Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2023

Hãy đặt gương sáng trước mặt thiên hạ…

Hãy đặt gương sáng trước mặt thiên hạ…

“Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp của anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”

ChuaNhat05TN A

Chúa Nhật V – TN – A

Hãy đặt gương sáng trước mặt thiên hạ…

Có một câu chuyện được kể rằng: “Vào một chiều đông, tuyết rơi nặng hạt. Một người đàn ông say rượu đang lảo đảo bước đi trên tuyết. Cậu con trai mười bốn tuổi của ông sau khi ngồi chờ cha mình ngoài quán rượu cũng lẽo đẽo theo cha về nhà. Cậu ta đặt bàn chân nhỏ bé của mình lên những dấu chân hằn sâu trên tuyết mà cha cậu để lại. Những bước chân ngả nghiêng chao đảo. Bất chợt người cha quay lại, nhìn thấy con mình bước thấp bước cao, dáng vẻ như người say rượu, ông gắt gỏng hỏi nó với giọng lè nhè: Mày đi kiểu gì vậy? Cậu bé trả lời: Dạ con đi theo bước chân của cha!” (nguồn: internet).

Nghe qua câu chuyện này, chắc hẳn, không ai trong chúng ta lại không cất lên một tiếng thở dài. Vâng, sẽ có người thở dài và thầm nói: “Ôi trời! sao cha nội này lại bày ra trước mắt đứa con mình một tấm gương xấu tệ!”

“Nêu gương” hay nói cách khác “làm gương”, (tất nhiên là gương tốt), chính là tiền đề giúp xây dựng Giáo Hội, gia đình, xã hội… ngày một tốt đẹp hơn. Giáo Hội, gia đình, xã hội sẽ thảm hại, tan vỡ nếu gương xấu cứ bị phơi bày ra.

Chúng ta có thể huyên thuyên giảng dạy trong hàng giờ đồng hồ, song sẽ chẳng ai nhớ được điều gì. Thế nhưng, chỉ cần một lần làm gương sáng, chúng ta có thể để lại những ấn tượng sâu đậm khó quên, trong lòng người.

Nêu gương hay làm gương, cũng chính là đề tài được Đức Giê-su truyền dạy cho các môn đệ của mình, trong những ngày Ngài còn tại thế.

**
Hồi ấy, với những hình ảnh rất đời thường, Đức Giê-su truyền dạy các môn đệ rằng: “Chính anh em là muối cho đời…”
Vâng, không phải là đường, là bột ngọt, là bột nêm “knorr” v.v… nhưng phải là muối. Phải-là-muối là bởi, muối có một ý nghĩa rất đặc biệt. Về phương diện đời thường, muối là thứ không thể thiếu trong cuộc sống con người. Lời người xưa đã chẳng dạy rằng: “Cá không ăn muối cá ươn”, đó sao!

Chưa hết… những người huyết áp cao thường được bác sĩ khuyên kiêng ăn mặn, nhất là muối. Do vậy, vì kiêng ăn trong một thời gian khá lâu, cuối cùng họ không còn sức đi đứng nữa.

Ngoài tác dụng bảo toàn và làm tăng thêm vị ngon trong các món ăn, muối đối với người Do Thái, còn có biểu tượng với công hiệu sát trùng, thanh tẩy và luyện lọc (2V 2, 19-22).

Pliny có nói thêm rằng: “Không có muối nhân loại không thể duy trì sự sống”. Mà, thật vậy. Xem bộ phim “The Price of Salt - Cuộc chiến giá muối”, chúng ta được biết, rất nhiều đàn bò chết vì thiếu muối ăn, chỉ vì cung không đủ cầu. Và đó là lý do khiến cho nhiều chủ nông trại lo sốt vó.

Trở lại với lời truyền dạy của Đức Giê-su. Hôm ấy, Ngài nói tiếp, rằng: “Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối cho nó mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp.” (x.Mt 5, 13).

Lời truyền dạy của Đức Giê-su với các môn đệ, ngày xưa, là như thế đó. Tất nhiên, cũng là lời truyền dạy cho chúng ta, hôm nay. Do vậy, chúng ta “phải là muối cho đời”.

