Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2022

Đừng quên mình là con Chúa

 Hôm đó, người cha đã rất mừng, mừng vì “con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” (x.Lc 15, 24).



Chúa Nhật XXIV– TN – C
Đừng quên mình là con Chúa
Tông đồ Gio-an nói: “Thiên Chúa là tình yêu.” Và ngài cho biết: “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống. Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4, 8-10).
Đúng là vậy. Hơn hai ngàn năm trước đó, Con Thiên Chúa đã đến thế gian. Ngài “đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.” (Ga 1, 14).
Con-của-Người, chính là Đức Giê-su. Sau ba mươi năm sống ẩn dật ở Nazareth, Đức Giê-su đã ra đi rao giảng về một Tin Mừng cứu độ, rằng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3, 16). Và Ngài còn khẳng định rằng: Thiên Chúa là Đấng “từ bi nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương”. Người là Đấng “đến để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn.”
Lời rao giảng cùng với lời khẳng định (nêu trên) đã được Ngài diễn tả rõ ràng bằng những dụ ngôn. Một trong dụ ngôn diển tả rõ nét nhất, đó là “Dụ ngôn người cha nhân hậu”. Dụ ngôn này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Luca.
**
Theo Tin Mừng thánh Luca ghi lại, hôm ấy dụ ngôn đã Đức Giê-su kể như sau: “Một người kia có hai con trai”. Có hai con trai thì quả đúng là hạnh phúc của bất cứ gia đình nào trong xã hội, xưa cũng như nay.
Ấy thế mà… thế mà gia đình của “người kia” lại đã phải đối diện với một nan đề, một nan đề khiến cho hạnh phúc gia đình tan vỡ. Chuyện là thế này, một trong hai người, đó là người con thứ… người con thứ, chẳng biết anh ta mắc chứng gì mà lại yêu sách đòi người cha chia gia tài. Vâng, rất lễ phép, anh ta nói với cha rằng: “Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng”.
Phần tài sản con được hưởng ư! Tất nhiên là được rồi. Tuy nhiên, việc người con thứ đòi chia quả là không ổn. Tại sao? Thưa, là bởi, Theo luật Do Thái, việc này, mà người đòi lại là “con thứ” trong gia đình, thì quả đó là một hành động hiếm thấy, nếu không muốn nói là phạm luật. (x. Đnl 21, 17). Còn với quan niệm Việt Nam, cũng không ổn. Không ổn vì rất ít khi gia tài được chia khi người cha (lẫn mẹ) còn sống.
Ấy thế mà, người cha (trong dụ ngôn) vẫn không một lời càm ràm. Ông ta làm theo đúng lời thỉnh cầu của người con thứ. Chuyện kể rằng: “người cha đã chia của cải cho hai con”. Được chia gia tài rồi, thì sao nhỉ! Thưa, “ít ngày sau, người con thứ gom tất cả rồi trẩy đi phương xa”.
Đi phương xa là đi buôn chăng! Thưa không, không buôn bán gì cả. Tin Mừng thánh Luca ghi rằng: “Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình”.
Sống phóng đãng là sống như thế nào? Thưa, đó là sống bừa bãi, buông thả không tự kiềm chế bản thân mình. Còn phung phí tài sản? Thưa, đó là sử dụng tiền bạc lãng phí, ăn chơi phung phí.
Vâng, theo định nghĩa nêu trên, chúng ta có thể nghĩ rằng, cậu ấm nhà ta có nét ăn chơi cũng không kém cạnh chàng bạch công tử ở miền tây nam bộ, khi xưa.
Sống lối sống như thế thì sao nhỉ! Thưa Kinh Thánh nói: “Đôi chân nó đi vào cõi chết, nó thẳng đường bước tới âm ty” (Cn 5, 5).
Quả thật là vậy. Anh chàng con thứ đã đi-vào-cõi-chết… Làm sao không vào cõi chết cho được khi tài sản được chia chàng ta đã “ăn tiêu hết sạch”! Hết tiền tiêu, rồi trong vùng ấy “lại xảy ra… một nạn đói khủng khiếp” thế có phải là chàng ta thẳng-đường-bước-tới-âm-ty!
Vâng, câu chuyện được kể tiếp rằng: “anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu”. Túng quá hóa liều chăng! Đúng, người con thứ, túng quá hóa liều, nên anh ta đã “liều” đến một trang trại xin “ở đợ cho một người dân trong vùng”. Gọi là liều vì chăn heo là công việc cấm kỵ của người Do Thái. Một công việc “tận cùng”.
Chàng con thứ được nhận vào làm. Chủ của anh ta “sai anh ta ra đồng chăn heo”. Bên đàn heo, trong cơn đói quằn quại, anh ta “ước ao lấy đậu muồng heo ăn nhét cho đầy bụng…” Than ôi! “chẳng ai cho”.
Trong nỗi buồn tủichàng con thứ làm gì nhỉ! Phải chăng chàng ta “ngược thời gian trở về quá khứ phút giây chạnh lòng!” Thưa, đúng vậy. Chàng con thứ “chạnh lòng” nhớ… nhớ lại “bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu ân tình (của cha mình, nay…) chỉ còn lại con số không...”
Vâng, chỉ-còn-lại-con-số-không. Thế rồi, chàng ta “hồi tâm và tự nhủ: biết bao người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta lại ở đây chết đói!” Trong một cơ thể bắt đầu rên rỉ vì đói khát, chàng ta nghĩ, nghĩ rằng: “Thôi ta đứng lên đi về cùng cha, và thưa với người: ‘Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy”.
Chỉ xin “làm công”, chẳng lẽ cha mình không cho! Và rồi, trong niềm tin vào lòng thương xót của người cha, chàng con thứ đứng lên, chúm môi huýt sáo bài Come Back To Sorrent - Trở về mái nhà xưa: “Về đây khi mái tóc còn xanh xanh. Về đây với mầu gió ngày lang thang. Về đây xác hiu hắt lạnh lùng. Ôi lãng du quay về điêu tàn.”
Vâng, những dòng chữ trên chỉ là sự tưởng tượng của người viết. Với thánh sử Luca, ngài ghi lại rất ngắn gọn: “anh ta đứng lên đi về cùng cha”.
Thế còn người cha! Người cha làm gì sau khi người con thứ bỏ đi phương xa? Thưa, ở nhà, (vẫn theo người viết nghĩ), người cha lặng lẽ: “Đốt ánh đèn in bóng vào rêu xanh. Sẽ thấy cười tan vỡ hồn đêm thanh. Và nghe thấy kiếp xưa bước nhẹ về. Đang khóc than trên đường não nề.”
