Thứ Tư, 4 tháng 10, 2023

Hãy say sưa đọc “kính mừng Maria…”

 “Ave Maria con dâng lời chào Mẹ. Ave Maria con dâng lời chào mẹ. Khi tàn màu nắng chiều. Và khi sương đêm nặng gieo. Con say sưa lời ca chào Ave Maria.”

Hãy say sưa đọc “kính mừng Maria…”

tbd 051023a

“Ave Maria con dâng lời chào Mẹ. Ave Maria con dâng lời chào mẹ. Khi tàn màu nắng chiều. Và khi sương đêm nặng gieo. Con say sưa lời ca chào Ave Maria.” Những dòng chữ trên đây là phần trích đoạn bản thánh ca “Ave Maria con dâng lời”, tác giả là linh mục Huyền Linh.

Với bản thánh ca này, nếu để ý, chúng ta sẽ thấy đây là bản thánh ca được rất nhiều ca đoàn hát trong những ngày lễ kính Đức Mẹ. Đặc biệt hơn là lễ kính Đức Mẹ Mân Côi. Lễ kính Đức Mẹ Mân Côi là một truyền thống lâu đời đã được Giáo Hội cử hành trọng thể vào ngày 07 tháng 10, hàng năm. Vâng, toàn thể cộng đoàn tín hữu cùng kính nhớ. Và, đó là lý do chúng ta cần biết về người chúng ta tôn kính.

**
Vậy, Đức Mẹ là ai? Thưa, Đức Mẹ, theo thánh sử Luca cho biết: là một cô “trinh nữ tên là Maria… (và) đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít.”

Hồi ấy, người trinh nữ tên là Maria đang sống âm thầm tại “thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét.” Thì, bỗng một hôm, một hôm “Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến gặp.”

Sứ thần đến, rồi vào nhà cô Maria và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” Lời chào của sứ thần khiến cho cô Maria “bối rối”. Trong tâm trạng bối rối, cô Maria đã tự hỏi “lời chào như vậy có ý nghĩa gì.”

Khi lời tự hỏi còn đang vương vấn trong tâm hồn Maria, thì sứ thần liền có lời trấn an, rằng: “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa.” Sau lời trấn an, sứ thần đã loan báo cho cô Maria một sứ mạng Thiên Chúa giao phó: “Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại Người sẽ vô cùng vô tận.”

Khi nghe sứ mạng Thiên Chúa giao phó, cô Maria càng thêm bối rối. Và cô đã thưa với sứ thần rằng: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng.”

Xảy-ra-cách-nào ư! Vâng, hôm ấy, sứ thần cho biết: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là ConThiên Chúa.”

Và để cô Maria không ngần ngại tiếp nhận sứ mạng Thiên Chúa giao phó, sứ thần Chúa đã nói lên một bằng chứng sống động: “Kìa bà Ê-li-sa-bét người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng”.

Cuối cùng, như một sự đóng ấn cho lời truyền dạy, sứ thần Chúa tiếp lời, rằng: “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” Nghe thế, cô Maria cất tiếng nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”.

***  
Thế còn hai chữ “Mân Côi” nghĩa là gì? Thưa, Giáo Hội hiểu chữ Mân Côi theo nghĩa là Hoa Hồng. Hiểu theo nghĩa “hoa hồng” là bởi do tích truyện một đan sĩ khi đọc kinh Kính Mừng, Đức Mẹ đã lấy những nụ hoa hồng trên môi vị đan sĩ ấy kết thành vòng hoa đội lên đầu mình. Qua tích truyện này, tràng hạt tượng trưng cho tràng hoa hồng hay vòng hoa hồng Đức Mẹ đội trên đầu được gọi là Tràng Mân Côi, Chuỗi Mân Côi. (nguồn: internet).

Mừng lễ kính Đức Mẹ Mân Côi còn là dịp để Giáo Hội tái lập lời “nhắn nhủ” của Đức Mẹ năm xưa.

Năm xưa Mẹ Maria đã nhắn nhủ gì? Thưa, hơn một trăm năm trước đó, năm 1917, Đức Maria đã hiện ra với ba em bé chăn cừu tại làng Fatima, nước Bồ Đào Nha. Ba em bé tên là Lucia dos Santos, Francisco Marto và Jacinta Marto. Đức Maria đã hiện ra sáu lần, bắt đầu từ ngày 13/5/1917 và lần cuối cùng là ngày 13/10/1917. Và lời “nhắn nhủ” mà Đức Maria đã gửi đến ba em nhỏ, đó là: “hãy mau ăn năn đền bồi, hãy tôn sùng Mẫu Tâm, hãy năng lần hạt Mân Côi”.

Thật xúc động khi linh mục Huyền Linh cũng đã nhắc lại lời “nhắn nhủ” của Đức Maria, qua nhạc phẩm “Lời Mẹ nhắn nhủ”, một nhạc phẩm rất quen thuộc với mọi người Công Giáo, “đến nỗi một đứa trẻ chưa biết chữ cũng đã thuộc lòng bởi giai điệu bình dị cùng lời cầu nguyện chân thành”.

Lời nhạc phẩm như sau: “Năm xưa trên cây sồi làng Fatima xa xôi. Có Đức Mẹ Chúa Trời hiện ra uy linh sáng chói. Mẹ nhắn nhủ người đời hãy mau ăn năn đền bồi. Hãy tôn sùng Mẫu Tâm, hãy năng lần hạt Mân Côi.”

(Lên youtube gõ vào khung tìm kiếm tên nhạc phẩm “lời Mẹ nhắn nhủ”, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều em nhỏ, “say sưa” ca bản thánh ca này.)

Trở lại với lời nhắn nhủ của Mẹ Maria. Vâng, nếu lời “nhắn nhủ” đầu tiên, nhắc nhở chúng ta nhìn lại con người tội lỗi và yếu đuối của chính mình, thì lời “nhắn nhủ” cuối cùng cho chúng ta nhìn lại chương trình cứu độ của Thiên Chúa, qua Đức Giê-su Ki-tô.

