Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022

Hãy nghe tiếng Chúa và theo Chúa

 “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi”. (Ga 10, 27-30).



Chúa Nhật IV – PS – C

Hãy nghe tiếng Chúa và theo Chúa

“Chúa chiên lành người thương dắt tôi đi. Tôi không sợ chi, tôi không thiếu gì. Trên đồng cỏ xanh Người cho tôi được nghỉ ngơi. Bên dòng suối mát Người tăng sức cho tâm hồn.”

Những dòng chữ trên đây là điệp khúc bài thánh ca mang tên “Chúa Chiên Lành”, tác giả Lm Kim Long.

Vâng, Chúa Chiên Lành, đó là một từ ngữ rất quen thuộc với người Công Giáo chúng ta. Và, tất cả chúng ta đều hiểu rằng, vị Chúa đó chính là Đức Giê-su.

Trong những ngày còn tại thế, Đức Giê-su đã tuyên bố: “Tôi chính là mục tử nhân lành”. Hồi ấy, có một số người Do Thái chia rẽ nhau vì những lời tuyên bố của Đức Giê-su. Thế nhưng, Ngài vẫn một mực không phủ nhận lời mình tuyên bố. Trái lại, Đức Giê-su còn tuyên bố mạnh mẽ hơn thế nữa. Những lời tuyên bố này đã được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an.

**

Theo thánh sử Gio-an cho biết: trong ba năm thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu luôn chứng tỏ cho mọi người thấy rằng, Ngài chính là Thiên Chúa, Thiên Chúa của tình yêu, một Thiên Chúa như là Người Mục Tử nhân lành.

Trong một lần xuất hiện tại Giêrusalem, Đức Giêsu đã xác định điều đó qua một bài giảng đầy nhân bản. Ngài đã ví mình chính là một người Mục Tử, một người Mục Tử dám “hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”. Hôm đó, trước đám đông cử tọa, Đức Giêsu đã nói một cách cương quyết, rằng “Tôi chính là Mục Tử nhân lành”.

Thế nhưng... đáng tiếc thay! lời nói của Đức Giêsu lại là cớ làm cho người Do Thái chia rẽ nhau. Đã có người xầm xì nói Ngài bị “quỷ ám và điên khùng”. Nhưng cũng có người phản đối cho rằng “Người bị quỷ ám đâu có nói được như vậy! Quỷ có thể mở mắt cho người mù được sao?”

Dù người Do Thái có sự chia rẽ về lời tuyên bố của Đức Giê-su, nhưng trước những phép lạ Ngài đã thực hiện, tất cả họ đều nghĩ rằng, Ngài phải là Đấng Kitô, chứ ai lại là một người “chăn chiên”!

Cho nên, để cho rõ “trắng đen”, khi thấy “Đức Giêsu đi đi lại lại... tại hành lang Salômôn”, họ tìm đến Ngài và muốn Ngài cho họ được biết sự thật, sự thật rằng, Ngài có phải là “Đấng Kitô” mà lâu nay đã khiến “lòng trí họ phải thắc mắc”. (Ga 10, 24).

Đối với Đức Giêsu, không quá khó để trả lời những gì họ thắc mắc. Nhưng, nếu có khó, như lời Đức Giêsu đã nói, khó là bởi, họ “không (muốn) thuộc về đoàn chiên” của Ngài.

Với những ai thuộc đoàn chiên của Ngài, Đức Giê-su nói cho người Do Thái biết: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi”. (Ga 10, 27-30).

Ai có thể ban cho sự sống đời đời, chẳng phải chính là Thiên Chúa, sao! Mà, Đức Giêsu đã nói gì nhỉ! Thưa, Ngài nói: “Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một”.

“Là một”... Vâng, “Tôi và Chúa Cha là một” là-một-thông-điệp Đức Giêsu muốn gửi đến mọi người, rằng, Ngài chính là “Đấng Kitô, là Chúa, là người Mục Tử nhân lành”.

***

Với lời tuyên bố của Đức Giê-su: “Tôi chính là mục tử nhân lành”, nó gợi cho ta nhớ tới Thánh Vịnh 100, 3: “Chính Người đã dựng nên ta, ta thuộc về Người, ta thuộc dân Người, là đoàn chiên Người dẫn dắt”.