Nhân cách hóa cho lời truyền dạy này, chúng ta sẽ nhận ra rằng: Đức Giê-su muốn nói đến một đặc ân, một đặc ân dành cho những ai tin và đi theo Ngài. Tin và đi theo Ngài, họ sẽ từ một kẻ tội lỗi vô dụng “chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp”, và nay khi trở thành Con Thiên Chúa, họ sẽ là một người con hữu dụng, cho đời.

Vâng, tất nhiên sẽ rất hữu dụng, khi cuộc đời “nhạt” đi tình yêu thương, người môn đệ của Chúa phải biết “muối mặn lại” tình yêu thương bằng sự bác ái và lòng nhân hậu. Khi một ai đó “nhạt” đi sự bình an, người môn đệ của Đức Giê-su phải biết “muối mặn lại” sự bình an cho người đó, qua việc “tìm an ủi” họ.

***
Hôm ấy, để làm rõ hơn cho lời truyền dạy, Đức Giê-su tiếp lời rằng: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.” Rất chi tiết khi Ngài nói thêm rằng: “Một thành xây trên núi không thể nào che dấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà.”

Quan trọng… quan trọng là ở chỗ đó. Và, đó là lý do Đức Giê-su thêm lời truyền dạy. Ngài thêm lời dạy rằng: “Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp của anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”

Xưa, Đức Giê-su đã dạy: anh-em-phải là ánh-sáng-cho-trần-gian-chiếu-giãi-trước-mặt-thiên-hạ. Và, chúng ta là những người phải thực hiện điều này, hôm nay.

Chúng ta hãy nhìn, nhìn vào xã hội hôm nay, chẳng phải đó là một xã hội đang chìm trong “bóng tối”? Chẳng phải là bóng tối của dối trá, bóng tối của hận thù, bóng tối của bất hòa, bóng tối của ghen tuông, bóng tối của tranh chấp, của chia rẽ, của bè phái, của say sưa chè chén v.v... đang phủ lấp cả thế giới hôm nay, đó sao?

Chúng ta phải làm gì? Phải chăng là cứ ngồi đó mà “nguyền rủa bóng tối”? Thưa, điều tốt nhất, đó là chúng ta hãy thắp lên một “ngọn nến”, ngọn nến bác ái, ngọn nến nhẫn nhục, ngọn nến từ tâm, ngọn nến trung tín, ngọn nến hiền hoà, ngọn nến tiết độ?

Vâng, chỉ cần thắp lên một trong những ngọn nến nêu trên, điều đó chứng tỏ chúng ta đã trở nên “ánh sáng cho trần gian”.

Một điều chúng ta cần lưu ý, đó là hãy ghi khắc trong con tim mình, lời thánh Phao-lô khuyến cáo tín hữu thành Corinto: “Mọi sự đều có phép làm nhưng chẳng phải mọi sự đều có ích; mọi sự đều có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều làm gương tốt.” (x.1Cor 10, 23).

Đúng. Chẳng-phải-mọi-sự-đều-làm-gương-tốt. Chẳng phải cho phép phá thai là giảm thiểu nạn nhân mãn. v.v… và v.v…

Để có thể mọi-sự-đều-là-gương-tốt, để có thể mọi-việc-làm-đều-là-nêu-gương-tốt, tốt nhất, đó là hãy lắng nghe Lời Chúa. Để có thể là-muối-cho-đời, để có thể là ánh-sáng-cho-trần-gian, không gì tốt hơn, đó là: hãy thực thi lời Chúa truyền dạy.

Lời xưa Chúa dạy: “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch”. Nay, nếu chúng ta nghe và thực thi qua việc không xem và phổ biến phim “trư bát giới”, đó chẳng phải là chúng ta đã “nêu gương tốt” cho con em mình, đó sao!

Thánh Giu-se, nói không sợ sai, ngài chính là mẫu mực về việc lắng nghe và thực thi lời Chúa. Và, đó là lý do, chúng ta hãy theo gương ngài.

