Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2024

Hãy viết “Gio-an 3, 16”… trong tim tôi.

 “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (x.Ga 3, 16).

Chúa Nhật IV – MC – B
Hãy viết “Gio-an 3, 16”… trong tim tôi

 

tbd 090324a


Cuộc tử nạn và Phục Sinh của Đức Giê-su Ki-tô là một biến cố lịch sử. Và, khi nói tới biến cố lịch sử này, thánh Phao-lô có lời dạy rằng: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (x.Pl 2, 6-7).

Vâng, Đức Giê-su đã chết-trên-cây-thập-tự. Cái chết của Ngài là một cái chết “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta”. Chính, chính Ngài đã (ba lần) loan báo cái chết của mình cho các môn đệ.

Một vị thủ lãnh của người Do Thái, tên là Ni-cô-đê-mô, trong một “cuộc đối thoại” với Đức Giê-su, cũng đã được Ngài nói đến cái chết của mình và gọi đó là cách thế Thiên Chúa yêu thương thế gian.

Cuộc đối thoại này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an. (x.Ga 3, 14-21).

**
Tin Mừng thánh Gio-an ghi lại rằng: Vào dịp lễ Vượt Qua, nhân cơ hội có Đức Giê-su ở Giê-ru-sa-lem, “trong nhóm Pha-ri-sêu, có một người tên là Ni-cô-đê-mô, một thủ lãnh của người Do Thái. Ông ta đến gặp Đức Giê-su ban đêm.”
Khi đã gặp Đức Giê-su, ông nói với Ngài, rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi biết: Thầy là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến”.

Và, như để khẳng định cho lời nhận định của mình là đúng, ông ta nói tiếp: “Quả vậy, chẳng ai làm được những dấu lạ Thầy làm, nếu Thiên Chúa không ở cùng người ấy”.

Đúng, ông Ni-cô-đê-mô nhận định đúng. Đức Giê-su, ngay khi bắt đầu ra đi loan báo Tin Mừng, Ngài đã làm rất nhiều dấu lạ, dấu lạ hóa nước thành rượu trong một bữa tiệc cưới tại Cana, như một điển hình.

Còn chuyện Ngài “là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến” ư! Thưa, còn hơn thế nữa. Đức Giê-su được sai đến không chỉ trong vai trò là một “vị tôn sư” nhưng còn trong vai “Con Một” của Thiên Chúa.

Hôm đó, sau những lời đối thoại với ông Ni-cô-đê-mô về sự tái sinh, Đức Giê-su đã khẳng định vai trò của mình đến thế gian là vì: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (x.Ga 3, 16).

“Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian…”, Đức Giê-su nói tiếp: “… Không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ.”

Rồi, vị tôn sư Giê-su đưa ra một sự lựa chọn, và có thể nói, đó cũng là lời cảnh báo, rằng: “Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.”

Hôm ấy, Đức Giê-su đã nói với ông Ni-cô-đê-mô, về sứ mạng Ngài phải thực hiện, khi đến thế gian này: “như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời”. (Ga 3, 14-15).

***
Vâng, đúng như lời Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô, Ngài đã được-giương-cao bằng một cây thập giá. Theo Kinh Thánh ghi lại: Đức Giê-su “Chịu nạn đời quan Phong-xi-ô Phi-la-tô, chịu đóng đanh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết sống lại”.

Nói về cái chết của của Đức Giê-su, thánh sử Gio-an có lời rằng: đó là một cái chết để làm-của-lễ-đền-tội-cho-chúng-ta. Và, đó là cách Thiên Chúa biểu lộ Tình yêu của Người. Thánh Gio-an thêm lời dạy như thế. Và ngài tông đồ đã không quên nói với tín hữu của mình, rằng: “Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế” (1Ga 4, 11).

Suốt chiều dài lịch sử cứu độ, rất… rất nhiều người đã cảm nghiệm được điều này. Tim Tebow, một cầu thủ bóng bầu dục người Mỹ, như một điển hình.

Theo nguồn tin trên truyền thông internet: “Nhiều người công nhận thành công trong sự nghiệp thể thao của cầu thủ Tim Tebow không thể giải thích bằng sự hiểu biết của con người! Tebow đã thành công từ khi chơi bóng bầu dục ở trường đại học với lòng yêu mến và kính sợ Chúa ngay trong việc mình làm: ‘chơi bóng’.

Anh làm chứng rằng: Chúa đã dẫn dắt, dạy dỗ anh qua các câu Kinh Thánh mà anh yêu thích và thường dán ‘địa chỉ’ của nó ngay lên mặt mỗi khi thi đấu. Đó là các câu: Phi-líp 4, 13; Do Thái 12, 1-2; Ê-phê-sô 2, 8-10; Isaia 40, 31; Rô-ma 1, 16. Đặc biệt hơn cả, đó là: Gio-an 3, 16.

Theo lời Tim chia sẻ, là: ‘Để khán giả có thể thấy, thắc mắc và tìm hiểu các thông điệp này. Gio-an 3, 16 được nhiều người tò mò, thích thú tìm kiếm bởi nó chứa đựng thông điệp cứu độ ‘VÌ THIÊN CHÚA YÊU THƯƠNG THẾ GIAN ĐẾN NỖI…’ Tôi cảm nhận được sự thúc giục từ Chúa nên chia sẻ nó cho mọi người – Tim thêm lời như thế.”

****
Gio-an 3, 16… có thể gọi đó là một con số mật mã. Mật-mã-tình-yêu-Thiên-Chúa. Mật mã này, không thể “giải mã”, nếu chúng ta “chuộng bóng tối hơn ánh sáng”. Chúng ta không thể giải mã, nếu “việc (chúng ta) làm đều xấu xa”.

