Thứ Bảy, 9 tháng 12, 2023

Tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy…

 “Ông Gio-an Tẩy Giả đã xuất hiện trong hoang địa, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội”.

Chúa Nhật II – MV – B
Tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy…

 

tbd 091223a

Thời tiết Saigon những buổi sáng vừa qua, trời se se lạnh. Và khi nói tới lạnh, nhất là cái lạnh cuối năm, nó làm cho chúng ta liên tưởng rằng, Lễ Giáng Sinh gần kề. Vâng, Giáng Sinh và cái lạnh, cái lạnh và Giáng Sinh nó như một người bạn đồng hành. Sự đồng hành rõ nét nhất mà chúng ta dễ thấy, đó là trong âm nhạc, đạo cũng như đời.

Về nhạc đời, tiêu biểu là ca khúc “Tà áo đêm Noel”. Với ca khúc này, nhạc sĩ Tuấn Lê tác giả bài hát, đã làm cho không biết bao nhiêu khán thính giả cảm nhận được cái lạnh của đêm Giáng Sinh, khi ca sĩ Đan Nguyên cất lên tiếng hát: “Tiền đồn biên giới heo hút trong màn tối. Vài đóm hỏa châu le lói soi cuối trời. Trầm trầm chuông ngân đây nghe buồn tênh. Ánh sao hiền lấp lánh báo tin lành Chúa sinh… Từ miền khu chiến trông ánh sao mà nhớ. Tà áo màu xanh năm ấy em vẫn chờ. Một mùa Noel hai đứa nghe niềm vui. Hát chung một ca khúc. Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời.”

Về nhạc đạo, nhạc sĩ Hải Linh, với ca khúc “Hang Belem”, qua lời của bài hát, nó không chỉ làm cho khán thính giả thấy cái lạnh như đang hòa quyện vào Hài Nhi Giê-su, mà còn có cảm giác như đang quây quần bên hang Belem với Hài Nhi Giê-su được “nằm trong máng cỏ”.

Vâng, chúng ta hãy cùng thưởng thức: “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời. Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa… Nửa đêm Thiên Chúa giáng sinh ra chốn dương trần. Người đem ân phúc xuống cho muôn dân lầm than. Nơi hang Belem chiên lừa thở hơi. Tan giá đêm đông ấm thân con người.”

Trở lại với hai ca khúc nêu trên, tuy là một đời… một đạo, nhưng lại có một điều làm chúng ta PHẢI SUY NGHĨ, đó là cả hai cùng nêu lên một thông điệp, một thông điệp chung, rằng “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, (CHÚA) đã từ trời xuống thế”. Thánh Luca đã gọi sự kiện này là “một-tin mừng trọng đại…” Rằng: “một Đấng Cứu Độ đã sinh ra… Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa” (x.Lc 2, 10-11).
**
Vâng, rất đáng suy nghĩ, vì: lời loan báo một-tin-mừng-trọng-đại, “một Đấng Cứu Độ đã sinh ra… Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa” đã được ngôn sứ I-sai-a, (trước đó), mô tả qua lời chép rằng: “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con. Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.” (x.Mc 1, 2-3). Rất đáng suy nghĩ, vì điều ngôn sứ I-sai-a chép, đã xảy ra: “đúng theo lời đó”.

Người sứ giả được sai, chính là ông Gio-an Tẩy Giả. Thánh sử Mác-cô cho biết: “Ông Gio-an Tẩy Giả đã xuất hiện trong hoang địa, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội”.

Đáp lời kêu gọi của ông: “Mọi người từ khắp miền Ga-li-lê và thành Giê-ru-sa-lem kéo đến với ông.” Họ đến với ông và thực hiện đúng những gì ông yêu cầu. Đó là: “Họ thú tội”. Phần ông Gio-an, ông cũng làm đúng những gì ông nói. Vâng, “ông làm phép rửa cho họ trong sông Gio-đan”.

***
Ông Gio-an Tẩy Giả, tưởng chúng ta nên biết, là con ông Dacaria, một vị tư tế thuộc nhóm Avigia, và mẹ là bà Elisabeth, thuộc dòng tộc tư tế Aharon. Sau khi sinh được tám ngày, chịu phép cắt bì và đặt tên là Gio-an, thì người cha là Dacaria được tràn đầy Thánh Thần và nói: “Hài nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao, con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người.” (Lc 1,76).

Những gì ông Dacaria nói về con mình, đã thành sự thật! Đúng, đã thành sự thật. Một ngày nọ, tại sông Gio-đan, sau khi kêu gọi người ta tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội, ông Gio-an, như một ngôn sứ, lớn tiếng loan báo rằng: “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người.”

Lý do gì ông Gio-an nói mình “không đáng”! Thưa, hôm ấy, ông Gio-an nói rằng: “Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần.” Đó, đó chính là lý do!