Đừng… đừng theo gương “ông cố nội” trong câu chuyện kể phần “mở bài”. Trong câu chuyện kể trên, đứa bé “đi theo bước chân của cha”, là còn may đấy! Nó, theo gương cha “nhậu say như cha” thì có mà khốn khổ.

Vâng, tại Việt Nam, nhất là ở nông thôn, đó là “chuyện thường xảy ra ở huyện”. Không! chuyện này người viết không nói xạo đâu. Ở xóm mình, có một ông hàng xóm, ngày nào cũng tụ tập bạn bè nhậu. Đứa con trai của ông ta, khoảng tám tuổi, ngày nào cũng chứng kiến. Thế là nó bắt chước cha nó.

Một hôm, nó rủ thêm vài đứa bạn về nhà. Bốn chú nhóc ngồi vây quanh cái bàn nhỏ. Bốn cái chum thường để cúng ông thổ địa và một bình rượu được bày ra. Chỉ khác cha nó một chút, rượu không phải là rượu mà là nước trà. Chúng nó gọi đây là “rượu ngâm chuối hột”.

Chúng nó rót mỗi đứa một chum, rồi cùng nhau cụng ly uống. Uống xong, chúng nó còn “khà” một tiếng, giống y chang cha nó. Chưa hết, chúng nó còn hát vang: “lâu.. lâu… lâu… ta uống rượu một lần”, thế mới ghê chứ!

Có lẽ không ai trong chúng ta muốn cảnh tượng này xảy xa trong gia đình mình. Và, có lẽ không ai trong chúng ta lại không muốn như thánh Giu-se “nêu gương cho tất cả gia đình”, trong đó có gia đình chúng ta.

Nếu… nếu chúng ta muốn như vậy, nói theo cách nói của Đức Giê-su, đó là: “mọi sự đều có thể.” Vâng, mọi sự đều có thể, khi gương sáng của chúng ta phải được “đặt trên đế”. Nói cách khác: Hãy đặt gương sáng của mình trước mặt thiên hạ.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2023

Hãy khát khao nên người công chính

 “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.”



Chúa Nhật IV - TN – A

Hãy khát khao nên người công chính

“Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi. Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi. Người thương gia lợi tức. Người công nhân ấm no. Thoát ly đời gian lao nghèo khó. Á a a a. Nhấp chén đầy vơi. Chúc người người vui. Á a a a. Muôn lòng xao xuyến duyên đời.

… Nhấc cao ly này. Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do. Nước non thanh bình. Muôn người hạnh phúc chan hoà. Ước mơ hạnh phúc nơi nơi. Hương thanh bình dâng phơi phới.”

Những dòng chữ trên đây được trích đoạn trong bản nhạc “Ly rượu mùng” tác giả: Phạm Đình Chương. Vâng, chắc hẳn không ai trong chúng ta lại không hơn một lần nghe (hoặc cất tiếng hát) bản nhạc này. Nhất là mỗi khi xuân đến.

Xuân đến, có ai lại không “nâng chén”! Tết đến, có ai lại không “nhấp chén đầy vơi, chúc người người vui”! Mừng năm mới, có ai lại không “ước mơ hạnh phúc nơi nơi - muôn người hạnh phúc chan hòa”!

Chúng ta có rất nhiều ước mơ. Và, chúng ta gửi cho nhau muôn vàn lời chúc phúc. Chúng ta ước mơ một năm mới “an khang thịnh vượng” Chúng ta chúc nhau một năm mới “phát tài phát lộc, hạnh phúc tràn đầy, vạn sự như ý”, v.v…

Nhưng than ôi! như người ta thường nói: “Ba ngày xuân, bốn ngày xẹp”. Mà thật vậy, sau vài ngày xuân, những lời chúc phúc đó “xẹp” như một trái bong bóng hết hơi, nó tuột khỏi tầm tay của ta như bánh xà phòng trơn ướt.

