đường! Nếu có, vậy thì chúng ta cùng đi. Cùng đi gặp Giê-su nơi Bàn Tiệc Thánh Thể. Vâng, “Đi nào… chúng ta cùng đi.”

Petrus.tran

Thứ Sáu, 24 tháng 12, 2021

Lặng… để nghe tiếng Chúa

 Chúa Nhật Lễ Thánh Gia

Lặng… để nghe tiếng Chúa

“Ba là cây nến vàng. Mẹ là cây nến xanh. Con là cây nến hồng. Ba ngọn nến lung linh. Ha hà há ha ha. Thắp sáng một gia đình. Gia đình, gia đình. Ôm ấp ta những ngày thơ. Cho ta bao nhiêu niềm thương mến. Gia đình, gia đình. Vương vấn bước chân ra đi. Ấm áp trái tim quay về.”

Những dòng chữ trên đây là trích đoạn nhạc phẩm “Ba ngọn nến lung linh”, tác giả: nhạc sĩ Ngọc Lễ. Qua trích đoạn này, chúng ta được tác giả cho nhìn thấy hình ảnh một gia đình ấm cúng, một gia đình sáng ngời tình yêu thương.

Thấy là thế, thế nhưng trong thực tế ngày nay, để tìm một gia đình “Lung linh lung linh tình mẹ tình cha. Lung linh lung linh cùng một mái nhà. Lung linh lung linh cùng buồn cùng vui. Lung linh lung linh hai tiếng gia đình.” ôi! sao mà khó thế...

Vâng khó tìm thấy lắm. Và, đó là lý do khiến Honoré de Balzac đã phải buồn bã nói: “Gia đình… là đường đưa tới thiên đàng hay đưa tới địa ngục”.

Rất nhiều lý do đã được nêu ra để biện minh. Nào là do chiến tranh, nào là do ảnh hưởng từ những chủ thuyết lệch lạc, đại loại như: chủ thuyết hiện sinh, chủ thuyết vô thần và gần đây là sự cổ vũ cho một lối sống tự do, tự do phá thai, tự do hôn nhân đồng tính.

Cũng có nhiều ý kiến đóng góp được nêu lên để “khắc phục” những hậu quả đã làm cho gia đình không còn là “tổ ấm”. Thế nhưng, những ý kiến đóng góp đó chỉ như là những tiếng vọng yếu ớt, yếu ớt như thể tiếng hót của “những con chim ẩn mình chờ chết”.

Báo chí đã lớn tiếng cảnh báo, nhiều nhà giáo dục với tâm huyết của mình, đã phát hành những tác phẩm hướng dẫn hôn nhân gia đình, v.v… nhưng kết quả chẳng đáng bao nhiêu. Tại sao?

Thưa, chỉ vì người ta không nhìn ra rằng, còn một nguyên nhân sâu xa hơn nữa, và chính nguyên nhân này đã khiến ngày nay, nhiều gia đình tan vỡ, nhiều gia đình như hỏa ngục, nhiều gia đình trẻ ly hôn, v.v…

Vâng, nguyên nhân chính, đó là: gia đình thiếu vắng Thiên Chúa, gia đình không tuân giữ lề luật Chúa, tệ hơn gia đình đã chối bỏ Thiên Chúa. 

Kinh Thánh đã ghi lại nhiều bài học cay đắng khi một gia đình nào đó từ chối sự hiện diện của Thiên Chúa. Kinh Thánh cũng đã ghi lại nhiều trường hợp gia đình đổ vỡ chỉ vì gia đình đó không tuân giữ lề luật Thiên Chúa. Gia đình nguyên tổ Adam và Evachắc hẳn ai trong chúng ta đều biết, như điển hình. 

Trong chương trình sáng tạo, “Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ”. Đó là gia đình đầu tiên, và “Người ban phúc lành cho họ” (Stk 1, 28).

Phúc lành Thiên Chúa ban đã mất đi khi Adam và Eva phạm tội bất tuân. Ông bà đã “bất tuân” lệnh Thiên Chúa truyền rằng: “trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì… không được ăn.” Vậy mà, hai ông bà đã nghe lời gạt gẫm của Satan và đã ăn.

Để rồi, từ khi phạm tội bất tuân, sự khủng hoảng bắt đầu xảy ra trong gia đình nguyên tổ. Sự khủng hoảng đầu tiên, đó là, hai ông bà “trốn… để khỏi giáp mặt ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa”. 

Không giáp mặt Thiên Chúa, kể như gia đình hai ông bà không còn sự hiện diện của Thiên Chúa. Không còn sự hiện diện của Thiên Chúa, gia đình Adam và Eva mất đi sự gắn bó “xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” của mình. Mất đi sự gắn bó, gia đình Adam-Eva mất đi “hai tiếng yêu thương”. Mất đi hai tiếng yêu thương, gia đình Adam-Eva trở thành “bãi chiến trường”. Tại bãi chiến trường đó, hai người con là Cain và Abel trở thành thù nghịch. Kết quả người anh Cain giết chết em mình là Abel. 