Đúng vậy, có phần chắc, người cha chỉ nghĩ đến đứa con, mong nó bước-nhẹ-về, mà không nghĩ đến hành động trịch thượng trước đây, của nó.
Và, quả thật, người cha đã thấy cậu quý tử “come back - trở về”. Câu chuyện được kể rằng: “anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy…” Ông thấy “giọt mưa đã gieo trên thềm nhà…” Thật vậy, hôm ấy, mưa-đã-gieo-trên-thềm-nhà người cha, gieo không chỉ từng giọt nhưng còn là từng cơn, một “cơn mưa hôn”, mưa hôn của người cha. Hôm ấy, ông ta đã “chạy ra ôm cổ anh ta hôn lấy hôn để”.
Cơn mưa hôn này đã làm cho người con thứ nức nở nghẹn ngào. Người con thứ đã nghẹn ngào thốt lên những lời thống hối: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa…” (x.Lc 15, 21).
Không! Không đời nào… Con ta vẫn là con ta… Rất nhân hậu và độ lượng, người cha đã ra lệnh cho tôi tớ “mau đem áo đẹp nhất mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi bắt con dê đã vỗ béo làm tiệc để chúng ta ăn mừng.” Hôm đó, người cha đã rất mừng, mừng vì “con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” (x.Lc 15, 24).
***
Vâng, là một Ki-tô hữu, có phần chắc không ai trong chúng ta lại không hơn một lần nghe đến dụ ngôn này. Một số nhà chú giải Kinh Thánh gọi dụ ngôn này là một “best story” của Tin Mừng thánh Luca. Người viết (nếu không lầm) chính Lm. Tiến Lộc cũng đã đồng ý như thế.
Gọi best story là bởi, qua dụ ngôn này, chúng ta được dạy dỗ rất nhiều điều. Còn nữa, qua dụ ngôn này, mỗi người chúng ta đều có thể thấy một nét phảng phất nào đó chính mình trong câu chuyện.
Chỉ có ba nhân vật (tất nhiên không đề cập đến những người gia nhân trong nhà), nhưng nhân vật nào cũng có thể là chính chúng ta trong một giai đoạn nào đó của cuộc đời mình.
Đó… đó là lý do chúng ta hãy để một phút thinh lặng và tự hỏi lòng mình rằng, tôi là ai trong số những nhân vật đã được Đức Giêsu nêu lên trong dụ ngôn!
Là người cha nhân hậu ư! Vâng, có phần chắc là vậy. Và đây là một thách thức lớn đối với chúng ta. Tuy nhiên, thách thức này không phải là không thể vượt qua. Nhà thần học Henri Nouwen nhìn thấy thách thức này nên có lời khuyên: “Luôn phải chiến đấu để được giải thoát khỏi những ‘sự yếu đuối’ cố hữu, thể hiện qua tính cách của hai anh em, hầu có thể trải nghiệm sự tăng trưởng tâm linh mà trở thành người cha hy sinh, sẵn sàng ban cho và sẵn lòng tha thứ” (nguồn: internet).
Hy sinh, sẵn sàng ban cho và sẵn lòng tha thứ là gì nếu không phải là tình yêu thương! Mà, đã là tình yêu thương thì có người cha nào lại không “Yêu thương con cái mình (điều mà) các đấng sinh thành sẵn lòng làm bất cứ giá nào cho chúng”!
Với nhân vật hai người con. Trong một giai đoạn nào đó của đời người, chúng ta có thể trở thành người con thứ, một người con thứ không nhìn thấy gia tài của mình chính là ngôi nhà Giáo Hội, một người con thứ nhìn gia tài Giáo Hội chỉ là một quyển Kinh Thánh xưa như trái đất, coi gia tài Giáo Hội chỉ là những tín điều cổ hũ, lỗi thời, v.v… để rồi với một chút sự bồng bột của tuổi trẻ, với một chút sự kiêu ngạo của nguyên tội Adam và Eva, với một ít gia tài là học vấn và kiến thức thời đại, “trẩy đi phương xa”, tìm đến những miền đất xa lạ nhưng đầy hấp dẫn và quyến rũ, hấp dẫn và quyến rũ trước một cuộc sống tự do, tự do luyến ái, tự do phá thai, tự do hôn nhân đồng tính, v.v…
Không… tất cả những sự hấp dẫn và quyến rũ đó chỉ dẫn chúng ta đến “thung lũng âm u của sự chết”. Chúng ta sẽ chết đức bác ái, chết sự bình an, chết sự từ tâm, chết lòng trung tín, chết tính hiền hòa, chết sự đức độ.
Nếu… tay lỡ nhúng chàm… hãy “hồi tâm và hãy nhớ”, gia tài Giáo Hội mà Thiên Chúa đã gửi gắm chính là “sự sống đời đời” và đã được Con Một của Thiên Chúa là Đức Giê-su khẳng định: “Tôi đến là để chiên được sống và sống dồi dào”.
Nếu… tay lỡ nhúng chàm, đừng quên, Đức Giê-su có nói: “Trên trời… ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là chín mươi chín người công chính không cần sám hối ăn năn”.
Cuối cùng, chúng ta cũng có thể là chính nhân vật người “con cả”, một người con cả sống khép kín trong ngôi nhà Kitô giáo, mặc cảm mình chỉ là kẻ “hầu hạ”, sợ sệt trước những giới răn mà quên rằng, đó chính là sinh lộ, là “đường, là sự thật và là sự sống”.
Là người anh cả ư! Đừng ganh tỵ với những gì người em được hưởng. Người cha (là Đức Giê-su), “chẳng lẽ… lại không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của (ông ta) sao?” (x.Mt 20, 15).
Cũng đừng oán hờn. Tại sao phải oán hờn người cha về việc “chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè”. Ô hay! Anh hai ơi! cha đã “chia gia tài cho hai con”, nghĩa là “anh hai” cũng đã có đầy đủ, đâu chỉ là một con dê!
Vâng, chúng ta luôn ganh tỵ, luôn oán hờn với ơn phước Chúa ban cho người này nhiều hơn người kia. Đó là điều nguy hiểm, nguy hiểm vì sẽ làm cho chúng ta “quên mất Thiên Chúa là Cha”. Và, điều gì đến sẽ phải đến, chúng ta sẽ không thèm “vào ngôi nhà Giáo Hội”, chúng ta sẽ từ bỏ thân phận mình là con của Chúa.
Nói tắt một lời, dù chúng ta là nhân vật nào trong dụ ngôn, chúng ta cũng đừng quên Thiên Chúa là Cha và mình là con của Chúa. Vâng, đừng quên mình là con Chúa.
Petrus.tran