Ở một chương khác, cũng sách Thánh Vịnh, chúng ta được nghe “…ta là dân Người lãnh đạo, là đoàn chiên tay Người dẫn dắt” (Tv 95, 7).

Vâng, đây là một hồng phúc. Một hồng phúc Thiên Chúa ban cho con người.

Xưa, vua David, nhận ra hồng phúc này nên đã thốt lên, rằng: “CHÚA là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ”.

David từng là người chăn chiên, ông ta biết cuộc sống của chiên sẽ như thế nào là do người chăn như thế nào. Mà, người chăn, là một Thiên Chúa nhân lành, thì sao lại không là hồng phúc!

Và, nay là phần của chúng ta. Hãy để tâm hồn mình một phút trong thinh lặng và tự hỏi: Tôi có thuộc về Chúa! Và Chúa có phải là mục tử chăn dắt tôi! Tôi đã có được những giây phút “nghe tiếng Ngài gọi!”

Hay tôi đang bị “bao vây” bởi rất nhiều tiếng mời gọi khác, của thế gian này!

Vâng, thế gian hôm nay, thật hỗn loạn với rất nhiều tiếng mời gọi. Nơi đây là tiếng mời gọi hứa hẹn một cuộc sống giàu sang phú quý, một cuộc sống có quyền hành, quyền lực, nếu chúng ta chấp nhận bán rẻ lương tâm mình. Chỗ kia là tiếng mời gọi dẫn dắt chúng ta đến với hận thù, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, tranh chấp! Và chỗ nọ là tiếng mời gọi đòi hỏi sự tự do, tự do luyến ái, tự do phá thai, tự do hôn nhân đồng tính!

Chúng ta, nếu đã là một Ki-tô hữu, phải làm gì đó để nhận ra, đâu là tiếng gọi của Thiên Chúa, đâu là tiếng gọi của thế gian.

Vâng, điều chúng ta phải làm gì đó, ngài Ron Rolheiser,OMI chia sẻ, đó là: “Có nhiều nguyên tắc từ Chúa Giê-su, Thánh Kinh, và từ những mạch nguồn sâu thẳm của truyền thống Ki-tô của chúng ta vốn có thể giúp ích cho chúng ta”

Và rồi ngài Ron Rolheiser kết luận: “Tiếng gọi của Thiên Chúa được nhận ra trong những lời thì thầm và giọng khẽ, cũng như trong sấm chớp và bão giông”.

Đúng vậy, Samuel như một mẫu mực điển hình, cho chúng ta. Kinh Thánh kể rằng, đã có lần Đức Chúa thì thầm gọi Samuel trong đêm thanh vắng. Lần đầu tiên, Samuel không nhận ra. Sau, nhờ lời chỉ dẫn của Thầy Ê-li, Samuel đã nhận ra, nghe lời thầy dạy, Samuel cất tiếng nói với Chúa: “Lạy Đức Chúa... tôi tớ Ngài đang lắng nghe”.

Và Thánh Kinh, cũng vậy, đó chính là nơi có rất nhiều “tiếng gọi” của Chúa mà chúng ta sẽ được nghe, nếu chúng ta tiếp cận. Bởi từ Thánh Kinh, chúng ta sẽ được biết, rằng: có một người Mục Tử Nhân Lành, người đó chính là Đức Giê-su, một Giê-su Phục Sinh, đã hy sinh chính mạng sống mình vì “đàn chiên”, một Giê-su Phục Sinh, vẫn đứng đó, nơi bàn Tiệc Thánh và cất tiếng mời gọi những “con chiên” yêu dấu của mình, rằng: hãy đến để nhận lấy một thứ cỏ, không phải là thứ cỏ dại, nhưng là thứ cỏ đem lại sự sống đời đời, thứ cỏ mang tên “Mình Máu Thánh Chúa Ki-tô”.

Đây cũng là một hồng phúc. Hồng phúc là bởi, một khi chúng ta ăn thứ cỏ mang tên “Mình Máu Thánh Chúa Ki-tô”, chúng ta sẽ thuộc về “ràn chiên của Chúa”.