Đúng vậy. Khi “lần hạt Mân Côi”, những trang sử của Tin Mừng được tái hiện, tái hiện qua việc suy tư những “mầu nhiệm”. Những mầu nhiệm đó là: năm sự Vui, năm sự Thương, năm sự Mừng, và mới đây là năm sự Sáng.

Nhìn lại những trang sử của Tin Mừng và suy niệm những mầu nhiệm nêu trên, thật đáng xấu hổ, nếu chúng ta không thực thi “Lời Mẹ nhắn nhủ”. Do vậy, chúng ta cùng lược sơ qua những mầu nhiệm nêu trên.

Trước hết là “năm sự vui”. Thứ nhất thì ngắm: “Thiên Thần truyền tin cho Đức Bà chịu thai”. Đức Bà chịu thai thì sao? Thưa, chúng ta có được tin vui rằng: Một “Người trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi con trẻ là Emmanuel nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”.

Vâng, Thiên Chúa, qua Đức Giê-su, “đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta… (và) những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (x.Ga 1, 12).

Đó, đó là điều để chúng ta thấy giá trị lời “xin vâng” của Đức Maria. Nhận ra được cái giá trị đó, cớ gì chúng ta không ngại ngùng “xin cho được ở khiêm nhường”, nhỉ!

Khi sống một đời sống khiêm nhường, đó cũng là cách chúng ta thực thi lời nhắn nhủ thứ hai của Đức Maria, lời nhắn rằng: “Hãy Tôn sùng Mẫu Tâm”.

Với mầu nhiệm “năm sự thương”. Thứ ba thì ngắm: “Đức Chúa Giê-su chịu đội mão gai.” Suy niệm “ngắm thứ ba”, chúng ta sẽ thấy Giêsu Con Trời đã tỏ lộ tình yêu thương của Thiên Chúa đối với nhân loại như thế nào.

Qua việc hy sinh chính mạng sống của mình, Giêsu Con Trời đã chịu chết trên thập giá để chuộc tội cho nhân loại. Đúng như những gì Ngài đã rao giảng, “Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu. Người liều mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15, 13).

Thế nên, để cho việc suy ngắm, ngắm-thứ-ba trọn hảo, chúng ta “hãy xin cho được chịu mọi sự sỉ nhục bằng lòng”.

Với “năm sự mừng”. Thứ hai thì ngắm: “Đức Chúa Giê-su lên trời.” Biến cố Chúa Giê-su lên trời ảnh hưởng gì đến chúng ta? Thưa, nó như một tiếng chuông ngân, ngân vang những lời tán dương Đức Giê-su. Người chính là Thiên Chúa toàn năng. Người đã chiến thắng sự chết. Người đã cho chúng ta niềm vui mừng và hy vọng về một ngày sau cũng sẽ được sống lại từ cõi chết. Và tất nhiên là được phước lên Thiên Đàng với Người.

Nếu muốn được phước Thiên Đàng, ngay hôm nay, chúng ta “hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời”. Nếu muốn được phước lên Thiên Đàng, những sự dưới đất, nói rõ hơn: “Những việc do tính xác thịt gây ra, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, say sưa, chè chén…”, chúng ta “chớ ái mộ”. Bởi vì, thánh Phao-lô nói: “những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Trời.” (x.Gl 5, 19-21).

Cuối cùng là “năm sự sáng”. Thứ nhất thì ngắm: “Đức Chúa Giê-su chịu phép Rửa tại sông Gio-dan.” Rồi sao nữa! Thưa, mầu nhiệm năm sự sáng như một luồng ánh sáng chiếu tỏa dung nhan “Giêsu Con Trời”. Một Giêsu đến thế gian “không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ (Ngài) mà được cứu độ” (Ga 3, 17).

Chúng ta có muốn được cứu độ? Nếu muốn, không gì tốt hơn là: “Ta hãy xin cho được sống xứng đáng là con cái Chúa.” Nói chi tiết hơn, đó là “hãy thi hành thánh ý Chúa”.

Có thể nói rằng, Chuỗi Mân Côi là một thiên tình sử giữa Thiên Chúa với con người. Một “Thiên Chúa là tình yêu” như lời thánh Gioan tông đồ đã nói “Chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4, …10).

Thế nên, đừng rời xa tràng chuỗi Mân Côi, vì nhờ chuỗi Mân Côi, đức tin của chúng ta được củng cố, qua việc suy đi nghĩ lại những Mầu Nhiệm, những Mầu Nhiệm phản chiếu hình ảnh một Đức Giê-su, Ngài chính là nguồn ơn Cứu Độ.

Hãy năng lần chuỗi Mân Côi. Bởi vì, điều đó nói lên rằng, chúng ta tiếp tục công việc sứ thần Gapriel đã làm năm xưa. Đó là cất tiếng chào Đức Maria: “Kính Mừng Maria đầy ơn phước, Đức Chúa ở cùng Bà”.

Cùng chuỗi Mân Côi, chúng ta sẽ được Đức Maria cầu bầu, khi chúng ta cất tiếng khẩn cầu với Mẹ, rằng: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời. Cầu cho chúng con là kẻ có tội khi này và trong giờ lâm tử. Amen”.

Trở lại với bản thánh ca “Ave Maria, con dâng lời”. Phải nói rằng, những lời cuối cùng của bản thánh ca đã được Lm. Huyền Linh viết lên nghe rất là thiết tha. Rất, rất thiết tha khi người ca viên cất lên tiếng hát: “Ave Maria con dâng lời chào mẹ. Ave Maria con dâng lời chào mẹ. Khi đời đầy môi cười và khi cô đơn lệ rơi. Con say sưa đọc lên lời Ave Maria. Con say sưa đọc lên lời Ave Maria.”

