Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2024

Nguyện yêu mãi riêng CHÚA mà thôi..

 “Chị em đừng sợ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó.” (Mt 28, 9-10).

CN – II – PS – B
Nguyện yêu mãi riêng CHÚA mà thôi

tbd 060424a


Đức Giê-su đã trỗi dậy từ cõi chết. Biến cố này được tác giả các sách Tin Mừng cho biết là đã xảy ra vào “ngày thứ nhất trong tuần”.

Thật vậy, Tin Mừng thánh Mát-thêu thuật lại rằng: “Khi ngày thứ nhất trong tuần ló rạng, bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a, đi viếng mộ.”

Tin Mừng thánh Mác-cô thì ghi rằng: “Vừa hết ngày sa-bát, bà Ma-ri-a Mác-đa-la với bà Ma-ri-a mẹ ông Gia-cô-bê, và bà Sa-lô-mê, mua dầu thơm để đi ướp xác Đức Giê-su. Sáng tinh sương ngày thứ nhất trong tuần, lúc mặt trời mọc, các bà ra mộ.”

Còn Tin Mừng thánh Luca! Thưa, ngài thánh sử thuật rằng: “Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo dầu thơm đã chuẩn bị sẵn.”

Các bà đã đi ra mộ. Và, các bà không chỉ chứng kiến nhiều sự kiện chứng tỏ Đức Giê-su đã trỗi dậy từ cõi chết, mà còn được “Đức Giê-su đón gặp các bà và nói: chào chị em!”. Đức Giê-su còn nói với các bà rằng: “Chị em đừng sợ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó.” (Mt 28, 9-10).

Tuân theo lời Đức Giê-su, các bà đã trở về “kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy… Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin.” (x.Lc 24, 11).

Riêng ông Phê-rô, sau khi nghe lời tường trình của bà Ma-ri-a Mác-đa-la, ông đã “chạy ra mộ”. Nhưng… “nhưng khi cúi nhìn (ngôi mộ), ông thấy chỉ còn có những khăn liệm mà thôi.” Thầy Giê-su đâu! Ông Phê-rô không thấy! Tất cả những dữ kiện mà ông đã thấy, chỉ làm cho ông “rất đỗi ngạc nhiên về sự việc đã xảy ra”. (Lc 24, …12).

Lời loan báo của Thầy Giê-su, rằng: “Ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại”, sao… sao tới sáng nay, là ngày thứ nhất trong tuần, vẫn chưa thấy ứng nghiệm! Ôi! Ngày thứ nhất trong tuần, vẫn chỉ là một ngày thứ nhất buồn. Một ngày “Chúa Nhật Buồn”, nói theo cách nói hôm nay…

Rất… ông Phê-rô rất buồn! Một sáng Chúa Nhật… một “Chúa Nhật buồn, đi lê thê. Cầm một vòng hoa đê mê. Bước chân về với gian nhà, Với trái tim cùng nặng nề…” Hôm ấy, với-trái-tim-cùng-nặng-nề, ông Phê-rô rời ngôi mộ. Và khi về tới nhà thì trời đã xế chiều.

Chiều hôm ấy, ngồi trong ngôi nhà “các cửa đều đóng kín”, ông Phê-rô xót xa và oán thương về những gì đã xảy ra cho Thầy Giê-su. Nhớ! ông đã ước “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy.” Một ước muốn chân thành… thế mà Thầy lại bảo ông là “Sa-tan… Lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy”. Thế có buồn không kia chứ!

Nỗi buồn đó đeo đẳng ông đến tận chiều hôm nay. Vâng, một chiều Chúa-Nhật-Buồn!. Chiều… “Chúa nhật buồn, tôi im hơi. Vì đợi chờ không nguôi ngoai. Bước chân người nhớ thương tôi. Ðến với tôi thì muộn rồi! Trước (ngôi mộ), khói hương mờ. Bốc lên như vạn ngàn lời. Dẫu qua đời, mắt tôi cười. Vẫn đăm chiêu nhìn về người.” (Sombre Dimanche).
Chúng ta, chúng ta có thể nghĩ, tâm trạng của niên trưởng Phê-rô lúc ấy, là như thế. Là vẫn-đăm-chiêu-nhìn-về-Thầy. Trong tâm hồn mình, ông Phê-rô vẫn đăm chiêu nhìn Đức Giê-su… Và rồi Đức Giê-su đã đăm chiêu nhìn lại ông. Ngài đã trực tiếp nhìn ông qua việc hiện đến “nơi… ông ở”.

Sự kiện này được ghi lại chi tiết trong Tin Mừng thánh Gio-an. (x.Ga 20, 19-31).

**
Vâng, Tin Mừng thánh Gio-an thuật lại, rằng: “Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái.” (Ga 20, 19).

Tại sao lại sợ-người-Do-Thái? Thưa, thánh sử Gio-an không nói lý do. Nhưng, chúng ta có thể suy đoán rằng, các môn đệ sợ là bởi, “người Do Thái”, đại diện là nhóm thượng tế và các kỳ mục đã nham hiểm cho đám lính canh mộ Đức Giê-su một số tiền lớn và bảo họ tung tin đồn rằng, vào ban đêm “các môn đệ của ông Giê-su đã đến lấy trộm xác” (Mt 28, 13).