Hôm nay, Phụng Vụ Lời Chúa nhắc đến Gioan Tẩy Giả. Nhắc đến Gioan Tẩy Giả, Giáo Hội muốn chúng ta hãy nhìn ông như một mẫu mực cho đời sống của chính bản thân mình. Đó là, chúng ta hãy sống một đời sống khiêm nhường giản dị trong cách ăn, cách mặc. Đó là, chúng ta hãy sống một đời sống của một ngôn sứ, một người ngôn sứ trung thực dám sống cho sự thật và chết cho sự thật như chính ông, khi xưa.

Hồi ấy, để bảo vệ sự thật, Gioan Tẩy Giả đã không ngần ngại vạch mặt chỉ tên nhóm “thần quyền” giả hình Phariseu và Xa-đốc. Ông đã nói họ chỉ là: “Nòi rắn độc”. Và ông đã dám chết cho sự thật để ngăn cản một việc làm đáng chê trách của bạo chúa Hê-rô-đê.

****
Nếu xưa kia, Israel chờ đợi một Đấng Messia đến để giải thoát họ khỏi ách đô hộ của Roma. Thì, ngày nay, chúng ta chờ đợi Đức Giê-su “sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét người sống và kẻ chết”.

Thế nên, thật phải đạo khi chúng ta trở lại dòng sông Gio-đan. Trở lại dòng sông Gio-đan không phải để chiêm ngắm một “ông Gio-an mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng”, nhưng là để nghe lại lời ông đã rao giảng. Vâng, ông đã “rao giảng kêu gọi mọi người chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội”.

Nói theo cách nói ngày nay, đó là: chúng ta hãy đến nhà thờ, lãnh nhận Bí Tích Giải Tội tỏ lòng sám hối, để được ơn tha tội.

Đừng bao giờ lầm lẫn và nghĩ rằng, mình sống ăn-ngay-ở-lành không làm gì nên tội, không giết người, không trộm cắp, không lừa gạt, không bất công với ai, thì có gì phải “xưng tội”.

Theo tiêu chuẩn con người, chúng ta có thể là người không có tội. Nhưng trước mặt Thiên Chúa thánh khiết, mọi người đều là tội nhân. Thánh Thần Chúa qua miệng lưỡi tông đồ Phao lô, đã nói rằng: “Vì mọi người đều đã phạm tội, mất hết sự vinh hiển của Thiên Chúa” (Rm 3, 23).
Xưa kia, vua David đã nhận rõ điều này nên đã cất tiếng thở than: “Lúc chào đời con đã vương lầm lỗi. Đã mang tội khi mẹ mới hoài thai” (Tv 51, 7). Rồi, khi tay lỡ nhúng chàm, David thú tội: “Con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm… Xin rửa con sạch hết lỗi lầm… Xin dùng cành hương thảo rẩy nước thanh tẩy con, con sẽ được tinh tuyền, xin rửa con cho sạch, con sẽ trắng hơn tuyết” (x.TV 51, 9).

Lời thú tội của vua David, có thể nói là một lời thú tội đầy tràn “lòng sám hối”. Do vậy, chúng ta đừng ngại ngùng ngước lên thánh giá Chúa Ki-tô mà “Thú nhận cùng Thiên Chúa là Cha Toàn năng…” (Rằng) “… tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu xót. Lỗi tại tôi. Lỗi tại tôi. Lỗi tại tôi mọi đàng”

Biết nói lỗi-tại-tôi, thì “tôi” lại càng phải tỏ lòng sám hối. Biết nói lỗi-tại-tôi, thì tôi lại càng phải “dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.”

Vâng, phải “dọn và sửa” con đường tâm hồn của chúng ta. Chúng ta phải “dọn” sạch con đường tâm hồn của mình những loại rác rưởi, đại loại như: rác rưởi dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, v.v…

Dọn rồi, chúng ta còn phải “sửa”, sửa lại những chỗ lồi lõm do sự kiêu căng, ngạo mạn, do sự dối trá, lừa gạt v.v… tạo ra, bằng cách trải lên đó những thảm nhựa “bác ái, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ”.

Thánh Cyprian có nói: “Với những người còn ở trần gian, không có sự sám hối nào là quá trễ. Con đường đến với lòng thương xót Thiên Chúa vẫn rộng mở”.

Thế nên, ngay hôm nay, bây giờ, mỗi chúng ta hãy cầu nguyện, với tất cả lòng sám hối, lời nguyện rằng: “tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy” (Tv 51, …4).

Petrus.tran

Thứ Bảy, 2 tháng 12, 2023

Phải tỉnh thức và sẵn sàng

 “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến”.

Chúa Nhật I – MV – B
Phải tỉnh thức và sẵn sàng

tbd 011223a


Hằng năm, thường vào cuối tháng mười một Dương lịch, Giáo hội Công Giáo bắt đầu năm phụng vụ mới. Và, theo truyền thống, mở đầu năm Phụng Vụ là Mùa Vọng.

Mùa Vọng (thường thì) kéo dài bốn tuần lễ. Với bốn tuần lễ, đó là một thời gian đủ dài để mọi người chuẩn bị đón mừng lễ Chúa Giáng Sinh.