Vâng, Louis Evely có nói: “Không phải lúc nào cũng chỉ có niềm vui. Còn có sương mù và giá lạnh nữa”. Sương mù và giá lạnh chẳng phải là lúc chúng ta “cô đơn lệ rơi”! Thế nên, nếu chẳng may cuộc đời chúng ta rơi vào tình trạng “cô đơn lệ rơi”, đừng sờn lòng, đừng nản chí, hãy say-sưa-đọc-lên-lời-Ave-Maria.

Nói cách khác, hãy say sưa đọc “kính mừng Maria.”

Petrus.tran

Thứ Sáu, 29 tháng 9, 2023

Con đến để thực thi ý Ngài…

 Dụ ngôn này được ghi lại trong Tin Mừng Thánh Mát-thêu với tiêu đề: “Dụ ngôn hai người con” (x.Mt 21, 28-32).

Chúa Nhật XXVI – TN – A
Con đến để thực thi ý Ngài…

tbd 290923a

Trong kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam có một câu tục ngữ, có thể nói rằng, không ai trong chúng ta lại không hơn một lần nghe đến. Đó là câu tục ngữ: “Nói lời phải giữ lấy lời. Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.”

Vâng, không khó lắm để chúng ta hiểu được câu tục ngữ này. Nói thì phải “nói năng chín chắn, có ý thức và chịu trách nhiệm về lời mình nói.” Hiểu một cách sâu xa hơn, đó là “không hứa suông, đã hứa thì phải làm”.

Nói-lời-mà-không-giữ-lời là nói phét, nói xạo. Hứa mà không giữ lời hứa là hứa suông, hứa hão, hứa hươu, hứa vượn v.v… Nói không đi đôi với việc làm, hứa nhiều làm ít, nói một đằng làm một nẻo, có vẻ như đang trở thành một căn bệnh trầm kha trong xã hội, ngày nay. Ngày nay, khi nói tới lời hứa, không ít người “cười ruồi” và nói: “Quân tử nhất ngôn, quân tử dại. Quân tử nói đi nói lại, quân tử khôn”.

Ai dại ai khôn! Vâng, theo lời dạy của Kinh Thánh, những kẻ “nói đi nói lại”, họ “chẳng khác nào có mây có gió mà chẳng có mưa” (x.Cn 25, 14). Đối với Đức Giê-su, những kẻ “Biết bao lần (thốt lời) hứa. Hứa cho nhiều rồi lại quên”, Ngài mạnh mẽ lên án họ là “những kẻ giả hình”.

Trong bối cảnh các thượng tế và kỳ mục “bực bội” trước việc Đức Giê-su giảng dạy nơi Đền Thờ, và họ đã đặt vấn đề rằng, Ngài “lấy quyền nào mà làm các điều ấy”. Một cuộc tranh luận giữa họ và Đức Giê-su đã xảy ra. Kết quả đã không như ý họ muốn.

Không như ý họ muốn là bởi, Đức Giê-su nhìn thấu suốt tâm can của họ, tâm can của những-kẻ-giả-hình, những kẻ mà Ngài đã công khai tuyên bố rằng: “Các người rảo khắp biển cả đất liền để rủ cho được một người theo đạo, nhưng khi họ theo rồi, các người lại làm cho họ đáng xuống hỏa ngục gấp đôi các người.” (x.Mt 23, 15).

Vâng, vấn đề không phải là “quyền nào”, nhưng là “nói lời phải giữ lấy lời”, là sự vâng phục, là “thi hành ý muốn” của Gia-vê Thiên Chúa.

Hôm ấy, để cho quý ông thượng tế và kỳ mục (tất nhiên cả chúng ta nữa) nghiệm ra điều này, Đức Giê-su đã kể một dụ ngôn. Dụ ngôn này được ghi lại trong Tin Mừng Thánh Mát-thêu với tiêu đề: “Dụ ngôn hai người con” (x.Mt 21, 28-32).

**
Dụ ngôn được kể rằng: “Một người kia có hai con trai”. Một hôm, “ông ta đến nói với người thứ nhất: Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho” (x.Mt 21, 28).

Với người con này “Nó đáp: Con không muốn đâu!”. Rồi khi “Ông đến gặp đứa thứ hai và cũng bảo như vậy”. Nó đáp, rất trịnh trọng, rằng: “Thưa ngài. Con đây!”.

Nếu đọc tới đây, rồi chúng ta gấp quyển Kinh Thánh lại và để cho trí tưởng tượng của mình làm việc, có lẽ chúng ta sẽ nghĩ rằng, người con thứ hai, là người đi làm vườn nho.

Thế nhưng, sự thật thì ngược lại. Người con thứ nhất, không “hứa” nhưng sau đó, lại đi. Tại sao anh ta lại đi? Thưa, đó là, khi anh ta “nghĩ lại” lời nói của mình với người cha, anh ta “hối hận, nên lại đi.” (Mt 21, …29).

Còn người con thứ hai thì sao! Thưa, trước hết, ta nên đặt cho anh ta một cái tên. Tên gì nhỉ? Tên là “Hứa”, được chăng! Vâng, cứ tưởng rằng, với lời nói lịch thiệp và khả kính “Thưa Ngài”, anh-ba-hứa, một cách nào đó, hứa với cha mình sẽ đi. Rồi, khi anh-ba-hứa nói: “con đây”, có ai lại không nghĩ rằng, một trăm phần trăm anh ta sẽ thi hành ý muốn của cha mình!

Hóa ra, “con đây”… con chỉ là “con ma nhà họ Hứa”, con đến chỉ là để “trình diện” với cha thôi! Chuyện đi làm vườn nho ư! Còn khuya! Đúng vậy. Dụ ngôn ghi vắn tắt rằng: “nhưng lại không đi”.