Mà, thật vậy. Làm sao chúng ta có thể giải mã được “mật mã tình yêu Thiên Chúa” khi chúng ta chuộng-bóng-tối, nơi thường xảy ra “những việc do tính xác thịt gây ra”, đại loại như: bóng tối của những quán bar, của vũ trường, của thờ quấy, của phù phép, của hận thù, của tranh chấp, của bè phái, của ganh tỵ, của say sưa chè chén!?

Những ai cứ lẩn quẩn trong những nơi chốn tối tăm này, thánh Phao-lô cảnh báo: “sẽ không được thừa hưởng Nước Trời”.

Làm sao chúng ta có thể giải mã được “mật mã tình yêu Thiên Chúa”, nếu việc-chúng-ta-làm-đều-xấu-xa, đại loại như: đồng lõa với tội ác, che đậy những sai phạm, lấp liếm những lỗi lầm v.v…

Trong cuộc đối thoại với ông Ni-cô-đê-mô, Đức Giê-su có lời phán truyền, lời phán truyền, rằng: “Ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách. Nhưng kẻ sống trong sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa.” (Ga 3, 20-21).

Đây không phải là một lời mời gọi, nhưng là một lệnh truyền. Và, “ánh sáng” mà Đức Giê-su truyền dạy chúng ta “đến cùng”, không phải là ánh sáng bình minh, không phải là ánh sáng rằm trung thu, càng không phải là ánh sáng của một chiếc đèn pha cực đại nào đó, nhưng là “Ánh Sáng Chúa Ki-tô”. Đó mới chính là thứ “ánh sáng thật, đã đến thế gian, và chiếu soi mọi người” (x.Ga 1, 9).

Xưa, Đức Giê-su, chẳng phải là đã có lần nói với người Do Thái, rằng: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.”, đó sao!

Do vậy, để có thể giải mã được “mật mã tình yêu Thiên Chúa”, chúng ta phải xa rời bóng tối. Và, tất nhiên là không thể không “đến cùng ánh sáng Chúa Ki-tô”.

Tim Tebow đã đến-cùng-ánh-sáng-Chúa-Ki-tô. Và, anh ấy đã làm cho “thiên hạ thấy rõ; các việc của (anh) ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa.”

Vâng, đó là viết những câu Kinh Thánh mà anh ấy cảm nghiệm ngay lên khuôn mặt mình, mỗi khi thi đấu. Đó còn là “thực hiện loạt video nghiên cứu Kinh Thánh, cùng quyển sách mới phát hành của anh: ‘Mission Possible: Go Create a Life That Counts’ (tạm dịch: ‘Nhiệm vụ khả thi: Hãy tạo ra một cuộc sống đáng giá’), tập trung vào đức tin của mình.”

Theo nguồn tin trên internet: “Trong các trận đấu của Tim, trên 90 triệu người đã tra Google từ khóa ‘Gio-an 3,16’, khiến câu Kinh Thánh này trở nên xu hướng tìm kiếm cao nhất trên tất cả các phương tiện truyền thông xã hội hiện nay!”

Còn chúng ta! Chúng ta sẽ làm gì để cho “thiên hạ thấy rõ; các việc của chúng ta đã được thực hiện trong Thiên Chúa.”! Nên chăng, chúng ta sẽ viết những câu Kinh Thánh mà chúng ta cảm nghiệm, “trong trái tim tôi”!

Đúng vậy. Hãy viết Lời Chúa “trên lá trên hoa”. Hãy viết Lời Chúa “trong trái tim tôi”. Hãy viết Lời Chúa “trên đá trên vôi”. Hãy viết Lời Chúa “ngập nẻo đường đi ngàn lối”. Hãy viết Lời Chúa “trên gấm, trên nhung”. Hãy viết Lời Chúa “trên trán, trên tay”.

Và, tuyệt vời hơn cả, khi chúng ta viết “Gio-an 3, 16” trong trái tim tôi. Vì đó là một con số mật mã đáng yêu, mật-mã-tình-yêu của Thiên Chúa.

Petrus.tran

Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2024

Chúng ta là Đền Thờ của Chúa

 “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.”

Chúa Nhật III – MC – B
Chúng ta là Đền Thờ của Chúa

tbd 020324a

Tết! Vâng, tết âm lịch của Việt Nam đã trôi qua. Thế nhưng, có vẻ như dư âm của tết vẫn còn đó. Còn đó bởi những buổi lễ hội, những cuộc hành hương trên khắp vùng miền Nam - Trung - Bắc. Điều đó, không lạ, vì đó là một truyền thống đẹp. Thế nhưng, trong nét đẹp đó lại xuất hiện không ít những nét xấu.

Nói tới những “nét xấu” của những buổi lễ hội, Lm. Hoài Bắc.OP, qua một bài chia sẻ Tin Mừng, đã ngao ngán thốt lên rằng: “Càng ngày, chúng ta thấy những lễ hội truyền thống văn hóa của người Việt Nam, càng nhiều. Và, thật sự cũng có phần tích cực giúp con người hướng thiện. Tuy nhiên, không ít lễ hội nhuốm màu thương mại, mê tín dị đoan, mang theo những hệ lụy không đẹp, do cách hành xử thiếu văn hóa. Lễ hội đang bị lạm dụng nghiêm trọng. Và làm mất đi ý nghĩa linh thiêng.”

Còn nói về những cuộc hành hương ư! Thưa, đó cũng là một truyền thống đẹp gắn liền với đời sống của mọi tôn giáo. Là một truyền thống đẹp, thế nhưng, thật đáng buồn vì ngày nay, một số ít người đã trần tục hóa việc hành hương, xem đó như là một cuộc du lịch, một cuộc du lịch được gắn bởi cái “mác” rất mỹ miều “du lịch tâm linh”. Chính vì bị trần tục hóa, nên không ít điểm hành hương đã xảy ra biết bao là tệ nạn, như: buôn thần bán thánh, chặt chém du khách, tranh cướp lộc dẫn đến đổ máu, một vài nơi đã xảy ra chết chóc, chỉ vì một bông hoa.

