Chủ Nhật, 7 tháng 5, 2023

Chúa đi đâu, chúng con biết đường rồi

 Vâng, hôm ấy trong khung cảnh bữa Tiệc ly. Đức Giê-su nói với các môn đệ, rằng: “Anh em đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”.

Chúa Nhật V - PS - A 
Chúa đi đâu, chúng con biết đường rồi

tbd 060523a


Trong những ngày còn tại thế, một ngày nọ, khi Đức Giê-su cùng với các môn đệ “đi tới các làng xã vùng Cesara Philipphe”, Ngài đã hỏi các ông rằng: “Người ta bảo Thầy là ai?” Các ông đáp lại rằng: “Họ bảo Thầy là ông Gioan Tẩy Giả, có kẻ thì bảo là ông Êlia, kẻ khác lại cho là một ngôn sứ nào đó”. Nghe thế, Người lại hỏi các ông: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Ông Phêrô trả lời: “Thầy là Ðấng Kitô”.

Thầy là Đấng Ki-tô. Đúng, nhưng đó không phải là điều Đức Giê-su muốn công bố cho mọi người biết. Hôm đó, “Đức Giê-su liền cấm ngặt các ông không được nói với ai về Người.”

Không-được-nói-với-ai-về-Người là bởi, không ai có thể nói chính xác về mình hơn là chính mình nói. Vì thế, Đức Giê-su đã có nhiều lần công bố “Ngài là ai”. Chỉ tiếc rằng, những gì Ngài công bố về chính mình, người nghe, nhất là nhóm kinh sư và những người Pha-ri-sêu lại “dán nhãn” cho Ngài là “kẻ lộng ngôn”.

Đức Giê-su đã nói gì mà những kẻ đối nghịch Ngài lại tuyên bố rằng Ngài là kẻ lộng ngôn! Thưa, chỉ là hai chữ “Ta là…”

Chỉ là hai chữ “Ta là”, thế nhưng, khi được kết hợp với cách nói “ẩn dụ”, thì chẳng có gì là lộng ngôn cả. Trái lại, nó làm nổi bật lên mối liên quan về tình yêu thương, lòng thương xót, và hơn hết đó là sự cứu độ của Đức Giê-su đối với thế gian này. 

Bảy lần Đức Giê-su đã nói “TA LÀ”. “Ta là bánh hằng sống. Ta là sự sáng của thế gian. Ta là cửa của chiên. Ta là người chăn chiên tốt lành. Ta là sự sống lại và là sự sống. Ta là đường, là sự thật và là sự sống. Ta là cây nho thật.”

Nếu đi vào chi tiết về những lời giảng dạy tiếp theo sau những lời công bố nêu trên, chúng ta sẽ nhận ra, Ngài quả thật là hiện thân về một “Thiên Chúa là tình yêu”.

Thì đây, khi công bố: “Ta là bánh hằng sống, là bánh ban xuống bởi trời. Ta là bánh trường sinh, ai ăn sẽ sống muôn đời. Đây Mình Ta chính là của ăn, và Máu Ta thật là của uống. Người ăn bánh này không còn đói khát chi, người uống máu này sẽ được trường sinh”, chẳng phải là Đức Giê-su xác thực rằng: “(Ngài) đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ (Ngài) mà được cứu độ”, đó sao!

Nổi bật nhất, đó là vào đêm cuối cùng, trước khi bị phản bội bởi Giuda Iscaroit, để rồi là cái chết trên thập giá tại Golgotha, cũng chỉ là hai chữ “Ta là”, Đức Giê-su đã phá tan màn đêm u tối đang bao phủ lên tâm hồn các người môn đệ của mình. Ngài nói: “Ta là đường, là sự thật, và là sự sống.”

Vâng, hôm ấy trong khung cảnh bữa Tiệc ly. Đức Giê-su nói với các môn đệ, rằng: “Anh em đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”.

“Xao xuyến”… Đó, đó là điều không ai lại không hơn một lần đối mặt. Mà thật là vậy. Trước việc một người thân yêu “ra đi”, có ai trong chúng ta lại không nghẹn ngào xao xuyến: “Người đi, một nửa hồn tôi mất. Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.”

Hôm ấy, các người môn đệ của Đức Giê-su xao xuyến. Xao xuyến về việc Đức Giê-su đã loan báo, rằng: “Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm Thầy; nhưng như Thầy đã nói với người Do Thái: ‘Nơi tôi đi, các người không thể đến được’, bây giờ, Thầy cũng nói với anh em như vậy.”