Mọi người chuẩn bị đón mừng như thế nào? Thưa, Đình Vượng, tác giả bài viết “Đêm Thánh”, có lời tâm sự: “Giữa những hối hả chuẩn bị đón mừng Chúa Giáng Sinh ở nhiều giáo đường, nào cây thông Noel lấp lánh ánh đèn màu, lủng lẳng đồ vật trang trí muôn hình muôn vẻ (cây thông càng lớn, nhiều tiền, càng giá trị), nào hang đá được trình bày công phu (ngày nay không đơn giản là giấy bao xi-măng vò nát làm đá, mà là hang đá của thời công nghiệp, có suối chảy róc rách, có đôi cánh thiên thần lúc thì mở ra lúc thì úp vào, có Đức Mẹ và Thánh Giuse thỉnh thoảng chấp tay cúi đầu thờ lạy, loại hình này xuất hiện ở nhiều thánh đường không chỉ dành cho tín hữu, mà còn có cả khách thập phương đến thưởng ngoạn), và nhiều hình thức trang trí khác nữa, rất đẹp, đến nỗi ai nhìn cũng mở miệng khen. Không thể không nhắc đến: hết ca đoàn này đến ca đoàn nọ tập hát thánh ca, hội đoàn này hội đoàn kia đóng góp chuẩn bị tiệc mừng quen gọi là re-vei-zon!”

Cuối cùng, tác giả thú nhận: “Là phàm nhân, lạy Chúa, con cũng bị cuốn hút vào dòng chảy đón mừng Chúa như vậy.”

Chuẩn bị “đón mừng Chúa như vậy”, thì đã sao! Sao lại than thở con-cũng-bị-cuốn-hút-vào-dòng-chảy? Vâng, có lẽ… có lẽ tác giả cho rằng chuẩn bị đón mừng Chúa như vậy chưa phải là chuẩn bị cách trọn hảo.

Thế thì, thế nào là chuẩn bị cách trọn hảo? Thưa, trả lời cho câu hỏi này, không khó. Để chuẩn bị cách trọn hảo, chúng ta cần hiểu ý nghĩa của “Mùa Vọng”.

Ý nghĩa mùa Vọng là gì? Thưa, “Vọng” dịch từ tiếng La tinh “Adventus”, có nghĩa là “đến”. Vọng là trông chờ, là mong đợi điều sắp đến. Như vậy, điều Giáo Hội muốn nói đến và chúng ta cần “hiểu” về mùa Vọng, đó là sự trông chờ và mong đợi ngày “Chúa đến”.

Xưa, cách nay hơn hai ngàn năm. Chúa Giê-su đã đến rồi. Ngài đã được sinh ra tại Belem miền Giu-đê. Đó là một tin mừng trọng đại. “Một Đấng Cứu Độ đã sinh ra. Người là Đấng Kitô Đức Chúa”.

Còn hôm nay, trông chờ và mong đợi “Chúa đến” là đến “lần thứ hai”. Người sẽ đến không âm thầm tại một Belem nào đó, nhưng là đến thật uy nghi, “đến trong vinh quang để phán xét người sống và kẻ chết”.

Sự trông chờ và mong đợi “Chúa đến lần thứ hai”, không tự Giáo Hội nghĩ ra, nhưng được dựa vào lời nói của “hai người đàn ông mặc áo trắng” hiện diện trong ngày Đức Giê-su lên trời. Hôm đó, hai vị ấy nói rằng: “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn trời? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” (x.Cv 1, 11).

Chính Đức Giêsu, trước giờ tử nạn, trong bữa tiệc Vượt Qua, cũng đã tâm tình cùng các môn đệ, rằng: “Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy… Bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng, và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được.” (Ga 16, 16…22).

Và, để cho các môn đệ không băn khoăn về việc ngày nào, giờ nào “Thầy sẽ gặp lại anh em”, Đức Giêsu đã nói với các môn đệ rằng “Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không; chỉ có Chúa Cha biết mà thôi”.

Sau đó, Ngài có lời khuyên tiếp rằng: “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến”. Tiếp sau lời khyên, Đức Giêsu đã kể một câu chuyện, một câu chuyện để các môn đệ (và cũng là cho chúng ta hôm nay) nhận thức được tầm quan trọng của sự tỉnh thức. Câu chuyện này được ghi lại trong Tin Mừng Mác-cô. (x.Mc 13, 33-37).

**
Câu chuyện được kể rằng: “Cũng như người kia trẩy đi phương xa, để nhà lại, trao quyền cho các đầy tớ của mình, chỉ định cho mỗi người một việc, và ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức”.

Tiếp đến, Đức Giê-su có lời nhắn nhủ, rằng: “Vậy anh em phải canh thức…” Có thể nói rằng, lời nhắn nhủ của Đức Giê-su rất hợp tình, rất hợp lý. Hợp tình vì “… không biết khi nào chủ nhà đến”. Hợp lý vì có thể chủ nhà đến “lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng.” Nói ngắn gọn, chủ nhà sẽ đến “bất ngờ”.

