Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2023

Hãy sấp mình thờ lạy Chúa..

 

Hãy sấp mình thờ lạy Chúa

“Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”.


Chúa Nhật - Lễ Hiển Linh
Hãy sấp mình thờ lạy Chúa

Theo lịch Phụng Vụ, Chúa Nhật hôm nay (08/01/2023), chúng ta bước vào ngày cuối của mùa Giáng Sinh. Và, như một truyền thống đẹp, hôm nay toàn thể Giáo Hội mừng Lễ Chúa Hiển Linh.

Hiển Linh là gì? Thưa, theo từ điển tiếng Việt do viện ngôn ngữ học xuất bản, hiển linh được định nghĩa là: “thần thánh tỏ rõ sự linh thiêng”. Một cuốn tự điển khác, tác giả là ông Thanh Nghị, ghi rằng: hiển linh nghĩa là “linh thiêng rõ ràng”. Với danh từ gốc Hy Lạp “Epiphania” có nghĩa là “hiện ra, bày tỏ”.

Trở lại với lễ Hiển Linh. Vâng, cử hành mừng Lễ Hiển Linh, Giáo Hội muốn gửi đến cho mọi người một thông điệp, thông điệp rằng, Thiên Chúa đã tỏ mình ra, qua Hài Nhi Giê-su, cho mọi dân tộc, và đại diện là ba nhà chiêm tinh, mà chúng ta quen gọi là “Ba Vua”.
Tin Mừng thánh Mát-thêu có ghi lại câu chuyện của ba vị này với tiêu đề “Các nhà chiêm tinh đến bái lạy Đức Giê-su Hài Nhi”. (2, 1-12).

**
Câu chuyện được ghi lại như sau: “Khi Đức Giê-su ra đời tại Belem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem và hỏi: Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu?” (Mt 2, 1-2).

Sau khi đưa ra câu hỏi, mấy nhà chiêm tinh có lời tâm tình, rằng: “Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”.

Nghe qua câu hỏi cùng với lời tâm tình của ba vị chiêm tinh, Giê-ru-sa-lem như hứng phải một trái mìn claymore. Và, khi trái mìn claymore nổ tung, hay nói rõ hơn, khi nguồn tin được loan truyền rộng rãi, Giê-ru-sa-lem như một bãi chiến trường tin tức. “Breaking news” hỗn loạn đã khiến cho “vua Hê-rô-đê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem thì xôn xao.”

Một khẩu lệnh triệu tập khẩn cấp tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân đã được vua Hê-rô-đê ban hành. Nhà vua cần biết “Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu”.

Rất… rất nhanh chóng, các vị thượng tế và kinh sư, trả lời: “Tại Belem, miền Giu-đê”. Vâng, trả lời như thế là bởi các vị kinh sư và thượng tế đã dựa vào lời ngôn sứ xưa có chép: “Phần ngươi, hỡi Belem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2, 6).

Như vậy, câu hỏi của mấy nhà chiêm tinh đã có câu trả lời do các vị thượng tế và kinh sư cung cấp. Còn vua Hê-rô-đê thì sao! Thưa, ông ta chuyển sự bối rối của mình sang những toan tính thâm hiểm.

Tại sao lại nói ông ta thâm hiểm? Thưa, hãy nghe Marie-Noëlle Thabut, tác giả bài viết: “Chúng tôi từ phương Đông đến thờ lạy Đức Vua”, có lời về vua He-rô-đê, như sau: “Thử đặt vào địa vị của Hê-rô-đê xem; ông ta là người Do Thái, là vua Do Thái, nhưng chỉ làm vua nhờ quyền thế của vương triều La-mã, và chỉ do quân La-mã mà thôi… Ông ta rất hãnh diện về danh hiệu của mình, và hết sức ganh ghét những ai che bóng ông: cũng đừng quên, ông từng ám sát vợ, anh em vợ và gia đình vợ mình.

Ông còn cho tàn sát chính những đứa con trai của mình, đứa nào được một chút lòng dân. Hê-rô-đê giết vì ganh tị! Thế mà có tiếng đồn trong thành: những chiêm tinh xứ ngoài đến từ xa, và hình như họ nói: chúng tôi thấy xuất hiện một ngôi sao lạ thường, chúng tôi biết rằng, đây là điềm báo hiệu một hài nhi – vua mới được sinh ra… Chắc chắn là vua Do Thái thật sự vừa mới sinh. Thử tưởng tượng xem, cơn thịnh nộ và sự lo lắng của Hê-rô-đê như thế nào!” (nguồn: https://giadinhnazareth.org/song-tin-mung/chung-toi-tu-phuong-dong-den-tho-lay-duc-vua/).

