Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2025

Có tình thương, lời Chúa sẽ ứng nghiệm

 


Chúa Nhật III – TN – C
Có tình thương, lời Chúa sẽ ứng nghiệm

tbd250125a

 

Theo Tin mừng thánh Luca, chúng ta được biết: Khi Đức Giê-su khởi sự ra đi rao giảng Tin Mừng, “Người trạc khoảng ba mươi tuổi.” Kể từ đó, Đức Giê-su bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li.

Tại đây, Đức Giê-su đã “đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân.”

Chính vì thế: “Danh tiếng Người đồn ra khắp xứ Xy-ri”. Và rồi, khi tiếng đồn về một ông Giê-su “giảng dạy thì có uy quyền… ra lệnh cho thần ô uế và chúng phải tuân lệnh” được đồn ra khắp “vùng Thập Tỉnh, thành Giê-ru-sa-lem, miền Giu-đa và vùng bên kia sông Gio-đan”, như một hiệu ứng domino “dân chúng lũ lượt kéo đi theo Người.”

Có thể nói rằng, rất nhiều người dân ở Palestin không chỉ được nghe những lời giảng dạy của Đức Giê-su mà còn được hưởng ơn phước Ngài ban cho. Trong khi đó, cư dân tại Na-da-rét… buồn thay! chưa, chưa một lần… được nghe, được hưởng ơn phước. Vâng, Na-da-rét chưa một lần! Dù, Đức Giê-su được gọi là Giê-su người Na-da-rét.

Thế rồi… rồi có một ngày… có một ngày Đức Giê-su về Na-da-rét. Đức Giê-su đã về Na-da-rét. Trong một buổi nhóm họp ở hội đường, và nhân cơ hội được đọc Sách Thánh, Ngài đã loan báo cho cư dân tại đó một “Tin Mừng”, một Tin Mừng đã được ngôn sứ Isaia loan báo trước đó hằng bao thế kỷ, một Tin Mừng mà con người đã “mơ ước bao lâu”, nay ứng nghiệm.

Sự kiện này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Luca với tiêu đề: “Đức Giê-su tại Na-da-rét” (Lc 4, 16-21).

**
Tin mừng thánh Luca ghi lại sự kiện này như sau: “Được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Đức Giê-su trở về miền Galile”. Tại nơi đây: “Người giảng dạy trong các hội đường và được mọi người tôn vinh”.

Sau đó, “Đức Giê-su đến Na-da-rét, là nơi Người sinh trưởng.” Đến Na-da-rét, Đức Giê-su ở lại quê quán mình bao lâu! Thưa, thánh sử Luca không nói đến. Thế nhưng, những sinh hoạt thường nhật của Đức Giê-su, thánh sử Luca lại cho chúng ta biết.

Vâng, hôm ấy, nhằm ngày sa-bát, thánh sử Luca cho biết, Đức Giê-su “Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát.” (Lc 4, 16).

Vào hội đường trong ngày sa-bát, đó là việc vẫn-quen-làm, của bất cứ người Do Thái nào. Người Do Thái được dạy rằng: “Ngươi hãy nhớ ngày sa-bát, mà coi là ngày thánh. Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi. Còn ngày thứ bảy là ngày sa-bát kính Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi”. (Xh 20, 8-10).

Ngày sa-bát là ngày kính-Đức-Chúa. Ngày đó, họ nhóm lại trong hội đường để lắng nghe Lời Chúa. Bắt đầu cho phần phụng vụ, họ xướng kinh “Shêma” và kinh “mười tám lời chúc phúc”. Kế tiếp, mọi người thinh lặng lắng nghe Lời Chúa được trích từ Sách Luật (Ngũ Thư) hay từ các sách Ngôn Sứ.

Mọi người đều có quyền đọc Sách Thánh, hoặc là tự nguyện hoặc là được viên trưởng hội đường chỉ định. Người được chỉ định thường là người thông thạo Kinh Thánh. Họ được mời lên công bố và giảng giải Lời Chúa cho cộng đoàn.

Trở lại câu chuyện Đức Giê-su vào-hội-đường. Hôm đó, Ngài được vinh dự đọc Sách Thánh. Bài đọc hôm ấy được chọn trong sách ngôn sứ Isaia. Cầm trong tay cuốn sách ngôn sứ do họ trao, Đức Giê-su mở ra, gặp ngay đoạn chép rằng: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa.” (x.Lc 4, 18-19).

Sau khi đọc xong, “Đức Giê-su cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống.” Tất cả cử tọa trong hội đường đều im lặng… họ “chăm chú nhìn Người”.