Mà, “trộm xác” thì sao? Thưa, chết chắc! Trong 613 điều luật của Do Thái giáo, có hai điều liên quan đến xác chết. Điều 224. Không đến gần xác chết. Và điều 225. Không tiếp xúc với người chết. (nguồn: internet).

Không đến gần xác chết. Không tiếp xúc với người chết. Thế mà, chiều hôm ấy, nơi các ông ở, lại xảy ra chuyện “xác chết trở về”. Vâng, “xác” của Đức Giê-su trở về với các ông. Thế nhưng, không phải trở về bằng một “hòm gỗ cài hoa… trên trực thăng sơn màu tang trắng”, nhưng bằng một thân xác Phục Sinh từ cõi chết.

Thánh sử Gio-an cho biết: “Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: ‘Bình An cho anh em’. Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn.”

Kinh Thánh có lời chép rằng: “Giấc mộng chưa thành trái tim khắc khoải”. Nay, mộng ước đã thành, cớ gì trái tim “còn khắc khoải”, nhỉ! Chuyện… chuyện kể rằng: “Các ông vui mừng vì được thấy Chúa.”

***
“Và con tim đã vui trở lại”. Vâng, hôm đó, “mười con tim” của các ông “đã vui trở lại”. Các ông đã không còn “lạc loài niềm tin, sống không ngày mai.” Các ông đã… đã “biến đổi tâm hồn thành một người mới.” (Đức Huy).

Hôm ấy, mười người môn đệ đã được Đức Giê-su biến đổi. Biến đổi qua việc “thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”

Thế còn một người nữa, đâu rồi! Nhóm Mười Một kia mà! Vâng, người ấy là tông đồ Tô-ma. “Ông Tô-ma, cũng gọi là Đi-dy-mô, không ở với (các môn đệ) khi Đức Giê-su đến.” Chính sự vắng mặt của ông, đã khiến ông không tin Đức Giêsu: “Người đã sống lại thật”, mặc cho tất cả các môn đệ đều xác quyết rằng: “chúng tôi đã được thấy Chúa”.

Hôm ấy, ông lớn tiếng thách thức rằng: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin…”

Thế rồi, tám ngày sau. “Khi các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả Tô-ma ở đó với các ông.” Ông Tô-ma đã phải giật thót tim khi nhìn thấy Đức Giê-su. Cũng giống như lần trước, mặc cho “các cửa còn đóng kín”. Đức Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em”. Rồi Người bảo ông Tô-ma rằng, “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” (Ga 20, 27).

Vâng, Đức Giê-su khiển trách Tô-ma “cứng lòng tin”. Nhưng cứng-lòng-tin không có nghĩa là không tin. Ông Tô-ma chỉ muốn “Bách văn bất như nhất kiến - Trăm nghe không bằng một thấy”. Và, hôm nay ông đã thấy. Ông đã thấy và ông đã tuyên xưng niềm tin của mình: “Lạy Chúa của tôi. Lạy Thiên Chúa của tôi”. (Ga 20, 28).

Hôm ấy, sau khi nghe Tô-ma tuyên xưng, Đức Giê-su nói: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin”. Và rồi, Ngài nói tiếp” “Phúc thay những người không thấy mà tin.”

****
Hôm nay, tiếp nối sứ mạng của các tông đồ, Giáo Hội tiếp tục tuyên xưng rằng: Đức Giê-su – “Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng ta, thời quan Phongxiô Philatô; Người chịu khổ hình và mai táng, ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh.”

Chúng ta có cần, có muốn “xỏ ngón tay vào lỗ đinh và… bàn tay vào cạnh sườn Người”, rồi chúng ta mới tuyên xưng lời truyền dạy của Giáo Hội? Câu trả lời là của mỗi chúng ta.

Thế nhưng, nếu muốn, nếu cần… hãy đến, hãy đến nhà thờ. Đến nhà thờ, chúng ta sẽ gặp được Đức Giê-su Phục Sinh.

Chúng ta sẽ đươc gặp Ngài trong phần Phụng Vụ Lời Chúa. Trong phần Phụng Vụ Lời Chúa, chúng ta sẽ được nghe Đức Giê-su truyền đạt những lời nhắn nhủ, như Ngài đã nhắn nhủ các môn đệ năm xưa, rằng: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Và rằng: “Hỡi những ai mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng Ta. Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.”

Đến nhà thờ, chúng ta sẽ được gặp Ngài nơi Bàn Tiệc Thánh Thể. Tại nơi đây “Mình và Máu Chúa Phục Sinh - Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết” sẽ đem lại cho chúng ta “sự sống đời đời”. Lm. Charles E.Miller có lời truyền dạy, như thế.

Mà, thật vậy. Chính… chính Đức Giê-su đã có lời phán hứa, rằng: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sự sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống.” (x.Ga 6, 54-55).

Vâng, Đức Giêsu Phục Sinh không quá thiên vị, Ngài vẫn hiện đến với chúng ta qua “Bí Tích Thánh Thể”. Trước giây phút người tín hữu bước tới bàn Tiệc Thánh để “thấy và cầm” Đức Giêsu Phục Sinh, qua vị linh mục chủ tế, Ngài cũng sẽ nói với chúng ta lời chúc như xưa đã chúc cho các môn đệ , rằng: “Bình an của Chúa ở cùng anh chị em”.