Tại sao? Thưa, vì những lời chúc nêu trên chỉ có giá trị tương đối. Bởi, như có người nói: “Hạnh phúc như một con bướm vậy. Khi bạn càng rượt đuổi thì nó càng bay xa hơn.” Hoặc: “Hạnh phúc là cái gì đó thật mơ hồ khiến ta buộc phải mơ ước.”
 
Xuân đi… mọi người, có thể nói như thế, lại quay về với thực tại của cuộc sống, một thực tại với những lo toan, với những bất an, với những băn khoăn và trắc trở v.v…

Vâng, thật buồn… thật buồn vì hạnh phúc quá mong manh…

**
Đức Giê-su, khi còn tại thế, Ngài đã vạch ra một lộ trình, một lộ trình cho những ai muốn tìm cho mình niềm hạnh phúc đích thực, vĩnh cửu.

Lộ trình đó khởi đầu bằng việc: Hãy “có tâm hồn nghèo khó”. Và, tiếp theo sau, đó là: Hãy sống “hiền lành”. Đừng sợ “sầu khổ”. Hãy “khao khát nên người công chính”. Phải biết “xót thương người”. Hãy “có tâm hồn trong sạch”. Hãy là một con người biết nỗ lực “xây dựng hòa bình”. Và, cuối cùng là đừng sợ “bị bách hại vì sống công chính”.

Hồi ấy, trên một ngọn núi cao, gần bên là những người môn đệ vây quanh mình, Đức Giê-su đã công bố những điều như thế đấy. Và Ngài đã có lời chúc phúc, rằng: “Phúc thay ai… Phúc thay ai… Phúc thay ai… Phúc thay anh em…”

“Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.”

Đấy! Hạnh phúc dành cho những ai đi theo lộ trình Đức Giê-su vạch ra, là như thế đấy. Đó là: “Nước Trời là của họ. Họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. Họ sẽ được Thiên Chúa ủi an. Họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng. Họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.”

Và đây… đây chính là điều “hạnh phúc” nhất, đó là “Họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa (và) Họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa”. (x.Mt 5, 1-12).

Với những cái “được” như thế, tại sao chúng ta không “vui mừng hớn hở” về những lời chúc phúc của Đức Giê-su? Tại sao không, nhỉ!

Thế nên, đừng… đừng xem những lời chúc nêu trên là những lời chúc ngộ nghĩnh. Hãy “ngộ ra” rằng, lộ trình đi tìm hạnh phúc vĩnh cu là một lộ trình đầy chông gai. Và, để đạt được tới đích, đừng ngại rằng mình rồi sẽ như “các ngôn sứ là những người đi trước… cũng bị người ta bách hại như thế.” (x.Mt 5, …12).

***
Những điều Đức Giê-su chúc phúc năm xưa, hôm nay chúng ta gọi là “bát phúc – tám mối phúc thật.” Tám mối phúc thật không phải là “Mười Điều Răn”, cũng chẳng phải là những lời khuyên răn.

Đó chỉ là những lời công bố. Nhưng, những lời công bố này có giá trị như một “chiếc xe” một chiếc xe chở chúng ta về Nước Trời. Đó là sự thật, sự thật Đức Giê-su đã công bố: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ”.

Thiên Chúa không cấm ta làm giàu, vì giàu cũng là ơn phước Chúa ban, như Người đã ban cho các tổ phụ Apraham, Isaac và Giacop. Thế nhưng, khi ta sống với một “tâm hồn nghèo khó”, đó là ta đã “sống theo Giê-su”, sống nghèo khó như Ngài, như Ngài đã sinh ra “trong máng cỏ” và sau đó là một cuộc sống nghèo khó tại Nadarét.

Sống, với một “tâm hồn nghèo khó”, chúng ta sẽ nhận ra: tiền bạc, quyền lực, danh vọng chỉ là những thứ phù phiếm, nay có mai mất. Sống, với một “tâm hồn nghèo khó”, chúng ta sẽ nhận ra: “được cả thế gian mà mất linh hồn thì ích gì.”

Tấm gương thánh Phan-xi-cô Assisi, còn đó. Tuy là một người giàu có, nhưng ngài đã dám từ bỏ tất cả, sống suốt cả một đời người với một “tâm hồn nghèo khó”.