Nếu Hàn Mặc Tử khi đối diện cảnh “người đi” đã khiến cho ông “dại khờ”, thì đối với các môn đệ, các ông lại tỉnh táo hơn, tỉnh táo hơn với những câu hỏi rất thiết thực.

Vâng, ông Si-môn Phê-rô hỏi rằng: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu vậy?” Và, Đức Giê-su đã trả lời rằng: “Nơi Thầy đi, bây giờ anh không thể theo đến được.” Không-thể-theo-đến-được, nhưng Đức Giê-su không dấu diếm các ông, điều Ngài sẽ làm cho các ông.

Hôm ấy, Đức Giê-su đã thổ lộ với các ông rằng: “Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về lại với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.”

Các môn đệ có thấu hiểu lời Thầy Giê-su! Vâng, không thấy thánh sử Gio-an nói gì. Chỉ thấy ông Tô-ma lúng túng hỏi Đức Giê-su: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao biết được đường”!

Đức Giê-su xua tan những lo lắng và bối rối của các ông qua những lời đàm đạo chân tình. Ngài đã nói rõ nơi các ông sẽ đến, Ngài còn vẽ ra một “sinh lộ”, một “con đường” cho các ông đi: “Chính Thầy là con đường, là sự thật, và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người.”

Ông Philipphe, bây giờ là tới lượt ông thắc mắc: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” Không nản chí trước những yêu cầu của môn đệ mình, Đức Giê-su có lời giải thích: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philipphe, anh chưa biết Thầy ư? “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha… Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao?” (Ga 14, 9-10).

Có thể nói, câu trả lời của Đức Giêsu như một “gạnh nối” nối kết “Trời và Đất”. Nó đã phá vỡ sự ngăn cách giữa con người và Thiên Chúa, sự ngăn cách mà xưa kia nguyên tổ Adam và Eva đã gây ra. Và hơn nữa, nó đã xoá tan những ưu tư phiền muộn, những lo lắng và bối rối về sự ra đi của Đức Giê-su.

Vâng, Đức Giê-su chỉ còn ở với các môn đệ một-ít-lâu-nữa-thôi. Ngài “phải lên Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại.”

Hôm ấy, Đức Giê-su khẳng định: “Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy, bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm. Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.”

**
Các môn đệ có tin lời Đức Giê-su nói? Thưa có. Và vì thế, các ông đã làm được những việc Đức Giê-su (đã) làm. Tông đồ Phê-rô như điển hình. Ngài tông đồ trưởng đã “chữa lành một người què từ khi lọt lòng mẹ… đi lại được” ngay tại “cửa Đền Thờ gọi là Cửa Đẹp” (x.Cv 3, 1-8).

Các môn đệ đã tin lời Đức Giê-su nói, và vì thế, các ông đã “còn làm những việc lớn hơn nữa”, đó là: “Tại Giê-ru-sa-lem số các môn đệ tăng thêm rất nhiều, lại cũng có một đám rất đông các tư tế đón nhận đức tin” (Cv 6, 7).

Nhắc lại niềm tin của các tông đồ để làm gì? Thưa, là để nói tới niềm tin của mỗi chúng ta hôm nay, rằng: niềm tin của mỗi chúng ta đang được đặt nơi đâu!”
 
Câu trả lời là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, đừng quên rằng, Đức Giê-su đã có lời khuyến cáo: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (x.15, 5).

Ví mình là cây nho, và chúng ta là cành, Đức Giê-su có lời khuyên rằng: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi. Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý. Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là: Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy.”

Do vậy, hãy đặt niềm tin vào Đức Giê-su. Hãy tin Đức Giê-su “Chính là con đường, là sự thật, và là sự sống.”

Thầy là… Ta là… đó là một lời tuyên bố, một lời tuyên bố mà chúng ta phải hiểu rằng: “mãnh liệt, chính tôi và chỉ là tôi, là thế.” Chỉ mình Đức Giê-su “là con đường duy nhất”.

Không có con đường nào khác đưa ta về Nước Trời. Không có con đường nào khác dẫn ta đến với Chúa Cha. Vâng, chúng ta cùng nghe lại lời Thầy Giê-su tuyên phán: “Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.”