Kết thúc dụ ngôn, Đức Giê-su đã đưa ra một câu hỏi, hỏi rằng: “Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” Hôm ấy, không đợi tới ba mươi giây, họ đáp: “Người thứ nhất”.

Với câu trả lời như thế, cứ tưởng rằng Đức Giê-su sẽ nói một vài câu khen ngợi, khen ngợi về sự nhận định đúng của những người được Ngài hỏi. Trái lại, ngay lập tức, Đức Giê-su đã cất lên những lời cảnh báo, cảnh báo rằng: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông”.

***
Đừng nghĩ rằng, qua lời cảnh báo nêu trên, Đức Giê-su quá “lạnh lùng” với quý ông thượng tế và kinh sư. Chính quý ông thượng tế và kinh sư mới là những kẻ lạnh lùng.

Thật vậy, khi ông Gioan Tẩy giả cảnh báo rằng: “Có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người”, thế mà quý ông thượng tế và kinh sư (lúc ấy) vẫn cứ bàng quan “lạnh lùng sương rơi heo may, (nhìn) ngơ ngác bóng chim bay”.

Đức Giê-su, hôm ấy, đã “cảnh tỉnh” các ông và nói: “Vì ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy, còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận và tin ông ấy.” (Mt 21, 32).

Tông đồ Mát-thêu, như chúng ta được biết, đang là “cán bộ thu thuế”, một công việc béo bở đến thế, nhưng khi nghe Đức Giêsu gọi “hãy theo tôi”, ông nhận ra ngay đây chính là một lời mời gọi, lời mời gọi đi vào “đường công chính”, thế là, ông bỏ hết mọi sự và đi theo Ngài.

Và làm sao quên được ông Dakêu! Ông ta, đang là một tay “cán gộc” trong ngành thuế vụ. Một công việc hái ra tiền. Ấy thế mà, khi nhận ra “đường công chính”, một con đường dẫn đến “Vườn Nho của sự Công Bình”, ông ta sẵn sàng lên đường. Hành trang của ông ta, đó là: đem “phân nửa tài sản… cho người nghèo, và sẽ đền gấp bốn” cho những ai đã bị ông ta chiếm đoạt tài sản.

Họ đã “hối hận” như người con thứ nhất trong dụ ngôn đã hối hận. Nói cách khác, họ đã vâng nghe và thực thi lời mời gọi “hãy đi làm vườn nho”.

Đó là lý do Đức Giê-su đã có sự phân định rõ ràng giữa quý ông thượng tế, kinh sư và những ông thu thuế cùng các cô gái điếm, rằng ai sẽ là “người vào Nước Thiên Chúa trước”.

Một chi tiết chúng ta cần biết, khi Đức Giêsu nói, “người vào Nước Thiên Chúa trước”, thì đừng nghĩ rằng sẽ có “người vào Nước Thiên Chúa sau” Đừng có mơ! Theo ngôn ngữ sêmit chữ “trước” không được hiểu theo nghĩa “trước – sau”. Nó được hiểu theo nghĩa “được – mất”. Hiểu như thế, mới thấy sự nguy hiểm của việc “nói mà không làm”. Thế nên, một khi chúng ta “Hứa” thì lời hứa đó phải đi đôi với việc làm. Bởi đó là lời Thiên Chúa đã truyền dạy: “lời con phải trước sau như một” (Hc 5, …10).

****
Hứa phải làm. “Lời con phải trước sau như một”. Vâng, tất nhiên Đức Giê-su chính là mẫu mực để chúng ta noi theo. Tuy nhiên, còn một người nữa chúng ta cũng cần phải noi theo, đó chính là Đức Maria, thân mẫu của Ngài.

Nếu nơi Đức Giê-su – Ngài đã đáp lời Cha Thiên Thượng “vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”, tại Vườn Nho Golgotha. Thì với Đức Maria - Mẹ cũng đã đáp lời truyền của Thiên Chúa qua sứ thần Gáp-ri-el, rằng: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền.” (x.Lc 1, 38).

Nói theo cách nói của người con thứ hai trong dụ ngôn, Đức Maria đã lên tiếng nói rằng: “Thưa Ngài, con đây!” Con đây, con sẽ đi làm vườn nho, nơi mà Cha đã tuyển chọn con.

Vâng, hành trình của Đức Maria được khởi đầu “từ thành Na-da-rét miền Ga-li-lê lên thành vua Đa-vít tức là Be-lem.” Tại đây, Đức Maria đã “sinh con trai đầu lòng, lấy tả bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm đươc chỗ trong nhà trọ” Quả là thật nghiệt ngã cho “Con Thiên Chúa”.

Ấy thế mà Đức Maria vẫn tiếp tục cuộc hành trình của mình. Rồi để thoát khỏi sự truy sát của Hê-rô-đê, Mẹ đã phải đem Con Thiên Chúa trốn qua Ai Cập. Kế đến là Nazareth ba mươi năm có lẻ với những lời đàm tiếu về con yêu dấu của mình “ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria sao?”

Nghiệt ngã chồng chất nghiệt ngã là thế ! Nhưng Đức Maria vẫn một lòng “phó thác đường đời cho Chúa”. Vẫn đặt niềm tin vào Thiên Chúa - “Đấng toàn năng đã làm… biết bao điều cao cả”. Vẫn vững bước tiến về Golgotha với bàn tay ôm trái tim nghẹn ngào nhìn Giê-su con yêu của mình: “chỉ vì tình yêu (đã phải) nhục thân chết cho trần gian… Để cứu muôn người lỗi tội đưa về trời đẹp tươi.”

Tại Ga-li-lê miền Na-da-rét, Đức Maria đã hứa. Tại Golgotha Mẹ đã thực thi trọn vẹn vai trò “người nữ tỳ trong Vườn Nho của Đức Chúa Trời”.