Vâng, “tình hình là rất tình hình”, phải không, thưa quý vị? Thế nên, Đức Giê-su thêm lời khuyến cáo, lời khuyến cáo rằng: “Anh em phải canh thức, kẻo lỡ ra ông chủ đến bất thần, bắt gặp anh em đang ngủ.”

Phải tỉnh thức. Phải canh thức. Phải canh thức. Phải canh thức… Vâng, khởi đầu câu chuyện, cho tới đoạn văn này, Đức Giê-su “bốn lần” nhắc đến mệnh lệnh này.

Có nhiều quá không? Nhiều, chắc là vậy. Thế nhưng, Ngài vẫn nói thêm một lần nữa. Lần này, Đức Giê-su không chỉ “nói với các môn đệ”, mà còn “nói với hết thảy mọi người.” Ngài nói: “Phải canh thức!”

***
“Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người.” Hết-thảy-mọi-người phải chăng là có cả chúng ta! Thưa, hẳn phải là vậy. Phải là vậy, bởi vì những gì Đức Giê-su nói trong câu chuyện này rất, rất phù hợp với hoàn cảnh sống đức tin của mỗi chúng ta, hôm nay.

Vâng, như ông chủ trẩy đi phương xa, để lại nhà. Hôm nay, Chúa Giê-su cũng đã đi xa (lên trời), để lại một Giáo Hội. Ông chủ “trao quyền” - Đức Giê-su cũng trao quyền, trao quyền cho Giáo Hội, đại diện là tông đồ Phê-rô.

Hồi ấy, khi Đức Giê-su và các môn đệ đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Ngài đã nói với Phê-rô, rằng: “Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” (Mt 13, 19).

Ông chủ “chỉ định mỗi người một việc”. Đức Giê-su cũng làm như thế chăng! Thưa, đúng vậy. Ngài đã chỉ định cho chúng ta nhiều công việc phải làm. Công việc quan trọng nhất, (ai cũng phải làm), đó là: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền dạy.” (x.Mt 28, 19-20).

Nói cách khác, điều Đức Giê-su “chỉ định” chúng ta phải làm đó là truyền giáo, là sống Lời Chúa (Kinh Thánh) là tuân giữ Lề Luật Chúa.

Thánh Phao-lô cho chúng ta biết còn một điều quan trọng nữa mà Đức Giê-su “chỉ định” chúng ta phải làm. Đó là, “Trong đêm bị nộp, Chúa Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: Đây là mình Thầy, hiến dâng vì anh em, anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy.”

Chưa hết, ngài Phao-lô còn tiếp lời rằng: “Cũng thế, sau bữa ăn, Người cầm lấy chén rượu và nói: Chén này là Giao Ước Mới, lập bằng Máu Thầy, mỗi khi uống, anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy.” (1Cor 11, 23-25).

Những điều thánh Phao-lô nói trên đây, chính là “Bí Tích Thánh Thể” mà Đức Giê-su đã thiết lập. Và, Ngài đã (hai lần) chỉ định chúng ta “hãy làm việc này”. Thế nên, chúng ta đừng quên, làm-việc-này mỗi Thánh Lễ Chúa Nhật, nhé!

Trở lại Đình Vượng, tác giả bài viết “Đêm Thánh”. Trong bài viết tác giả có “lời thì thầm” rằng: “Ước chi, các giáo đường giảm thiểu chi phí xem ra có vẻ hình thức, xin dành số tiền đó cho người nghèo, bất hạnh.”

Đúng vậy, chuẩn bị cho ngày lễ Giáng Sinh, thay vì “chạy đua” với những cây thông “ngàn đô”, chúng ta nên nhìn vào thực tại bi đát của những người nghèo khó. Với những người đói, chúng ta cho ăn. Với những ai khát, chúng ta cho uống. Còn ai rách rưới, chúng ta cho áo quần, v.v…

Đừng quên, những việc làm này cũng là những việc mà Đức Giê-su “chỉ định” chúng ta phải làm. Một ngày nọ, Ngài đã tuyên phán, rằng: “Mỗi lần các người làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi làm cho chính Ta vậy.” (x.Mt 25, 40).
 
****
Trong câu chuyện, Đức Giê-su (ông chủ) có đưa ra một mệnh lệnh, đó là: “người giữ cửa phải canh thức.”

Người-giữ-cửa là ai? Phải chăng, là mỗi chúng ta? Rất, rất có thể là vậy. Và, nếu là vậy, thì chúng ta lại càng phải tỉnh thức để mà canh thức.

Thật đúng là vậy. Nếu chúng ta là một Giám Mục, chẳng phải chúng ta là người-giữ-cửa – cánh cửa của ngôi nhà Giáo Hội, đó sao! Thế nên, chúng ta lại càng phải tỉnh thức để mà canh thức. Canh thức gìn giữ Giáo Hội trước những hiểm nguy của một nền văn hóa sự chết, một nền văn hóa cổ xúy hôn nhân đồng tính, tự do phá thai, v.v… hầu có thể cảnh báo cho “đàn chiên” của mình, đàn chiên mà ông chủ Giê-su đã giao phó.