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2022

Xin Chúa giúp con biết từ bỏ…

 Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được.” (x.Lc 14, 27).



Chúa Nhật XXIII – TN – C

Xin Chúa giúp con biết từ bỏ…

Cuộc sống của con người “không phải lúc nào cũng chỉ có niềm vui, còn có sương mù và giá lạnh” nữa. Sương mù và giá lạnh đó, có thể: là ốm đau bệnh hoạn, là thất nghiệp, là nghèo túng, là những trắc trở, là những nỗi buồn “chẳng biết vì sao tôi buồn”, là những nỗi đau “Người đi một nửa hồn tôi mất. Một nửa hồn kia hóa dại khờ”. v.v…

Với người đời, khi gặp những điều nêu trên xảy ra cho mình, cứ sự thường thì người ta than vãn “ông trời không có mắt”. Nhưng với người Ki-tô hữu, đa phần đều nghĩ rằng: đó là thánh giá Chúa gửi đến. Nghĩ như thế có gì là sai!

Vâng, có gì là sai, đối với những ai có đức tin mạnh mẽ. Có đức tin mạnh mẽ, khi phải đối diện với những điều nêu trên, đó chỉ là một sự thử thách, thử thách đức tin, thử thách đức cậy vào Thiên Chúa, cho chính bản thân mình.

Trong suốt chiều dài lịch sử con người, có rất nhiều người đã phải đối diện với “thánh giá Chúa gửi đến”. Họ đã đối diện và xem đó chỉ là một sự thử thách. Trường hợp của ông Gióp như một điển hình.

Chuyện kể rằng, một ngày nọ, Satan thưa với ĐỨC CHÚA: “Có phải Gióp kính sợ Thiên Chúa mà không cầu lợi chăng? Chẳng phải chính Ngài đã bao bọc, chở che nó tư bề, nó cũng như nhà cửa và tài sản của nó sao? Ngài đã ban phúc lành cho công việc do tay nó làm, và các đàn súc vật của nó lan tràn khắp xứ. Ngài cứ thử giơ tay đánh vào mọi tài sản của nó xem, chắc chắn là nó sẽ nguyền rủa Ngài thẳng mặt.”