Những chuyện như thế, tưởng rằng chỉ xảy ra nơi các tôn giáo bạn. Thực tế thì, buồn thay! Những chuyện như thế vẫn xảy ra đó đây ngay trong những nơi hành hương của đạo Công Giáo chúng ta, mà không tiện nêu tên ở đây.

Vào thời Đức Giê-su còn tại thế, Đền Thánh Giê-ru-sa-lem, nơi mọi tín hữu Do Thái phải hành hương ba lần mỗi năm, cũng bị lạm dụng, cũng bị trần tục hóa. Điều đó đã khiến Đức Giê-su giận dữ và Ngài đã cho những kẻ lạm dụng một bài học nhớ đời, trong một dịp hành hương tại đây nhân ngày lễ Vượt Qua.

Sự kiện này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an. (Ga 2, 13-25).

**
Chuyện kể rằng: Hôm ấy, “gần đến lễ Vượt Qua của người Do Thái”. Và, theo đúng luật dạy: “Đức Giêsu lên thành Giêrusalem”.

Rồi, khi Đức Giê-su vào Đền Thờ, chuyện kể tiếp rằng: “Người thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang đổi tiền.”

Rồi sao nữa! Thưa, không chấp nhận khung cảnh Đền Thờ, nói theo cách nói hôm nay, chẳng khác nào một ngôi chợ “chồm hổm”, Đức Giê-su “liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả chiên cũng như bò, ra khỏi Đền Thờ… còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ.” (Ga 2, 15).

Rất quyết liệt, Đức Giê-su đã nói với những kẻ bán bồ câu, rằng: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.” Trước sự quyết liệt của Đức Giê-su, các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Kinh Thánh: “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân”.

Vâng, đúng là vậy. Hôm đó, người Do Thái đã đụng chạm đến “thân phận” của Đức Giê-su bằng một câu chất vấn, rằng “Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?”

Dấu lạ ư! Nhiều lắm… Các ông muốn nhìn thấy “dấu lạ”! Thì đây, bữa tiệc cưới tại Cana với “dấu lạ” nước hóa thành rượu còn sờ sờ ra đó, nay còn thắc mắc mà chi!

Thật ra, hôm ấy Đức Giê-su đã không kể ra một dấu lạ nào mà Ngài đã thực hiện. Bởi vì, Ngài đến thế gian không phải là để “hóa đá thành bánh”, nhưng là để thực hiện “ơn cứu độ chứa chan của Thiên Chúa” qua “cái chết và sự Phục Sinh” của Ngài.

Hôm ấy, Đức Giê-su đã dõng dạc tuyên bố rằng: “Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại.” (x.Ga 2, 19).

Xây… xây lại Đền Thờ nội-ba-ngày! Đúng là “dấu lạ”, nhưng ai mà tin nổi! Vâng, hôm ấy, không một người nào tin. Và, những người Do Thái đã nhao nhao lên nói: “Đền Thờ này phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, thế mà nội trong ba ngày ông xây lại được sao?”.

Chúng ta hôm nay, chắc hẳn cũng không thể tin lời công bố của Đức Giê-su, nếu thánh sử Gio-an không có lời giải thích, rằng: “Đền Thờ Đức Giê-su muốn nói ở đây là chính thân thể Người”. (x.Ga 2, 21).

Vâng, thánh sử Gio-an không chỉ giải thích, mà ngài tông đồ còn cho chúng ta biết rằng: “Khi (Đức Giê-su) từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó, họ tin vào Kinh Thánh và lời Đức Giê-su đã nói.”

***
Có không ít người (chắc chắn là vậy) sau khi biết được những gì Đức Giê-su làm tại Đền Thờ, đã thắc mắc và tự hỏi rằng, Đức Giê-su từng nói: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu…” có-lòng-hiền-hậu, sao hôm ấy Ngài lại “hung hăng” xua đuổi tất cả chiên cũng như bò ra khỏi Đền Thờ, cũng như lật nhào bàn ghế, của những người đổi bạc, vậy!

Thưa, chuyện là thế này. Luật Do-thái vào thời đó, những người trưởng thành (20 tuổi) đều phải đến Đền Thờ, đặc biệt trong lễ Vượt Qua.

Đến Đền Thờ thì phải “dâng một phần tài sản của mình lên Chúa.” Thế nhưng, có một vấn đề là: nhiều người từ phương xa đem theo tiền xứ mình (tiền Roma, chẳng hạn). Trên đồng tiền này có hình ảnh của những vị hoàng đế. Thế nên, loại tiền đó không được chấp nhận trong việc dâng cúng cho Đền Thờ. Vì thế, người ta có một dịch vụ đổi tiền ngoại quốc ra tiền Do-thái, tại đó.

Một vấn đề khác, theo luật Mô-sê, những người lên Đền Thờ phải đem chiên, bồ câu, hay bò để dâng hiến. Có những người ở xa không tiện đem thú vật từ làng mình đến Đền Thờ, nên họ phải mua thú vật ngay tại Đền Thờ. Ðó là lý do tại sao lại có dịch vụ mua bán chiên bò.

(Câu chuyện “Tiến dâng Đức Giê-su cho Thiên Chúa” trong Tin Mừng thánh Luca (x. 2, 22-24), cũng có nói đến việc “bà Maria và ông Giu-se… dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non”).

Những việc buôn bán gia súc hay đổi tiền là những việc làm tốt. Thế nhưng, theo thời gian, việc làm tốt này biến thành việc làm xấu.

Việc làm xấu thứ nhất, đó là tệ nạn buôn bán cắt cổ trắng trợn. Một con chiên chỉ đáng giá một đồng, thế mà có đôi lúc bị nâng giá lên hàng chục đồng.