Tông đồ Phê-rô, trước Thượng Hội Đồng tại Giê-ru-sa-lem, cũng có lời khẳng định: “Ngoài Người ra (Đức Giê-su), không ai đem lại ơn cứu độ, vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ.” (x.Cv 4, 12).

Độc quyền chỉ mình Đức Giê-su: “Là đường”.

Và, Đức Giê-su còn là “sự thật.” Một sự thật mà không ai có thể phủ nhận. Trong bài giảng, một bài giảng mà hôm nay chúng ta quen gọi là “Bài giảng trên núi”, Ngài đã nói lên sự thật, (chúng ta có thể gọi đó là lẽ thật), và lẽ thật đó khiến cho ngày xưa cũng như ngày nay, ai nghe đến cũng phải sững sờ: “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng… Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết…”

Do đó, có thể nói, chính Đức Giê-su với luật pháp của Thiên Chúa, đã đem đến cho nhân loại lẽ thật duy nhất cho sự công bình. Đức Giê-su nói rằng: “Thầy đến… là để kiện toàn” (Mt 5, 17).

Cuối cùng, Đức Giê-su “là sự sống”. Trong bài thuyết giảng về “vị Mục Tử nhân lành”, Đức Giê-su tuyên bố: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được. Nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy.”

***
Vâng, như vậy, chúng ta đã biết được Đức Giê-su – Ngài con đường duy nhất dẫn đến Nước Trời. Ngài là lẽ thật duy nhất cho việc thưc thi công bình. Ngài là nguồn gốc của sự sống thuộc thể lẫn thuộc linh.

Những gì Ngài đã làm cho các môn đệ xưa, thì nay Ngài cũng sẽ làm cho chúng ta. Xưa, Ngài đã xóa tan những ngày đen tối phía trước của các môn đệ, thì nay, Ngài cũng luôn mời gọi chúng ta: “Hỡi những ai mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho các con được yên nghỉ.”

Thế nên, nếu chúng ta có phải mệt mỏi và gánh nặng bởi sự khủng hoảng kinh tế, bởi nạn thất nghiệp tràn lan, bởi những sự dữ mà Satan và con cái chúng gây ra, v.v… Đừng xao xuyến! Hãy đến cùng Giê-su. Bởi vì, Ngài đã hứa: “Dù khi con đi trong trũng bóng chết. Con sẽ chẳng sợ tai họa nào. Vì Chúa ở cùng con; Cây trượng và cây gậy của Chúa an ủi con.” (Tv 23, 4).

Đối diện trước cám dỗ của danh vọng, của tiền bạc, của quyền bính ư! Đừng xao xuyến! Hãy đến cùng Giê-su. Ngài sẽ cho chúng ta biết được lẽ thật, rằng: “Được cả thế gian mà mất linh hồn thì nào ích gì.”

Bị cám dỗ bội phản lời thề thủy chung! Hãy hành động như ông Giuse (con Gia-cóp) đã hành động, đó là: “từ chối, không chịu nghe… chạy trốn và ra ngoài” (St 38, 7…12).

Người xưa có nói: “All roads lead to Rome - Đường nào cũng về La Mã”. Thế nhưng, với chúng ta, để “về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” thì chỉ có một con đường, một con đường mang tên Giê-su, mà thôi.

Thánh Lễ chính là nơi chúng ta sẽ tìm thấy con đường mang tên Giê-su. Trong Thánh Lễ, chúng ta sẽ tìm được “Sự Thật” qua những lời Kinh Thánh. Trong Thánh Lễ, chúng ta sẽ nhận được “Sự Sống” qua Bí Tích Thánh Thể.

Tìm thấy con đường mang tên Giê-su, tìm thấy sự thật, tìm thấy sự sống… Vâng đó chính là tiền đề để chúng ta có thể cất tiếng thưa với Chúa Giê-su, rằng: “Chúa đi đâu, chúng con biết đường rồi.”

Petrus.tran

Chủ Nhật, 30 tháng 4, 2023

Hãy sống như Mục Tử Giê-su

 “Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.”

tbd 290423a

Chúa Nhật IV – PS – Năm A
Hãy sống như Mục Tử Giê-su

Tông đồ Gio-an có nói: “Thiên Chúa là tình yêu.” Và ngài có lời tiếp rằng: “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống.” (1Ga 4, 9).