Rồi khi chúng ta biết “xót thương người”! Vâng, đó là chúng ta “học theo Giê-su”, một Giê-su luôn chạnh lòng thương xót đối với ai chạy đến cầu xin mình.

Thưa quý vị, gặp một người hàng xóm nghèo, là một Ki-tô hữu, lẽ nào ta không xót-thương-họ! Chẳng lẽ ta không “cho kẻ đói ăn” sao!

Vâng, các vị linh mục, khi chia sẻ về “tám mối phúc thật”, hầu như các vị đó đều có chung một lời khuyên, khuyên rằng: chỉ cần thực hiện một trong tám phúc nêu trên, cũng đủ nên thánh rồi.

Một trong tám phúc mà các vị linh mục thường khuyên giáo dân của mình thực hiện, đó là: “(hãy) khát khao nên người công chính”.

Quả… quả là một lời khuyên rất thực tế, một thực tế của một đất nước, của một xã hội, mà chúng ta đang sống, hôm nay. Đâu đâu chúng ta cũng phải đối diện với sự bất chính. Từ nơi học đường, ngoài xã hội, nơi công sở, (nếu không muốn nói là ngay cả trong giáo hội), kẻ bất chính tràn lan. Tại nơi được gọi là “nhà thương”, nhưng hỡi ơi! để tìm một người biết “xót thương người” thật không dễ dàng.

Vâng, chúng ta hãy-khát-khao-nên-người-công-chính. Rất cần có nhiều người sống-công-chính. Nếu không có, coi chừng chúng ta sẽ chung số phận với dân thành Sodoma, khi xưa.

Thành Sodoma xưa bị tiêu diệt vì “tội lỗi chúng nặng nề” (x.St 18, 20)Nếu trong thành đó có “năm mươi người lành”, Thiên Chúa “sẽ dung thứ cho thành đó”. Giả như mười người! Thưa, “Thiên Chúa sẽ không phá hủy thành đó”.

Chỉ cần mười người “làm lành lánh dữ”, một tiêu chuẩn đã được Kinh Thánh gọi là sống-công-chính. Tiếc thay! Sodoma không có.

Nhắc lại câu chuyện này làm gì? Thưa, để chúng ta tự hỏi: tôi có là một trong số mười người… mười-người-công-chính, hôm nay?

Hôm nay, thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng, rất cần nhiều nhiều người, nên-người-công-chính. Bởi vì, “miệng người công chính niệm lẽ khôn ngoan và lưỡi họ nói lên điều chính trực. Luật Thiên Chúa, họ ghi tạc vào lòng, bước chân đi không hề lảo đảo.” (x.Tv 37, 30-31).

Sống… ở một nơi mọi người đều nói-lên-điều-chính-trực, luật-Thiên-Chúa, mọi người đều ghi-tạc-trong-lòng… chẳng phải là một nơi “đáng sống”, sao!

Vì thế, ngay hôm nay - bây giờ, cái bây giờ của một năm mới. Khi mà con người lần lượt “tiến về tuổi già”, khi mà chúng ta trong niềm tin “tiến về Trời Mới Đất Mới”, khi mà mọi người có những lời chúc loạn xạ, chúng ta hãy gửi đến nhau lời chúc mà Đức Giê-su đã chúc năm xưa, chúc rằng: “Phúc thay ai khát khao nên người công chính!”

Vâng, chúng ta hãy-khát-khao-nên-người-công-chính.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2023

Hãy theo Ta, mau hỡi con, hãy theo Ta…

 Chúa Nhật III – TN – A

Hãy theo Ta, mau hỡi con, hãy theo Ta…

Đức Giê-su, sau ba mươi năm sống tại làng quê Na-da-rét, Ngài bắt đầu ra đi rao giảng Tin Mừng. Và để cho công cuộc rao giảng Tin Mừng được loan báo “khắp tứ phương thiên hạ… đến tận cùng trái đất”, Đức Giê-su đã tuyển chọn mười hai vị môn đồ.