Nói tới người-giữ-cửa – cánh cửa của ngôi nhà Giáo Hội. Tôi (người viết) chợt nhớ đến Lm. An-rê Đỗ Xuân Quế OP. Ngài quả là một người-giữ-cửa “luôn tỉnh thức”, tỉnh thức để thức tỉnh đàn chiên của mình.

Đó là vào năm 2003. Một cuốn tiểu thuyết có tên là Mật mã Da Vinci của nhà văn người Mỹ Dan Brown, được xuất bản bởi nhà xuất bản Doubleday Fiction.

“Cuốn tiểu thuyết này nhận được nhiều phê bình sâu sắc. Những người ủng hộ cho rằng quyển tiểu thuyết rất sáng tạo, đầy kịch tính và làm cho người xem phải suy nghĩ. Người chỉ trích thì cho rằng quyển sách không chính xác và viết rất kém, những chỉ trích còn lên án các ẩn ý xấu của Dan Brown về Giáo hội Công giáo.”

Hồi ấy, người-giữ-cửa – cánh cửa của ngôi nhà Giáo Hội, Lm. An-rê Đỗ Xuân Quế đã nói gì, về cuốn tiểu thuyết này! Thưa, trên tòa giảng mỗi Thánh lễ Chúa Nhật, không tuần nào ngài lại không vạch ra những mưu mô thủ đoạn của “ông thần Dan Brown”. Rồi khi đến cuối bài giảng, ngài Lm. An-rê luôn cảnh báo cho đàn chiên của mình, rằng: đó là một câu chuyện đầy sự dối trá. Mà, sự dối trá từ đâu ra, chúng ta biết rồi, ma quỷ…

Trở lại với vai trò người-giữ-cửa. Vâng, nếu chúng ta là một người cha, là một người mẹ, chẳng phải chúng ta là người-giữ-cửa, cánh cửa ngôi nhà của chúng ta, trong đó có: vợ (hoặc chồng) cùng con cái, đó sao! Thế nên, chúng ta lại càng phải tỉnh thức. Phải tỉnh thức để biết lúc nào là lúc mở cánh cửa tâm hồn mình, một tâm hồn bao dung và tha thứ. Bao dung trước tính tình trái ngược của vợ hay của chồng. Tha thứ trước những lỗi lầm của con cái.

Nếu chúng ta là một thầy giáo, là một bác sĩ, là một y tá, v.v… chẳng phải chúng ta là người-giữ-cửa, cánh cửa của đạo đức, của lương tâm, của lòng thương xót, đó sao! Thế nên, chúng ta lại càng phải tỉnh thức. Tỉnh thức trước những cám dỗ của đồng tiền… trước những lời lẽ ngụy biện “lương y không bằng lương tháng”, “tiên học phí, hậu học văn”, v.v… hầu có thể nhận ra, rằng: “lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào ích gì”!

Tất cả những lời lẽ được viết trên đây sẽ chỉ là lý thuyết, chỉ là lý thuyết nếu chúng ta không hiện thực hóa, trong cuộc sống của mình. Chúng ta đừng bi quan mà cho rằng hiện thức hóa những việc nêu trên là điều không tưởng.

Vâng, không việc gì phải bi quan, hãy đặt trong tâm hồn chúng ta một niềm tin, tin rằng, mỗi công việc Ông chủ Giêsu giao phó, chính là “ân huệ Người đã ban cho (chúng ta) nơi Đức Kitô Giêsu” (x.1Cr 1, …4). Đó là bí quyết mà thánh Phao-lô đã có sự trải nghiệm.

Có được niềm tin như thế, có lý nào chúng ta hiện thực hóa công việc được trao, được chỉ định một cách “mơ màng” vô trách nhiệm, phải không, thưa quý vị!

Có được niềm tin như thế, thánh Phao-lô khẳng định rằng “…Người sẽ làm cho anh em nên vững chắc đến cùng, nhờ thế không ai có thể trách cứ được anh em trong Ngày của Chúa”.

Nói tắt một lời, có được niềm tin như thế, cho dù “ông chủ đến bất thần”, nói rõ hơn, cho dù “Ngày của Chúa đến bất thần”, chúng ta vẫn có thể lớn tiếng nói: “Amen, lạy Chúa Giê-su, xin ngự đến” (x.Kh 22, …20).

Vâng, chắc chắn Chúa Giê-su sẽ đến. Thế nên, chúng ta: “Phải tỉnh thức và sẵn sàng”.

Petrus.tran

Thứ Sáu, 24 tháng 11, 2023

Giê-su ơi… xin nhớ đến con

 “Đức Giê-su là Vua của thế giới, trị vì giữa các quốc gia”.

Lễ Đức Giê-su Ki-tô Vua
Giê-su ơi… xin nhớ đến con

 

tbd 241123b


Chúa Nhật hôm nay (26/11/2023) kết thúc năm Phụng Vụ. Và theo truyền thống, toàn thể Giáo Hội long trọng cử hành thánh lễ kính “Đức Giê-su Ki-tô là Vua”.