Với nhà truyền giáo Rich Warren, ông ta thêm lời diễn giải: “Như bất kỳ người cha yêu thương nào, Đức Chúa Trời không muốn mất bất kỳ người con nào của Người.”

Mà đúng là vậy. Ngay từ thuở xa xưa thời Cựu Ước, Thiên Chúa, qua môi miệng ngôn sứ Ê-dê-ki-en, có lời tuyên phán: “Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống.” (Ed 33, 11).

Và rồi, khi Con Một của Thiên Chúa là Đức Giê-su xuống thế làm người, Ngài đã có lời công bố vẫn nội dung là thế: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ.” (x.Ga 3, 16-17).

**
Đúng, Thiên Chúa yêu thế gian... Và Đức Giê-su chính là hiện thân cho tình yêu đó. Là hiện thân cho tình yêu đó, thế nên, Ngài luôn thể hiện lòng thương xót đối với bất cứ ai đến với mình.

Một lần nọ, để thể hiện lòng thương xót, Đức Giê-su đã cất tiếng mời gọi: “Hỡi những ai mệt mỏi và gánh nặng. Hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.”

Một lần khác, khi nhìn thấy “dân chúng lũ lượt kéo đến đi theo mình”, Đức Giê-su đã chạnh lòng thương xót, Ngài nói với các môn đệ, rằng: “họ như bầy chiên không người chăn dắt” (x.Mc 6, 34).

Thật vậy, họ không có người chăn dắt. Mà, nếu có thì cũng như không. Nhóm kinh sư và người Phariseu tuy được coi như là những người “chăn dắt” họ. Nhưng than ôi! Quý ông này đã chăn dắt con dân mình theo cung cách của những “kẻ cướp, kẻ trộm”.

Thì đây! Chúng ta thử nhìn xem! Có là kẻ cướp không, khi các kinh sư và các người Phariseu “nuốt hết tài sản của các bà góa, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ”!? Có là kẻ trộm không, khi các kinh sư và người Phariseu “lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà”?!

Đã có lần, Đức Giê-su gọi những kinh sư và người Phariseu là những kẻ “cướp bóc và ăn chơi vô độ.” Thế nên, với tình cảnh như thế, Đức Giê-su không thể không xem những người đi theo mình như thể là “những con chiên tan tác lạc đàn”.

Do vậy, bất chấp những căng thẳng vốn đã xảy ra giữa Ngài và những kinh sư lẫn nhóm Phariseu, Đức Giêsu tuyên bố: “Thật, tôi bảo thật các ông: Tôi là cửa cho chiên ra vào. Mọi kẻ đến trước tôi đều là tên trộm cướp.”

Và tiếp theo đó, Ngài khẳng định: “Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ. Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.” (x.Ga 10, 7-10).

***
“Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.” Xưa kia, Đức Giê-su đã khẳng định như thế. Và, ngày nay, Ngài cũng vẫn khẳng định như thế.

Đức Giê-su không chỉ cho chúng ta được sống và sống dồi dào đời này. Nhưng Ngài còn ban “ơn cứu độ” cho tất cả những ai đã đi theo Ngài, đã tin vào Ngài, đã chọn Ngài là “Mục Tử đời tôi”.

Đó chính là lý do hôm nay Đức Giê-su vẫn lớn tiếng nói với chúng ta rằng: “Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu.” Phần còn lại, đó là chúng ta có “vào và đi theo sau Ngài”, hay không?

Chúng ta có đi theo sau Ngài không? Vâng, câu trả lời là của riêng mỗi chúng ta. Thế nhưng, đừng quên, chỉ khi chúng ta đi-theo-sau-Ngài chúng ta mới có thể “ra vào và gặp được đồng cỏ”.

Muốn được như thế, chúng ta phải lắng nghe tiếng Chúa gọi và nhận ra tiếng nói của Ngài.

Xưa, Samuel chỉ có thể nghe tiếng ĐỨC CHÚA gọi mình trong đêm thanh vắng. Cũng vậy, hôm nay, chúng ta chỉ có thể nghe tiếng Chúa gọi trong thinh lặng nguyện cầu.

Còn Thánh Kinh! Vâng, Thánh Kinh chính là nơi chúng ta nhận ra tiếng nói của người mục tử Giê-su, và Thánh Thể chính là nơi chúng ta sẽ nhận được một thứ cỏ, không phải “cỏ dại” nhưng là một thứ cỏ cho chúng ta “sự sống đời đời”. Nói rõ hơn, đó là Mình-Máu-Thánh-Chúa.