Một khi đã thuộc về ràn-chiên-của-Chúa, chúng ta sẽ được đứng trong hàng ngũ “đoàn người thật đông đảo không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ… đứng trước ngai Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế… lớn tiếng tung hô: Chính Thiên Chúa chúng ta, Đấng ngự trên ngai, và chính Con Chiên đã cứu độ chúng ta” (x.Kh 7, 9-10).

“Đứng trước ngai Con Chiên… và chính Con Chiên đã cứu độ chúng ta”, đó chẳng phải là một niềm hạnh phúc, sao! Vâng, muốn được hưởng niềm hạnh phúc này, ngay hôm nay, bây giờ, chúng ta “hãy nghe tiếng Chúa và theo Chúa.”

Petrus.tran

Thứ Bảy, 30 tháng 4, 2022

Giê-su Nazaret – CHÚA ĐÓ

 Chuyện kể rằng: “các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá”.



Chúa Nhật III – PS – C

Giê-su Nazaret – CHÚA ĐÓ

Ước mong được gặp Thầy Giê-su “ngày thứ ba sẽ sống lại”, là ước mong chung của các vị tông đồ. Và, sau bốn mươi tám tiếng đồng hồ, tính từ ngày thứ sáu, ngày Thầy Giê-su bị bắt và bị giết chết trên thập giá, ước mong đó đã thành sự thật. Đó là vào “chiều… ngày thứ nhất trong tuần”. Chiều ngày ấy, Thầy Giê-su đã “đến, đứng giữa các ông và nói: Bình an cho anh em”.

Thầy Giê-su không chỉ đến-đứng-giữa-các-ông một lần, mà là những hai lần. Hai lần đến, Thầy Giê-su chỉ để lại “Bình An” cho các ông.

Hai lần đến… đến rồi lại đi. Thế nên, mọi sinh hoạt thường nhật của nhóm, vào những ngày Thầy Giê-su còn sống, bây giờ như bị “đóng băng”. 

Thầy Giê-su sẽ lại là người dẫn dắt các ông? Hay người dẫn dắt các ông sẽ là một ai đó trong Nhóm Mười Một! Đó là một câu hỏi, một câu hỏi chỉ có Thầy Giê-su mới có thể trả lời.

Mang tâm trạng đó, Phê-rô và các bạn đồng môn chắc hẳn rất mong muốn, mong muốn làm thế nào để có thể gặp Thầy mình. Trở về Ga-li-lê chăng! Nên chăng là trở về Ga-li-lê như lời bà Maria Mác-đa-la nói hôm trước rằng, bà và mấy người bạn của bà có ra mộ, và đã gặp Thầy Giê-su. Thầy Giê-su nói với bà rằng: “Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó.” (x.Mt 28, 10).

Thầy Giê-su đã nói như thế. Thế nên, ông Phê-rô và một số người môn đệ đã lên đường đi Ga-li-lê. Sự kiện này đã được ghi lại trong Tin mừng Thánh Gio-an. (x.Ga 21, 1-19).

**

Vâng, chuyện được kể rằng: Sau sự kiện Đức Giê-su hiện ra để chứng thực cho sự Phục Sinh của Ngài với tông đồ Tô-ma. Một số các môn đệ cùng nhau trở về Ga-li-lê. Nhóm môn đệ đó gồm có: “ông Simon Phê-rô, ông Tô-ma gọi là Đi-dy-mô, ông Na-tha-na-en người Cana miền Ga-li-lê, các người con ông Dê-bê-đê và hai môn đệ khác nữa…”

Về đến Ga-li-lê, tất cả các ông quây quần bên nhau tại Biển Hồ Ti-bê-ri-a. Thầy Giê-su đâu! Các ông vẫn chưa thấy. Có thấy, có chăng là các ông chỉ thấy: “Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Nước còn cau mặt với tang thương. Ngàn năm gương cũ soi kim cổ. Cảnh đấy người đây luống đoạn trường” (Thơ: Bà Huyện Thanh Quan).