*****
Giáo Hội, như một truyền thống đẹp, đã dành riêng tháng mười hàng năm, để “Tôn sùng Mẫu Tâm” vả khuyên người tín hữu “hãy năng lần hạt Mân Côi” (hay còn gọi là Chuỗi Mân Côi).

Đã có rất, rất nhiều linh mục nói về Chuỗi Mân Côi. Có người nói, chuỗi Mân Côi như là một bản Tin Mừng rút gọn. Có người nói, lần chuỗi Mân Côi như một cách chúng ta tiếp tục sứ vụ thăm viếng Đức Maria của sứ thần Gáp-ri-en, năm xưa: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ.” v.v…

Thánh Bênađô nói: “Kinh Kính Mừng làm cho quỉ dữ trốn chạy, hỏa ngục run sợ”. Tuyệt vời chưa!

Vâng, rất nhiều ơn phúc khi chúng ta tiếp tục thăm viếng Đức Maria, qua việc lần chuỗi Mân Côi. Tuy nhiên, những ơn phúc đó chỉ đến với chúng ta khi chúng ta biết “trông lên Mẹ là gương mẫu của đời ta”. Nói cách khác, đó là chúng ta phải biết xin vâng, như xưa kia Đức Maria cất lời xin vâng.

Cất-lời-xin-vâng, nói theo bối cảnh câu chuyện dụ ngôn, đó là chúng ta phải có sự lựa chọn mình là ai? Là ai, giữa người con thứ nhất và người con thứ hai?

Là người con thứ nhất ư? Tốt, rất tốt. Chính các vị thượng tế và kỳ mục cũng chọn “người thứ nhất”. Là người con thứ hai? Thì đã sao!

Trong thực tế của đời sống đức tin, biết bao lần chúng ta đến với Chúa và cầu nguyện. Lời cầu nguyện của chúng ta chẳng phải là “Lạy Chúa, con chẳng đáng”, đó sao!

Vâng, chúng ta đừng ngại đến với Chúa với lời cầu nguyện “Thưa Chúa, con đây!” Con đây! Con đến để “thi hành ý muốn của Chúa” chứ không phải yêu cầu “Chúa thực hiện ý muốn của con”.

Đừng quên, một ngày nọ, Đức Giê-su có lời tuyên phán: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.” (Mt 7, 21).

Hôm nay, Chúa không kêu một hay hai người đi làm vườn nho, nhưng là kêu rất nhiều người. Người được kêu từ tảng sáng. Người được kêu giờ thứ ba. Người được kêu giờ thứ sáu, thứ chin. Người được kêu giờ mười một. Tất nhiên là có chúng ta.

Có chúng ta. Đừng bỏ lỡ cơ hội mà hãy đi. Hãy đến và nói: Thưa Chúa, này con đây. Con đây. “Con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10, 7).

Petrus.tran

Thứ Sáu, 22 tháng 9, 2023

Thiên Chúa luôn rộng lượng

“Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi là một quan tiền hay sao?”

Chúa Nhật XXV – TN – A
Thiên Chúa luôn rộng lượng

tbd 220923b

Trong nhạc phẩm “Giấc ngủ cô đơn” do nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác, có một phần lời bài hát khi được cất tiếng hát lên, nó đã làm cho không ít con tim khán thính giả rung động. Làm sao không rung động cho được, khi giọng ca đầy sự truyền cảm của ca sĩ Thanh Tuyền cất tiếng hát lên: “Đã yêu mến nhau, đừng gieo cay đắng cho nhau”.

“Đừng gieo cay đắng cho nhau” hay lắm! Vì đó là điều ai trong chúng ta cũng đều mong muốn như thế, phải không thưa quý vị! Thế nhưng, buồn thay! đây lại là điều hiếm thấy.

Trái lại, điều chúng ta dễ thấy, đó là: người người lại cứ gieo-cay-đắng-cho-nhau. Và, dường như đây là chuyện “thường xảy ra ở huyện”, xảy ra trong đạo lẫn ngoài đời.

Có hai điều “cay đắng” mà con người thường “gieo cho nhau” chúng ta có thể nhìn thấy thường xuyên, đó là: sự đố kỵ và ghen tỵ.

Đố kỵ là gì? Thưa, “là việc cảm thấy khó chịu trong lòng khi thấy người khác phát triển hơn mình ở một đặc điểm gì đó và sinh ra cảm giác ghét bỏ.” Còn ghen tỵ? Thưa, cũng vậy thôi. Ghen tỵ nghĩa là “So tính hơn thiệt giữa mình với người, và khó chịu khi thấy người ta hơn mình”. (nguồn: internet).

Giáo lý Công Giáo xem thói đố kỵ (hoặc ghen tỵ) là một trong bảy mối tội đầu. Do vậy, nên đã có lời dạy rằng: “yêu người chớ ghen ghét”.

Với Đức Giê-su thì sao? Thưa, trong những ngày còn tại thế, Ngài cũng đã không tiếc lời lên án thói ghen tỵ. Một trong những thông điệp, có thể được xem là thông điệp lên án thói xấu này mạnh mẽ nhất được Ngài đưa ra, đó chính là dụ ngôn “thợ làm vườn nho”. Dụ ngôn này được ghi trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (Mt 29, 1-16a).

**
Dụ ngôn được kể rằng: “Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình”. Hôm ấy, “sau khi đã thỏa thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc.”

Rồi đến khoảng giờ thứ ba. Đến “khoảng giờ thứ ba, ông lại trở ra, thấy có những người khác ở không, đang đứng ngoài chợ. Ông cũng bảo họ: Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng.” Nhóm người này có đi không? Thưa, thánh sử Mát-thêu cho biết: “Họ liền đi.”

Chưa hết… Chuyện kể tiếp rằng: “Khoảng giờ thứ sáu, rồi giờ thứ chín, ông lại trở ra và cũng làm như vậy.” Làm như vậy là làm gì! Thưa, dễ hiểu thôi, nghĩa là lại thuê thêm một toán thợ nữa.