Đi-theo-sau-Mục-Tử-Giê-su, có lúc chúng ta sẽ phải đối diện với những thế lực ác tà, những thế lực ác tà dưới sự chỉ huy của Satan và con cái chúng. Chúng sẽ ngăn cản, chống phá, đe dọa v.v... để chúng ta sợ hãi mà không đi theo Mục Tử Giê-su.

Những lúc ấy, đừng buông tay chúng ta ra khỏi bàn tay của Ngài. Và, hơn thế nữa, Ngài sẽ không bao giờ buông chúng ta. Vâng, Đức Giê-su sẽ ban cho chúng ta sự an toàn, sự an toàn “để chiên của Ngài được bình an”.

Chúng ta không phải sợ, đó là công việc của Mục Tử Giê-su.

Đi-theo-sau-Mục-Tử-Giê-su, sẽ có lúc chúng ta bị Satan và con cái chúng tuyên truyền, xuyên tạc, bôi nhọ… bằng những tin tức giả tạo đầy ác ý, v.v… để chúng ta mất đi niềm tin vào Mục Tử Giê-su.

Những lúc ấy, chúng ta hãy nhìn Mục Tử Giê-su “như là cội rễ và cuối cùng của đức tin” Chúng ta phải tin, tin rằng: “Tôi biết Đấng tôi tin cậy, và tôi chắc chắn rằng Ngài có thể gìn giữ điều tôi đã tín thác Ngài, cho đến ngày Ngài trở lại” (2Tm 1, 12).

*****
Hôm nay, Chúa Nhật IV Phục Sinh. Theo truyền thống, vào Chúa Nhật này, Giáo Hội cầu nguyện cho ơn thiên triệu linh mục.

Nói tới ơn thiên triệu linh mục, không ít người lo sợ rằng, với một thế giới cổ suý cho chủ nghĩa thế tục, thật khó để mà có nhiều người từ bỏ hết mọi sự, “tự ý không kết hôn vì Nước Trời”.

Thật ra, điều đáng để sợ, đó là sợ rằng, những người đã-được-Chúa-tuyển-chọn, dù đã được năm mười năm, dù đã vượt qua “kim khánh”, thế mà vẫn chưa thấy quý ngài “đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người”.

Vâng, có ai đó đã nói: “người linh mục là một Đức Kitô khác (Alter Christus) chứ không phải khác Đức Kitô”, thế nên việc “đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người”, là điều cần thiết.

Có “đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người”, người linh mục hôm nay mới có thể cùng Đức Giêsu “đi trước” chứ không phải “đi giữa hay đi sau” đoàn chiên.

Có là một Alter Christus, mới có thể cất tiếng nói với đoàn chiên mình rằng: “tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.” Cuối cùng, người linh mục đó mới đủ dũng cảm như “anh cả Phêrô” dám hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên.

Về những điều nêu trên, Đức Giêsu nói: “Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được”.

Vâng, chỉ khi thực thi những mệnh lệnh nêu trên, người linh mục hôm nay, mới có thể được ghi nhận là một người mục-tử-nhân-lành, “người mục tử đích thực”.

Do vậy, đừng cố làm linh mục khi chúng ta không thể trở thành một Alter Christus. Không trở thành Alter Christus mà cố trở thành linh mục, nói không sợ sai, người đó sẽ tạo ra biết bao nhiêu đau khổ cho Giáo Hội và nhất là làm mất đức tin nơi các bạn trẻ. Để rồi, lời cuối cho cuộc tình mình, đó là: ông chỉ là “sói đội lốt chiên”.

Nói lên điều này để làm gì? Thưa, để chúng ta phải cầu nguyện, cầu nguyện thật nhiều cho ơn thiên triệu linh mục. Vâng, chúng ta hãy cầu nguyện như thế này: “Xin Chúa làm nên cuộc Hiện Xuống mới trong đời sống Hội Thánh, xin tuôn tràn trên các Mục tử ơn khôn ngoan và thông hiểu, gìn giữ các ngài luôn hiệp thông với nhau trong Chúa, để các ngài cùng nhau tìm hiểu những điều đẹp ý Chúa, và hướng dẫn đoàn Dân Chúa thực thi những điều Chúa truyền dạy.” (trích: Kinh cầu cho Thượng Hội Đồng Giám Mục 2023).