Và để xua tan hình ảnh “nước còn cau mặt với tang thương”, ông Si-mon Phê-rô nói với các bạn đồng môn: “Tôi đi đánh cá đây.” Đánh cá ư! Những người môn đệ còn lại nghe thế, họ đồng thanh nói: “Chúng tôi cùng đi với anh.”

Thế là con thuyền lướt sóng ra khơi. Hơn bán tiểu đội, kẻ lái người chèo, người thả lưới… Nhưng, hỡi ơi! quả đúng là một đêm dài đầy tang thương và đoạn trường. Các ông “không bắt được gì cả”. (Ga 21,…3).

Không thấy thánh sử Gio-an, là người cũng hiện diện trong chuyến hải hành, nói gì. Nhưng chúng ta có thể nghĩ rằng, có lẽ… có lẽ đêm đó, đứng trước nỗi thất vọng của mọi người, anh cả Phê-rô nhìn bầu trời đầy sao cất tiếng thở than não nề, rằng: “Ai đã từng đêm thức đêm mới biết đêm dài. Mới nghe lòng mình chợt buồn vì thương nhớ ai”.

Anh cả Phê-rô buồn vì thương nhớ Thầy Giê-su chăng! Ừ! Phải chi Thầy Giêsu đến-và-đứng-trên-thuyền các ông, nhỉ! Biết đâu… biết đâu sự hiện diện của Thầy sẽ đem lại cho các ông “một chiếc thuyền đầy cá đến gần chìm”, như trước kia!

Trở lại Biển Hồ Ti-bê-ri-a. Đức Giê-su có đến, nhưng không đứng trên thuyền. Thánh sử Gio-an cho biết: “Khi trời đã sáng, Đức Giê-su đứng trên bãi biển…”

Thế nhưng, “các môn đệ không nhận ra đó chính là Đức Giê-su”. Khi Ngài hỏi: “Này các chú, không có gì ăn ư!” Các ông đã trả lời như thể trả lời với một vị khách lạ không quen: “Thưa không”. Một đêm thức trắng không bắt được một con cá lấy đâu để “có gì ăn”.

Không có gì ăn ư! Đức Giê-su Phục Sinh đã làm cho các ông “có cá ăn”. Hôm ấy, cũng giống như lần trước, Đức Giê-su khuyên các ông tiếp tục ra khơi với lời dặn dò: “Cứ thả lưới bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá”.

Cứ-thả-lưới-bên-phải… Vâng, các vị môn đệ đã làm đúng như vị “khách lạ” truyền bảo. Chuyện kể rằng: “các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá”.

Thấy chưa! Dạ thấy… Các ông không chỉ thấy mẻ-lưới-đầy-những-cá, nhưng còn “thấy Chúa”. Và người đầu tiên thấy, chính là: “người môn đệ được Chúa thương mến”. Người này nói với Phê-rô: “Chúa đó!”.

Chúa đó ư! Bằng động tác thuần thục của một ngư phủ, ông Phê-rô “vội khoác áo vào, vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển”. Kình ngư Phê-rô sải hai cánh tay rắn chắc bơi vào bờ. Còn các môn đệ khác thì, “chèo thuyền vào bờ, kéo theo lưới đầy cá”.

Thật kinh ngạc, “lưới đầy những cá lớn đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không rách”. Hôm ấy, Thầy Giê-su đã “cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy.”

***

Vâng, tại Bờ Hồ Ti-bê-ri-a, các môn đệ đã gặp Thầy Giê-su Phục Sinh. Lần gặp gỡ này, Đức Giê-su không đơn thuần chỉ là để “tỏ mình ra cho các môn đệ, sau khi trỗi dậy từ cõi chết”, nhưng Ngài còn “bàn giao” đoàn chiên của mình cho các vị tông đồ và người thủ lĩnh chính là ông Phê-rô.

Bằng những lời gửi gắm đầy trách nhiệm, Đức Giê-su đã nói với ông Phê-rô, rằng: “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy… Hãy chăn dắt chiên của Thầy… Hãy chăm sóc chiên của Thầy”.