Tại sao lại có chuyện này? Thưa, là do nạn tham nhũng. Đó là việc làm xấu thứ hai.

Theo luật, các thầy tế lễ phải chứng nhận những con thú vật dâng lên Chúa là không tì vết. Thế nhưng, vì chẳng có lợi lộc gì, nên “quý thầy” không hứng thú để chứng nhận những thú vật “đem từ nhà đến” là những con vật không tì vết. Chỉ những con vật được mua trong Đền Thờ mới được bảo đảm là không bị rắc rối về vấn đề tì vết.

Cuối cùng, thoạt đầu, người ta buôn bán ở xa Đền Thờ. Rồi từ từ, các phiên chợ xích dần đến Đền Thờ. Ðến thời của Đức Giê-su, việc buôn bán này xảy ra ngay “trong Đền Thờ”.

Thì đây, thánh sử Gio-an chẳng phải là đã cho chúng ta biết: “Người thấy ‘trong Đền Thờ’ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang đổi tiền”, đó sao!

Thế nên, hôm ấy, Đức Giê-su đã có hành động như thế cũng là điều dễ hiểu, phải không, thưa quý vị!
****
Câu chuyện về ngôi Đền Thờ Giê-ru-sa-lem thời Đức Giê-su còn tại thế, là thế đó! Và, sẽ thật đáng buồn, nếu ngôi thánh đường của chúng ta, hôm nay, cũng “là thế đó”.

Nói lên điều “cảnh báo” này để làm gì? Thưa, để chúng ta nghiêm túc nghiệm lại bài học Đức Giê-su đã dạy năm xưa. Bài học rằng: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.”

Phải nghiêm túc nghiệm lại, bởi vì bài học này, vẫn còn tính thời sự đối với chúng ta.

Thế nên, hãy tự hỏi, chúng ta sẽ “đem” cái gì ra khỏi “nhà thờ”, để nơi đây không biến thánh nơi đáng chê, đáng trách!?

Nên chăng, mỗi khi tham dự thánh lễ, hãy “đem cái iphone” cất vào nơi mà nó không thể làm bận tâm bận trí chúng ta, cũng như những người chung quanh, bởi vì nếu chúng ta cứ khư khư cầm trên tay, e rằng nó sẽ “Biến nhà thờ thành câu lạc bộ chơi game” hoặc “biến thành trung tâm viễn thông của mobifone”!

Nên chăng, hãy “đem những show ca nhạc” (nhạc đời) ra khỏi “sân nhà thờ”, nếu không, e rằng sân nhà thờ sẽ biến thành sân khấu ca vũ nhạc kịch!? “Vụ việc” này đã có xảy ra.

Tôi (người viết) không biết nên buồn hay nên vui, khi có một nhà thờ, tọa lạc bên ven kênh Nhiêu Lộc ở Saigon - quận ba, đã cho phép một cô ca sĩ rất nổi danh trước năm 1975, “đứng trên cung thánh” nghêu ngao hát một bài tình ca, bài tình ca mang tên “Gọi Tên Bốn Mùa”, tác giả là chàng nhạc sĩ họ Trịnh.

Không biết hôm đó, Đức Giê-su, nơi ngôi nhà tạm, qua hình hài Mình Thánh Chúa, có được vị Lm. quản xứ “di tản chiến thuật” không! Nếu không, thì thật ngại quá! Ngại vì khi không tự nhiên Ngài phải trở thành một vị khán giả bất đắc dĩ, bất đắc dĩ phải nghe những lời rên rỉ của nàng ca sĩ được mệnh danh là “nữ hoàng chân đất” đầy u uất, nghẹn ngào: “Em đứng lên gọi mưa vào hạ. Từng cơn mưa, từng cơn mưa. Từng cơn mưa, mưa… mưa… mưa”.

Nói chung, tất cả những gì có nguy cơ thế-tục-hóa, trần-tục-hóa, đại loại như múa lân nơi nhà thờ, thì nên “đem” ra khỏi nhà thờ.

Phải đem tất cả những gì có nguy cơ trần tục hóa, thế tục hóa, ra khỏi nhà thờ. Nếu không, chúng ta sẽ là những kẻ “làm tôi hai chủ”. Đức Giê-su chẳng phải là đã khuyến cáo rằng: “Chẳng ai được làm tôi hai chủ, vì sẽ ghét người này và yêu người kia, hoặc trọng người này mà khinh người kia. Các ngươi không thể làm tôi Thiên Chúa lại làm tôi Tiền Của được”, đó sao! (Mt 6, 24).

*****
Ngôi Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, thời Đức Giê-su tại thế, không còn nữa. Ngôi đền này “không còn tảng đá nào trên tảng đá nào.” Những ngôi Đền Thờ hay những ngôi nhà thờ bằng gỗ đá của chúng ta, ngày nay, rồi cũng sẽ không còn.

Thế nhưng, có một ngôi đền thờ vẫn tồn tại, đó chính là chúng ta. Thánh Phao-Lô, trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô, có nói “Anh em há chẳng biết mình là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?” (x.1Cor 3, 16).

Vì thế, chúng ta phải thận trọng gìn giữ ngôi Đền Thờ này. Bởi nếu không gìn giữ, thánh Phao-lô khuyến cáo: “…thì Thiên Chúa sẽ hủy diệt kẻ ấy. Vì Đền Thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và Đền Thờ ấy chính là anh em.”

Làm thế nào để “gìn giữ” ngôi Đền Thờ này! Thưa, đó là chúng ta hãy-đem-tất-cả “những việc do tính xác thịt gây ra, (đại loại) là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén và những điều khác giống như vậy”, ra khỏi “Tâm Hồn” của chúng ta.