Nhìn Đức Giê-su… chờ đợi Ngài giảng giải Lời Chúa chăng! Vâng, Đức Giê-su đã giảng. Lời giảng của Ngài không phải là một lời khuyên răn, nhưng là một lời tuyên bố. Hôm ấy, Đức Giê-su tuyên bố rằng: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lc 4, 21).

***
“Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe.” Đúng, lời Kinh Thánh đã ứng nghiệm. Và, Giê-su người Na-da-rét chính là tác nhân cho sự ứng nghiệm vào những lời ngôn sứ Isaia loan báo.

Với sức mạnh của Thần Khí, Giê-su người Na-da-rét đã loan báo Tin Mừng Nước Trời khắp “vùng Thập Tỉnh, thành Giê-ru-sa-lem, miền Giu-đa và vùng bên kia sông Gio-đan”.

Một anh mù tên là Ba-ti-mê con ông Ti-mê, hai người mù tại Giê-ri-cô… kêu cầu Đức Giê-su, Giê-su người Na-da-rét đã làm cho họ “nhìn thấy được.” Một người bại liệt được “mấy người khiêng đến” gặp Đức Giê-su xin chữa lành. Thấy họ có lòng tin, Giê-su người Na-da-rét đã làm cho người bại liệt này “đứng dậy, đi về nhà.”

Tuy nhiên, những điều ứng nghiệm nêu trên, mới chỉ là sự ứng nghiệm về phần thuộc thể. Điều Giê-su người Na-da-rét, còn làm và sẽ làm “cho đến tận thế” đó là phần thuộc linh.

Vâng, Đức Giê-su còn làm và sẽ làm cho những kẻ “mù hồn” được sáng mắt, “sáng con mắt đức tin”. Ngài sẽ làm cho những ai bị giam cầm, ”giam cầm bởi nỗi lo sợ, bởi thành kiến, bởi ích kỷ tham lam v.v…” được bình an, được hoan lạc.

Chỉ cần một cử động của tâm hồn và đến với Đức Giê-su. “Hỡi những ai mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng tôi”. Giê-su người Na-da-rét đã có lời mời gọi như thế. Tất cả mọi sự rồi sẽ ứng nghiệm cho những ai đáp lời mời gọi của Ngài. Đừng quên, Đức Giê-su chính là người thừa hành “năm hồng ân của Chúa”.

****
Xưa, Đức Giê-su chính là tác nhân làm cho những lời loan báo của ngôn sứ Isaia, được ứng nghiệm. Chúa Nhật hôm nay (26/01/2025) những lời loan báo của ngôn sứ Isaia, được tái công bố, qua phần Phụng Vụ Lời Chúa. Ai… ai sẽ là tác nhân!?

Nên chăng là chúng ta? Nên là vậy. Nên là vậy, bởi chúng ta là một Ki-tô hữu. Là một Ki-tô hữu, chúng ta là chi thể trong nhiệm thể là Chúa Ki-tô.

Là chi thể trong nhiệm thể là Chúa Ki-tô, chúng ta chính là đôi mắt, là đôi tai, là môi miệng, là cánh tay… nối dài của Ngài. Thế nên, chính chúng ta phải là người làm cho những lời Chúa tuyên phán, ứng nghiệm.

Chúng ta sẽ làm như thế nào! Thưa, hãy học theo cách Chúa Giê-su. Vâng, Chúa Giê-su chỉ sử dụng một cách thức duy nhất, đó là “chạnh lòng thương xót”.

Thấy con trai bà góa thành Na-in chết, Chúa Giê-su chạnh lòng thương và rồi Ngài đã làm cho con bà ta sống lại. Một lần khác, khi “Đức Giê-su thấy đám đông, thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt…” Một lần khác nữa, khi nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình mà trời thì đã tối, Chúa Giê-su chạnh lòng thương xót, không nỡ bỏ rơi họ, nên đã hóa năm chiếc bánh và hai con cá cho họ ăn no nê.

Chỉ cần có lòng thương xót. Chỉ cần có lòng thương xót, chúng ta sẽ không ngần ngại “cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới mặc v.v…”

Chúng ta sẽ làm cho lời truyền dạy của Chúa “hãy yêu kẻ thù” được ứng nghiệm, nếu chúng ta bày tỏ lòng thương xót qua hành động “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nới lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm.”

Chỉ khi chúng ta có lòng thương xót, chỉ khi đó chúng ta mới “dám”… Dám “tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.”

Vâng, thế giới chúng ta đang sống hôm nay, đang rất cần tình yêu thương. Thế nên, chúng ta hãy có lòng thương xót. Hơn nữa “Có tình thương, lời Chúa sẽ ứng nghiệm.”