Nghe Satan khích bác Gióp như thế, ĐỨC CHÚA nói với Satan rằng: “Được, mọi tài sản của nó thuộc quyền ngươi, duy chỉ có con người của nó là ngươi không được đưa tay đụng nó.”

Được lời như cởi tấm lòng, Satan hả hê vui sướng và ra tay tấn công ông Gióp. Cuộc tấn công của Satan đã làm cho ông Gióp tán gia bại sản, những người con của ông chết hết.

Hoạn nạn như thế, ông Gióp phản ứng thế nào! Ông ta có “nguyền rủa ĐỨC CHÚA”? Thưa không. Trái lại, ông Gióp “sấp mình xuống đất, sụp lạy và nói: ĐỨC CHÚA đã ban cho, ĐỨC CHÚA lại lấy đi: xin chúc tụng danh ĐỨC CHÚA” (x.G 1, 6-21).

Ông Gióp “không buông lời trách móc phạm đến Thiên Chúa” đã khiến Satan càng thêm tức tối. Để rồi, một lần nữa Satan lại khích bác ông Gióp trước mặt ĐỨC CHÚA. Y đã nói với ĐỨC CHÚA rằng: “Ngài cứ thử giơ tay đánh vào xương vào thịt nó xem, chắc chắn nó sẽ nguyền rủa Ngài thẳng mặt”.

Lần này, ĐỨC CHÚA cũng “chiều ý” Satan, Người nói: “Được. Nó thuộc quyền ngươi, nhưng ngươi phải tôn trọng mạng sống nó’. Satan quả là đã tôn trọng mạng sống ông Gióp. Satan chỉ “hành hạ ông Gióp khiến ông mắc phải chứng ung nhọt ác tính từ bàn chân cho tới đỉnh đầu.” Và thật đáng thương: “Ông (ta) ngồi giữa đống tro, lấy mảnh sành mà gãi.”

Đau đớn là thế, và mặc cho bà vợ ông “lải nhải” xúi giục ông “nguyền rủa Thiên Chúa”, ông vẫn kiên trì vững tin và trông cậy vào Chúa. Ông Gióp đã trả lời bà vợ rằng: “Cả bà cũng nói như một mụ điên. Chúng ta đón nhận điều lành từ Thiên Chúa, còn điều dữ, lại không biết đón nhận sao”.

Ông Gióp đã đón nhận những sự dữ xảy ra cho mình, và xem đó như chỉ là một “thử thách Chúa gửi đến”. Chuyện kể rằng, ông Gióp đã “không để cho môi miệng thốt ra lời tội lỗi.” (x.G 2, 10).

Vâng, thánh-giá-Chúa-gửi-đến. Hay nói cách khác, thử-thách-Chúa-gửi-đến, là có. Ngoài việc thánh-giá-Chúa-gửi-đến để thử thách, chúng ta cũng nên biết rằng, Người còn gửi đến để như là một lời cảnh tỉnh, hoán cải con người.

Trong những ngày ra đi loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su cũng đã nhiều lần đề cập đến thánh giá. Ngài đã đề cập và gọi đó là “thập giá”. Một cây thập giá mà chính Ngài sẽ vác lấy, vác lấy như là một cái giá phải trả cho sứ mạng cứu độ con người.

Tin Mừng thánh Mát-thêu đã ghi lại lời Đức Giê-su khẳng định: “Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ kết án xử tử Người, sẽ nộp Người cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá và, ngày thứ ba, Người sẽ trỗi dậy.” (x.Mt 20, 18-19).

Vâng, Đức Giê-su đã vác thập giá… vác thập giá lên Golgotha và đã chịu đóng đinh vào thập giá. “Môn đệ không hơn thầy.” Đó… đó là lý do Đức Giê-su đã gửi một thông điệp, một thông điệp liên quan đến thập giá, cho các môn đệ của mình, rằng: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.” Lời công bố rất rõ ràng và đã được ghi lại chi tiết trong Tin Mừng thánh Luca. (x.Lc 14, 25-33).

**

Theo Tin Mừng thánh Luca ghi lại, thì: “Hôm ấy, có rất đông người cùng đi đường với Đức Giê-su.” Đức Giê-su đi đâu? Thưa, thánh sử Luca không cho biết. Tuy nhiên, chúng ta có thể suy đoán rằng, đó là một chuyến đi, đi đến các làng mạc để loan báo Tin Mừng.

Thế còn, sao lại có hiện tượng rất đông người cùng đi với Ngài! Thưa, đó chỉ là một hiện tượng bình thường, như nhiều lần đã xảy ra. Đức Giê-su, từ trước đến nay, bất cứ nơi đâu Ngài xuất hiện, lập tức “dân chúng lũ lượt kéo đi theo Ngài” (x.Mt 4, 25).