Quan trọng là thế. Thế nên, chúng ta đừng như Tô-ma vắng mặt vào ngày thứ nhất trong tuần. Nói, theo cách nói hôm nay, đó là: chúng ta đừng vắng mặt nơi Bàn Tiệc Thánh vào những ngày Chúa Nhật, mỗi tuần.

Đừng để “bị quyến rũ bởi những quyền lực thế gian và những gì thuộc thế giới này.” Đừng “đặt niềm tin của chúng ta vào phù phiếm của thế gian, tiền bạc, hay sự thành công.” Vâng, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã có những lời khuyên như thế.

Ngài Phan-xi-cô có lời tiếp, rằng: “Tại sao bạn đang tìm kiếm những thứ đó, nó không thể cung cấp cho bạn cuộc sống, nó sẽ cho bạn niềm vui một ngày, một tuần, một tháng, một năm và sau đó… chăng? Tại sao bạn tìm kiếm một cuộc sống trong vòng kẻ chết? Câu này cần phải thấm nhập vào trái tim của chúng ta…”

Vâng, “cần phải thấm nhập vào trái tim của chúng ta”. Bởi có như thế, và chỉ như thế, chúng ta mới có thể có đươc một “con tim đã vui trở lại”, một “niềm tin đã dâng về (Chúa)”. Và cuối cùng là “Trọn tâm hồn, nguyện yêu mãi riêng ‘CHÚA’ mà thôi.”

Chiều ngày thứ nhất trong tuần, năm xưa, Đức Giê-su Phục Sinh đã ban Bình An cho các môn đệ. Ngày Chúa Nhật mỗi tuần, hôm nay, Đức Giê-su Phục Sinh, qua các vị linh mục, cũng ban Bình An cho chúng ta.

Chiều ngày thứ nhất trong tuần, năm xưa, ông Tô-ma đã nói với Đức Giê-su Phục Sinh, nói rằng: “Lạy Chúa của tôi. Lạy Thiên Chúa của tôi”.

Ngày Chúa Nhật mỗi tuần, hôm nay, chúng ta sẽ nói gì với Đức Giê-su Phục Sinh? Nên chăng, hãy nói với Ngài rằng: Trọn đời con “nguyện yêu mãi riêng CHÚA mà thôi”.

Vâng, rất nên. Nên nói: “Nguyện yêu mãi riêng CHÚA mà thôi.”

Petrus.tran

Thứ Bảy, 30 tháng 3, 2024

Dấu chỉ Giê-su Phục Sinh là: Thánh Kinh và Thánh Thể

 Chuyện kể tiếp rằng: “Ông đã thấy và đã tin”.

Chúa Nhật Lễ Phục Sinh
Dấu chỉ Giê-su Phục Sinh là: Thánh Kinh và Thánh Thể

 

tbd 300324

“Một ngày bừng lên, niềm vui rộn rã, một ngày bừng sáng, ca khúc hân hoan, ôi tình yêu chứa chan. ĐK: Vì Chúa đã sống lại. Ngài đã ra khỏi mồ, cho nhân loại mừng vui, hát lên Al-lê-lu-ia. Vì Chúa đã sống lại. Ngài đã ra khỏi mồ, cho nhân loại mừng vui. Cùng nhau ca lên Al-lê-lu-ia.”

Vâng, những lời viết trên đây là trích đoạn trong bài thánh ca “Ngày Phục Sinh”, tác giả: LM. Thái Nguyên.

“Chúa đã sống lại.” Đó chính là trung tâm điểm đức tin Công Giáo. Đức tin Công Giáo dạy chúng ta rằng: Đức Giê-su, “Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng ta, thời quan Phongxiô Philatô, Người chịu khổ hình và mai táng, ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh”.

Các thánh tông đồ chính là những nhân chứng sống động về sự kiện này. Các ngài là những người đã được chứng kiến tận mắt, được chạm tận tay, được nghe tiếng nói của chính con người thật của Đức Giê-su, sau khi Ngài sống lại. Nói tắt một lời, các ngài đã được diện đối diện với Đức Giê-su Phục Sinh.

**
“Chúa đã sống lại. Ngài đã ra khỏi mồ.” Vâng, theo Tin Mừng thánh Gio-an thuật lại, sự kiện này xảy ra vào “sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối.”

Sáng sớm hôm ấy, có một người phụ nữ ra mộ, nơi đã chôn cất Đức Giê-su. Người phụ nữ này là bà Maria Mác-đa-la.
Hôm thứ Sáu, ngày Đức Giê-su bị bắt, bà ta có đi theo Người suốt con đường từ dinh Philato đến tận đồi Golgotha. Bà đã chứng kiến cảnh khổ nạn của Đức Giê-su.

Sau khi Đức Giê-su bị treo lên thập giá và chết, bà biết rõ, ông Gio-sép, người Arimathe, được tổng trấn Phi-la-tô cho phép nhận thi hài Đức Giê-su để chôn. Và sau khi mọi nghi thức tẩm liệm xong, ông Gio-sép “lăn tảng đá to lấp cửa mồ rồi ra về. Bà Maria Mác-da-la và một bà khác cũng tên là Maria ở lại đó và quay mặt vào mồ” (x. Mt 27, 60-61).

Vâng, hôm ấy, mọi sự việc là thế. Thế mà hôm nay, khi đi đến mộ, bà Maria Mác-đa-la thấy “tảng đá đã lăn khỏi mộ”.