Ba lần nhắn nhủ như ba lần khẳng định, là anh… là anh và chỉ là anh Phê-rô. Anh Phê-rô, anh phải như là một thủ lãnh của các thủ lãnh, để tiếp tục lèo lái con thuyền, không phải con thuyền mà anh đang sở hữu để lưới cá, nhưng là “Con Thuyền Giáo Hội”, để “lưới người”.

Hôm đó, mặc dù có sự hiện diện hai anh em nhà Dê-bê-đê (là hai người muốn được ngồi bên tả và bên hữu Thầy”, nhưng không thấy họ phản đối điều gì cả. (Vậy mà hôm nay, thật đáng buồn khi có một số “hậu duệ của Nhóm Mười Một” phản đối).

Mà, có gì để phản đối kia chứ! Hãy nhìn xem! một tông đồ Phê-rô, sau khi đã lãnh nhận trách nhiệm, người ta phải kinh ngạc vì ông đã “làm cho Giêrusalem ngập đầy giáo lý của các ông” (x.Cv 5, 28).

****

Xưa, Vua David đã tự hỏi: “Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi, ơn phù hộ tôi đến từ nơi nao?” Và, ông ta đã cho chúng ta câu trả lời, rằng: “Ơn phù hộ tôi đến từ ĐỨC CHÚA, là Đấng dựng nên cả đất trời”.

Rồi, đến các vị môn đệ. Các ông đã “ngước mắt” nhìn về một Giê-su đang đứng nơi bãi biển. Và các ông đã nhận được “ơn phù hộ” từ một Đức Giê-su Phục Sinh.

Hôm nay, Đức Giê-su Phục Sinh vẫn đứng đó. Tất nhiên, chỗ đứng của Ngài không phải ở một bờ biển xa xăm nào đó trên thế giới này, nhưng là trong những ngôi nhà thờ, những ngôi nhà thờ nằm giữa lòng “Con Thuyền Giáo Hội” và được tông đồ Phê-rô, mà hôm nay, đại diện là ngài đương kim Giáo Hoàng Phan-xi-cô, lèo lái.

Thế nên, để có thể “ngước mắt nhìn Đức Giê-su Phục Sinh”, không có phương cách nào tốt hơn là hãy bước lên “Con Thuyền Giáo Hội”.

Trên Con Thuyền Giáo Hội, Đức Giê-su Phục Sinh vẫn đứng đó. Ngài đứng trong thánh lễ, qua các vị linh mục, Ngài tiếp tục nói với chúng ta: “Bình An của Chúa ở cùng anh chị em”.

Trên Con Thuyền Giáo Hội, Đức Giê-su Phục Sinh vẫn đứng đó, Ngài đứng đó trong thánh lễ, qua các vị linh mục, Ngài tiếp tục: “Cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho (chúng ta) và nói: Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy”.

Đức Giê-su Phục Sinh vẫn đứng đó, vẫn đứng nơi tâm hồn mỗi chúng ta, và nói với chúng ta, rằng: “Này con, con có yêu mến Thầy hơn những cám dỗ của thế gian, những cám dỗ của một nền văn hóa sự chết, của một nền văn hóa phá thai, của một nền văn hóa đồng tính luyến ái, của những nền văn hóa hỗn độn v.v…”, hay không?

Cuối cùng, trên Con Thuyền Giáo Hội, Đức Giê-su Phục Sinh vẫn luôn đứng đó, đứng nơi tòa “Hòa Giải” (Bí Tích Giải Tội), và chờ chúng ta “ngước nhìn”.

Xưa, các môn đệ không nhận ra người đứng trên bãi biển là Đức Giê-su. Nhưng, sau khi được Đức Giê-su gọi “anh em đến mà ăn”… Vâng, sau lời mời gọi đó, các môn đệ “không ai trong các ông dám hỏi ‘Đức Giê-su là ai’ vì các ông biết rằng đó là Chúa”.

Hôm nay, cũng vậy đối với chúng ta. Đức Giê-su cũng đang “gọi” mỗi chúng ta. Ngài đang “đứng trước cửa (tâm hồn) chúng ta và gõ. Ai nghe tiếng Ngài và mở cửa, thì Ngài sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy và người ấy sẽ dùng bữa với với Ngài” (x.Kh 3, 20).