Trước kia, đã nhiều lần dân chúng lũ lượt đi theo Đức Giê-su. Và Ngài đã làm nhiều điều hữu ích cho họ. Những việc hữu ích đó là: chữa lành mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền.

Còn lần này… rất đặc biệt. Lần này, Ngài đã gửi đến những người đi theo mình một thông điệp, một thông điệp không “mị dân”. Không mị dân như mấy ông kẹ lãnh tụ thời nay, mỗi khi ra ứng cử thì hứa hẹn “búa xua” rằng thì-là-mà sẽ làm điều này, điều nọ cho dân, sau khi đắc cử.

Vâng, thông điệp rằng: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.” (x.Lc 14, 27).

***

Thông điệp Đức Giê-su gửi đến những người “cùng đi đường với Ngài” là như thế đó. Và, có phần chắc đó cũng là thông điệp gửi cho chúng ta hôm nay.

Nghe qua thông điệp này… thấy mà “rùng mình” phải không, thưa quý vị! Đúng vậy, sao không rùng mình cho được. Thầy Giê-su yêu cầu như thế, chẳng phải là Ngài quên đi một trong Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời: “thứ tư: hãy thảo kinh cha mẹ”, đó sao!

Thật ra, Đức Giê-su làm sao quên được Mười Điều Răn của Thiên Chúa. Chúng ta đừng quên, một lần nọ, có một người đến gặp Đức Giê-su và hỏi: “Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”

Đức Giê-su, hôm ấy, nói gì nhỉ? Đây, Ngài đã hỏi lại người ấy rằng: “Hẳn anh biết các điều răn: chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ cha kính mẹ.”

Trả lời câu hỏi của Đức Giê-su, anh chàng đó đã đáp rằng: “Thưa Thầy, tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ”. Và… và sao nhỉ! Thưa, nghe vậy “Đức Giê-su đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến”. Đức Giê-su đem-lòng-yêu-mến người đã thờ-cha-kính-mẹ thì sao lại bảo Ngài quên-điều-răn-thứ-tư!

Thật ra, khi nói lên lời yêu cầu nêu trên, Đức Giêsu không tự tạo ra mâu thuẫn giữa lời yêu cầu với điều răn thứ tư. Văn chương Cựu ước của Israel không có kiểu nói so sánh “hơn hay kém”. Đức Giêsu, khi nói như thế, Ngài muốn đặt ra một bậc thang giá trị cho một chọn lựa. Muốn là môn đệ của Đức Giêsu ư! Phải đặt Chúa lên hàng ưu tiên số một trong bậc thang giá trị của con người.

Đó… đó là lý do có một lần nọ, Đức Giêsu đã nói: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10, 37).

Vâng, chính vì phải-đặt-Chúa-lên-hàng-ưu-tiên, do đó Đức Giê-su cũng đã có một lời khuyến cáo: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đằng sau thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa.” (Lc 9, 62).

Chính vì phải-đặt-Chúa-lên-hàng-ưu-tiên, hôm ấy Đức Giê-su còn đòi hỏi một điều kiện khác, điều kiện rằng: “Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.”

****

“Vác thập giá mình… từ bỏ mạng sống mình… từ bỏ hết những gì mình có”, chỉ có thế. Đức Giê-su chỉ yêu cầu có như thế, đối với những ai muốn trở thành môn đệ của Ngài.

Chúng ta có thể thực hiện những yêu cầu này? Hay chúng ta cho rằng: khó quá! Vâng, Lm An-tôn Nguyễn Văn Độ cảm thông được điều này, nên đã có lời chia sẻ: “Thật khó chấp nhận điều Chúa Giêsu đòi hỏi là từ bỏ và hy sinh. Sống trong một xã hội được lập trình sẵn, khuyến khích thành công nhanh, tận dụng tối đa làm ít, hưởng nhiều, đỡ tốn thời giờ và sức khỏe, nên không có lạ khi chúng ta làm và nhìn mọi sự theo kiểu con người chứ không theo cái nhìn của Thiên Chúa.” (nguồn: Vietcatholic.net).

Đúng… đúng là một lời chia sẻ đầy cảm thông. Tuy nhiên, ngoài sự cảm thông, ngài Lm. An-tôn còn vạch ra điều ngăn trở khiến chúng ta khó thực hiện lời yêu cầu của Đức Giê-su. Ngài Lm nói: “Dường như trở ngại lớn nhất không phải là người thân cận hoặc cha mẹ, anh chị em, của cải… mà là cái tôi.” Đúng vậy. Là cái tôi của tôi. Đó chính là trở ngại lớn, đúng như lời ngài Lm.An-tôn nói.

Phải làm sao đây? Thưa, ngài Lm An-tôn có lời dạy, rằng: “Cần phải phân biệt, Chúa Giêsu không bắt chúng ta từ bỏ ‘điều chúng ta là’, nhưng bỏ điều ‘chúng ta đã trở nên’. Chúng ta là hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa thấy tốt đẹp sau khi tạo dựng người nam và người nữ (x. St 1, 31).