Hãy, hãy thiết tha trong việc cầu nguyện. Có như thế, chúng ta mới có thể hy vọng Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta “những mục tử như lòng (Người) mong ước, (những mục tử) sẽ khôn ngoan sáng suốt chăn dắt (chúng ta)” (Gr 3, 15).

Cũng đừng quên cầu nguyện cho chính gia đình của chúng ta. Và lời cầu nguyện đẹp nhất, đó là hãy xin cho chúng ta biết sống một cuộc sống như Gia-Thất-Thánh, nơi có sự hiện diện Thánh Giu-se, Đức Maria và Mục Tử Giê-su. Bởi vì, khi chúng ta sống một cuộc sống như Gia-Thất-Thánh, gia đình chúng ta mới có thể “nảy sinh các mục tử tốt lành”.

Nảy-sinh-các-mục-tử-tốt-lành chẳng phải là chúng ta cùng với Chúa, đem đến cho Giáo Hội những “mục tử như lòng Chúa mong ước”!

Thế nên, chúng ta hãy sống như Mục Tử Giê-su.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2023

Người môn đệ vô danh là tôi…

 “Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người”.

tbd 220423b

Chúa Nhật III – PS – Năm A
Người môn đệ vô danh là tôi…

Đức Giê-su Phục Sinh chính là hồng ân mà Thiên Chúa đã ban cho nhân loại. Với chúng ta hôm nay, khi nói tới chuyện Đức Giê-su Phục Sinh, chắc hẳn ai ai cũng thốt lên rằng: Chúng con Tạ Ơn Chúa. Thế nhưng, với các môn đệ xưa thì không như thế. Bị tác động bởi nhiều cảm xúc cộng với những yếu tố ngoại cảnh, do vậy các ông mang tâm trạng lo lắng, sợ hãi, bồn chồn và hồi hộp.

Tuy Kinh Thánh không ghi rõ, nhưng chúng ta có thể nghĩ rằng, chính sự lo lắng, sợ hãi, bồn chồn và hồi hộp đã khiến các môn đệ “buồn hiu hắt buồn”.

Và, bởi vì quá u buồn trước biến cố Thầy mình bị giết chết, thế nên hầu hết các môn đệ đều thất vọng, chán nản, tuyệt vọng và mất dần các hứng thú đối với cuộc sống. Không còn hứng thú với những gì đang diễn ra trong cuộc sống của mình, thế nên, đã có hai vị bỏ Giê-ru-sa-lem về quê “cắm câu”. Đây là một câu chuyện, một câu chuyện rất ly kỳ, câu chuyện này được ghi trong Tin Mừng thánh Luca. (x.Lc 24, 13-35).

**
Tin Mừng thánh Luca ghi lại rằng: “Cùng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau.”

Hai người môn đệ này là ai? Thưa, hai ông rất có thể thuộc nhóm bảy mươi hai, một nhóm đã được Đức Giê-su “chọn thêm”, chọn thêm để “sai các ông cứ từng hai người đi trước Người, đến các thành và các nơi mà chính Người sẽ tới.” Hồi ấy các ông đã ra đi, ra đi và được Thầy Giê-su dặn dò rằng, hãy nói cho mọi người biết: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần” (Lc 10, 9).

Triều Đại Thiên Chúa đến là một ước mơ lớn. Các ông từng ước mơ rằng, Thầy Giê-su sẽ xây dựng một Triều Đại Mới, một Triều Đại sẽ đem lại cho Israel, cho gia đình, cho mọi người thoát khỏi ách thống trị của đế quốc Roma.

Vì thế, ba năm theo Thầy Giê-su cũng là ba năm các ông mong đợi cho “Triều Đại” ấy mau đến. Hy vọng một khi Triều-Đại-Thầy đến, tệ lắm các ông cũng được một chức vụ gì đó trong Triều Đại của Thầy mình.

Than ôi! sự việc lại không như mong muốn. Thê thảm quá! Thật không thể hiểu nổi một người đầy quyền năng, đầy lòng nhân ái như “sư phụ”, thế mà lại có một kết cục bi đát! Thầy Giêsu đã bị giết chết. Bước qua ngày thứ ba rồi. Thế là chấm hết! Thế là “mộng vàng tan mây”!