Câu chuyện Cain và Abel quả đúng là một thảm họa, một thảm họa mà (tất nhiên) chẳng ai trong chúng ta muốn nó xảy ra trong gia đình mình. 

Làm sao để nó không xảy ra! Thưa, hãy nhìn lại gia đình mình và tự hỏi, gia đình tôi có sự hiện diện của Thiên Chúa không?

Kinh Thánh có rất nhiều câu chuyện cho chúng ta thấy, sự hiện diện của Thiên Chúa, đã hóa giải biết bao nhiêu nan đề trong cuộc sống gia đình. Câu chuyện “Đức Giê-su ngồi giữa các bậc thầy Do-thái”, được ghi trong Tin Mừng thánh Luca, chính là một thông điệp sống, một thông điệp sống nói về sự hiện diện của Thiên Chúa trong gia đình, là sự hiện diện sẽ đem đến biết bao điều tốt đẹp.

**

Câu chuyện được thánh Luca ghi lại như sau: “Hằng năm, cha mẹ Đức Giê-su trẩy hội đền Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt Qua”. Đức Giê-su cũng cùng đi với gia đình. Năm ấy: “Người được mười hai tuổi”.

Sẽ chẳng có gì để nói nếu không xảy ra chyện: “xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giêsu thì ở lại Giêsusalem, mà cha mẹ chẳng hay biết”. (Lc 2, 43).

Chuyện tới đây, với những người không hiểu biết sẽ cho rằng cha mẹ Đức Giêsu vô tâm, không theo sát con cái mình.

Thưa không phải thế. Chuyện là thế này, Đền thờ Giêrusalem có bốn cổng, hai cổng dành cho nữ và hai cổng dành cho nam. Khi vào, nam và nữ phải đi đúng cổng quy định. Riêng trẻ em, có thể đi bên nào tùy thích.

(Điều này, cũng giống như ngày xưa, ở miền nam Việt Nam hồi thập niên 60, vào nhà thờ dự thánh lễ, nam ngồi một bên, nữ ngồi một bên, con cái còn nhỏ muốn ngồi bên nào cũng được.)

Thế nên, việc ông bà Giuse-Maria “cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành” là điều không có gì đáng trách.

Mà có gì phải đáng trách chứ! Hãy nhìn xem, sau khi tìm kiếm con giữa đám bà con và người thân thuộc… “Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại Giêrusalem mà tìm”. Hãy nhìn xem, cha mẹ Đức Giêsu đã phải “cực lòng tìm con” như thế nào! 

“Sau ba ngày”… khi trở lại Đền Thờ, chuyện kể rằng: “ông bà thấy con (mình) đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi”. Chỉ là một cậu bé mười hai tuổi, thế mà “ai nghe cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và lời đối đáp của cậu”. 

Và rồi, một cuộc “đối đáp” tiếp theo xảy ra. Đó là cuộc đối đáp giữa Đức Giê-su và Mẹ của Ngài. 

Hôm ấy, Đức Maria lên tiếng: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!”. Đức Giê-su đáp: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?”

Vâng, cuộc đối đáp chấm dứt, và chúng ta được thánh Luca cho biết: “Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói”.

***

Câu chuyện cho chúng ta nghe hai cuộc đối đáp. Và, chính hai cuộc đối đáp này cho chúng ta thấy, quả đúng là có “Sự hiện diện của Thiên Chúa” trong gia đình Đức Giê-su.

Với cuộc đối đáp thứ nhất, rất rõ nét. Phải có sự hiện diện của Thiên Chúa trong Đức Giê-su… phải có, Ngài mới có thể làm cho mọi người “ngạc nhiên (về) những lời đối đáp” của mình.

Về cuộc đối đáp thứ hai, cuộc đối đáp giữa Đức Maria và Đức Giê-su, thì sao? Chúng ta hãy nghe lại câu nói của Đức Maria: “Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực nhọc tìm con!”

Phải-cực-nhọc nha! Nếu là chúng ta, chúng ta trả lời sao đây? Riêng tôi, tôi sẽ trả lời, rằng: “I’m sorry”. Đức Giê-su không biết tiếng Mỹ. Ngài trả lời bằng tiếng Do Thái (được dịch ra tiếng Việt) rằng: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?”

Thánh Giu-se và Đức Maria, nói gì? Thưa, không nói gì cả. Không nói, không phải vì hai ngài “không hiểu lời (Đức Giê-su) vừa nói.” Không nói vì “có thể” hai ngài nhận ra có “sự hiện diện của Thiên Chúa” qua lời nói của Đức Giê-su, con mình. 

Với thánh Giu-se, câu nói “Cha con” đã làm ngài suy tư! Giu-se là cha con đây. Còn “Cha con” nào nữa. Hay phải chăng “Cha con” là “Đức Chúa là Thiên Chúa?” 