Vâng, trước trào lưu con người chủ trương tiêu diệt Thiên Chúa, hô hào trục xuất Thiên Chúa ra khỏi gia đình, ra khỏi học đường, ra khỏi xã hội, ra khỏi quốc gia, từ bỏ quyền trở nên con Thiên Chúa, Đức Giáo Hoàng Piô XI đã thiết lập thánh lễ này.

Đó là vào năm 1925. Vào năm đó, “Đức Piô XI tổ chức Năm thánh trọng thể đánh dấu 1.600 năm Công đồng Nicaea. Công đồng Nicaea được nhóm họp vào năm 325, các nghị phụ của Công đồng đã khẳng định Thiên tính trọn vẹn của Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa Con, đồng bản tính với Thiên Chúa Cha. Lời tuyên bố của Công đồng đã trở thành một tín điều mà sau đó được mở rộng thành Kinh tin kính Nicea, mà chúng ta vẫn tuyên xưng trong Thánh lễ Chúa nhật và lễ Trọng.

Trong suốt Năm Thánh, Đức Piô XI không ngừng nhấn mạnh đến Vương quyền của Chúa Kitô như được tuyên xưng trong Kinh tin kính: ‘Nước Người sẽ không bao giờ cùng’. Cụ thể, chủ đề về Vương quyền của Chúa Kitô liên tục xuất hiện trong việc cử hành lễ Truyền tin, lễ Hiển linh, lễ Biến hình, và lễ Thăng thiên của Giáo hội.

Để nhìn nhận Đức Giêsu Kitô chính là vị vua tối cao duy nhất, Đấng thống trị bằng sự thật và tình yêu đối với mọi người, mọi quốc gia, và mọi tương quan trần thế, vào ngày 11.12.1925 khi kết thúc năm Thánh, Đức Piô XI đã ban hành Thông điệp Quas Primas, cho thêm ngày lễ “Chúa Giêsu Kitô Vua của chúng ta” vào Lịch Phụng vụ của Giáo hội.

Theo hướng dẫn của Thông điệp Quas Primas, Lễ Chúa Kitô Vua được cử hành hằng năm vào Chúa nhật cuối cùng của tháng mười một. Với sự chọn lựa này, Lễ Chúa Kitô Vua rơi vào 4 tuần trước Mùa Vọng như lời nhắc nhở rằng: Chúa Giêsu Kitô không chỉ là Vua của thế giới, trị vì giữa các quốc gia, mà Người còn là vị Vua vĩnh cửu, được tôn vinh bởi Các Thánh trên thiên quốc, và một ngày nào đó Người sẽ trở lại để phán xét loài người.” (nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/doi-net-ve-le-chua-kito-vua-48809)

**
Vâng, thông điệp Quas Primas gợi cho chúng ta nhớ đến lời Đức Giê-su, trước khi về trời, đã tuyên phán với các môn đệ rằng: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.” (x.Mt 26, 18). Lời tuyên phán này, có thể hiểu một cách gián tiếp rằng, “Đức Giê-su là Vua của thế giới, trị vì giữa các quốc gia”.

Mà nào chỉ có vậy đâu! Trong những ngày Đức Giê-su còn tại thế, không ít người cũng đã thừa nhận thần tính, quyền cai trị và nhất là quyền năng của Ngài.

Điển hình là người đàn bà xứ Ca-na-an, người đã xin Đức Giê-su chữa đứa con gái của mình bị quỷ ám. Rồi đến hai người mù tại Giê-ri-khô. Và, một anh mù khác, cũng tại Giê-ri-khô tên là “Ba-ti-mê, con ông Ti-mê”. Tất cả những người này, khi gặp Đức Giê-su, họ đều lớn tiếng kêu lên, rằng: “Lạy Ngài, lạy Con vua Đa-vít.”

Thời đó, tưởng chúng ta cần biết, gọi Đức Giê-su là Con-vua-Đa-vít, đó là một danh xưng cao trọng. Gọi Đức Giê-su với danh xưng cao trọng, đủ để nói rằng, những người kêu xin đã tin rằng, Ngài là Đấng Messia - Vị “thủ lãnh” cứu tinh của dân tộc.

Tuy nhiên, những lời xưng tụng (nêu trên) chỉ là những xưng tụng của từng cá nhân. Tung hô Đức Giê-su là Vua, là một tập họp của hàng trăm, hàng trăm người. Đó là hôm Ngài cùng các môn đệ lên Giê-ru-sa-lem. Chuyện kể rằng: “Nghe tin Đức Giê-su tới… họ cầm nhành lá thiên tuế ra đón Người và reo hò: Hoan hô! Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Chúc tụng Vua Israel” (x.Ga 12, 12-13).

***
Tất cả những điều được diễn giải nêu trên đủ để nói rằng “Đức Giêsu Kitô là Vua”. Đức Giê-su là Vua. Thế nhưng, Ngài lên ngôi vua không như những vị vua trần thế.