Kinh Thánh có chép rằng “Giấc mộng chưa thành làm trái tim khắc khoải” (Cn 12, 13). Ôm trái tim khắc khoải sầu thương “về tất cả những sự việc vừa mới xảy ra” cho Thầy Giêsu, hai ông “nhọc nhằn lê gót chân buồn” trở về Emmau.

Con đường chỉ “chừng mười một cây số”, nhưng hai ông vẫn cảm thấy “như (sao) đường về quá xa.” Và rồi, trong lúc hai ông “trò chuyện”, trò chuyện rằng: Ước gì… ước gì: “Trời cao có thấu cúi xin người ban phước cho đời con”, thì bất ngờ Đức Giêsu xuất hiện.

Vâng, chính là Đức Giê-su. Ngài “tiến đến gần và cùng đi với các ông”. Thế mà, chẳng hiểu vì sao “mắt (hai ông)… bị ngăn cản, không nhận ra Người.”

Thôi kệ! Cũng chẳng sao! Thêm người thêm vui. Thế là, đường về Em-mau, bây giờ người ta thấy có ba người. Ba người, thì “một người đi với một người”, còn người kia, người kia “đi với nụ cười hắt hiu.” Ai cười hắt hiu? Thưa, ông Cơ-lê-ô-pát.

Vâng, hôm ấy, sau khi Đức Giê-su hỏi hai ông: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau chuyện gì vậy?” Chuyện kể rằng: “Họ dừng lại vẻ mặt buồn rầu.”

Với vẻ mặt buồn rầu, ông Cơ-lê-ô-pát trả lời: “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” – Đức Giê-su hỏi: “Chuyện gì vậy?”

Trời ạ! “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình và đã đóng đinh Người vào thập giá.” Ông-không-biết-sao!

“Phần chúng tôi” Cơ-lê-ô-pát với nụ-cười-hắt-hiu, nói tiếp: “trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi.”

Nhìn “ông bạn đường” không hẹn mà gặp, Cơ-lê-ô-pát tiếp tục kể lể: “Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra và bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói, còn chính Người thì họ không thấy.”

Trước nỗi buồn hiu, thất vọng, nghi nan của hai môn đệ, Đức Giê-su cất tiếng nói: “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ! Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?”.

Để cho hai môn đệ không còn chìm trong tâm trạng “lặng lẽ buồn hiu đứng nhìn”, Đức Giê-su “bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.”

Hôm ấy, khi gần tới làng hai môn đệ muốn đến, chuyện kể rằng: “Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa.” Thấy thế, hai môn đệ “nài ép Người” ở lại với họ. Họ nói: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn.”

Đức Giê-su đã ở lại. Và rồi, khi đồng bàn với hai môn đệ, “Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người”. Tiếc thay! Đức Giê-su, sau đó “Người lại biến mất”.

Sau vài giây phút “ra ngẩn vào ngơ”, hai môn đệ thì thầm với nhau, rằng: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy sao?”

Đúng vậy, lòng hai ông bừng cháy mãnh liệt, mãnh liệt đến độ hai ông, ngay lập tức: “quay trở lại Giê-ru-sa-lem gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó.”

Nhóm Mười Một cho biết: “Chúa trỗi dậy thật rồi và đã hiện ra cho ông Si-môn.” Còn hai người môn đệ, họ “thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh” (x.Lc 24, 35).

***
Chúng ta vừa nghe lại câu chuyện “Đức Giê-su hiện ra với hai môn đệ trên đường Em-mau”. Đây không phải là chuyện “thần tiên - giả tưởng”. Đây là một câu chuyện có thật, một sự thật là Cơ-lê-ô-pát và người bạn đồng hành của ông đã “nhận ra Chúa”.

Tiến trình nhận-ra-Chúa của hai ông là một tiến trình tiệm tiến. Thoạt tiên hai ông “gặp” Đức Giê-su và cùng đồng hành với Ngài. Tiếp đến, khi cùng đồng hành với Ngài, các ông được “nghe” Ngài giải thích Lời Chúa. Cuối cùng là hai ông “đón” chính con người Phục Sinh của Đức Giêsu “mời Ngài ở lại”, nhờ đó qua việc “cùng đồng bàn với họ”, hai môn đệ “nhận” ra Thầy Giêsu của mình, qua việc Người “bẻ bánh và trao cho các ông”.

Nói tắt một lời, nhờ “đón” nên hai ông “nhận” ra Đức Giê-su Phục Sinh, qua việc cùng đồng bàn với Ngài.