Đấy! sự thật về Hê-rô-đê là thế đấy! Có thâm hiểm không, khi Hê-rô-đê “bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẻ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi (ông ta) phái các vị ấy đi Be-lem và dặn rằng: Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.”!!! (x.Mt 2, 8).

Trở lại với mấy nhà chiêm tinh. Sau khi nghe “nhật lệnh” của vua Hê-rô-đê, quý ông chiêm tinh tiếp tục cuộc hành trình tìm đến “Đức Vua dân Do Thái”.

Thánh sử Mát-thêu ghi vắn tắt: “họ ra đi”. Vâng họ ra đi, bỏ mặc đàng sau sự hào nhoáng của Giêrusalem, với những lời hứa hão huyền của vua Hê-rô-đê. Các vị lên đường trong sự tin tưởng rằng, “vì sao của Người” sẽ dẫn họ đến nơi đến chốn.

Và quả thật niềm tin của mấy nhà chiêm tinh được đặt đúng chỗ. Hôm đó, “ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại”.

Ngôi sao đó, rất kỳ lạ, kỳ lạ ở chỗ, mà không ai có thể phủ nhận, đó là: cùng thời điểm trên, tại Belem cũng đã có nhiều hài nhi được sinh ra. Nhưng… lạ lùng thay! Ngôi-sao lại chỉ dừng nơi chính “Đức Vua sinh ra”.

Câu chuyện được kể tiếp, rằng: mấy nhà chiêm tinh “trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng.” Trong nỗi vui mừng khôn xiết: “Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người” (Mt 2, 11). “Vàng, nhũ hương và mộc dược” đã được quý ông chiêm tinh “mở bảo tráp lấy (ra) dâng tiến.”

Xưa kia, chúng ta thường dựa vào ba lễ vật này để suy luận rằng, chỉ có ba người (ba vua) tìm đến Belem. Sự thật như thế nào! Không ai có thể khẳng định. Còn Kinh Thánh thì nói: “có mấy nhà chiêm tinh”.

Riêng, Marie-Noëlle Thabut, với ba lễ vật này, đã có lời chia sẻ: “ Vàng nói lên Ngài là vua; vàng là kim loại quý, biếu cho các vua. Nhũ hương nói lên Ngài là Thiên Chúa, trước đền thờ người ta thắp nhũ hương. Sau cùng, mộc dược thường để ướp xác, nói lên Ngài là người, cũng phải chết.”

Vâng, Đức Vua Giê-su đã chết. Và, ngày nay chúng ta tuyên xưng, rằng: “Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng ta, thời quan Phongxiô Philatô, Người chịu khổ hình và mai táng, ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh.”

***
Từ phương Đông, mấy nhà chiêm tinh đã đến Be-lem “bái lạy Đức Giê-su Hài Nhi.” Sẽ thật ngây thơ khi nghĩ rằng cuộc hành trình của mấy nhà chiêm tinh như là một cuộc trẩy hội cưỡi-lạc-đà-ngắm-chà-là… xem hoa.

Đây… đây là một cuộc hành trình đầy gian khổ. Cứ thử làm một bài toán, từ nơi ở của các nhà chiêm tinh, tính theo đường “chim bay”, đến Giê-ru-sa-lem, khoảng 2000km. Nếu đi đường bộ, với núi non hiểm trở, đoạn đường có thể kéo dài gấp đôi. Với sự di chuyển của lạc đà, và nếu chỉ di chuyển ban đêm, giỏi lắm, họ chỉ đi được khoảng 70km/ngày, là cùng. Làm một bài toán nhân, một tháng là 2100km. Như vậy, hành trình của các nhà chiêm tinh có thể là mất khoảng gần hai tháng.

Bên cạnh những vất vả về thể xác, mấy nhà chiêm tinh còn phải đối diện với sự thâm hiểm của vua Hê-rô-đê. Nói: “Xin quý Ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người”, nhưng có chắc là như thế!

Có một vị vua đang tại vị ở Giê-ru-sa-lem, là Hê-rô-đê đây! Sao các ông không quỳ xuống bái lạy, mà lại tìm đến Belem để bái lạy một tên vô danh tiểu tốt! Trở về Giê-ru-sa-lem ư! Chết… chết chắc.