Nói về những vị vua trần thế, có lẽ chúng ta chỉ cần nói sáu chữ: “biết rồi, khổ lắm, nói mãi.” Tuy nhiên, có ba ông vua của dân Israel, thời Cựu Ước, tưởng cũng nên nói đến. Nói đến, vì ba ông vua này, được cho là nhận được nhiều “ơn Chúa”, thế mà cũng gây ra nhiều tai tiếng. Ba vị vua này, đó là: Saul, David, và Salomôn.

Với vua Saul… Thiên Chúa đã phán: “Ta hối hận đã đặt Saul làm vua, vì nó đã bỏ không theo Ta và không thi hành các lệnh của Ta.” (1S 15, 10).

Còn về vua David… Thiên Chúa đã phán: “Chính Ta đã xức dầu tấn phong ngươi làm vua Israel… Vậy, tại sao ngươi dám khinh màng lời Đức Giavê mà làm điều dữ trái mắt Người. Ngươi đã lấy gươm đâm Uria, người xứ Hitit và đoạt lấy vợ nó làm vợ ngươi.” (2S 12, 7-9).

Còn “ông thần” Salômôn ư! Ông ta có 700 vợ chính thức và 300 hầu thiếp (1V 11, 3). Ông đã bỏ Đức Chúa Giavê để thờ tà thần của các người vợ của ông. Giavê phán với Salômôn: “Bởi ngươi đã nên thể ấy nơi ngươi… Ta sẽ giựt lấy vương quyền của ngươi mà trao cho thuộc hạ của ngươi.” (1V 11, 11).

Ba vị vua này nên bình luận như thế nào? Riêng tôi (người viết) chắc cũng chỉ bình luận sáu chữ: “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”.

Nhưng thôi! Chúng ta dừng ở đây và trở lại với Vua Giê-su. Vua Giê-su thì sao! Thưa, Vua Giêsu lên ngôi không bằng một cuộc đảo chánh, như ông Qaboos Bin Sa’id (thuộc vương quốc Hồi giáo Oman), đã làm một cuộc đảo chánh lật đổ người cha mình vào năm 1970.

Các sách Tin Mừng cho chúng ta biết lễ đăng quang của Đức Giê-su được diễn ra trong chính ngày Ngài tử nạn tại đồi Golgotha.

“Khởi đầu là cuộc khải hoàn tiến vào thành Giêrusalem, hôm đó Đức Giêsu đã ngồi trên lưng một con lừa con. Qua cử chỉ này, Đức Giêsu đã khẳng định rằng, Ngài là Vua, nhưng Ngài là Vua không theo các cung cách của vua chúa trần gian. Tất cả bản án của Chúa Giêsu đều xoay quanh tước hiệu Vua của Ngài.” Lm Giuse Nguyễn Hữu An, trong bài viết: “Giê-su – Vua tình yêu”, đã có lời nhận định như thế.

Vâng, nhận định của ngài Lm. rất đúng. Vua Giêsu không dùng bạo lực, dùng thủ đoạn, dùng sức mạnh của họng súng, để thống trị, để nô lệ hóa người dân, như xưa kia có vài vị vua, vài vị lãnh tụ trần gian đã hành xử, hành xử đến nỗi dân tộc Việt Nam đã phải “một ngàn năm nô lệ giặc Tàu - một trăm năm đô hộ giặc Tây”, vào những thế kỷ trước. Hồi ấy, trả lời quan tổng trấn Philatô, Đức Giê-su nói: “Nước tôi không thuộc về thế gian này.”

Chúng ta cùng nghe lại lời đối đáp giữa Phi-la-tô và Đức Giê-su. “Ông có phải là vua dân Do-thái không?... Nước tôi không thuộc về thế gian này… Vậy ông là vua sao?... Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này…”

Nhằm mục đích là VUA. Bởi vì, Ngài: “đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.”

****
Đức Giê-su là Vua. Chúng ta gọi Ngài là Vua của vũ trụ. Bởi vì, Ngài chính là “Ngôi Lời”, là một trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Thánh Gio-an có lời viết, rằng: “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1,3).

Đức Giê-su là Vua. Chúng ta gọi Ngài là Vua của trần gian, của nhân loại. Bởi vì chính Ngài sẽ là người đến phán xét trần gian với tư cách một vị Vua. Một ngày nọ, chính Đức Giê-su đã tuyên phán rằng: “Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự trên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê…” (Mt 25, 31-34).

Chúng ta cùng nghe thêm một lần nữa lời Vua Giê-su đã tuyên bố: “Nước tôi không thuộc về thế gian này”.

Thế nên, khi đã là một Ki-tô hữu, chúng ta cần ghi nhớ. Ghi nhớ để hiểu rằng, chúng ta đang sống ở thế gian này, nhưng không thuộc về thế gian.

Không thuộc về thế gian, thế nên hãy tránh xa những vị thần-thuộc-thế-gian, đó là: thần-quyền-lực, thần-tiền-bạc, thần-danh-vọng, thần-dâm-bôn, thần-phóng-đãng, thần-hận-thù, thần-chia-rẽ-bè-phái, thần-say-sưa-chè-chén, v.v

Suy niệm về lời tuyên bố (nêu trên) của Đức Giê-su, Lm Charles E.Miller có lời chia sẻ rằng: “Nước của Người không phải là một vương quốc của thói dối trá và hủy diệt, mà là của sự thánh đức và ơn sủng; không phải là một vương quốc của nạn bóc lột, hận thù và bạo lực, mà của công lý, tình yêu và an bình.”