Vâng, đây là một việc làm khẩn thiết. Chúng ta, cứ từng bước, từng bước mà thực hiện. Chúng ta sẽ thực hiện được, khi chúng ta “nhờ Thần Khí mà tiến bước” (1Cor 5, 25).

Chúng ta đang ở trong Mùa Chay. Mà, Mùa chay là mùa của sám hối và trở về. Vì thế, thật phải đạo khi chúng ta “dọn dẹp” lại ngôi đền tâm hồn của chúng ta.

Phải dọn dẹp những thói hư tật xấu, những điều không làm đẹp lòng Chúa. Nếu không, theo thời gian, những thói hư tật xấu, những điều không làm đẹp lòng Chúa, sẽ chiếm hữu ngôi đền tâm hồn của chúng ta. Kết quả là, ngồi đền tâm hồn của chúng ta không còn có Chúa. Không còn có Chúa sẽ dẫn đến việc quên lãng Ngài.

Thánh Phao-lô, trong thư gửi tín hữu Roma, có lời dạy, rằng: “Làm sao đền thờ Thiên Chúa lại đi đôi với tà thần được”. Thánh nhân nói tiếp: khi đã thuộc về Đức Giê-su, chúng ta phải “Hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để… thờ phượng Người” (x.Rm 12, 1).

Do vậy, mỗi khi ngôi đền tâm hồn của chúng ta, lấm lem bởi những thói hư tật xấu, bởi những điều không làm đẹp lòng Chúa, hãy đến với Ngài, để Ngài “lấy roi” đuổi những tội lỗi đó đi.

“Roi” chính là Bí Tích Hòa Giải, một ân sủng mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Chính Bí Tích Hòa Giải sẽ “dọn dẹp” lại ngôi đền tâm hồn chúng ta, ngõ hầu đem lại cho ngôi đền tâm hồn chúng ta ánh sáng Chúa Thánh Thần.

Điều cuối cùng, và cũng là điều rất quan trọng, đó là: để cho sự dọn dẹp ngôi đền tâm hồn của chúng ta “thành công tốt đẹp”, hãy ý thức, chúng ta là Đền Thờ của Chúa.

Petrus.tran

Thứ Sáu, 23 tháng 2, 2024

Hãy đến nhà thờ…

 “Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy.”

Chúa Nhật II – MC – B
Hãy đến nhà thờ…

tbd 240224a


Như chúng ta được biết, tông đồ Gio-an có lời dạy rằng: “Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống. Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta.” (1Ga 4, 9-10).

Và, Giáo Hội Công giáo cũng đã tuyên xưng rằng: Đức Giê-su “Bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria, và đã làm người. Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng ta, thời quan Phongxiô Philatô; Người chịu khổ hình và mai táng, ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh.”

Lời dạy của tông đồ Gio-an, cũng như lời tuyên xưng của Giáo Hội, không xuất phát do trí tưởng tượng của một ai đó, nhưng là do chính Đức Giê-su công bố, hơn hai ngàn năm xa trước đó.

Thật vậy, trong những ngày còn tại thế, một ngày nọ, Đức Giê-su đã dạy cho các tông đồ biết rằng: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sẽ sống lại.”

Đức Giê-su đã “nói rõ điều này không úp mở.” Vâng, không úp mở, thế nhưng, với các tông đồ năm xưa, lời dạy này xem ra có vẻ như không hợp ý các ông chút nào.

Khi nói tới cuộc tử nạn và Phục Sinh của Thầy Giê-su, các môn đệ, tiêu biểu là tông đồ Phê-rô nghĩ rằng, đó là điều không thể xảy ra. Và, đó là lý do niên trưởng Phê-rô đã có một sự phản ứng quyết liệt. Chuyện kể rằng: ngài Phê-rô “kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người.”

Trách gì? Thưa, thánh sử Mác-cô không nói gì. Nhưng thánh sử Mát-thêu cho biết, ngài Phê-rô nói: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!”

Có thể nói, đây là một lời “trách” đáng yêu. Ấy thế mà, Đức Giê-su lại không hài lòng về lời “phát biểu” của ngài Phê-rô.

Hôm ấy, sau khi nghe Phê-rô nói như thế, Đức Giê-su đã “quay lại, nhìn thấy các môn đệ, Người trách ông Phê-rô: “Sa-tan, lùi lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người”.

Tư tưởng của Thiên Chúa là gì? Phải chăng chính là lời Đức Giê-su đã nói với ông Ni-cô-đê-mô, rằng: “Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời”!?

Thưa đúng vậy. Đức Giê-su đã tuyên bố như thế. Và Ngài đã có một cuộc hiển dung trên một ngọn núi cao, trước sự chứng kiến của ba môn đệ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an, như một cách để mở đôi mắt tâm linh của các ông, ngõ hầu các ông thấy rõ đâu là “Ý Của Thiên Chúa”.

Vâng, sự kiện “Đức Giê-su Hiển Dung” đã được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mác-cô.

**
Chuyện được kể rằng: Một ngày nọ, “Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình”.

Ngài đưa các ba chàng ngự lâm này, đi đâu? Thưa: “Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, chỉ mình các ông thôi, tới một ngọn núi cao”.

Khi Thầy và trò đã ở trên núi, chuyện kể tiếp rằng: Đức Giê-su “Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy.”

Ba người môn đệ còn thấy “ông Ê-li-a cùng ông Mô-sê hiện ra đàm đạo với Đức Giê-su.” Chứng kiến sự kiện vô tiền khoáng hậu này, ông Phê-rô không thể kiềm chế cảm xúc nên đã bộc lộ ý tưởng của mình với Thầy Giê-su, rằng: “Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Mô-sê, một cho ông Ê-li-a.”

Ý tưởng của ông Phê-rô hay chứ, nhỉ! Thưa, rất khó trả lời. Khó trả lời là bởi “Thật ra, ông không biết phải nói gì, vì các ông kinh hoàng.” Hôm ấy, theo lời kể của thánh sử Mát-thêu, các ông còn “ngã sấp mặt xuống đất” (Mt 17, 6).