Trong nỗi kinh ngạc, bà ta “liền chạy về gặp ông Si-môn và người môn đệ Đức Giê-su yêu mến.” Khi đã gặp được hai vị môn đệ, bà nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.” (x.Ga 20, 1-2).

Nghe xong lời kể của bà Maria Mác-đa-la, không một phút chần chờ: “ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy”. Vâng, cả hai cùng chạy, chạy không khác gì những vận động viên chạy nước rút.

Cuối cùng thì “người môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới trước”. Khi tới nơi, người môn đệ kia “cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào” (x.Ga 20, 5).

Còn ông Phê-rô! Vâng, ông Simon Phê-rô (chạy) theo sau, và rồi cũng đến nơi. Đến nơi, “ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải còn ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi”.

Người môn đệ chạy tới trước nhưng-không-vào, sau đó “cũng đi vào”. Xác Thầy Giê-su đâu, các ông không thấy! Và ngôi mộ… chỉ là “ngôi mộ trống”. Chuyện kể tiếp rằng: “Ông đã thấy và đã tin”.

***
Không thấy xác Thầy Giê-su và ngôi mộ chỉ là ngôi mộ trống. Thế mà ông-đã-tin. Tại sao! Thưa, là bởi, đó chính là “dấu chỉ” về sự Phục Sinh của Chúa Giê-su.

Chúa Nhật hôm nay (31/03/2024) toàn thể Giáo Hội MỪNG CHÚA PHỤC SINH. Và, Giáo Hội vẫn luôn tuyên xưng rằng, Đức Giêsu – “Ngày thứ ba Người sống lại thật như lời Thánh Kinh”.

Hôm nay, “dấu chỉ” về sự Phục Sinh của Chúa Giê-su là gì! Thưa, là lịch sử hơn hai ngàn năm Ki-tô giáo. Là niềm tin của các tông đồ, một niềm tin không lay chuyển, một niềm tin dám “thí mạng sống” của mình về điều mình đã tuyên xưng, rằng: “Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại” (Cv 10, 39-41). Là sự phát triển của Giáo Hội, một sự phát triển không dựa vào sức mạnh bằng họng súng, bằng búa bằng liềm, bằng giáo bằng mác v.v…

Sự tồn tại của Giáo Hội, hơn hai ngàn năm qua, trong khi có biết bao đế quốc sụp đổ, biết bao quốc gia bị xóa sổ trên bản đồ thế giới, cũng chính là “dấu chỉ một Giê-su Phục Sinh”, Ngài vẫn “ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế”.

Thế nên, không có gì khiến chúng ta phải run, phải rét trước những kẻ chống lại niềm tin vào Chúa Giê-su Phục Sinh. Chuyện này, có thể nói rằng: “xưa rồi diễm”.

Vào thời thánh Phao-lô. Đang khi ngài “rao giảng rằng Đức Ki-tô đã từ cõi chết trỗi dậy, thì… Có người lại nói: không có chuyện kẻ chết sống lại?” (x.1Cor 15, 12).

Thánh Phao-lô đã nói gì! Thưa, ngài đã có lời truyền dạy rất sâu sắc, rằng: “Nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng… Mà nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em hão huyền… Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người.” (1Cor 15, 14… 19).

“Nhưng không phải thế!”. Vâng, Thánh Phao-lô nói tiếp: “Đức Ki-tô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu… Quả thế, như mọi người vì liên đới với Adam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Ki-tô, cũng được Thiên Chúa cho sống.”

Ngày nay, nếu có một David Strauss, một triết gia người Đức, trong tác phẩm “The life of Jesus critically examined” đã lập luận cho rằng: Các tín hữu đầu tiên của Kitô giáo đã cố tìm mọi cách để gán cho Giê-su đủ thứ huyền thoại về một Đấng Cứu Thế mà mọi người mong đợi. Ông ta cố chứng minh rằng, Đức Giêsu của Kinh Thánh chỉ là một Giê-su của huyền thoại.”

Thì, cũng có một Frank Morris, một luật sư người Anh, trong tác phẩm “Who moved the stone – Ai đã lăn hòn đá”, đã đưa ra nhiều bằng chứng đáng tin cậy để nói rằng Chúa Giê-su thực sự đã Phục Sinh.

Tưởng chúng ta nên biết, có rất nhiều nhà khoa học lừng danh trên thế giới “Tin Chúa”. (*)

Johannes Kepler (1571–1630), một trong những nhà thiên văn vĩ đại nhất. Ông nói: “Thiên Chúa thật vĩ đại. Quyền năng Ngài vĩ đại và sự khôn ngoan thì vô hạn. Hãy ca tụng Ngài bằng ngôn ngữ của mình, hỡi trời và đất, mặt trời và mặt trăng, các tinh tú. Lạy Thiên Chúa và là Đấng Tạo Dựng nên con! Với trí khôn giới hạn của con, con muốn loan báo sự kỳ diệu của các công trình Ngài cho mọi người hiểu được”.

Isaac Newton (1643–1727), nhà sáng lập vật lý lý thuyết cổ điển. Ông nói: “Điều ta biết được chỉ là một giọt nước, điều ta chưa biết là cả một đại dương bao la. Những xếp đặt và hài hòa của vũ trụ chỉ có thể xuất phát từ bản vẽ của một Đấng toàn năng và toàn tri”.