Chưa hết, ngài Lm Charles còn có lời khuyên rằng: “Là thành viên của Giáo Hội, chúng ta được kêu gọi nên một ‘bí tích’ của vương quốc này, một ‘dấu chỉ’ cho thế giới thấy Nước Thiên Chúa thật như thế nào.” “Dấu chỉ” đó… Đức Giê-su nói rồi: “làm chứng cho sự thật.”

Thì đây! Trước câu hỏi của tổng trấn Phi-la-tô: “Ông có phải là vua dân Do-thái không?” Đức Giê-su trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này… Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. (Ga 18, 33… 37).

Với Lm. Giuse Nguyễn Hữu An, ngài cũng có lời chia sẻ rằng: “Nước Chúa không thuộc về thế gian, có nghĩa là bất cứ nước nào, bất cứ chế độ nào, với nền văn minh nào, cũng không thể đồng hóa với nước Chúa. Nước Chúa ở trong các tâm hồn, những tâm hồn khao khát sự thật, tôn trọng sự thật, và nhất là đón nhận sự thật. Sự thật đó là tình yêu cứu độ Chúa Giêsu đem đến.”

Khao khát sự thật, tôn trọng sự thật, và nhất là đón nhận sự thật chính là “vật liệu” để xây dựng lên một Vương Quốc của Vua Giê-su.

*****
Vua chúa hay lãnh tụ trần gian như thế nào, Vua Giê-su ra sao, chúng ta biết rồi. Vấn đề còn lại, đó là chúng ta chọn ai? Chúng ta sẽ là “thần dân” của ai?

Vâng, đó mới là điều quan trọng. Mỗi chúng ta hãy tự hỏi lòng mình rằng, Đức Giêsu đã thật sự là Vua của chính bản thân chúng ta chưa!

Ngài đã “cư ngụ” giữa trái tim của chúng ta chưa! Ngài có ảnh hưởng mãnh liệt đến tư tưởng, lời nói và việc làm của chúng ta chưa!

Câu trả lời thuộc mỗi chúng ta. Thế nhưng, dù nhận hay không nhận Đức Giêsu là Vua, chúng ta cũng không thể loại bỏ Ngài. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã có lời rằng: “Con người sẽ không bao giờ loại bỏ (được) Đức Kitô ra khỏi lịch sử của mình”.

Nói cách khác, Đức Giê-su Kitô không bao giờ loại bỏ chúng ta ra khỏi Vương Quốc của Ngài. Chỉ cần một cử động của tâm hồn, như cử động của tên gian phi bị treo trên thập giá bên Đức Giê-su, và nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”. Có phần chắc Ngài sẽ nói với chúng ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng”. (Lc 23, 39-43).

Một điều chúng ta cần biết, nếu Đức Giê-su chỉ là Vua của thế giới, của vũ trụ, Vua muôn vua, nhưng lại không phải là Vua của cuộc đời chúng ta, thì chẳng ích lợi gì cho chúng ta.

“Tuyên xưng thật mạnh mẽ trên lý thuyết, mà thực tế đời sống của ta lại chứng tỏ trái ngược lại, thì sự tương phản ấy chỉ cho thấy sự giả dối hay giả hình của ta thôi!” Lm Giuse Nguyễn Hữu An đã mạnh mẽ khuyến cáo như thế. Và, ngài Lm. thêm lời rằng: “Tôi rất thích lời của tổng thống Bush: ‘Show, but don’t tell!’: Hãy chứng tỏ (bằng thực tế, bằng hành động) chứ đừng nói suông!”

Vâng, hãy chứng tỏ, không nói suông bằng cách thực hành ý muốn của Đức Giê-su. Ngài rất muốn chúng ta: “cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, cho khách đỗ nhà, chuộc kẻ làm tôi, chôn xác kẻ chết”, v.v… với bất cứ ai, dù người đó chỉ là “những người anh em bé nhỏ nhất”, vì Vua Giê-su đã nói: “là các ngươi làm cho chính Ta vậy.” (x.Mt 25, 40).

Chúa Nhật hôm nay, toàn thể Giáo Hội kính trọng thể “Đức Giê-su Ki-tô là Vua”. Đây là thời điểm thích hợp để chúng ta tái xác nhận rằng: “Chúa Giêsu là Vua. Chúa muôn thuở là Vua. Chúa muôn thuở là Vua… (muôn vua)”.

Vâng, để cho sự tái-xác-nhận đem lại ơn ích cho mỗi chúng ta, hãy ngước lên thánh giá Chúa Ki-tô, một Chúa Ki-tô đã chiến thắng tử thần và đang “ngự bên hữu Chúa Cha” mà cầu xin, xin theo cách tên gian phi năm xưa đã xin, rằng: “Giê-su ơi… xin nhớ đến con”.

Petrus.tran

Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...