Tại sao phải cần “dùng bữa với Ngài”? Thưa, vì nhờ đó, chúng ta sẽ nhận ra Ngài chính là Chúa, như xưa kia hai môn đệ trên làng Emmau đã nhận ra vị khách cùng đồng hành với mình chính là “Đức Giê-su”, sau khi cùng đồng bàn với Ngài.

Chúng ta tuyên xưng Chúa Giê-su đã Phục Sinh. Thế thì đừng bao giờ vắng mặt vào Thánh Lễ Chúa Nhật. Bởi vì trong Thánh Lễ chúng ta được “dùng bữa với Ngài”. Được dùng bữa với Ngài, chúng ta mới có thể nhận ra Ngài chính là Chúa.

Nói cách khác, đừng rời bỏ Con Thuyền Giáo Hội, bởi vì nơi đây chúng ta được chăm sóc bởi một tông đồ Phê-rô và bây giờ là một Giáo Hoàng Phan-xi-cô. Hơn thế nữa, chúng ta nhận ra được một Giê-su Nazaret chính là Chúa đó.

Vâng, Giê-su Nazaret – CHÚA ĐÓ.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2022

Đừng vắng mặt Thánh Lễ Chúa Nhật

 Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” (Ga 20, 27).

Đừng vắng mặt Thánh Lễ Chúa Nhật

Chúa Nhật II – PS – C


Đừng vắng mặt Thánh Lễ Chúa Nhật


Shalom – Shalom. Vâng, đây là tiếng chào được người Do Thái dùng để chào hỏi mỗi khi gặp nhau, và nó có nghĩa là bình an. Chắc hẳn không ai trong chúng ta lại không muốn có được sự bình an trong cuộc sống của mình.


Trong Kinh Thánh có nhắc đến chữ shalom và nó được hiểu với ý nghĩa là hòa bình, là mong muốn hạnh phúc giữa mọi người, giữa các quốc gia, giữa Thiên Chúa và con người.


“Shalom aleichem” là lời chào đã được Đức Giê-su sử dụng, và nó có ý nghĩa là “bình an cho bạn – bình an cho anh em”.


Đức Giê-su từ trong cõi chết Ngài đã phục sinh. Ngài đã phục sinh và đã hiện ra với các môn đệ của mình. Đến với các môn đệ của mình, lời đầu tiên Đức Giê-su nói với họ, đó là: “Bình An Cho Anh Em”.


Sự kiện này có thể được ví như “một tia sáng ấm áp trong bóng tối tiêu điều” và nó đã đem đến cho các môn đệ “niềm vui mừng vì được thấy Thầy”. Thánh Gio-an, người môn đệ Đức Giê-su thương mến, đã ghi lại sự kiện này rất chi tiết.



**

Theo thánh sử Gio-an kể lại, thì, sự kiện này xảy ra vào “chiều ngày thứ nhất trong tuần”. Chiều hôm đó, các môn đệ của Đức Giêsu tụ họp trong một ngôi nhà. Các ông vẫn chưa thoát khỏi sự bàng hoàng về cái chết của Thầy mình. Các ông vẫn chìm trong sự sợ hãi và hoang mang…


Rất sợ hãi khi nhóm thượng tế và các kỳ mục đã nham hiểm cho lính một số tiền lớn và bảo họ tung tin đồn rằng, vào ban đêm “các môn đệ của ông Giêsu đã đến lấy trộm xác” (Mt 28, 13).


Theo luật pháp thời đó, lấy trộm xác là một tội rất nặng. Cho nên, hôm đó, “nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái”.


Còn hoang mang ư! Vâng, hãy nghĩ mà xem, nếu được tính từ hôm “thứ sáu sầu thảm”, là ngày Đức Giêsu bị đóng đinh trên cây thập tự tại núi Sọ, nay đã quá bốn mươi tám tiếng đồng hồ. Sắp hết ba ngày rồi… Thế mà, lời phán hứa của Thầy rằng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại” Ôi! Sao vẫn chưa thấy ứng nghiệm!


Trong sự tĩnh lặng với nỗi sợ hãi và hoang mang, thì… không ai có thể tin được, “Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: Bình an cho anh em”.