Alessandro Volta (1745–1827), người khám phá ra các ý niệm cơ bản về điện. Ông nói: “Tôi tuyên xưng đức tin Công giáo Roma, thánh thiện và tông truyền. Tôi tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho tôi đức tin này, nhờ đó mà tôi có một ý hướng vững chắc để sống và chết”.

Andre-Marie Ampere (1775–1836), người khám phá ra các định luật cơ bản về điện. Ông nói: “Thiên Chúa vĩ đại biết bao và khoa học của chúng ta chỉ là chuyện vặt vãnh!”

Thomas A. Edison (1847–1931), nhà sáng chế nắm giữ 1200 bằng sáng chế. Ông nói: “Tôi tôn trọng và ngưỡng mộ tất cả các kỹ sư, đặc biệt là người kỹ sư vĩ đại nhất: Thiên Chúa”.

Albert Einstein (1879–1955) người đặt nền cho vật lý hiện đại (Thuyết tương đối), giải Nobel 1921. Ông nói: “Những ai nghiêm túc nghiên cứu khoa học đều chắc một điều là trong tất cả những định luật của vũ trụ đều có bóng dáng của một thần linh siêu vượt lên trên con người và chúng ta phải cảm thấy mình thật thấp kém”.

Wernher von Braun (1912–1977), kỹ sư tên lửa và kiến trúc sư không gian. Ông nói: “Trên hết mọi sự là vinh quang Thiên Chúa, Đấng mà con người và khoa học khám phá và tìm kiếm mỗi ngày với sự tôn kính thẳm sâu”.

Louis Pasteur. Tấm danh thiếp và sự ngạc nhiên: “Một sinh viên trẻ ngồi cùng toa xe lửa với một ông già đang lần hạt. Anh mạnh dạn bắt chuyện với ông: “Thay vì lần hạt, tại sao ông không dành thời gian học hỏi và tự đào luyện bản thân đôi chút nhỉ? Tôi có thể gởi cho ông một cuốn sách hướng dẫn”. Ông già đáp: “Anh làm ơn gởi cuốn sách đến địa chỉ này”, và ông trao cho anh sinh viên tấm danh thiếp. Tấm danh thiếp ghi là: Louis Pasteur, Viện khoa học Paris. Anh sinh viên cảm thấy xấu hổ vô cùng. Anh định khuyên nhủ một học giả lừng danh nhất của thời đại mình, nhà sáng chế ra vaccines, được cả thế giới ca tụng và là một người siêng năng lần hạt.”

(*)trích nguồn: Giáo Xứ Châu Sơn - Giáo Phận Ban Mê Thuột.

****
Người ta đã dựa vào Thánh Kinh và lịch sử để minh chứng cho sự kiện Đức Giê-su Ki-tô đã bị xử tử, bị đóng đinh trên thập giá và ngày thứ ba Ngài đã Phục Sinh.

Tất cả bốn sách Tin Mừng: Mát-thêu, Mác-cô, Luca và Gio-an đều mô tả từng chi tiết cho biến cố này. Khoa khảo cổ học cũng đã tìm ra được Ba-vê (Stone Pavement - nền lát đá), nơi Chúa Giê-su bị đem ra xử trước đám đông người Do Thái, đúng như trong Kinh Thánh đã chép: “Ông Phi-la-tô truyền dẫn Đức Giê-su ra ngoài, Ông đặt Người ngồi trên tòa, nơi gọi là Nền Đá, tiếng Híp-ri là Gapbatha” (Ga 19, 13).

Như vậy, khám phá về lâu đài An-tô-ni-ô và Ba-vê, nơi xử án Đức Giê-su, vào năm 1933 của các nhà khảo cổ học đã minh chứng cho những gì bốn thánh sử đã ghi chép trong bốn sách Tin Mừng, cách đây nhiều thế kỷ, là chính xác.

Thánh Phê-rô và Gio-an đã bị tống ngục chỉ vì “giảng dạy cho dân và dựa vào trường hợp Đức Giê-su mà loan báo kẻ chết sống lại” (Cv 4, 2).

Mà nếu không có sự Phục Sinh của Đức Giê-su Ki-tô, thì hôm nay không thể tồn tại một Hội Thánh “duy nhất, thánh thiện, Công Giáo và tông truyền”. Nếu không có sự Phục Sinh của Đức Giê-su Ki-tô, thì không thể từ chỗ chỉ có một nhúm nhỏ “mười hai và vài ba người phụ nữ” trở thành 3.000, 5.000, và bây giờ ngấp nghé 2 tỷ người khắp năm châu, tin Chúa.

Tất cả mọi người đều tin, rằng: “Chúa Giê-su Ki-tô, từ trong cõi chết, Ngài đã Phục Sinh”.

Có rất nhiều bằng chứng về sự Phục Sinh của Chúa Giê-su. Và, bằng chứng sống động nhất và đáng tin cậy nhất, chính là đời sống của mỗi Ki-tô hữu. Mỗi người Ki-tô hữu đều được biến đổi. Và, ngay cả khi không có gì khiến họ biến đổi, thì Thánh Kinh và Thánh Thể sẽ biến đổi đời sống của họ. Điều này chứng tỏ rằng: Đức Giê-su Phục Sinh.

Nói cách khác: Hôm nay, dấu chỉ Giê-su Phục Sinh là: Thánh Kinh và Thánh Thể.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2024

Hãy thờ Chúa hết tâm tình…

 “Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa. Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Đa-vít, tổ phụ chúng ta”.