Petrus.tran

Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2025

Ca-na - nhớ Mẹ Maria…

 Ca-na - nhớ Mẹ Maria…

tbd180125a


Giáo lý Công Giáo dạy chúng ta rằng: “Đức Chúa Giêsu có hai bản tính: một là bản tính Đức Chúa Trời, hai là bản tính loài người. Hai bản tính ấy kết hợp trong một Ngôi duy nhất là Ngôi thứ hai Đức Chúa Trời.”

Vì có bản-tính-loài-người, thế nên Đức Giê-su “sống như người trần thế”. Đó là lý do Ngài thấu hiểu những gì gọi là đau khổ, là buồn vui trong cuộc sống của con người. Do vậy, cuộc sống của con người (đặc biệt là dân Do Thái), luôn nhận được sự quan tâm của Ngài.

Thật vậy, trong những ngày còn tại thế, Đức Giê-su, ngoài việc rao giảng Tin Mừng Nước Trời, Ngài còn quan tâm đặc biệt đến những ai đau khổ buồn phiền. Chính vì thế, “Danh tiếng Người đồn ra khắp xứ Xy-ri. Thiên hạ đem đến cho Người mọi kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền: những kẻ bị quỷ ám, kinh phong bại liệt… Người đã chữa họ.”

Mà, đâu chỉ là những nỗi buồn phiền vì ốm đau, bệnh hoạn, tật nguyền! Còn đó là những nỗi buồn phiền “không tên”. Một bữa tiệc cưới tại Ca-na, không may “hết rượu”, cứ sự thường thì chủ tiệc cưới là người chịu trách nhiệm giải quyết, ấy thế mà… thế mà Đức Giê-su lại là người lo toan.

Đức Giê-su đã lo toan. Ngài đã biến nỗi buồn-hiu-hắt-buồn của chủ tiệc cưới, thành niềm vui bất tận. Câu chuyện đầy tình thân ái này đã được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an, với tiêu đề “Tiệc cưới tại Ca-na” (Ga 2, 1-11).

**
Câu chuyện được thánh sử Gio-an ghi lại như sau: “Ngày thứ ba, có tiệc cưới tại Ca-na, miền Ga-li-lê. Trong tiệc cưới có thân mẫu Đức Giêsu. Đức Giê-su và các môn đệ cũng được mời tham dự.” (Ga 2, 1-2).

Nhìn khung cảnh quan khách vui vầy quanh bàn tiệc với những tiếng cười hoan hỉ, ai cũng thầm nghĩ, chắc hẳn bữa tiệc hôm nay sẽ là một bữa tiệc tràn ngập niềm vui.

Thế nhưng, thật không may, trong khi đôi tân hôn, đón nhận những lời chúc: “Mừng đôi uyên ương. Xây tổ ấm trên cành yêu đương”, với khuôn mặt rạng ngời hạnh phúc. Thì ngược lại, khuôn mặt “thân mẫu Đức Giê-su” lại có vẻ như băn khoăn lo lắng. Đúng! Đức Maria băn khoăn lo lắng, vì Mẹ “thấy thiếu rượu.”

Rượu, đó là một thứ cần thiết trong đám cưới ở bất cứ thời đại nào. Việt Nam có câu: “Vô tửu bất thành lễ”. Với người Do Thái, thì sao! Thưa, phải nói là “tối cần thiết”.

Tối cần thiết là bởi, theo phong tục của người Do Thái, hết rượu trong tiệc cưới là một điềm gở, đôi tân hôn chắc chắn sẽ mất mặt với hàng xóm, láng giềng. Chưa hết, người Do Thái, trong việc sinh hoạt ăn uống hàng ngày, họ không uống nước, kể cả nước ngọt, lẫn bia. Họ uống rượu, một loại rượu được ép từ trái nho.

Cũng là người Do Thái, Mẹ Maria thấu hiểu điều này. Thế nên, khi-thấy-thiếu-rượu, chuyện kể rằng: “Thân mẫu Đức Giê-su nói với Người, rằng: Họ hết rượu rồi.”

Họ hết rượu sao! Đức Giê-su, với bản tính loài người, có lẽ cũng thoáng một chút băn khoăn. Nhưng, thực tế Ngài chỉ là khách mời. Do vậy, Đức Giê-su trả lời rằng: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi?”