Điều chúng ta phải từ bỏ không phải là điều Chúa đã làm, nhưng là điều chúng ta lạm dụng quyền tự do trở nên kiêu ngạo, hà tiện, mê dâm dục, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét và làm biếng, cùng với ước muốn xấu, những lời chua cay, nóng nảy, giận hờn, tham lam, tội lỗi, xấu xa... phủ trên hình ảnh của Thiên Chúa.

Thánh Phaolô gọi ảnh biến hình này là ‘ảnh dưới đất’, ngược với ‘ảnh trên trời’, giống như Chúa Kitô. Cụ thể là bỏ ý loài người để mặc lấy ý Chúa, giống Chúa.”

Tới đây, người viết… người viết đã phải “ngừng viết” để nói lên với Chúa đôi lời nguyện, rằng: “Con tạ ơn Chúa. Tạ ơn Ngài đã dẫn dắt con đến trang nhà Vietcatholic.net. Đến đây và đã hiểu thế nào là “Vác thập giá mình… từ bỏ mạng sống mình… từ bỏ hết những gì mình có”, qua lời chia sẻ của con cái Ngài là Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ.”

Vâng, “Vác thập giá mình… ”, còn có thể được hiểu rằng: vác lấy những bất đồng, những trái khoáy của những người thân trong gia đình chúng ta.

“Vác thập giá mình… ”, còn có thể được hiểu rằng: đó là chúng ta “khép mình vào kỷ cương, rất cần thiết để chiến thắng tật xấu… (chúng ta có rất nhiều tật xấu), để tha thứ, tha thứ cho ngay cả những ai xúc phạm chúng ta, để tỏ lòng nhân hậu, nhân hậu cho ngay cả những kẻ đã làm cho chúng ta mất thời gian, sức khỏe và tiền bạc.” Lm. Charles E.Miller có lời dạy như thế.

Phải thực hiện lời yêu cầu, nói đúng hơn, “lệnh truyền” của Đức Giê-su.

Đức Thánh Cha Phanxicô có lời nói, rằng: “…Khi chúng ta đi mà không có Thánh Giá, khi chúng ta xây dựng mà không có Thánh Giá, và khi chúng ta tuyên xưng Đức Kitô mà không có Thánh Giá, chúng ta không phải là môn đệ của Chúa: chúng ta thuộc về thế gian. Chúng ta là Giám Mục, Linh Mục, Hồng Y, Giáo Hoàng, nhưng không phải là môn đệ của Chúa (nếu không có Thánh Giá)” (nguồn: Vietcatholic.net).

Đã là một Ki-tô hữu, đừng để mình không phải là môn đệ của Đức Ki-tô. Vâng, Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ thấy được tầm quan trọng này, nên ngài đã cầu xin Chúa rằng: “Lạy Chúa, xin Chúa giúp chúng con biết từ bỏ chính mình, vác thánh giá đời chúng con mỗi ngày để theo Chúa. Amen.” Chúng ta cũng nên cầu nguyện như ngài Lm. An-tôn: “Xin Chúa giúp con biết từ bỏ chính mình.”

Petrus.tran

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022

Phúc thay ai biết tự hạ mình…

 

Phúc thay ai biết tự hạ mình…

Chủ nhật - 28/08/2022 06:45 | Tác giả bài viết: Petrus.tran |   44
“Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”.



Chúa Nhật XXII – TN – C


Phúc thay ai biết tự hạ mình…

Theo tâm lý chung của con người thì ai cũng muốn mình được tôn vinh, được trọng vọng trước đôi mắt người đời. Sẽ vinh dự làm sao nếu mình được đón tiếp nồng nhiệt khi tham dự một sự kiện nào đó! Và, sẽ tự hào làm sao nếu mình được ngồi bàn V.I.P trong một bữa tiệc mừng kim khánh của ngài Lm. chánh xứ nào đó, chẳng hạn… Vâng, đó chỉ là những ước muốn bình thường, của những con người bình thường, trong một cuộc sống bình thường.

Tuy nhiên, những ước muốn bình thường nêu trên, đôi lúc sẽ không còn bình thường nữa. Nó sẽ không còn bình thường khi lòng người bị tham, sân, si… chế ngự.

Do bởi tham sân si chế ngự, nên khi được tôn vinh, con người dễ bị cuốn hút tới sự ngạo mạn. Do bởi tham sân si chế ngự, nên khi được trọng vọng, con người dễ bị rơi vào sự tự mãn kiêu căng. Tôi phải là ai mới được tôn vinh như thế chứ! Tôi phải là gì mới được ngồi chiếu nhất, chiếu nhì!

Kiêu căng và ngạo mạn, hay nói ngắn gọn: kiêu ngạo. Đó… đó là điều không ai trong chúng ta lại không hơn một lần vấp phạm. Giáo lý Công Giáo gọi đó là một trong bảy mối tội đầu. Thứ nhất: chớ kiêu ngạo.

Vâng, chớ kiêu căng ngạo mạn. Vì, như lời sách Châm ngôn cảnh báo: “Kiêu căng đưa đến sụp đổ, ngạo mạn dẫn đến té nhào.” (Cn 16, 18) Chưa hết, tác giả sách Thánh Vịnh cũng có lời khuyến cáo: “Chúa quở trách kẻ kiêu ngạo” (Tv 119, 21).