Chúa Nhật Lễ Lá - B
Hãy thờ Chúa hết tâm tình…

 

tbd 230324a


Để cho cuộc sống được tồn tại, con người cần ăn uống, như chúng ta thường nói: “ăn để sống”. Không chỉ ăn để sống, con người còn cần không khí để thở.

Vâng, cuộc sống về phương diện thể xác là vậy. Tuy nhiên ngoài phương diện thể xác, cuộc sống của con người còn liên quan đến tinh thần. Ở phương diện tinh thần, có những điều còn quan trọng hơn cả ăn và uống, bởi không có nó, con người “chẳng buồn ăn và chẳng thèm uống”. Những điều quan trọng đó, chính là: tình yêu và niềm hy vọng.

Đúng vậy, như sách có câu: “Cuộc sống không có tình yêu khác nào khu vườn không có ánh nắng” và Thomas Fuller thì nói: “Nếu không phải nhờ hy vọng, trái tim sẽ tan vỡ”.

Nói tắt một lời, sống mà không có tình yêu và niềm hy vọng thì sống cũng bằng như chết. Cảm nghiệm được điều này, nhà thơ Xuân Diệu đã thổn thức thốt lên: “Làm sao sống được mà không yêu. Không nhớ, không thương một kẻ nào?” (Bài ca tuổi nhỏ).

Thổn thức rồi, ông Xuân Diệu trải lòng mình, rằng: “Tôi đã yêu từ khi chưa có tuổi. Lúc chưa sinh vơ vẩn giữa luân hồi. Tôi sẽ yêu khi đã hết tuổi rồi. Không xương xóc chỉ huyền hồ bóng dáng.” (Đa tình).

Hơn hai ngàn năm xa trước đó. Có một người “đã yêu từ khi chưa (xuống thế)”. Người “đã yêu”, yêu thế gian đến nỗi, “không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2, 6-8).

Người đó chính là Đức Giê-su Ki-tô. Sự kiện lịch sử này đã được ghi lại trong các sách Tin Mừng: Mát-thêu, Mác-cô, Lu-ca và Gio-an. Và hôm nay, Giáo Hội không chỉ tuyên xưng, rằng: “Tôi tin kính Đức Giê-su Ki-tô là Con Một Đức Chúa Cha cùng là Chúa chúng tôi, bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi Bà Maria đồng trinh: chịu nạn đời quan Phong-xi-ô Phi-la-tô, chịu đóng đanh trên cây Thánh giá, chết và táng xác; xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại…”, mà còn tưởng niệm cuộc thương khó của Ngài, vào Chúa Nhật Lễ Lá và thứ sáu Tuần Thánh, hằng năm.

**
Theo Tin Mừng thánh Mác-cô, cuộc thương khó của Đức Giê-su xảy ra trong dịp “Lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men”. Đó là những ngày lễ lớn của người Do Thái.

Hôm ấy, Đức Giê-su cùng với các môn đệ lên Giê-ru-sa-lem để dự lễ. Và khi Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem, không ai có thể tưởng tượng được, một rừng người cầm nhành lá thiên tuế ra đón Người và reo vang: “Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa. Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Đa-vít, tổ phụ chúng ta”.

Ngoài hè phố thì dân chúng hoan hô và chúc tụng. Trái lại, tại dinh Thượng Hội Đồng “các thượng tế và kinh sư bàn mưu tính kế bắt Đức Giê-su để giết Người.” (Mc 14, 1).

Vâng, thật may mắn cho quý ông thượng tế và kinh sư. Chuyện là thế này: “Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, một người trong Nhóm Mười Hai, đi gặp các thượng tế để nộp Người cho họ.”

Sau khi “Nghe hắn nói, họ rất mừng và hứa cho tiền.” Về chuyện này, thánh sử Mát-thêu cho biết: “Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc” (Mt 26, …15).

Các môn đệ, không ai biết âm mưu của Giu-đa. Nhưng Đức Giê-su biết. Trong bữa tiệc lễ Vượt Qua. Đang khi dùng bữa, Người nói: “Thầy bảo thật anh em, có người trong anh em sẽ nộp Thầy, mà lại là người đang cùng ăn với Thầy.”


Nghe thế, các môn đệ “buồn rầu quá sức”. Các ông, lần lượt hỏi Đức Giê-su: “Chẳng lẽ con sao?” Đức Giê-su đáp rằng: “Chính là một trong Nhóm Mười Hai đây, mà là người chấm chung với Thầy.”

“Nén đau thương, vương ngậm ngùi sẽ kể. Niềm đau đớn vô biên như trời bể.” Huy Thông, thi sĩ Huy Thông đã mô tả nỗi u buồn của Hạng Vũ, khi sắp sửa tự kết liễu đời mình, như thế.

Với Đức Giê-su! Vâng, Ngài cũng đã “buồn hiu hắt buồn”. Ngài cũng đã nén-đau-thương trước nỗi buồn bị phản bội và nói: “Đã hẳn, Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người. Nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn!” (Mc 14, 21).

Bị phản bội, tất nhiên ai cũng cay đắng. Nhưng, Đức Giê-su thì không. Hôm ấy, Ngài đã lập một giao-ước-mới. “Máu giao ước vĩnh cửu”, để nhiều người được cứu độ.