May thay! Các ông đã không trở về “lối cũ”. Các ông đã được báo mộng, rằng: “đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình”. (x.Mt 2, 12).

Đi-lối-khác-mà-về-xứ-mình, mấy nhà chiêm tinh đã không chết. Thế nhưng, chúng ta không thể không nói đến sự kiện “các con trẻ ở Belem và toàn vùng phụ cận, từ hai tuổi trở xuống” đã bị Hê-rô-đê “sai người đi giết”, chỉ vì nghĩ rằng “mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa.”

Vâng, Giáo Hội, vào hôm thứ tư 28/12/2022, cũng đã cử hành thánh lễ “các thánh anh hài tử đạo”. Cử hành thánh lễ như một lời nhắc nhở người Công Giáo chúng ta rằng, phải quý trọng các con trẻ, dù con trẻ đó mới chỉ là một “mầm sống”. Nói tắt một lời “đừng phá thai”.

****
Trở lại với mấy nhà chiêm tinh. Các ông đã gặp Hài Nhi Giê-su và các ông đã “sấp mình thờ lạy Người.”

Còn chúng ta… chúng ta cũng đã gặp Ngài! Vâng, có phần chắc chúng ta đã gặp Ngài. Có thể có người mới gặp Ngài hôm qua. Có thể có người mới gặp Ngài vài tháng, vài năm. Có thể có người đã gặp Ngài mười năm, hai mươi năm, thậm chí sáu, bảy, tám chục năm, v.v…

Thế nhưng, đó chưa phải là điều quan trọng. Điều quan trọng, đó là chúng ta có “sấp mình thờ lạy Ngài”, như mấy nhà chiêm tinh xưa, không? Vâng, quan trọng là việc sấp-mình-thờ-lạy-Ngài.

Không cần thiết phải đến địa danh Belem, chỉ cần đến nhà thờ vào mỗi Chúa Nhật (mỗi ngày thì càng tốt), để mà thờ lạy Ngài. Nói theo cách nói hôm nay, đó là “thờ phượng Chúa.”

Không cần thiết phải đến linh địa này, hay linh địa nọ để mà thờ phượng Chúa. Nơi cần đến, đó là ngôi nhà thờ nơi chúng ta quen gọi là giáo xứ, của chúng ta.

Hãy đến ngôi nhà thờ mỗi Chúa Nhật, gặp gỡ Đức Giê-su qua Bí Tích Thánh Thể và lắng nghe lời Ngài truyền dạy, qua phần Phụng Vụ Lời Chúa.

Xưa, mấy nhà chiêm tinh dâng tiến Hài Nhi Giê-su: vàng, nhũ hương và mộc dược. Nay, nên chăng chúng ta hãy dâng tiến Đức Giê-su “lễ vật”, đó là: “Sự sám hối và tin vào Tin Mừng”! Vâng, có phần chắc, đó là điều Ngài mong muốn.

Chúng ta đừng quên, sám hối và tin vào Tin Mừng là điều kiện tiên quyết để đươc hưởng ơn cứu độ.

Do vậy, như mấy nhà chiêm tinh xưa “(không) trở lại gặp vua Hê-rô-đê nữa”. Nay, để tỏ lòng sám hối, chúng ta đừng trở về con đường tội lỗi nữa. Đừng loanh quanh nơi casino, nơi vũ trường, nơi quán bar, nơi quán nhậu, v.v… Những nơi này, vui thì có vui đấy. Nhưng đó chỉ là những niềm vui chóng qua, nếu không muốn nói rằng: chỉ dẫn chúng ta đến thung lũng của lụi tàn và chết chóc.

Loanh quanh những nơi đó, sớm muộn gì chúng ta sẽ trở thành những con sâu rượu, nếu không muốn nói là những con nghiện, nghiện ma túy, nghiện sex, v.v… Coi chừng! tông đồ Phao-lô khuyến cáo, nghiện những thứ đó: “sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa” (x.Gl 5, …21).

Chưa hết… còn nữa. Loanh quanh những nơi đó chỉ làm cho đời ta thêm mệt mỏi. Có lẽ do có kinh nghiệm về điều này, ông Trịnh Công Sơn cũng đã thốt lên: “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”, chăng!

Rất cần có sự sám hối, bởi sám hối chính là tiền đề để chúng ta tin vào Tin Mừng. Tin vào Tin Mừng đó là chúng ta tin vào Đức Giê-su Ki-tô. Tin vào Đức Giê-su Ki-tô, đó là chúng ta đã “thấy Ngài”. Thấy Đức Giê-su rồi, có gì ngăn cản chúng ta “sấp mình thờ lạy Người”, nhỉ!