Cuộc tuyển chọn mười hai vị môn đồ được bắt đầu tại Ga-li-lê. Tại đây, đã có bốn người… bốn người được tuyển chọn. Theo thánh sử Gio-an ghi lại, thì: hai trong bốn vị này là những người đã được nghe ông Gio-an (Tẩy Giả) giới thiệu Đức Giê-su là “Chiên Thiên Chúa”. Vào hôm được nghe giới thiệu về Đức Giê-su, hai vị này đã “đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy.”

Chưa hết, một trong hai vị này là ông An-rê, anh ông Si-mon Phê-rô, gặp em mình là ông Si-mon và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a nghĩa là Đấng Ki-tô. Rồi ông (An-rê) dẫn em mình đến gặp Đức Giê-su.” Hôm ấy, Đức Giê-su “nhìn ông Si-mon và nói: Anh là Si-mon, con ông Gio-an, anh sẽ được gọi là Kê-pha (tức là Phê-rô)”.

Còn theo thánh sử Mát-thêu! Vâng, ngài Mát-thêu cũng đã ghi lại cuộc tuyển chọn của Đức Giê-su với bốn vị môn đệ này. Câu chuyện được ghi lại như sau: một ngày nọ, “khi Đức Giê-su đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai người anh em kia, là ông Si-mon, cũng gọi là Phê-rô và người anh là ông An-rê.” Hai anh em “đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá.” (x.Mt 4, 18).

Thưa bạn, bạn có bao giờ nhìn thấy hình ảnh người ngư phủ quăng chài xuống biển? Rất đẹp, đó là vẻ đẹp của cơ bắp, của sức mạnh, của sự cần cù, của sự nhẫn nại, nơi người ngư phủ.

Hôm đó, như đã nói ở trên, Đức Giê-su “thấy” hai chàng ngư phủ Phê-rô và An-rê. Thế nhưng, Ngài không “nhìn” hai chàng ngư phủ với đôi mắt của phàm nhân, mà là với nhãn giới của một Đấng Cứu Thế.

Vâng, với nhãn giới của Đấng “đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ (Ngài), mà được cứu độ”, hôm ấy, sự cần mẫn của hai chàng ngư phủ trước công việc liên quan đến cuộc sống thuộc thể đã làm cho Đức Giê-su liên tưởng đến công việc liên quan đến cuộc sống thuộc linh. Và, thế là một lời mời gọi đã được Ngài gửi đến hai ông: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.” Nghe thế, hai chàng ngư phủ: “Lập tức… bỏ chài lưới mà đi theo Người”.

Chưa dừng ở đây, “Đi một quãng nữa, (Đức Giê-su) thấy hai anh em con ông Dê-bê-đê, là Gia-cô-bê và người em là Gio-an.” Hai người này không quăng chài, nhưng họ đã cùng người cha của mình “là ông Dê-bê-đê vá lưới ở trong thuyền”. Và, lời mời gọi của Đức Giê-su cũng được gửi tới hai vị này. Cũng như hai vị môn đệ nêu trên, hai vị này: “Lập tức… bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người”.

**
Vâng, chỉ một lời mời gọi giản dị: “Các anh hãy theo tôi…” với một lời hứa lạ kỳ: “… tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”, bốn chàng “ngư phủ Biển Hồ” đã đi theo Đức Giê-su.

Tại sao bốn chàng ngư phủ này lại đi theo Đức Giê-su một cách nhanh chóng như thế? Thưa, như đã nói ở trên, do bởi quý ông ngư phủ này đã “đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người...” Ở lại với Đức Giê-su và họ đã nhận biết “Người là Đấng Messia.” Một Đấng Messia, mà ngôn sứ Isaia đã có lời loan báo: “Người sẽ làm vẻ vang cho con đường ra biển, miền bên kia sông Gio-dan, vùng đất của dân ngoại… ban chứa chan niềm hoan hỷ… tăng thêm nỗi vui mừng” (x.Is 9, 3).