Vâng, chuyện được ghi lại rằng: “Cũng đang bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: ‘Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy’. Rồi, Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. Người bảo: Đây là Máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người,” (Mc 14, 22-24).

Với Giao Ước mới, một ai đó có lời chia sẻ, rằng: “Hai ngàn năm đã qua, chúng ta tiếp tục sống lại tất cả tiến trình của mầu nhiệm Vượt Qua, mầu nhiệm mà từ đó Hội Thánh đã được khai sinh. Thật vậy, trong mọi cử hành Thánh Thể, chúng ta đều trở về với Tam Nhật Vượt Qua một cách thiêng liêng. Chúng ta sống lại cảnh Chúa cùng với các môn đệ rời khỏi phòng Tiệc Ly đến tại Vườn Cây Dầu, để rồi chứng kiến những giọt máu hoà lẫn với mồ hôi rơi xuống.” (x.Lc 22, 14).

***
Vâng, hôm ấy, rời-khỏi-phòng-tiệc-ly, “Đức Giê-su và các môn đệ đến một thửa đất gọi là Ghết-sê-ma-ni”. Trong thinh lặng của nguyện cầu, Ngài “bắt đầu cảm thấy hãi hùng xao xuyến”. (Mc 14, …33).

Rồi, Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là ba người được Đức Giê-su đem đi theo. Ba vị môn đệ nghe rõ lời Thầy Giê-su nói: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức.”

Nói với các môn đệ xong, “Người đi xa hơn một chút, sấp mình xuống đất mà cầu xin cho mình khỏi phải qua giờ ấy, nếu có thể được.” Đức Giê-su đã cầu xin rằng: “Áp-ba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con. Nhưng xin đừng làm theo ý con, mà làm điều Cha muốn.”

Lời cầu xin của Đức Giê-su phảng phất nỗi sầu-vạn-cổ. Còn các vị môn đệ thì buồn, các ông “buồn ngủ”. Ba lần… ba lần Đức Giê-su đã nhắc nhở các ông về chuyện này. Nhưng, “các ông chẳng biết trả lời làm sao với Người.”

Và rồi… “Giờ đã điểm”. Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Đứng dậy, ta đi nào! Kìa kẻ nộp Thầy đã tới!” (x.Mc 14, 42).

****
Kẻ-nộp-Thầy-đã-tới. VIA DOLOROSA - Chặng Đường Khổ Đau của Đức Giê-su cũng tới theo. Chuyện kể rằng: “Ngay lúc đó, khi Người còn đang nói, thì Giu-đa, một người trong Nhóm Mười Hai, xuất hiện.”

“Cùng đi với hắn, có một đám đông mang gươm giáo gậy gộc. Họ được các thượng tế, kinh sư và kỳ mục sai đến.”

Tên phản bội đã cho đồng bọn một ám hiệu: “Tôi hôn ai thì chính là người đó. Các anh bắt lấy và điệu đi cho cẩn thận”.


Ba năm công khai rao giảng Tin Mừng, đây không phải lần đầu tiên Đức Giêsu bị họ truy bắt. Đã nhiều lần họ đe dọa, ném đá và tìm cách giết Ngài. Nhưng một phần họ sợ dư luận và một phần là vì Đức Giêsu tìm cách lánh đi.

Nhưng hôm nay, Đức Giêsu đứng lặng “lòng xao xuyến bởi địch thù gào thét, bởi ác nhân hà hiếp”. (Tv 55).

Kinh Thánh chép rằng: “Không gì nham hiểm và bất trị như lòng người”. (Gr 17, 9). Vâng, quả đúng ở trường hợp Giuđa. Đó là nụ hôn nham hiểm của y. Nụ Hôn Của Thần Chết!

Trở lại câu chuyện: “Vừa tới, Giu-đa tiến lại gần Người và nói: ‘Thưa Thầy!’, rồi hôn Người.” Giu-đa vừa hôn xong. Lập tức, “Họ liền tra tay bắt Người.”

Có một hành động chống cự đơn lẻ của một người môn đệ của Đức Giê-su. Người này “tuốt gươm ra, chém phải tên đầy tớ của thượng tế, làm nó đứt tai.” Nhưng, Đức Giê-su không hài lòng về hành động của người môn đệ này.

Tin Mừng thánh Mát-thêu cho chúng ta biết, rằng Đức Giê-su bảo người ấy: “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm, sẽ chết vì gươm. Hay anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần! Nhưng như thế, thì lời Kinh Thánh ứng nghiệm sao được? Vì theo đó mọi sự phải xảy ra như vậy.” (x.Mt 26, 52-53).

Hôm ấy, chuyện đã xảy-ra-như-vậy. Đức Giê-su bị bắt. Các môn đệ thì “bỏ Người mà chạy trốn hết.”

*****
Ghết-sê-ma-ni trở về trong thinh lặng. Nhưng tại dinh Thượng Hội Đồng thì rất xôn xao. Người ta đã “điệu Đức Giê-su đến vị thượng tế”. Bá quan văn võ tề tựu đông đủ.

Tại đây, Đức Giêsu đã phải hứng chịu suốt đêm màn tố khổ, đầy bất công và tàn nhẫn. Thế nhưng, tất cả những lời tố cáo “lại không ăn khớp với nhau”. Nhiều... nhiều người tố cáo lắm, nhưng “chứng của họ cũng không ăn khớp với nhau” (x.Mc 14, 59).