Với Đức Maria thì sao? Thưa, (có lẽ) tâm trạng của Mẹ cũng không khác gì thánh Giu-se. Câu nói “bổn phận ở nhà Cha con” cũng làm cho Đức Maria suy tư. Nhà con ở Nadaret kia mà… vậy sao con không về Nadaret làm bổn phận của người con!

Cha mẹ của Đức Giê-su đã suy tư… suy tư trong “thinh lặng”. “Lặng để nghe CON nói… biết đâu đó là Lời Chúa Cha!” 

Thánh Giu-se và Đức Maria đã im lặng. Nếu là chúng ta, có lẽ chúng ta sẽ có lời phản ứng. Nhẹ thì chúng ta sẽ nói: “Này con, đừng nói hỗn với mẹ như thế!” Nặng thì chúng ta sẽ “lôi cổ” con mình ra khỏi đám đông và tặng cho nó vài cái tát. 

Vâng, không có sự hiện diện của Thiên Chúa rất có thể chúng ta sẽ hành xử như vậy. Chúng ta sẽ “xổ” vài câu tiếng Đức, vài câu tiếng Đan Mạch, vài cái tát cùng với lời đay nghiến “mày làm khổ cha mẹ mày.”

Sống trong một xã hội đầy bạo lực, như hôm nay. Bạo lực học đường. Bạo lực gia đình. Bạo lực công sở. Bạo lực ngay cả trong nhà thờ. Biết đâu… biết đâu chúng ta sẽ bị tiêm nhiễm! 

(Chính người viết đã chứng kiến hai bạn cỡ tuổi trung niên, chỉ vì tranh giành việc cầm cờ, đánh trống, trong một buổi rước sách, thế là hai bạn này đã “xổ nho”, xổ từng chùm nho uất hận, khiến cho ban tổ chức phải đỏ mặt mắc cỡ trước cộng đoàn.)

*****
Chúng ta vừa nhìn qua gia đình Thánh Giu-se, Đức Maria và Chúa Giê-su. Đây là một gia đình không có bạo lực. Không có bạo lực, vì đây là một gia đình có sự hiện diện của Thiên Chúa.

Không ai trong chúng ta muốn gia đình mình là một gia đình đầy bạo lực, đúng không? Thế thì, hãy nhìn vào gia đình này, gia đình Thánh Giu-se, Đức Maria, Chúa Giê-su, truyền thống Giáo Hội gọi là Gia Thất Thánh, như là mẫu mực để gia đình chúng ta noi theo.

Vâng, sẽ đem đến gia đình chúng ta nhiều điều tốt đẹp, nếu chúng ta có một đời sống giống như đời sống của Gia Thất Thánh. 

Sẽ đem đến gia đình chúng ta nhiều điều tốt đẹp, nếu gia đình chúng ta có sự hiện diện của Thiên Chúa. Sẽ không có bạo lực trong gia đình chúng ta, nếu chúng ta tuân giữ lề luật của Thiên Chúa.

Sẽ có một “Gia đình hòa thuận, láng giềng thân thiết, vợ chồng ý hợp tâm đầu” nếu chúng ta không chối bỏ Thiên Chúa. 

Có Chúa trong gia đình, chúng ta sẽ chẳng bao giờ bạo lực với vợ, với con cái mình.

“Đừng bao giờ tát vào mặt đứa trẻ”. Đức Thánh Cha Phanxico đã nói như thế trong một chương trình Giáng Sinh, dành riêng cho những người ‘vô hình’ trong xã hội ngày nay, được đài truyền hình Mediaset của Ý phát sóng vào ngày 19 tháng 12 năm 2021.

Ngài than thở rằng “Số lượng phụ nữ bị đánh đập, ở nhà, ngay cả bởi chồng họ là quá lớn”. Đức Thánh Cha Phanxicô nói thêm: “Thật là nhục nhã khi một người cha hoặc người mẹ tát vào mặt một đứa trẻ. Đừng bao giờ tát vào mặt một đứa trẻ, bởi vì nhân phẩm thể hiện trên khuôn mặt.” (VietcatholicNews).

Nhân-phẩm-thể-hiện-trên-khuôn-mặt. Chúa Giê-su cũng thể hiện trên khuôn mặt mỗi người. Thế nên, đừng sử dụng bạo lực với bất cứ ai.

Trong gia đình, khi phải đối diện một nan đề khó khăn nào đó, đừng vội nôn nóng, đừng vội sử dụng bạo lực, để giải quyết nan đề. Hãy lặng im, như thánh Giu-se và Đức Maria đã lặng im trước nan đề của gia đình mình. Lặng im không có nghĩa là buông xuôi. Lặng im không có nghĩa là thỏa hiệp. Vâng, “Lặng… Lặng để nghe tiếng Chúa, nói trong trong tâm hồn ta”.

Petrus.tran

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...