Thầy Giêsu ư! Lời Thầy đã ứng nghiệm rồi sao! Thưa, đúng vậy. Chính Đức Giêsu, chứ không là ai khác, “Người cho các ông xem tay và cạnh sườn”. Bàn tay và cạnh sườn in đậm dấu tích của vết đinh và mũi đòng. Sự hoang mang và ngờ vực, sự sợ hãi và lo lắng của các ông được nhường chỗ cho: “niềm vui mừng vì được thấy Chúa”.


Chiều hôm đó, đáng tiếc thay! thiếu vắng tông đồ Tôma. Chính sự vắng mặt của ông đã khiến ông không tin sự kiện Đức Giêsu hiện đến với các bạn đồng môn của mình. Dù đã được các bạn đồng môn quả quyết “Chúng tôi đã được thấy Chúa”, ông vẫn không tin. 


Ông Tô-ma quan niệm, rằng: “Bách văn bất như nhất kiến - Trăm nghe không bằng một thấy”. Thế nên, ông lớn tiếng nói rằng “nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20, 25).


Tám ngày sau, “các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông.” Vẫn chưa hết sợ hãi sao đó, nơi các ông tụ họp “các cửa đều đóng kín”.


Và rồi, Đức Giêsu đến, “đứng giữa các ông và nói: Bình an cho anh em”. Rồi Ngài bảo với ông Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” (Ga 20, 27).

Nghe thế, Tôma đứng sững như hình hài pho tượng, nghĩ đến những chữ “nếu… nếu tôi… nếu tôi…”, có lẽ lúc đó ông ta lẩm bẩm “nếu tuần trước mình đừng không tin, thì hôm nay có đâu buồn đau, có đâu buồn đau”!


Nhìn Thầy Giê-su, một Giê-su bằng xương bằng thịt, với tất cả dấu tích của cuộc khổ hình, sự hồ nghi đã biến khỏi tâm hồn của ông, hình ảnh một Đức Giê-su Phục Sinh rõ mồn một trước đôi mắt ông.


Không còn gì để nghi ngờ nữa, Tôma nghẹn ngào cất tiếng nói: “Lạy Chúa của con. Lạy Thiên Chúa của con” (Ga 20, 28). Đáp lại, Đức Giêsu phán rằng “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin” (Ga 20, 29).


***

“Phúc thay những người không thấy mà tin”. Phải chăng đây là lời Đức Giêsu trách ông Tô-ma? Thưa không. Mà, nếu đúng thì đâu chỉ mình ông Tô-ma “cứng lòng tin”! Còn đó là cả nhóm mười người trong họ, dù đã nghe bà Maria Mác-đa-la nói “(Chúa) đang sống và bà đã thấy Người, các ông vẫn không tin” (x.Mc 16, 11).


Vâng, nếu trách thì trách cả “Nhóm Mười Một”. Đức Giê-su, trong một lần tỏ mình ra cho các ông, khi các ông đang dùng bữa, “Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người, sau khi Người trỗi dậy” (x.Mc 16, 14).


Dẫu sao, sự cứng lòng tin của Tô-ma, sự chậm tin của những môn đệ khác, đã chứng minh rằng: họ không hề là những người có một đức tin “mù quáng, tin đại”, trái lại, họ là những người có một niềm tin vào Đức Giê-su Phục Sinh, đích thực. Nói cách khác, các vị tông đồ đã thật sự gặp được Đức Giê-su Phục Sinh.


****

Đức Giê-su thật sự đã Phục Sinh. Điều này không cần tranh luận. Điều cần tranh luận đó là: Tôi đã thật sự gặp Đức Giê-su Phục Sinh?


Nếu ta chưa gặp, phải chăng là vì ta tìm “người sống ở giữa kẻ chết”? Nói cách khác, phải chăng là vì ta lo mải mê tìm những thú vui trần gian, tìm những hư danh chóng qua, là những thứ nay còn mai mất v.v…!