Còn với Đức Giê-su ư! Với Đức Giê-su – Ngài có lời khuyến cáo: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”.

Đức Giê-su không chỉ có lời khuyến cáo, Ngài còn để lại cho hậu thế một bài học. Vâng, một bài học, tạm gọi là bài học về thuật xử thế trong giao tiếp đời thường. Bài học này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Luca (Lc 14, 1,7-14).

**
Theo lời thánh Luca ghi lại: Hôm ấy là ngày Sa-bát và Đức Giê-su đã đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pha-ri-seu để dùng bữa. Ngồi nhìn thực khách lần lượt đến dự, Đức Giê-su “nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi.” (x.Lc 14, 7).

Tại sao thực khách cứ-chọn-cỗ-nhất-mà-ngồi! Thưa, rất có thể những thực khách đó cho rằng mình cũng là một Pha-ri-seu có thế giá, mà đã có thế giá thì phải ngồi ở cỗ nhất, nơi thường là chỗ gần chủ nhà, mới phải lẽ chứ!

Cứ ngồi cỗ nhất, thế thì “cỗ hai, cỗ ba” bỏ trống ư! Chẳng lẽ điều này không làm khó khăn cho ban tổ chức sao! Vâng, trước hiện tượng phi lý này, Đức Giê-su đã lên tiếng. Ngài đã lên tiếng gì! Thưa, hôm ấy, Đức Giê-su đã lên tiếng với mọi người, rằng: “Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cùng được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng: ‘xin ông nhường chỗ cho vị này’ Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối”.

Đức Giê-su nói rất rõ ràng. Chẳng có lời nói nào quá mơ hồ khiến người nghe không hiểu. Mà, nếu không hiểu ư! Thì đây, một bài học tiếp theo về cách ứng xử khi được mời tham dự sự kiện, đã được Đức Giê-su công bố: “Khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho người đã mời anh phải đến nói: ‘Xin mời ông bạn lên trên cho.’ Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn”.

Không khách sáo với quý ông Phariseu, là những kẻ thích được tôn vinh… hôm ấy, Đức Giê-su đã có một lời khuyến cáo rất thẳng thắn, rằng: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”.

***
Thật ra, có cần đợi Đức Giê-su đưa ra lời khuyến cáo! Này, quý ông Pha-ri-seu, lẽ ra quý ông phải biết, sách Huấn ca có lời chép, rằng: “Càng làm lớn, con càng phải tự hạ, như thế con sẽ được đẹp lòng Đức Chúa.”

Đúng, chính Đức Giê-su cũng đã “nhắc khéo” về việc tự hạ mà những người “làm lớn” cần phải thể hiện. Hôm ấy, đối với “ông thủ lãnh” và cũng là chủ nhà, Ngài đã khéo léo nhắc nhở, rằng: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em hay bà con hàng xóm, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi”.

Thật thế, cung cách tự hạ không nhất thiết là từ chối ngồi cỗ nhất, cỗ nhì. Nhưng, nó còn được thể hiện qua việc ứng xử khiêm tốn, nhã nhặn với những kẻ “bề dưới”. Và đây, đây là cách thể hiện đã được Đức Giê-su nhắc nhở ông chủ nhà, rằng: “Khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc, vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại” (x.Lc 14, 14).

Này ông “thủ lãnh nhóm Pha-ri-seu”, không có cách thể hiện “sự tự hạ” nào đẹp hơn cách thể hiện này. Không có sự tự hạ nào đẹp hơn khi “Được đặt làm chủ tọa… Con đừng có lên mặt giữa thực khách, hãy xử sự như một người đồng bàn, lo cho người ta, rồi mới ngồi vào chỗ. Chu toàn mọi bổn phận xong, con hãy yên vị và chung vui với mọi người” (Hc 32, 1-2).

****
Đức Giê-su không chỉ có lời khuyên, Ngài đã thể hiện “sự tự hạ” nơi chính con người mình. Trong bữa tiệc ly, Đức Giê-su đã tự hạ mình. “Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giêsu đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau” (Ga 13, 4-5).

Có bao giờ chúng ta tự hỏi rằng: sao lại có chuyện, một Giê-su “vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế”!!!

Chưa hết! Đức Giê-su – “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (x.Pl 2, 8).

Vậy đó… Đức Giê-su đã hạ mình như thế đó. Thế nên, là một Ki-tô hữu, là người môn đệ của Đức Giê-su, chúng ta đừng bao giờ nghĩ đến việc “tôn mình lên” nhưng hãy… hãy “hạ mình xuống”.

Hạ-mình-xuống có thể được xem như là chiếc đòn bẩy, “bẩy” tính chơi trội, tính khoe khoang, thích người đời tung hô, tán tụng (ngay cả khi những điều đó chẳng phải là thuộc về mình), ra khỏi con người chúng ta.