Còn… còn nữa! Vào “khoảng giờ mười một, ông trở ra và thấy còn có những người khác đứng đó, ông nói với họ: Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?” Vâng, thật đáng thương, những người này từ sáng sớm cho tới “giờ mười một… không làm gì hết” là vì, theo họ nói: “không ai mướn chúng tôi”. Không-ai-mướn! Thôi được! Ông chủ vườn nho không chần chừ, bảo họ: “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho.”

Chiều đến, năm toán thợ, tính từ toán thợ được thuê lúc “vừa tảng sáng” cho đến toán thợ được thuê lúc “giờ mười một”, được người quản lý của ông chủ vườn nho tập trung lại để trả công cho họ. Ông chủ vườn nho trả công “bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người làm trước nhất”.

Cứ tưởng rằng, đây chính là lúc những người được thuê “phấn khởi hồ hởi” nở những nụ cười, sau một ngày lao động cực nhọc. Thế nhưng, cười đâu không thấy, lại thấy một số người thợ “cằn nhằn gia chủ”. Chuyện gì vậy! Thưa, vì cách thức chi trả tiền công của gia chủ.

Ông chủ chi trả thế nào mà họ cằn nhằn? Thưa, vì ông chi trả cho những người mới vào làm lúc giờ-mười-một, “ngang bằng” những người vào làm trước nhất (lúc tảng sáng).

Mới vào làm lúc giờ-mười-một (khoảng 5 giờ chiều) “ngang bằng” những người vào làm lúc tảng sáng (tức là 6 giờ sáng, theo giờ Do Thái) “mỗi người một quan tiền”, là sao!

Do vậy, họ ganh tỵ và cằn nhằn gia chủ rằng, “mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt” (x.Mt 20, 12).

Cứ tưởng rằng, lời ta thán của họ sẽ làm cho ông chủ mủi lòng và tăng thêm tiền công. Thế nhưng, đó là lời ta thán phi lý, phi lý trước một thỏa thuận mà họ đã chấp nhận. Vâng, hôm ấy, đáp lời ta thán, ông chủ đã nói với họ rằng, “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi là một quan tiền hay sao?”

Aleksandr Solzhenitsyn có nói: “Sự ghen tỵ với người khác nuốt chửng chúng ta nhiều nhất”. Vâng, hôm ấy, nhóm thợ cằn nhằn ông chủ đã “nuốt chửng thỏa thuận”, một sự thỏa thuận mà chính họ đã công nhận, trước đó.

Còn phần ông chủ ư! Ông có gì sai trái! Đây, chúng ta cùng nghe tiếp câu trả lời của ông chủ vườn nho với một người trong nhóm họ: “Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?”

***
Cứ sự thường, sau khi đọc xong dụ ngôn này, chúng ta luôn có sự suy nghĩ rằng, Đức Giê-su đã dạy cho chúng ta một bài học về sự ganh tỵ.

Đúng, qua câu chuyện dụ ngôn, chúng ta biết rằng, ganh tỵ là điều không được hoan nghênh ở “Vườn Nho Nước Trời.” Thì đây, ông chủ vườn nho đã chẳng nói với những người thợ cằn nhằn chỉ vì ganh tỵ, rằng: “Cầm lấy phần của bạn mà đi đi”, đó sao!

Thế nên, ngay hôm nay, bằng mọi cách, chúng ta phải làm sao để không bị sự ganh tỵ chi phối cuộc sống của mình. Bởi vì nếu để cho sự ganh tỵ chi phối đời ta, chẳng chóng thì chày, ta sẽ bị trôi theo vòng xoáy của tội lỗi. Vòng xoáy của tội lỗi đó đã được Lm. Gioan Vianney, liệt kê như sau: “nói xấu, vu khống, xảo quyệt, lập đi lập lại những gì mình biết. Còn những gì không biết, thì bịa đặt ra, hay thổi phồng lên…”

Câu chuyện Ca-in và A-ben là ví dụ điển hình. Chuyện kể rằng: Ca-in tức giận khi Đức Chúa Trời chấp nhận lễ vật của A-ben, nhưng lại không chấp nhận lễ vật của ông. Ca-in có thể khắc phục hoàn cảnh này, thế nhưng, chỉ vì sự ghen tị trong lòng ông quá lớn; lớn đến nỗi ông không thể kiềm chế, để rồi ông lừa A-ben ra đồng vắng và đã giết em mình (St 4, 4-8).

Vậy thì phải làm sao, bây giờ? Thưa, thánh Phê-rô cho ta lời khuyên, khuyên rằng: thứ nhất “vâng phục sự thật”, thứ hai “thanh luyện tâm hồn để thực thi tình huynh đệ chân thành” và cuối cùng là “hãy tha thiết yêu mến nhau với cả tâm hồn” (x.1Pr 1, 22).

Còn với thánh Phao-lô? Thưa, ngài Phao-lô có lời chỉ giáo: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương…” Như vậy, chúng ta phải có tình yêu thương.

Và, cuối cùng là hãy “vui với người đang vui” (x.Rm 12,15). Tại sao? Thưa, là bởi, vui với người thành công hơn ta, vui với người may mắn hơn ta, trong tâm hồn ta còn chỗ nào cho sự ghen tỵ ngự trị!?

Khi trong tâm hồn ta không còn chỗ cho sự ghen tỵ ngự trị, có phần chắc chúng ta sẽ chẳng bao giờ “gieo cay đắng cho nhau”.

Do vậy, điều mà chúng ta cần biết hôm nay “là phải xem lại vị trí của mình trong dụ ngôn” là vị trí nào. Vâng, Lm.Charles E.Miller có lời khuyên như thế.

“Chẳng lẽ ta nghĩ mình là người làm việc cho Chúa lâu năm và quá nhiệt thành đến mức coi mình thuộc nhóm thợ vào làm việc trước nhất?” Đừng, đừng nghĩ như thế mà hãy nghĩ đến… ngài Lm Charles tiếp lời khuyên, rằng: “… sự rộng lượng của Thiên Chúa”.