Vâng, đã qua bao “mùa sao sáng, đêm Noël Chúa sinh ra đời”, rồi. Đức Giê-su đã “trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”, rồi. Qua Bí Tích Rửa Tội, chúng ta đã được “quyền trở nên con Thiên Chúa”. Qua Bí Tích Thánh Thể, chúng ta đã “đón nhận” Ngài. Thế nên, hôm nay, bây giờ, cớ gì chúng ta không đến bên thánh giá Đức Ki-tô và “sấp mình thờ lạy Người”! Hãy sấp mình thờ lạy Chúa.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2022

Xin Mẹ dạy con hai tiếng xin vâng.

 Chúa Nhật - Lễ Đức Maria - Mẹ Thiên Chúa.

Xin Mẹ dạy con hai tiếng xin vâng

Theo lời Giáo Hội truyền dạy, Thiên Chúa ban cho Đức Maria bốn đặc ân. Và đây cũng là bốn tín điều buộc người Công Giáo phải tin. Bốn tín điều đó, thứ nhất: Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Thứ hai: Đức Maria vô nhiễm nguyên tội. Thứ ba: Đức Maria trọn đời đồng trinh. Thứ tư: Đức Maria hồn xác lên trời.

Trong bốn tín điều này, tín điều Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa được công bố sớm nhất. Đó là năm 431. “Công Ðồng Êphêsô (431) công bố rằng, Ðức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa để bảo đảm thiên tính của Ðức Kitô, lúc đó đang bị Nestoriô, Giám Mục Constantinople đả kích. Ông ta dạy rằng Ðức Kitô có hai cá thể với hai bản tính khác nhau, và Mẹ Maria chỉ là mẹ của con người Ðức Kitô mà thôi.” (nguồn: internet).

Về ba tín điều kia, Giáo Hội cũng đã ghi lại ngày, tháng, năm được công bố như sau: Tín điều Đức Maria vô nhiễm nguyện tội được ĐTC Pio IX công bố ngày 8/12/1854 rằng: “Ðức Nữ Ðồng Trinh Maria, ngay từ giây phút đầu tiên chịu thai, nhờ ơn riêng và đặc quyền của Thiên Chúa Toàn Năng, qua việc thấy trước công nghiệp của Ðức Giêsu Kitô, Ðấng Cứu Chuộc loài người, đã được gìn giữ khỏi mọi tỳ vết của Tội Nguyên Tổ.” (Ineffabilis Deus, 29).

Ðể chuẩn y Tín Ðiều này, Đức Maria đã hiện ra cùng thánh Bernadette tại Lộ Ðức vào năm 1858 và cho thánh nữ biết rằng Mẹ là “Ðấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.”

Tín điều Đức Maria trọn đời đồng trinh được Công Đồng Lateran (649) chính thức xác nhận là Tín Ðiều ở Ðiều Thứ Ba của Công Ðồng này.

Cuối cùng là tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Đó là vào ngày 1 thánh 11, năm 1950, ÐTC Piô XII đã công bố.

Khi nói về bốn tín điu này, một tác giả ký tên là Phaolô, trong bài viết tựa đề là: “Các Tín Điều về Đức Mẹ”, đã viết: “Tất cả những gì Hội Thánh muốn chúng ta tin về Ðức Mẹ đều liên quan đến niềm tin vào Ðức Giêsu Kitô và cần thiết cho phần rỗi chúng ta. Chúng ta tôn kính Mẹ Maria, không phải vì Mẹ là Thiên Chúa, nhưng vì Thiên Chúa muốn chúng ta kính trọng Mẹ như là một bình rất quý giá Chúa dùng để ban nguồn ơn cứu độ, là Ðức Giêsu Kitô, cho chúng ta.” (nguồn: internet).

Đức Maria “như là một bình quý giá Thiên Chúa dùng”. Đúng vậy, Thiên Chúa đã dùng Đức Maria để cưu mang Đức Giê-su Ki-tô, Con của Người. Thiên Chúa đã dùng Đức Maria như một người Mẹ, một người Mẹ để “sinh hạ một con trai và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”
Sự kiện này đã thật sự xảy ra. Xảy ra hơn hai ngàn năm trước đó. Và đã được ghi lại trong Tin Mừng thánh Luca.
**
Vâng, Tin Mừng thánh Luca ghi rằng: Vào thời hoàng đế Au-gut-tô. Ông hoàng này đã “ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ.” Đó là lý do “ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi.”