Hạ-mình-xuống còn được xem như là chiếc chìa khóa, chiếc chìa khóa khóa-cánh-cửa-lòng-tự-tôn nơi con người chúng ta. Mà cớ gì chúng ta không “khóa” nó lại nhỉ! Phải khóa nó lại, bởi vì khi lòng-tự-tôn (quá lớn), nó sẽ khiến chúng ta có nhu cầu phải được ngưỡng mộ quá mức độ và cuối cùng là chúng ta không còn có sự đồng cảm với người khác. Nói tắt một lời, lòng-tự-tôn chính là nguyên nhân “phá hủy các mối quan hệ” giữa con người với con người. Hôm nay, chẳng phải là thiên hạ đang đua nhau tự tôn mình lên, đó sao!

Vâng, hạ-mình-xuống còn được xem như là tiền đề cho lối sống khiêm tốn, một lối sống đem lại cho chúng ta sự nhận thức rằng: chúng ta cũng chỉ là người bất toàn yếu đuối và nhờ đó chúng ta dễ dàng thông cảm, chia sẻ những thiếu sót, lỗi lầm của kẻ khác.

Cuối cùng, càng hạ-mình-xuống chúng ta lại càng vững lòng trông cậy vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Càng hạ-mình-xuống chúng ta lại càng biết “quên mình”, quên mình để phục vụ tha nhân, như chính Thầy Giê-su đã nói: “Con Người đến là để phục vụ…”

*****

Lời Chúa đã phán dạy là như thế. Vấn đề là chúng ta sẽ thực hiện như thế nào.

Vâng, chúng ta sẽ “tôn mình lên”? Chớ… chớ có dại. Đức Giê-su chẳng từng nói: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”, đó sao!

Chúa sẽ tôn-chúng-ta-lên. Chúa sẽ tôn ông A làm Giám Mục. Chúa sẽ tôn bà B làm “sơ bề trên”. Chúa sẽ tôn ai… ai đó làm Giáo Hoàng, v.v… Đó là việc của Chúa.

Phần còn lại là chúng ta. Nếu chúng ta được-Chúa-tôn-lên làm những chức vụ nêu trên, (hay bất cứ việc gì khác), thì “hãy hoàn thành việc của (mình) một cách nhũn nhặn…”, một-cách-nhũn-nhặn “thì (chúng ta) sẽ được mến yêu hơn người hào phóng.” (x.Hc 3, 17).

Nói cách khác, hãy hoàn thành việc của mình một cách khiêm nhường. Vâng, vị “Giáo Hoàng tiên khởi”, ngài tông đồ Phê-rô, cũng đã có lời truyền dạy như thế: “Anh em hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường.

Còn… nếu Chúa hạ-chúng-ta-xuống thì sao? Không, Chúa không bao giờ hạ chúng ta xuống. Người chỉ “hạ bệ những ai quyền thế (và kiêu ngạo). Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.” (x.Lc 1, 52).

Thế nên, đừng quên ghi khắc trong con tim mình lời Đức Giê-su đã mời gọi: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.” Thế nên, đừng ngần ngại khi chúng ta tự “hạ mình xuống”.

Tông đồ Phê-rô đã cảm nghiệm được thế nào là niềm hạnh phúc của một người biết tự hạ mình, nên đã có lời khuyến khích: “Vậy anh em hãy tự khiêm tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, để Người cất nhắc anh em khi đến thời đã định.” (x.1Pr 5, 6).

Vâng, hãy tự hạ mình xuống, ngay hôm nay, bây giờ, niềm hạnh phúc sẽ đến với chúng ta. Thật vậy, nếu chúng ta khiêm nhường tự hạ mình xuống, có phần chắc, gia đình chúng ta sẽ không thể xảy ra cảnh “ông nói gà bà nói vịt”. Nếu chúng ta nhẫn nhục tự hạ mình xuống, có phần chắc gia đình chúng ta sẽ không bao giờ có chuyện bất hòa, có phần chắc chúng ta sẽ kềm chế đươc tính nổi nóng vô cớ của mình, có phần chắc gia đình chúng ta sẽ là một gia đình “vợ chồng ý hợp tâm đầu”.

Một gia đình không có chuyện bất hòa. Một gia đình không để cho sự nóng giận ngự trị. Một gia đình không có cảnh “ông nói gà bà nói vịt”. Một gia đình vợ chồng ý hợp tâm đầu. Vâng, chẳng phải đó là một gia đình hạnh phúc, sao!

Đúng. Đó là một gia đình “có phúc”, không chỉ có phúc đời này, nhưng còn có phúc “trong ngày các kẻ lành sống lại”. Sao lại có phúc trong-ngày-các-kẻ-lành-sống-lại? Thưa, không có phúc sao được! Bởi, ngày đó Đức Giê-su sẽ nói, nói với những ai, những gia đình nào biết tự-hạ-mình, rằng: “Xin mời bạn lên trên cho.” Rõ ràng hơn, ngày đó, Đức Giê-su sẽ nói như vầy: Con có phúc. Phúc được vào Nước Trời... Vì con biết tự hạ mình.

Nói, theo cách nói của bài giảng trên núi: “Phúc thay ai biết tự hạ mình.”

Petrus.tran

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...