Đừng vội cho rằng Đức Giê-su trả lời như thế là thiếu lễ phép! Vâng, Nhóm Phiên Dịch CÁC GIỜ KINH PHỤNG VỤ, đã giải thích câu trả lời của Đức Giê-su, như sau: “Thưa bà” có nghĩa là: Đức Maria sẽ là Mẹ các tín hữu. “Can gì đến”: đó là lối nói sê-mít để tỏ thái độ không muốn can thiệp.” (nguồn: sách Kinh Thánh Tân Ước).

Đúng. Đức Giê-su chỉ là khách mời, việc Ngài không muốn can thiệp là điều khôn ngoan. Nhưng, vì có bản tính Thiên Chúa, một Thiên Chúa là tình yêu, Đức Giê-su (rồi cũng sẽ) can thiệp. Còn ngay bây giờ ư! Vâng, Ngài đã trả lời (cũng rất khôn ngoan), rằng: “Giờ của tôi chưa đến.”

Thế nên, chẳng có gì phải “càm ràm” về những lời đối đáp giữa thân mẫu Đức Giê-su và Ngài. Thì đấy! Mẹ Maria đâu có càm ràm! Ngược lại, thấu hiểu lời con mình nói, “thân mẫu Người nói với gia nhân: Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” (x.Ga 2, 5).

Vâng, dù đã thoái thác, nhưng khi Đức Giê-su thấy “Ở đó có đặt sáu chum đá dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Do Thái, mỗi chum chứa được khoảng tám mươi hoặc một trăm hai mươi lít nước.” Thế là, Ngài bảo nhóm gia nhân: “Các anh đổ đầy nước vào chum đi!”

Tiệc cưới thiếu rượu đâu có thiếu nước! Thế mà Đức Giê-su lại truyền lệnh “đổ đầy nước vào chum”! Lệnh truyền này chẳng phải là một lệnh (lạc), sao! Tuy nhiên, nhóm gia nhân (có phần chắc nhớ đến lời Mẹ Maria căn dặn), nên vẫn tuân theo chỉ thị của Đức Giê-su “Họ đổ đầy tới miệng”. (Tất nhiên là cả sáu chum).

Sau khi công việc đổ nước hoàn tất, Đức Giê-su nói với họ: “Bây giờ các anh múc và đem cho ông quản tiệc.” Không chậm trễ, “họ liền đem cho ông (ta)” Ngạc nhiên thay! “Khi người quản tiệc nếm thử, nước đã hóa thành rượu (mà không biết rượu từ đâu ra, còn gia nhân đã múc nước thì biết)” (x.Ga 2, 9).

Ông quản tiệc, thánh Gio-an kể tiếp: “…mới gọi tân lang lại và nói: Ai ai cũng thết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà say mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon cho đến bây giờ”. “Tân lang”, không thấy thánh sử Gio-an nói anh ta phản ứng ra sao, nhưng chúng ta có thể nghĩ rằng, chắc hẳn anh ta cũng ngạc nhiên không kém!

Sự kiện vô tiền khoáng hậu này, đã xảy ra trong một bữa tiệc cưới tại Ca-na miền Ga-li-lê. Tông đồ Gio-an là người cũng tham dự và ngài đã có lời ghi lại, rằng: “Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Ga-li-lê và bày tỏ vinh quang của Người.” Ngài tông đồ còn thêm một chi tiết rất quan trọng, đó là: “Các môn đệ đã tin vào Người.”

***
Như đã nói ở trên, câu chuyện này được ghi trong Tin Mừng thánh Gio-an, với tiêu đề “Tiệc cưới tại Ca-na.” Có thể nói rằng, những gì đã xảy ra trong bữa tiệc cưới hôm ấy, là ước mơ không của riêng ai.

Rất, rất đáng để chúng ta ước mơ. Bởi vì, Đức Giê-su đã thể hiện một tình yêu quảng đại và tràn trề cho đôi tân hôn, mà không phải “muốn là được.”

Thì đây, chúng ta hãy nghe các nhà nghiên cứu về lịch sử nói về Ca-na. Ca-na vào thời điểm đó, chỉ là một thị trấn nhỏ. Người ta ước tính rằng, thực khách được mời, nhiều lắm cũng chỉ khoảng sáu bảy chục khách, tính luôn Nhóm Mười Hai, Đức Giê-su và Mẹ Maria.

Với sáu chum đá, chứa khoảng tám chục đến một trăm hai mươi lít, “tính đổ đồng” cũng được khoảng sáu trăm lít rượu. Quá đủ… quá đủ để thực khách cùng nhau lớn tiếng: “Xin mời anh nâng ly cùng tôi. Nào ta cùng uống.”

Như thế, chẳng phải tình yêu của Đức Giê-su “quảng đại và tràn trề”, đó sao!