“Vì thuộc gia đình dòng tộc vua Đa-vít”, thế nên thánh Giu-se đã “từ thành Na-da-rét miền Ga-li-lê lên thành vua Đa-vít, miền Giu-đê”. Ngài Giu-se lên đó là để “khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Maria, lúc ấy đang có thai.”
Và rồi tại nơi này “thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trọ.”

Trong vùng ấy, “có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật”. Bất ngờ một biến cố thần hiện đã xảy ra. Sứ thần Chúa hiện đến “đứng bên họ và vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh”.

Sự hiện đến của sứ thần đã khiến “họ kinh khiếp hãi hùng”. Trong nỗi kinh khiếp hãi hùng, những người chăn chiên nghe tiếng sứ thần Chúa bảo họ, rằng: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua David. Người là Đấng Kitô Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ” (x.Lc 2, 10-12).

Khi lời sứ thần vừa dứt, “Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa, rằng: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”. (Lc 2, 13-14).

Rồi, “khi các sứ thần từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người chăn chiên bảo nhau: Nào chúng ta sang Belem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ ra cho ta biết”.

Nói là làm, “họ liền hối hả ra đi”. Những người chăn chiên đã đi đến Belem. Khi đến nơi, quả thật: “họ gặp bà Maria, ông Giu-se cùng với Hài Nhi được đặt trong máng cỏ” đúng như lời sứ thần đã loan báo cho họ.

Nhìn thấy sự thật hiển nhiên, những người chăn chiên đã không thể không “kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này”. Nghe họ nói “ai cũng ngạc nhiên”. Riêng Đức Maria, thánh sử Luca cho biết: “Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng”.

Sau những giờ phút viếng thăm, các người chăn chiên ra về. Trên đường về, họ “vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ”. (Lc 2, 20).

“Khi được đủ tám ngày”, tin mừng thánh Luca ghi lại, rằng: “Hài Nhi… đến lúc phải làm lễ cách bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su; đó là tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ.” (x.Lc 2, 21).


***
Allêluia! Allêluia! Dựa vào những lời trích thuật tin mừng Thánh Luca (nêu trên) không thể không xác tín rằng, quả thật “Thiên Chúa muốn chúng ta kính trọng Mẹ như là một bình rất quý giá Chúa dùng để ban nguồn ơn cứu độ, là Ðức Giêsu Kitô, cho chúng ta.”

Vâng, Giáo Hội hơn hai ngàn năm có lẻ, vẫn luôn “kính trọng Mẹ”. Và, hôm nay, 01/01/2023 một ngày của đầu năm mới, Giáo Hội long trọng cử hành lễ kính Đức Maria - Mẹ Thiên Chúa.

Như đã nói ở trên, đây là một trong bốn đặc ân Thiên Chúa ban cho Đức Maria. Và đây cũng là tín điều buộc người Công Giáo phải tin. Vâng, phải tin.

Phải tin là bởi “Từ thời các thánh Tông Ðồ, các Kitô hữu đã tin rằng Ðức Giêsu Kitô là Thiên Chúa Nhập Thể. Vì thế, Người là Ngôi Hai Thiên Chúa với hai bản tính. Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật.

Bản tính Thiên Chúa và loài người của Người không thể tách rời nhau được. Vì Ðức Kitô là Thiên Chúa làm người (Colossians 2:9, Galatians 1:1,14), nếu Ðức Mẹ là Mẹ Ðức Kitô, thì Ðức Mẹ cũng đúng là Mẹ Thiên Chúa.

Công Ðồng Êphêsô (năm 431) công bố rằng Ðức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa để bảo đảm thiên tính của Ðức Kitô, lúc đó đang bị Nestoriô, Giám Mục Constantinople đả kích. Ông ta dạy rằng Ðức Kitô có hai cá thể với hai bản tính khác nhau, và Mẹ Maria chỉ là mẹ của con người Ðức Kitô mà thôi.” (nguồn: https://www.giaoly.org/vn/cac-tin-dieu-ve-duc-me).

Lutherô, Calvin, và những nhà sáng lập các giáo phái Tin Lành chính thống đều đồng ý về tín điều này. Martinô Lutherô, người sáng lập đạo Tin Lành viết: “Thật là chính đáng khi gọi Mẹ không những là mẹ con người, nhưng còn là Mẹ Thiên Chúa… Chắc chắn rằng Ðức Maria là Mẹ của Thiên Chúa thật.” (source: Jaroslav Pelikan, ed., Luther’s Works, (St. Louis: Concordia), 24:107.)