Nếu ta chưa gặp, phải chăng là vì ta không lắng nghe tiếng Chúa Phục Sinh gọi tên mình, như xưa kia Chúa Phục Sinh đã gọi tên bà Maria Mác-đa-la rằng: “Maria”! Nói rõ hơn, phải chăng là vì ta để đôi tai của mình nghe những tiếng gọi của quyền lực, của danh vọng, của tiền bạc, là những thứ “chỉ đưa ta tới cõi thung lũng âm u, nghi ngờ, chết chóc”!


Nếu ta chưa gặp Đức Giê-su Phục Sinh, ngay hôm nay hãy tìm đến Người. Không quá khó để chúng ta có thể gặp được Đức Giê-su Phục Sinh.


Vâng, nơi gặp đó chính là ngôi nhà thờ. Đó chính là trong Thánh Lễ. Trong Thánh Lễ, qua vị linh mục, Đức Giê-su Phục Sinh tiếp tục chúc bình an cho chúng ta, như xưa Ngài đã chúc cho các vị tông đồ. Lời chúc rằng: “Bình An của Chúa ở cùng anh chị em.”


Trong Thánh Lễ, qua vị linh mục, Đức Giê-su tiếp tục nói với chúng ta như xưa Ngài đã nói với Tô-ma. Vâng, hôm nay Ngài sẽ nói rằng: “Đây là Mầu Nhiệm Đức Tin - Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa”.


Xưa, tại ngôi nhà “tiệc ly” Đức Giê-su Phục Sinh đã ban cho các vị tông đồ “đức tin và sự bình an”. Nay, trong ngôi thánh đường, tại bàn Tiệc Thánh Thể, Đức Giê-su Phục Sinh ban cho chúng ta “sự bình an và sự sống đời đời”.


Vâng, xưa kia chính Ngài đã phán hứa rằng: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” và rằng: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi” (x.Ga14, 27).


Đức Giê-su đã hứa ban. Thế thì, cớ gì chúng ta không đón nhận, nhỉ!


Tại sao chúng ta không đón nhận khi mà thế giới của hôm nay, là một thế giới mỗi ngày một bất an, tràn lan những bất ổn, lộn xộn bởi những bất mãn, bất bình, nhan nhản những sự bất công, bất nhân, bất nghĩa!


Thế giới hôm nay là thế đó, là một màu xám, là một màu đen. Là con người đã “cất đi” niềm tin vào một Giê-su Phục Sinh. Là con người đã “vất đi” sự bình an mà Đức Giê-su Phục Sinh đã ban cho.


Đó là sự thật. Và, sự thật này phải là tiếng chuông cảnh báo cho mỗi chúng ta. Cảnh báo chúng ta đừng trở thành một Cain… một Cain “mất niềm tin vào một Thiên Chúa là tình yêu”. Sự thật này phải là tiếng chuông cảnh tỉnh chúng ta. Cảnh tỉnh chúng ta đừng trở thành một Cain… một Cain cướp đi “sự bình an” của Abel, người em của mình.


Vâng, thật mỉa mai khi vụ án Cain và Abel xưa, ngày nay lại tái diễn. Nó tái diễn với một Cain-Russia vs Abel-Ukraine.


Đức Giê-su Phục Sinh, có phần chắc, Ngài không muốn thảm cảnh Cain và Abel tái diễn một lần nữa. Đức Giê-su Phục Sinh, có phần chắc, Ngài vẫn hiện diện ở Russia, ở Ukraine, ở khắp nơi trên thế giới và chờ… chờ tất cả những ai đang đóng vai “Cain”, mở rộng tâm hồn mình, đón nhận “Bình An của Ngài”, đón nhận để trở thành “khí cụ bình an của Ngài”. 


Đức Giê-su Phục Sinh, có phần chắc, Ngài vẫn chờ… chờ chúng ta trong nhà thờ, nơi thánh lễ, để tiếp tục ban Bình An cho chúng ta. Vâng, chỉ cần làm một điều thôi, đó là chúng ta “đừng vắng mặt” như Tô-ma đã (lỡ) vắng mặt. Đừng... đừng bao giờ vắng mặt “ngày thứ nhất trong tuần”. Nói, theo cách nói ngày nay, đừng vắng mặt Thánh Lễ Chúa Nhật, mỗi tuần.


Petrus.tran

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...