Muốn tên Giê-su phải chết, thì phải làm sao, bây giờ? Vâng, một “cái bẫy” được đặt ra. Một vị thượng tế đã hỏi Đức Giê-su, rằng: “Ông có phải là Đấng Ki-tô, Con của Đấng Đáng Chúc Tụng không?” Không một chút ngần ngại, Đức Giê-su đáp lời: “Phải, chính thế.”

Chính thế! Chính tại sông Gio-đan, nơi “Tôi” được-ông-Gio-an-làm-phép-rửa, chẳng phải là khi “vừa lên khỏi nước… Thần Khí như chim bồ câu ngự xuống… Lại có tiếng từ trời cao phán: Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con”, đó sao!

Vâng, hôm ấy, dù đang trong vai trò là một kẻ bị tố khổ, Đức Giê-su vẫn lớn tiếng cảnh cáo ông thượng tế, cũng như toàn thể Thượng Hội Đồng, lời cảnh cáo rằng: “Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến.”

Rõ… Nghe rất rõ. Thế nhưng, cái “rõ” mà các vị thượng tế cần “rõ”, rằng Đức Giê-su chính là Ngôi Lời. Và, “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”, thì các ông lại “không rõ”.

Cái “rõ” mà các ông cho là “rất rõ” chính là Đức Giê-su “nói phạm đến Thiên Chúa”. Hôm ấy: “Tất cả đều kết án Người.”

******
Vâng, chúng ta sẽ trở lại cuộc thương khó của Đức Giê-su. Chúng ta sẽ tiếp tục đi trên CHẶNG ĐƯỜNG KHỔ ĐAU của Ngài. Chúng ta sẽ cùng Ngài đến dinh quan tổng trấn Phi-la-tô. Chúng ta sẽ cùng vác thập giá với Ngài… vào thứ sáu Tuần Thánh.

Còn hôm nay, ngay bây giờ, hãy để tâm hồn mình chìm vào trong thinh lặng, và hãy tự hỏi lòng mình rằng: Tôi có bán Chúa? Tôi có chối Chúa? Tôi có bỏ Chúa? Vâng, phải “tự hỏi” thôi! Bởi vì, có thể chúng ta không trực tiếp nhưng gián tiếp thực hiện.

Tôi đâu có bán Chúa! Tôi chỉ bán lương tâm của mình. Bởi vì “lương tâm không bằng lương tháng”. Tôi đâu có “bỏ” điều răn thứ năm Chúa truyền dạy: “Chớ giết người”! Tôi chỉ “hút điều hòa kinh nguyệt” thôi mà! Tôi đâu có “chối” Chúa! Tôi chỉ ngại làm chứng về Chúa, qua cách sống của mình trước bàn dân thiên hạ, trong xã hội hôm nay v.v… và v.v…

Ron Rolheiser, OMI, trong bài “Viết lại cuộc xử án của chúng ta” đã nhận xét: “Có vẻ như, chẳng có nhiều thay đổi trong thế giới ngày hôm nay. Vẫn còn không ít người chọn lựa cách hành xử như cách hành xử của những người trong cuộc xử án và kết án Đức Giêsu năm xưa. Vẫn còn không ít người, vì mù quáng, vì lợi lộc thế gian, sẵn sàng ‘bán đứng’ đức tin của mình. Vẫn còn không ít người, vì danh vọng, vì quyền lực do thế gian ban cho, sẵn sàng la to, rằng: Hắn nói phạm đến Thiên Chúa!”

Đúng vậy. Ngày nay, cách này cách khác, đã có không ít người trong chúng ta lớn tiếng chỉ trích, chống đối Giáo Hội Của Chúa, rằng thì-là-mà Giáo Hội Của Chúa “Phạm đến quyền tự do của con người”. Giáo Hội Của Chúa phạm đến quyền tự do phá thai, quyền tự do hôn nhân đồng tính v.v…

Này! Những quyền tự do đó chính là một thứ “Văn hóa Cain - Văn hóa sự chết”. Đừng để mình bị mê hoặc, đừng để mình bị cám dỗ bởi những lời lẽ, bởi những chiêu trò PR của giới truyền thông, cho rằng “chẳng chết chóc gì đâu”, mà hò reo cổ vũ!

Thực tế, những quyền tự do đó, chỉ làm băng hoại sự đạo đức, giết chết tình yêu thương, đỗ vỡ hôn nhân gia đình. Nói tắt một lời, chỉ dẫn con người đến “thung lũng âm u của nghi ngờ và chết chóc”.

Vâng, phải tỉnh thức. Đức Giê-su đã truyền dạy như thế. Ngài dạy rằng: “Anh em hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối.”

Chỉ… chỉ khi “canh thức và cầu nguyện”, chỉ khi đó, chúng ta mới có thể có được sức mạnh của Thần Khí, một sức mạnh giúp chúng ta: quyết không bán Chúa, quyết không chối Chúa, quyết không bỏ Chúa. Nói theo cách nói của Lm. Hoài Đức: “Quyết từ nay thờ Chúa hết tâm tình.”

Nói ngắn gọn: Hãy thờ Chúa hết tâm tình.

Petrus.tran

Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một.

  Chúa Nhật XXX – TN – A Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một Đọc các sách Tin Mừng, chúng ta được biết, sứ vụ rao giảng Tin Mừng của...