Thế nên, vấn đề của chúng ta hôm nay đó là: không cần tranh cãi nữa. Điều quan trọng đó là; hãy ghi khắc trong con tim mình lời dạy dỗ, dạy dỗ rằng: “Nhưng Ðức Mẹ cũng là một tạo vật như chúng ta, và đạo Công Giáo không thờ Ðức Mẹ như một nữ thần. Chúng ta kính Ðức Mẹ vì vinh dự khôn lường của Mẹ là được Thiên Chúa chọn để cưu mang và nuôi dưỡng Ngôi Lời Nhập Thể.” (nguồn: giaoly.org).

Chúng ta không thờ Đức Maria. Chúng ta chỉ “kính” Mẹ Maria, mà thôi.

Kính Mẹ Maria như thế nào? Thưa, chúng ta biết rồi. Lần chuỗi mân côi. Kiệu Đức Mẹ. Chưa hết… còn nữa, đó là: hãy “trông lên Mẹ là gương mẫu của đời ta”.

Vâng, hãy trông lên Mẹ và hãy lấy hai chữ “xin vâng” của Mẹ “xin Chúa hãy làm cho tôi như lời sứ thần nói”, và hãy lấy sự “khiêm nhường” của Mẹ, khiêm nhường trở nên “nữ tỳ của Chúa”, xem đó như là hành trang cho cuộc sống đức tin của mình.

Hai chữ “xin vâng” của Mẹ, đã đem lại cho Mẹ điều gì chúng ta biết rồi, chẳng phải là Mẹ Thiên Chúa, đó sao! Sự khiêm nhường của Mẹ đã đem lại cho Mẹ điều gì, chẳng phải là Mẹ đã được Thiên Chúa: “Người đoái thương nhìn tới”, đó sao!

Là một Ki-tô hữu, có phần chắc ai trong chúng ta cũng đều muốn “Chúa đoái thương nhìn tới” mình, phải không, thưa quý vị! Thế nên, đừng quên học sự vâng lời và sự khiêm nhường của Mẹ, nha!

Hôm nay, về mặt xã hội, thật tình mà nói, mình không muốn nói nữa. Nói ra, sẽ có người bảo rằng: “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”. Nhưng về mặt Giáo Hội, nên nói lắm chứ!

Vâng, Giáo Hội của chúng ta đang khủng hoảng đức vâng lời. Giáo Hội Đức là một ví dụ điển hình. Mà, không có đức vâng lời lấy đâu ra đức khiêm nhường. Không có đức khiêm nhường, giáo dân đôi khi chỉ vì một chút “bức xúc” cũng có thể lôi ông cha sở (nếu không muốn nói là ngay cả Giám Mục) ra mắng mỏ lăng nhục, làm clip tung lên mạng không chút ngại ngùng. “Vụ việc” này đã xảy ra hơi bị nhiều, không tiện nêu nơi xảy ra, ở đây.

Thế nên, thưa quý ông bà và anh chị em, hôm nay, chúng ta hãy để cho tâm hồn mình một phút trong thinh lặng và tự hỏi lòng mình rằng: đức vâng lời và đức khiêm nhường đã có trong gói hành trang, hành trang cho cuộc sống đức tin của mình, chưa!

Có rồi hả! Quá tốt. Tạ ơn Chúa. Còn nếu chưa! Thà muộn còn hơn không bao giờ. Ngay hôm nay, bây giờ, hãy ngước mắt lên Thánh Mẫu Đức Maria, và hãy “nức nở” nguyện cầu với Mẹ rằng: Mẹ ơi! “xin Mẹ dạy con hai tiếng xin vâng.”

Petrus.tran

Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2022

Đấng Ki-tô – hôm nay đã sinh ra…

 

Đấng Ki-tô – hôm nay đã sinh ra…

“Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa, rằng: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”. (Lc 2, 13-14).



Chúa Nhật - Lễ Giáng Sinh

Đấng Ki-tô – hôm nay đã sinh ra…

Như chúng ta được biết, trong những ngày còn tại thế, Đức Giê-su đã tuyển chọn mười hai vị môn đệ. Phúc Âm thánh Mác-cô cho biết: “Rồi Người lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn. Và các ông đến với Người. Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người...” (x.Mc 3, 13-14).