Mà, thật là vậy. Theo lời ghi lại của thánh sử Mat-thêu. Đức Giê-su đã làm-vẻ-vang “khắp miền Ga-li-lê” qua việc “chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân”. Và, “Dân chúng… từ miền Ga-li-lê, vùng Thập Tỉnh, thành Giê-ru-sa-lem, miền Giu-đê và vùng bên kia sông Gio-dan”, đã biểu lộ nỗi-vui-mừng khi họ “lũ lượt kéo đến đi theo Người” (x.Mt 4, 25).

Nhận định cho việc “lập tức đi theo” Đức Giê-su của bốn vị môn đệ: Phê-rô và An-rê – Gia-cô-bê và Gio-an, Lm. Charles E.Miller có lời chia sẻ: “Các ông thấy một điều gì đó nơi Đức Giê-su mà (từ trước tới nay) các ông chưa từng chứng kiến. Ánh sáng đức tin giúp những con người này bắt đầu thấy Đức Giê-su thật sự là Ai: Người là Con Thiên Chúa.”

Đúng. Đức Giê-su - Người là Con (Chiên) Thiên Chúa, điều mà các ông đã được thầy của mình là ông Gio-an (Tẩy Giả), chứng thực rằng “Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.” Và, đó là lý do: Phê-rô và An-rê – Gia-cô-bê và Gio-an “bỏ chài lưới, bỏ thuyền, bỏ cha lại” tận hiến đời mình cho Thầy Giê-su.

***
Xưa, Đức Giê-su đã kêu gọi Mười Hai vị môn đệ. Và, câu chuyện kể trên, là câu chuyện Ngài kêu gọi bốn vị môn đệ đầu tiên.

Nay, Đức Giê-su có tiếp tục kêu gọi như xưa Ngài đã kêu gọi? Thưa, vẫn tiếp tục kêu gọi. Và, chúng ta là những người Ngài kêu gọi.

Hôm nay, Đức Giê-su cũng gọi đích danh mỗi chúng ta, như xưa Ngài đã gọi đích danh Mười Hai vị môn đệ. Hôm nay, khi chúng ta chịu phép Rửa Tội, Lm. Charles E. Miller chia sẻ: “Người phán qua vị linh mục chủ sự, rằng: Hồng hoặc Hoa. Lan hay Điệp (bất luận tên chúng ta là gì), Cha rửa con nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.”

Vâng, Cha-rửa-con và con-là-con-Cha. Lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội chúng ta được gọi là Con của Chúa. Đã là Con của Chúa thì hãy theo Chúa. Đã là Con của Chúa thì đừng theo Satan và con cái của nó. Đó là điều chúng ta cần ghi khắc trong con tim mình.

Nói cụ thể hơn. Đã là con Chúa thì hãy nghe và thực thi ý Chúa. Nghe và thực thi ý Chúa, có như thế, chúng ta mới được xem là đã đi theo Chúa một cách trọn vẹn. Về điều này, một lần nọ, Đức Giê-su có lời khuyến cáo: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa! Lạy Chúa! Là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi”.

“Chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi”, nhớ nha!
 
Thế nên, đã là con Chúa thì đừng nghe và thực thi ý Satan và bè lũ con cái nó. Nghe và thực thi thì hỏng… hỏng bét.

Điều răn thứ nhất, Chúa dạy: “Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến người trên hết mọi sự.” Thế nên, hãy quên đi chuyện cầu cơ, bói toán nhé! Gặp nan đề gì khó xử, hãy đến với Chúa. Mẹ Maria còn đó… hãy đến với Mẹ.

Điều răn thứ năm, Chúa dạy: “Chớ giết người.” Thế nên, chớ có bất cứ vì lý do gì chúng ta ủng hộ sự phá thai. Người nào ủng hộ phá thai… Người nào đặt bút ký sắc lệnh cho phép phá thai, người đó đã không nghe và không thực thi ý Chúa.

Đừng quên Đức Giê-su đã có lời nhắc nhở: “Không ai có thể làm tôi hai chủ: vì hoặc nó sẽ ghét người này, và yêu mến người kia, hoặc nó chuộng chủ này, và khinh chủ nọ.” Chúng ta không thể vừa đi theo Chúa vừa đi theo Satan.