Chia sẻ về sự kiện hai môn đệ được diễm phúc đồng-bàn-với-Chúa, Lm. Charles E.Miller có lời rằng: “Chúa Giê-su cũng tiếp tục làm (như thế) cho chúng ta.”

“Đó là”, ngài Lm. Charles nói tiếp: “Khi chúng ta bảo toàn tập quán thánh của mình là cùng nhau tham dự thánh lễ Chúa Nhật, thì nhà thờ trở thành con đường Em-mau của chúng ta. Chúa Giê-su nói với chúng ta qua lời Kinh Thánh (phần phụng vụ Lời Chúa).

Đôi lúc, có lẽ chúng ta không cảm nhận được mấy ảnh hưởng về những gì chúng ta nghe, nhưng khi mở rộng lòng đón nhận ơn sủng Chúa Thánh Thần, tác giả đích thực của các sách Tin Mừng, Lời Chúa có sức mạnh thấm nhập vào con người chúng ta. Bấy giờ, chúng ta sẽ nhận ra chính Chúa Giê-su đang nói với chúng ta.”

Chính Chúa Giê-su sẽ nói với chúng ta và chúng ta sẽ nghe Chúa nói, nếu chúng ta cùng nhau tham dự thánh lễ Chúa Nhật. “Nhà thờ”, như Lm. Charles đã nói: “trở thành con đường Em-mau của chúng ta.” Và, khoảng cách từ nhà chúng ta đến nhà thờ làm gì tới “mười một cây số”! Thế nên, với phương tiện cơ giới ngày nay, chúng ta đừng vắng mặt như ông Tô-ma đã vắng mặt ngày thứ nhất trong tuần.

Đừng vắng mặt, bởi vì, đến nhà thờ, chúng ta còn có thể gặp Đức Giê-su Phục Sinh nơi Bàn Tiệc Thánh Thể.

Cũng là Lm. Charles E.Miller, khi nói tới Bàn Tiệc Thánh Thể, ngài có lời chia sẻ: “Nhìn lên bàn thờ trong phần Kinh Nguyện Thánh Thể, chúng ta tận mắt thấy hành động của Chúa Giê-su, và tận tai nghe lời Người, (qua Lm. chủ tế), y hệt như hai môn đệ xưa kia tại bàn ăn ở nhà các ông: Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và bắt đầu trao cho họ.”

Có một chi tiết, tưởng chúng ta nên chú ý. Trong hai người môn đệ, thánh sử Luca chỉ cho chúng ta biết tên một người: ông Cơ-lê-ô-pát. Thế còn ông kia tên gì? Thưa, nhiều nhà chú giải Kinh Thánh cho rằng, chính chúng ta là người môn đệ vô danh đó.

Vâng, phải là chúng ta. Bởi vì, người môn đệ vô danh năm xưa không còn nữa. Và, chúng ta phải là hiện thân của người môn đệ vô danh đó.

Phải là hiện thân người môn đệ vô danh đó là bởi, sứ vụ “loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến.” vẫn còn đó.

Phải là hiện thân người môn đệ vô danh đó còn để, tiếp nối Chúa Giê-su Phục Sinh, cùng-đồng-hành với: “những kẻ nghèo đói - những người ăn xin hèn yếu”.

Phải là hiện thân người môn đệ vô danh đó còn để, tiếp nối Chúa Giê-su Phục Sinh, quan tâm đến: “người phu xe gầy vai… người lao công cùng đi”.

Chưa hết, chúng ta còn phải quan tâm đến những trẻ em cơ nhỡ, những kẻ đau yếu tật nguyền, những người già không chốn nương thân v.v…

Cuối cùng, có trở thành người môn đệ vô danh đó, chúng ta mới có hy vọng “Chúa vào và ở lại với chúng ta (và) cùng đồng bàn với chúng ta.”

Vâng, Chúa Giê-su Phục Sinh vẫn tiếp tục gửi đến chúng ta những lời mời gọi yêu thương: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta.” (x.Kh 3, 20).

Chúng ta muốn được diễm phúc như thế không! Nếu muốn, nếu muốn chúng ta chỉ cần xác định, xác định rằng: “người môn đệ vô danh là tôi.”

Petrus.tran

Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một.

  Chúa Nhật XXX – TN – A Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một Đọc các sách Tin Mừng, chúng ta được biết, sứ vụ rao giảng Tin Mừng của...