Các môn đệ bắt đầu ở với Đức Giê-su khi nào, chúng ta không biết. Tuy nhiên, chúng ta có thể biết rằng, các ông đã ở với Đức Giê-su cho tới khi Ngài “được cất lên trời”.

Ở với Đức Giê-su, các ông biết được gia thế của Ngài. Ở với Đức Giê-su, các ông được nghe rất nhiều lời dạy dỗ của Ngài. Ở với Đức Giê-su, các ông đã nhận ra, qua những lời tuyên bố của Thầy mình, rằng Ngài chính là Con của Thiên Chúa.

Con của Thiên Chúa “(đã) đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người, mà được cứu độ.” (Ga 3, 17). Đây là một trong nhiều thông điệp Đức Giê-su công bố, người môn đệ tên là Gio-an đã nghe được thông điệp này, và đã ghi lại.

Người môn đệ này còn có lời tuyên bố rằng: Đức Giê-su “đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người là Con Một tràn đầy ân sủng và sự thật” (Ga 1, 14).

Nói đến chuyện Đức Giê-su đã-trở-nên-người-phàm, thánh sử Mát-thêu, qua câu chuyện “Truyền tin cho ông Giu-se”, đã ghi nhận rằng: “(Đức Maria) sinh một con trai, và ông (Giu-se) đặt tên con trẻ là Giê-su” (Mt 1, …25).

Con Một Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Sự kiện này cũng đã được một người môn đệ không thuộc Nhóm Mười Hai do Đức Giê-su tuyển chọn, ghi lại. Người môn đệ này chính là thánh sử Luca.

Thánh sử Luca là ai? Thưa, trong bài viết “Hình ảnh thánh sử Luca, tác giả phúc âm Chúa Giêsu” Lm. Đaminh Nguyễn Ngọc Long cho biết: “Xưa nay theo truyền thống thánh sử Luca được cho là học trò, hay người cùng đồng hành với tông đồ Phao-lô trên bước đường truyền giáo.

Thánh sử Luca viết hai tác phẩm, một về những biến cố đời Chúa Giêsu: sách phúc âm, và một về lịch sử của Giáo hội thời lúc ban đầu sau khi Chúa Giêsu Kitô trở về trời: Công vụ các tông đồ.

Thánh sử Luca viết thuật lại lịch sử đời Chúa Giêsu theo khung dạng kiểu tường thuật kể chuyện, nên thấm mầu sắc sinh động. Ông tường thuật lịch sử đời Chúa Giêsu như lịch sử cứu độ chữa lành cho con người: Chúa Giêsu mạc khải mình là Thiên Chúa mang ơn cứu độ.” (nguồn: internet).

Mà, thật vậy. Câu chuyện lịch sử đời Chúa Giê-su đã được ngài Luca kể lại rất sinh động trong một cuốn sách, cuốn sách mà hôm nay chúng ta gọi là Phúc Âm thánh Luca. Đức Giê-su đã sinh ra tại Belem. Và câu chuyện này đã được thánh sử Luca ghi lại trong sách Phúc âm của ngài với tiêu đề: “Những người chăn chiên đến viếng thăm” (Lc 2, 15-20).

**
Vâng, chuyện về “những người chăn chiên đến viếng thăm” được thánh sử Luca ghi như sau: Đó là: vào một đêm nọ. Khi những người chăn chiên “sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật”.

Bất ngờ một biến cố thần hiện đã xảy ra. Sứ thần Chúa hiện đến “đứng bên họ và vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh”. Sự hiện đến của sứ thần đã khiến “họ kinh khiếp hãi hùng”.

Trong nỗi hãi hùng, những người chăn chiên nghe tiếng sứ thần Chúa bảo họ, rằng: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua David. Người là Đấng Kitô Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ” (x.Lc 2, 10-12).

Lời sứ thần vừa dứt, “Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa, rằng: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”. (Lc 2, 13-14).

Rồi, “khi các sứ thần từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người chăn chiên bảo nhau: Nào chúng ta sang Belem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ ra cho ta biết”.

Họ đã nói như thế và họ đã “hối hả ra đi”. Những người chăn chiên đã đi đến Belem. Khi đến nơi, quả thật: “họ gặp bà Maria, ông Giu-se cùng với Hài Nhi được đặt trong máng cỏ” đúng như lời sứ thần đã loan báo cho họ.

Trước sự thật mười mươi, những người chăn chiên đã không thể không “kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này”. Và, đó là điều đã làm cho “ai cũng ngạc nhiên”. Riêng Đức Maria, thánh sử Luca cho biết: “Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng”.