Trở lại với bốn vị môn đệ. Vâng, khi theo Đức Giê-su, họ đã bỏ hết mọi sự. Nay, Chúa Giê-su cũng muốn chúng ta bỏ-hết-mọi-sự, thế nhưng đừng nghĩ rằng, “bỏ hết mọi sự” đồng nghĩa với việc ta phải bỏ sự nghiệp, bỏ gia đình, bỏ thân bằng quyến thuộc để đi theo Chúa, như các ông Simon, Anrê, Giacôbê và Gioan đã thực hiện, năm xưa.

“Bỏ hết mọi sự”… vâng, đó là chúng ta dám sống một cuộc sống hy sinh, ngay cả bản thân của mình, cho chân lý mà chúng ta tin theo. “Bỏ hết mọi sự”, đó là chúng ta dám sống một đời sống phục vụ, cho một lý tưởng, mà chúng ta đã chọn lựa. “Bỏ hết mọi sự”, chính là bỏ “cái tôi” của mình, cái tôi của ích kỷ, của nóng giận, của bất hòa, của ghen tuông, của ganh tỵ, của tranh chấp, của bè phái v.v...

Chúa đã gọi chúng ta. Chúng ta có đáp lời mời gọi! Đừng quên, trước khi chúng ta trả lời, Đức Giê-su đã có câu trả lời cho chúng ta.

Vâng, một ngày nọ khi tông đồ Phê-rô hỏi Đức Giê-su rằng: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ hết mọi sự và theo Thầy!...” Ông Phê-rô mới nói thế thôi, Đức Giê-su trả lời sao nhỉ! Thưa, Ngài phán rằng: “Thầy bảo thật anh em: Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau” (x.Mc 10, 28-30).

Câu trả lời của Đức Giê-su là thế. Và, Ngài cho chúng ta lựa chọn “yes or no”. Đúng, quyền lựa chọn là của mỗi chúng ta.

Sao! chọn “no” sao! Chớ… chớ có dại chọn như thế. Chọn như thế, vào ngày sau hết, ngày Đức Giê-su sẽ trở lại trong vinh quang. Ngày mà mọi đầu gối trên mặt đất này sẽ phải quỳ, mọi môi miệng sẽ phải thốt lên rằng: Ngài là Đấng Ki-tô. Vào ngày vinh quang đó, Chúa Giê-su sẽ nói với những ai đã “no” với Ngài, rằng: “đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó.”

Sự khôn ngoan mà chúng ta cần thực hiện, hôm nay, đó là chọn “yes”. Chọn “yes” vào ngày sau hết, Chúa Giê-su sẽ nói với chúng ta, rằng: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa.”

Tất cả rất rõ ràng. Chúa Giê-su hôm qua, hôm nay và mãi mãi, vẫn cất tiếng mời gọi chúng ta: “Này (con) lặng nghe Giê-su phán tuyên. Hãy theo Ta mau hỡi con, hãy theo Ta. Lời đây trọn đêm ngày luôn nhắc khuyên. Hãy theo Ta mau hỡi con, hãy theo Ta. Ta nếm mùi cay đắng thay con rồi, chuộc con Ta đã chết cách nhục nhã. Đau khổ vì con trả xong nợ tội. Hãy theo Ta mau hỡi con, hãy theo Ta.

Này con mọi lo buồn đem đến đây. Hãy theo Ta mau hỡi con, hãy theo Ta. Đời con nặng chăng nhờ Ta gánh thay. Hãy theo Ta mau hỡi con, hãy theo Ta. Con chớ sợ chi hãy nương ngực này, dựa Ta trong cõi tương lai vui thỏa. Nước mắt rồi Ta sẽ lau khô ngay. Hãy theo Ta mau hỡi con, hãy theo Ta. (Hãy theo Ta – Thánh ca cổ điển).

Vâng, đừng chần chờ gì nữa, hãy mở lòng ra, đón nhận lời mời gọi của Chúa Giê-su: “Hãy theo Ta, mau hỡi con, hãy theo Ta”

Petrus.tran

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...