Không, không kinh hoàng ngã sấp mặt xuống đất sao được! Bởi vì, hôm ấy “Có một đám mây bao phủ các ông. Và từ đám mây, có tiếng phán rằng: Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người.”

Rồi, khi nỗi kinh hoàng lắng dịu, các ông nhìn quanh… “nhìn quanh, thì không thấy ai nữa, chỉ còn Đức Giê-su với các ông mà thôi.” (Mc 9, 8).

Vâng, chỉ còn Thầy và trò. Và, khi Thầy và trò “ở trên núi xuống”. Đức Giê-su đã “truyền cho các ông không được kể lại cho ai nghe nhưng điều vừa thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại.” Ba vị môn đệ “đã tuân lệnh đó, nhưng vẫn bàn hỏi nhau xem câu ‘từ cõi chết sống lại’ nghĩa là gì”.

***
Đức Giê-su Hiển Dung. Suy tư về biến cố này, Nhóm Phiên Dịch CÁC GIỜ KINH PHỤNG VỤ có đôi lời chia sẻ: “Như, hai ông Mô-sê và ông Ê-li-a đã được Thiên Chúa ‘dẫn tới núi thánh’ để trở thành chứng nhân của Vinh Quang Thiên Chúa (x.Xh 33, 18-23 & 1V 19, 9-13). Thì, ba vị Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an cũng được Đức Giê-su ‘dẫn tới một ngọn núi cao’ để trở thành chứng nhân của Vinh Quang Con Một Thiên Chúa.

Như, hai ông Mô-sê và ông Ê-li-a đã thoát khỏi cái chết hủy diệt theo một cách nào đó. (Dnl 34, 6 & 1V 2, 11). Đức Giê-su, cũng vậy. Sau khi loan báo cuộc thương khó và cái chết, Người đã cho các môn đệ nếm trước sự phục sinh của Người.”

Với Lm. Charles E. Miller, trong tác phẩm Sunday Preaching, ngài cũng có đôi lời chia sẻ đáng ghi nhớ, lời chia sẻ rằng: “Sự kiện Hiển Dung cho thấy ý nghĩa của Mầu Nhiệm Vượt Qua. Đức Giê-su muốn dạy (chúng ta) rằng: ‘Người phải trải qua đau khổ mới có thể đạt tới vinh quang phục sinh’. Mầu Nhiệm Vượt Qua phải tràn ngập lòng trí mọi người, nhất là trong Mùa Chay thánh này. Nó chiếu rọi ánh sáng vào những ngày đen tối nhất và giải tỏa bớt gánh nặng các nỗi đau lớn nhất của chúng ta.”

Những lời chia sẻ nêu trên, thiết nghĩ, chúng ta nên xem đó như là lời mời gọi, một lời mời gọi mỗi chúng ta hãy cùng Đức Giê-su “lên núi”.

“Hãy lên núi!” Nói theo cách nói hôm nay, đó là “hãy đến nhà thờ”. Đến nhà thờ, chúng ta sẽ được “Tham Gia vào Phụng Vụ thánh”.

Đừng coi thường cho việc tham gia này. Bởi vì, “Phụng Vụ thánh”, Lm.Charles nói, đó là: “nguồn mạch không thể thiếu của đời sống Ki-tô giáo đích thực, giúp chúng ta chú tâm vào Mầu Nhiệm Vượt Qua, cái chết và sự sống lại của Đức Ki-tô. Phụng Vụ thôi thúc chúng ta chiêm niệm và suy tư liên lỉ về mầu nhiệm này vì nó làm trọn sự kiện Đức Ki-tô đến thế gian “không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ (Người) mà được cứu độ”.

****
Xưa, khi lên núi, Đức Giê-su đã “biến đổi hình dạng”. Rồi, khi xuống núi, các môn đệ là những người được biến đổi. Các ông đã biến đổi sau khi “được tràn đầy ơn Thánh Thần”.

Ông Phê-rô đã mạnh dạn làm chứng rằng: “khi chúng tôi nói cho anh em… thì không phải chúng tôi dựa theo những chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo, nhưng là vì chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người. Quả thế, Người đã được Thiên Chúa là Cha ban cho vinh quang và danh dự, khi có tiếng từ Đấng tuyệt vời vinh hiển phán với Người: Đây là Con yêu dấu Ta. Ta hết lòng quý mến” (2 Pr 1,16-17).

Còn tông đồ Gioan ư! Thưa, ngài Gio-an cũng đã làm chứng rằng: “Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giêsu Kitô, Con của Người” (1Ga 1,3).

Nay, chúng ta cũng đã cùng Đức Giê-su “đến nhà thờ”. Tại nhà thờ, Đức Giê-su, qua bàn tay các linh mục, đã biến đổi, từ một tấm bánh, từ một chén rượu, thành chính “Mình Máu Thánh Ngài” để ai ăn “sẽ được sống muôn đời.”

Rồi, khi “ra khỏi nhà thờ”, ra khỏi nhà thờ, chúng ta làm sao nhỉ! Có biển đổi không? Phải chăng, đang là một kẻ hung dữ, chúng ta sẽ biến đổi thành “khí cụ bình an của Chúa!” Phải chăng, đang là một kẻ thờ ơ, lãnh đạm trước Chúa, một kẻ ích kỷ trước mọi anh em, chúng ta biến đổi thành một người “biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người!” Phải chăng, đang là “ác quỷ đầy quyền năng”, chúng ta biến thành “thiên thần nhỏ” của Chúa!

Câu trả lời là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, đừng quên có một ai đó đã nói: “Tất cả những gì tốt đẹp đều kết thúc tốt đẹp”. Thế nên, trong đời sống đức tin, chúng ta cần có một sự khởi đầu tốt đẹp, chỉ có như thế và chỉ như thế, chúng ta mới có thể, có một kết thúc tốt đẹp, trong ngày Chúa quang lâm.