Các người chăn chiên rồi cũng ra về. Trên đường về, họ “vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ”. (Lc 2, 20).

***
“Chúa đã giáng trần! Allêluia! Đến mặc xác phàm. Allêluia! Chúa đã sinh ra. Allêluia! Chúa đã sinh ra. Allêluia!” (trích nhạc phẩm: Chúa đã sinh ra. Tác giả: Lm. Thành Tâm).

Vâng. Chúa đã sinh ra hơn hai ngàn năm có lẻ. Và, hôm nay, qua trích thuật Tin Mừng thánh Luca, chúng ta có được một cuộc hành trình trở về “Belem xưa”.

Trở về Belem xưa, không phải để chiêm ngắm lại một di tích lịch sử, nhưng là để nhìn lại… nhìn lại những gì đã diễn ra vào cái đêm “lịch sử” hồi ấy. Vâng, rất cần nhìn lại những gì “mấy người chăn chiên” đã thực hiện.

Nhìn lại những gì mấy-người-chăn-chiên đã thực hiện để làm gì? Thưa, để chúng ta tự hỏi lòng mình rằng: chúng ta có “hối hả” đến Belem, như mấy vị chăn chiên đã hối hả “sang Belem”!

Chúng ta có “hối hả ra đi” đi đến Belem để gặp “bà Maria, ông Giu-se cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ”?

Vâng, về chuyện này, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đều hối hả. Hối hả làm hang đá Belem. Hối hả mua những trang thiết bị như đèn chớp, cây thông, trái châu, v.v… để trang trí hang Belem.

Hối hả cho việc thiết kế hang Belem là một truyền thống đẹp. Viếng hang Belem trong Mùa Giáng Sinh lại là việc chúng ta cần hối hả hơn nữa.

Khi viếng hang Belem, thật đẹp thay, nếu chúng ta cất tiếng ca, ca nguyện rằng: “Quỳ lạy Mẹ Maria, lòng Mẹ từ bi bao la. Tấu khúc nhạc lên xin Ơn Trên ban cho nhà (con)”.

Khi viếng hang Belem, thật đẹp thay, nếu chúng ta cất tiếng ca, ca nguyện, rằng: “Lạy Mẹ Đồng Trinh ban ơn, người Việt càng thương nhau hơn. Đất nước này đây sáng đức tin Chúa trên trời cao”.

Vâng, hơn bao giờ hết, nước Việt Nam của chúng ta, rất cần mọi người “càng thương nhau hơn”. Thật nản lòng, khi đất nước chúng ta, dù không còn cảnh chiến tranh huynh đệ tương tàn, thế nhưng, sự kỳ thị… kỳ thị giữa… giữa gì gì đó… không tiện nói ra ở đây, vẫn là “chuyện thường xảy ra ở huyện.”

Chưa hết… Còn nữa. Còn chuyện này nữa, nói ra thật đáng xấu hổ. Vâng, có đáng xấu hổ không, khi mà trong đời sống tu trì, vẫn không ít người bị kỳ thị! Về chuyện kỳ thị trong đời sống tu trì, một vị linh mục, trong một bài thuyết trình (nếu người viết nhớ không lầm, đó là Lm. Đức Thông DCCT), đã dí dỏm nói: “Thân con là thân tu sĩ, đi vào nhà dòng và mục nát với bề trên”.

Rất… rất cần mọi người càng thương nhau hơn. Vì thế, để giải quyết nan đề này, không gì tốt cho bằng chúng ta hãy thực hiện một chiến dịch, một chiến dịch “hãy yêu thương nhau”.

Nói cách khác, hãy thực hiện lời Đức Giê-su truyền dạy: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em.” (x.Ga 15, 9-17).

Phải thực hiện chiến dịch này. Và, chính chúng ta là những người lãnh ấn tiên phong. Bởi vì, khi lãnh ấn tiên phong, đó là cơ hội chúng ta làm “sáng (ngời) đức tin Chúa” trên thế gian này.

Cuối cùng, với việc hoàn thành sứ vụ lãnh ấn tiên phong cho chiến dịch hãy-yêu-thương-nhau, có thể khẳng định, đó cũng là cách, chúng ta nói với bàn dân thiên hạ rằng: Đấng Ki-tô – Hơn hai ngàn năm xa trước đó, đã sinh ra cho mọi người. Nói ngắn gọn: “Đấng Ki-tô - hôm nay đã sinh ra”.

Petrus.tran

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...