Nói tới sự rộng lượng của Thiên Chúa, tác giả sách Thánh Vịnh đã cảm nghiệm được điều này nên đã nói: “Ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa” (x.Tv 130, …7).

Nếu xưa kia, dân Do Thái được biết đến sự rộng lượng của Thiên Chúa, qua lời mời gọi của ngôn sứ Isaia, rằng: “Đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây! Dầu không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng; đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào.” (Is 55, 1).

Thì ngày nay, “sự rộng lượng của Thiên Chúa được biểu hiện qua cuộc cử hành Bí Tích Thánh Thể”. Vâng, Lm. Charles có lời chia sẻ như thế, và ngài Lm tiếp lời rằng: “Thiên Chúa nuôi dưỡng chúng ta bằng Mình và Máu Thánh Tử của Người. Thật là chính đáng khi chúng ta thú nhận: ‘Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con’… Nhưng sau khi chúng ta thú nhận mình bất xứng, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta đến lãnh nhận Mình và Máu Thánh Ngài trong đức tin.”

Vâng, Lạy Chúa, con chẳng đáng. Rất, rất nhiều ơn phước Ngài đã ban cho, dẫu rằng con chẳng đáng được đón nhận.

Thế nên, dù chúng ta có là những người đã làm việc trong “Vườn Nho Giáo Hội” của Chúa bao nhiêu năm đi nữa, thì cũng đừng càm ràm về những gì Ngài đã và sẽ “ban trả” cho chúng ta.

Đức tin, đức tin sẽ giúp chúng ta không oán trách, giận hờn về những gì Chúa “ban trả” chúng ta. Trái lại, đức tin giúp chúng ta cảm nghiệm rằng: “Thiên Chúa luôn rộng lượng”.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 16 tháng 9, 2023

Hãy hết lòng tha thứ…

 “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.” (Mt 18, 22).

Chúa Nhật XXIV – TN – A
Hãy hết lòng tha thứ…

tbd 150923a

Nhớ, trước năm 1975, truyện kiếm hiệp hoặc phim kiếm hiệp Tàu đã có một thời làm mưa làm gió ở Saigon. Ngoài một số truyện hoặc phim nói về những anh hùng trừ gian diệt bạo, đa phần nội dung cốt truyện liên quan đến sự báo thù. Sự báo thù được mô tả trong truyện hoặc trong phim thường xoay quanh việc bang hội này báo thù bang hội kia, con cái báo thù cho cha mẹ, hoặc đệ tử báo thù cho sư phụ của mình.

Con mà không báo thù cho cha mẹ sẽ bị mang tội bất hiếu. Đệ tử không báo thù cho sư phụ thì bị gọi là bất trung. Phạm vào hai tội danh trên, đôi khi còn bị xem là mang tội với trời với đất.

Do vậy, việc báo thù trở thành một đức hạnh của người quân tử. Chắc hẳn, ai trong chúng ta cũng đều nghe đến một câu nói bất hủ của người Trung Hoa xưa: “Quân tử trả thù, mười năm chưa muộn.”

Khi nói đến sự báo thù, có thể nói, nó như một căn bệnh trầm kha trong suốt chiều dài lịch sử con người. Con người đua nhau báo thù, từ đời nọ đến đời kia, từ đời con đến đời cháu, v.v… Dưới thời phong kiến, sự báo thù rất tàn bạo, đó là: “tru di tam tộc”. Có khi lên tới cửu tộc.

Với người Do Thái, cũng không là ngoại lệ. Tuy nhiên sự báo thù của họ chỉ được phép ở mức độ công bằng: “Mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân”.

Công bằng là thế, thế nhưng với Đức Giê-su, tuy cũng là người Do Thái, Ngài lại không hoan nghênh bất cứ hình thức báo thù nào, dù hình thức báo thù có công bằng tới đâu.

Điều luật nêu trên được đặt ra không có mục đích khuyến khích người ta trả thù, lại càng không cho phép một người thực thi công lý theo kiểu ăn miếng trả miếng. Chính Môsê, người công bố đạo luật nêu trên, đã cấm: “Ngươi không được trả thù hay căm giận người trong dân mình” (Lv 19, 18).

“Chớ báo thù – Hãy yêu kẻ thù”. Đó là những điều cũng đã được Đức Giê-su truyền dạy. Bên cạnh những điều truyền dạy này, Ngài còn có lời khuyên bảo: “Hãy tha thứ cho nhau”. Tin Mừng thánh Mát-thêu đã ghi lại chi tiết bối cảnh Đức Giê-su nói lên lời khuyên bảo đáng ghi nhớ này.

**
Chuyện được thánh sử Mát-thêu ghi lại như sau: Một hôm, khi Đức Giê-su và các môn đệ quây quần bên nhau, bất chợt ông Phê-rô đến gần Ngài và hỏi: “Thưa Thầy, nếu anh em con xúc phạm đến con, thì con phải tha thứ mấy lần? Có phải bảy lần không?”

Bảy lần! Tại sao ông Phê-rô lại đưa ra con số bảy? Thưa, là bởi “số bảy” là một con số được xem là hoàn hảo về số lượng lẫn tâm linh đối với người Do Thái. Thế nên, thật khó để mà phủ nhận lời “gợi ý” của ông Phê-rô là một lời gợi ý hoàn hảo.

Ấy thế mà, thế mà Đức Giê-su vẫn không cho là hoàn hảo. Hôm ấy, đáp lời Phê-rô, Đức Giê-su nói: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.” (Mt 18, 22).