Vâng, rất dễ dàng cho một sự khởi đầu tốt đẹp. Đó là chúng ta “hãy đến nhà thờ”.

Petrus.tran

Thứ Sáu, 16 tháng 2, 2024

Anh em hãy sám hối…

 “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (x.Mc 1, 15).

Chúa Nhật I – MC – B
Anh em hãy sám hối…

tbd 170224a


Ngày 14/02/2024 (vừa qua) là thứ Tư. Với người đời, đây là ngày Valentine. Nhưng với người Công Giáo, đó là ngày “Lễ Tro”. Lễ Tro, hay còn gọi là Thứ Tư Lễ Tro, là ngày khởi đầu cho Mùa Chay.

Mùa Chay, không tính các ngày Chúa Nhật, thường được kéo dài với khoảng thời gian 40 ngày, trước lễ Phục Sinh. Trọng tâm của mùa chay không chỉ là chay tịnh, nhưng còn là nhắc nhở chúng ta hướng về một thực tại, đó là “Mầu Nhiệm Vượt Qua”, về cái chết hy tế và sự sống lại của Đức Giêsu Kitô, mang lại ơn cứu độ cho muôn người.

Vào ngày Thứ Tư Lễ Tro, sau phần Phụng vụ Lời Chúa, hình ảnh từng đoàn người lặng lẽ tiến lên cung thánh, có thể nói, là hình ảnh mang lại cho chúng ta nhiều cảm xúc. Từng đoàn người tiến lên cung thánh một cách trang nghiêm, cúi đầu nhận tro qua bàn tay vị chủ tế, trong tiếng nhạc thâm trầm du dương, với những ca từ u uất nghẹn ngào: “Hỡi người! hãy nhớ mình là bụi tro… một mai người sẽ trở về bụi tro…”.

Tro sẽ được rắc lên đầu hoặc vẽ lên trán hình thánh giá, cho mỗi người tín hữu. Việc sử dụng tro đã xuất hiện từ thời Cựu Ước và được xem đó như là một dấu hiệu của sự sám hối.

Sách Giô-na có ghi, rằng: “Ông Giô-na bắt đầu vào thành, đi một ngày đường và công bố còn bốn mươi ngày nữa NiNive sẽ bị phá đổ. Dân Ninive tin vào Thiên Chúa, họ công bố lệnh ăn chay và mặc áo vải thô, từ người lớn đến trẻ nhỏ. Tin báo đến cho vua Ninive, vua rời khỏi ngai, cởi áo choàng, khoác áo vải thô và ngồi trên tro”.

Vâng, ăn chay và sám hối – sám hối và ăn chay cũng chính là điều Đức Giê-su đã thực hiện và mời gọi. Những sự việc này, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mác-cô. (Mc 1, 12-15).

**
Tin Mừng thánh Mác-cô tường thuật, rằng: Sau khi Đức Giê-su chịu phép rửa, “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Sa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người.”

Thánh sử Mác-cô, không mô tả chi tiết về những cơn cám dỗ của Đức Giê-su. Thế nhưng, chúng ta vẫn có thể tin rằng, Đức Giêsu đã chiến thắng tất cả mọi mưu ma chước quỷ mà Sa-tan đã xuất chiêu để cám dỗ Ngài.

Chúng ta, chúng ta có thể tin, vì nếu Đức Giê-su sa vào chước cám dỗ của Satan, thì sẽ chẳng có chuyện “có các thiên sứ hầu hạ Người.” Thánh sử Mác-cô đã ghi lại rõ ràng, như thế.

Sau khi hoàn tất việc chay tịnh, Đức Giê-su rời hoang địa, với sức mạnh của Thần Khí, một sức mạnh đã lãnh nhận khi chịu phép rửa tại sông Gio-dan: “Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa.”

Tại đây, Ngài đã lớn tiếng mời gọi mọi người, rằng: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (x.Mc 1, 15).

***
Đức Giê-su đã ăn chay. Hôm nay, bước vào mùa chay, Giáo Hội kêu gọi chúng ta ăn chay. Đức Giê-su ăn chay bốn mươi ngày. Ngày nay, Giáo Hội kêu gọi chúng ta ăn chay hai ngày. Thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh.

Chỉ có hai ngày! Thế mà, có không ít người lại quên giữ chay! Có tệ lắm không? Thưa, có. Tệ hơn nữa, đó là có người ăn chay mà như thể không ăn chay. Họ “kiêng thịt” theo đúng luật Giáo Hội đề ra. Nhưng họ lại ăn những loại “thịt” không được xem là thịt bị cấm sử dụng, đại loại như: tôm hùm, cua biển, trai, sò, rùa những loại lưỡng cư v.v… mà ngày nay, chỉ có những người “khá giả” mới có tiền mua được.

Ăn chay theo kiểu đó, có đúng cách không? Thưa, không ít linh mục đã “phàn nàn” về cách ăn chay này.

Chúng ta ăn chay, hãy ăn chay đúng cách. Điều này, Giáo Hội dạy rồi. Những người ăn chay “không đúng cách”, Thiên Chúa, qua môi miệng ngôn sứ Isaia, có lời phán rằng: “Các ngươi lại ăn chay không đúng cách… (Ăn chay) như thế mà gọi là ăn chay, trong ngày các ngươi muốn đẹp lòng ĐỨC CHÚA?” (Is 58, …4…5).

Thiên Chúa, cũng qua môi miệng ngôn sứ Isaia, có lời truyền dạy, rằng: “Cách ăn chay mà Ta ưa thích… là thế này: mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc. Là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ. Thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục…” (Is 58, 6-8).