***
Bảy-mươi-lần-bảy nghĩa là sao? Thưa, theo phép toán nhân, đó là: bốn trăm chín mươi lần. Vậy, đây là giới hạn của sự tha thứ! Thưa, về điều thắc mắc này, một nhà truyền giáo đã có lời chia sẻ, rằng: “Thật ra, câu trả lời của Đức Giê-su không nhằm đưa ra một giới hạn vì sự tha thứ không thể nói bao nhiêu lần là đủ, mà phải là luôn luôn tha thứ. Đó là tiêu chuẩn tha thứ của Đức Chúa Trời. Thập tự giá mà Đức Giê-su nhận lấy để đền tội là sự tha thứ không giới hạn đã được Đức Chúa Trời sắm sẵn cho nhân loại. Đức Chúa Trời đã chuẩn bị sự tha thứ trong Đức Giê-su trước, rồi mới chất hết thảy tội lỗi của nhân loại từ xưa tới nay trên thân thể Con Một của Người.” (nguồn: internet).

Đúng vậy, bài học về sự tha thứ mà Đức Giê-su truyền dạy cho các môn đệ xưa (và cũng là cho chúng ta hôm nay) là muốn hướng mọi người hãy nhìn lại bản thân đầy tội lụy của chính mình. Chính mình, chính chúng ta rất, rất cần sự tha thứ.

Thế nên, chúng ta hãy nghe lại lời truyền dạy về sự tha thứ của Đức Giê-su được ghi trong Tin Mừng thánh Luca. Lời truyền dạy rằng: “Nếu người anh em của anh xúc phạm đến anh, thì hãy khiển trách nó; nếu nó hối hận, thì hãy tha thứ cho nó. Dù nó xúc phạm đến anh một ngày đến bảy lần, và bảy lần trở lại nói với anh: ‘Tôi hối hận’ thì anh cũng phải tha thứ cho nó” (x.Lc 17, 3-4).

Như vậy, tất cả chúng ta đều đã rõ. Tha thứ không phải là lời mời gọi, nhưng là lệnh truyền. Thi hành lệnh truyền này, không phải để chúng ta nhận lấy lời khen của ai đó, nhưng là để nhận được ơn tha thứ vô hạn của Thiên Chúa. Thi hành lệnh truyền này còn để “phân biệt” chúng ta là người thuộc về Chúa, hay là người thuộc về thế gian.

Là người thuộc thế gian: cứ chờ mười năm… mười năm rồi sao… rồi “tưởng chừng đã quên” chăng! Còn đã là người thuộc về Chúa: “Hãy tha thứ cho nhau”.

****
Phải thực thi lệnh truyền “Hãy tha thứ cho nhau”. Nếu không, nếu không… chúng ta sẽ bị dán nhãn là “tên mắc nợ không biết thương xót”.

Tên mắc nợ không biết thương xót là ai! Thưa, đây là một nhân vật được Đức Giê-su nói đến trong một dụ ngôn, như một lời cảnh cáo cho những ai không thực thi lệnh truyền của Ngài.

Dụ ngôn được kể rằng: “Một ông vua kia muốn đòi các đầy tớ của mình thanh toán sổ sách.” Có một người “mắc nợ vua mười ngàn yến vàng”. Và, thảm hại thay “y không có gì để trả.” Để xóa nợ “tôn chủ ra lệnh bán y cùng tất cả vợ con, tài sản.” Nghe thế, tên đầy tớ hoảng hốt “sấp mình xuống… xin (tôn chủ) rộng lòng hoãn lại”.

Tôn chủ đáp lại lời cầu xin của tên đầy tớ thế nào? Thưa, ông ta: “chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ.”


Tên đầy tớ “được tha”. Nhưng tệ thật! Chuyện kể tiếp rằng: “vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một người đồng bạn, mắc nợ y một trăm quan tiền.” Vâng, chỉ có một-trăm-quan-tiền, ấy thế mà tên đầy tớ “liền túm lấy, bóp cổ mà bảo: trả nợ cho tao!”

Thật đáng thương cho “người đồng bạn” này. Vì không có tiền trả nợ, nên anh ta bị tên đầy tớ “tống vào ngục cho đến khi trả xong nợ.”

Chuyện đến tai tôn chủ. Tôn chủ cho đòi y tới. Một cơn mưa luận tội trút lên tên đầy tớ. Mười ngàn yến vàng so với một trăm quan tiền, là một khoảng cách lớn, là một trăm triệu quan tiền. (So với tiền lương thời đó), làm cả đời cũng không trả nổi.

Không trả nổi! Vậy mà “ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi… thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?” Thật không oan uổng khi tôn chủ dán cho tên đầy tớ một cái nhãn là “đầy tớ độc ác”.

Sự độc ác của tên đầy tớ đã làm cho tôn chủ “nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông.”

Kết thúc dụ ngôn, Đức Giê-su có lời khuyến cáo: “Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.” (x.Mt 18, 35).

Không tha thứ, cố Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn Văn Thuận nói: “Tôi không đáng được gọi là Kitô hữu”. Với William Arthur Ward: “Tình bạn tươi tốt bên suối nguồn tha thứ”. Với Mahatma Gandhi: “Kẻ yếu không bao giờ có thể tha thứ. Tha thứ là phẩm cách của kẻ mạnh.”

Cuối cùng, chúng ta hãy nghe lời khuyên của thánh Phanxicô thành Assisi: “Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ”.

Vâng, chúng ta đã nghe lời khuyến cáo của Đức Giê-su. Chúng ta đã nghe lời khuyên răn của nhiều vị tiền bối. Thế nên, đừng bao giờ nghĩ tới báo thù. “Hãy dành sự báo thù cho Chúa” (Cn 20, 22). Phần chúng ta, hãy “hết lòng tha thứ cho anh em mình”.

Nói ngắn gọn: hãy hết lòng tha thứ.

Petrus.tran

Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một.

  Chúa Nhật XXX – TN – A Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một Đọc các sách Tin Mừng, chúng ta được biết, sứ vụ rao giảng Tin Mừng của...