Có quá khó cho cách ăn chay này? Thưa, câu trả lời là của mỗi chúng ta. Nhưng, đừng quên, đó là cách “Chúa ưa thích”.

“Theo Điều 1252 của Bộ Giáo Luật hiện hành, luật ăn chay buộc tất cả mọi người Kitô hữu, từ tuổi thành niên (nghĩa là trọn 18 tuổi) cho đến khi bắt đầu được 60 tuổi (nghĩa là cho đến hết 59 tuổi).” (nguồn: internet).

“Ăn chay là hình thức đền tội của Cựu Ước và Tân Ước. Đối với chúng ta, chẳng ai là không phải đền tội, tội đầy đầu trong tư tưởng, lời nói, việc làm sai trái, thiếu sót bỏ không làm việc tốt phải làm… ‘lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng’. Do đó, nếu Giáo hội không buộc, thì tự mình cũng nên tìm cách hãm mình đền tội cách nhẹ ở đời này, hơn là để đền tội ‘cách nặng’ trong luyện ngục đời sau!”

Vâng, Linh mục Đoàn Quang, trong bài viết “Ăn Chay, Kiêng Thịt Trong Giáo Hội Công Giáo”, đã có lời khuyên dạy, như thế. Thế nên, vâng lời Giáo Hội, chúng ta hãy ăn chay. Và, nên ăn chay theo cách “Thiên Chúa ưa thích”.

****
Ngoài việc ăn chay, chúng ta còn phải sám hối. Đó là điều chúng ta được nghe Đức Giê-su mời gọi. (đã nêu trên).

Vâng, đừng nghĩ rằng, tôi chẳng làm gì gây ra tội lỗi, nên không cần ăn năn, tôi sống ăn-ngay-ở-lành, không làm gì nên tội vì thế cần “quái” gì phải sám hối!

Nghĩ như thế là một sai lầm lớn. Theo tiêu chuẩn con người, chúng ta có thể là người vô tội. Nhưng trước mặt Thiên Chúa thánh khiết, mọi người đều là tội nhân.

Hãy xét mình, có ai trong chúng ta mà không hơn một lần có những ý tưởng xấu, như: “ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, phóng đãng, hận thù, bất hòa, ganh tỵ, chia rẽ, bè phái, say sưa…”?!

Thánh Thần Chúa, qua môi miệng tông đồ Phaolô, đã nói rằng: “Vì mọi người đều đã phạm tội, mất hết sự vinh hiển của Thiên Chúa” (Roma 3, 23).

Vua David, một vị vua được xem là “vua thánh”, thế mà cũng đã diễn tả rõ nét thân phận “phàm nhân” đầy tội lụy của mình, như sau: “Lúc chào đời con đã vương lầm lỗi. Đã mang tội khi mẹ mới hoài thai” (Tv 51, 7).

Phải chăng đó chính là tội “nguyên tổ”! Người xưa, chẳng phải là đã có lời nói rằng: “Nguồn nước dơ bẩn dẫn đến một dòng sông dơ bẩn”, đó sao!

Vì thế, bốn mươi ngày chay thánh, không quá dài để chúng ta chần chờ, để chúng ta chậm chân trở về trong tâm tình sám hối.

Đức Giê-su đã nói, chúng ta biết rồi: “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”

Tin vào Tin Mừng là tin vào Thiên Chúa, một Thiên Chúa là tình yêu. Một Thiên Chúa “không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống”. (Ed 33, 11).

Thật vậy, Thiên Chúa đã cứu vớt nhiều tội nhân, khi người ấy “ăn năn sám hối”. Lịch sử Cựu Ước, qua câu chuyện sa ngã của vua David, là một bằng chứng điển hình.

Vua David, dù đã “sa chước cám dỗ”, dù đã phạm tội tà dâm và sát nhân, nhưng, nhờ biết sám hối, nhận mình “đắc tội với Đức Chúa”, tình thương tha thứ của Thiên Chúa đã “bỏ qua tội của ngài, ngài không phải chết” (2Sm 12, 13).

Tin và cảm nhận được tình thương tha thứ của Thiên Chúa sẽ dứt dấy tâm hồn tội nhân sám hối. Và một khi người tội nhân thật sự sám hối, một sự thôi thúc mãnh liệt sẽ thúc đẩy người ấy thoát ra khỏi điều mà họ đã bị cám dỗ, để đứng lên trở về.

Người con thứ trong dụ ngôn “người cha nhân hậu” đã cảm nhận được điều đó và anh ta đã có một quyết định, đó là “đứng lên đi về cùng cha.” (x.Lc 15, 20).

“Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Hôm nay, mùa chay năm nay, chúng ta đừng thờ ơ, phớt lờ lời mời gọi này. Hôm nay, chúng ta hãy “xé lòng” mình ra và hãy “nhét” lời mời này vào tâm lòng chúng ta. Bởi vì, Chúa Giê-su… Chúa Giê-su ưa thích điều này.

Thiên Chúa, Người đã làm tất cả. Người chờ đợi chúng ta đón nhận lời mời. Thiên Chúa, qua môi miệng ngôn sứ Isaia, đã cho chúng ta biết rằng: dù tội chúng ta “có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết; có thẩm tựa vải điều, cũng hóa trắng như bông” (Is 1, 18).

Vấn đề còn lại, đó là, chúng ta sẽ sám hối và tin vào Tin Mừng? Thánh Cyprian có nói: “Với những người còn ở trần gian, không có sự sám hối nào là quá trễ. Con đường đến với lòng thương xót (của) Thiên Chúa vẫn rộng mở”.

Vâng, vẫn rộng mở với lời mời gọi đầy lòng thương xót: “Anh em hãy sám hối.”

Petrus.tran

Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một.

  Chúa Nhật XXX – TN – A Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một Đọc các sách Tin Mừng, chúng ta được biết, sứ vụ rao giảng Tin Mừng của...