Tuy là vậy, nhưng tình yêu của Đức Giê-su nào chỉ có dừng lại ở Ca-na! Không, tình yêu của Đức Giê-su là một tình yêu hải hà… “hải hà đến nỗi nó bao trùm tất cả mọi người trong giao ước mới”.

Cha Charles E.Miller đã say sưa chiêm ngưỡng tình yêu của Đức Giê-su, được thể hiện trong bữa tiệc cưới Ca-na, để rồi một nguồn cảm hứng đã đến với ngài, qua lời chia sẻ nêu trên.

“Rượu mới trong bữa tiệc…” Cha Charles nói tiếp: “…chẳng những dồi dào, mà còn rất ‘chất lượng’. Người quản tiệc lưu ý tân lang ‘(sao) anh lại giữ rượu ngon mãi đến bây giờ (mới chịu dọn ra)?’ Trong kỷ nguyên Ki-tô giáo, Thiên Chúa cũng đã giữ lại cho chúng ta thừa mứa các loại rượu hảo hạng trong giao ước mới của Người.”

Đúng vậy. Khi “Giờ của Người” đến. Giờ Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem. Một bữa tiệc đã được dọn ra. Đức Giê-su chính là chủ tiệc. Tại bữa tiệc này, Ngài không lấy nước hóa thành rượu. Ngài biến đổi bánh và rượu thành “Mình và Máu Thánh Chúa.”

Đó… đó chính là loại-rượu-hảo-hạng-trong-giao-ước-mới-của-Người.

****
Từ bữa tiệc cưới Ca-na năm xưa, mỗi bữa tiệc cưới của chúng ta (hoặc con cháu chúng ta) hôm nay, cũng phải là một bữa tiệc của tình yêu quảng đại và tràn trề, một sự quảng đại và tràn trề mà Chúa Giê-su đã đem đến cho tất cả mọi người.

Để có thể thể hiện tình yêu quảng đại và tràn trề, Cha Charles E.Miller có lời khuyên rằng: “Mỗi đôi hôn phối tận hiến cho nhau phải khiến ta liên tưởng đến ‘lòng chung thủy’ của Thiên Chúa.”

Vâng, quả là một lời khuyên chí tình, chí lý. Bởi vì, khi liên tưởng đến “lòng chung thủy” của Thiên Chúa, nó sẽ là nguồn cảm hứng để chúng ta gửi “thiệp mời”, mời Đức Giê-su (tất nhiên là cũng mời) mời thân mẫu của Ngài, đến tham dự tiệc cưới của chúng ta.
Mà, cho dù chúng ta không tổ chức tiệc cưới, thì đó cũng chẳng phải là lý do để chúng ta không “mời”. Vâng, chúng ta có thể mời Đức Giê-su và Mẹ Maria đến dự bữa tiệc riêng tư, tại nhà chúng ta.

Thật ra, có nằm mơ chúng ta cũng chẳng có cơ hội “đưa thiệp mời” cho Đức Giê-su. Tại sao? Thưa, Ngài chính là người đưa thiệp mời cho chúng ta.

Chúng ta không chỉ nhận được thiệp mời, từ Đức Giê-su, một lần duy nhất trong đời. Nhưng là mỗi ngày và mỗi tuần. Tham dự thánh lễ, mỗi ngày và mỗi tuần, đó là chúng ta phúc đáp “thiệp mời” của Đức Giê-su. Trong thánh lễ, Đức Giê-su, qua lời mời gọi của linh mục chủ lễ, mời chúng ta “đến dự Tiệc Chiên Thiên Chúa”.

Ngoài thánh lễ, không đợi chúng ta mời, Đức Giê-su đã đứng trước cửa ngôi nhà (tâm hồn) của mỗi chúng ta. Ngài đứng và lớn tiếng gọi chúng ta, tiếng gọi rất rõ ràng, rằng: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (x.Kh 2, 20).

Xưa, đôi tân hôn ở Cana miền Ga-li-lê đã “dùng bữa” với Đức Giê-su, và Đức Giê-su đã “dùng bữa” với đôi tân hôn. Kết quả là “Đức Giê-su đã làm dấu lạ.” Ngài đã làm dấu lạ hóa giải những nan đề “suýt” làm cho đôi tân hôn mất mặt với thực khách, mắc cỡ với bà con lối xóm.

Với chúng ta hôm nay, chắc hẳn ai cũng có rất nhiều vấn đề nan giải, những nan giải đè nặng lên thể xác lẫn tâm hồn của mỗi chúng ta. Thế nên, hãy mở cửa, cánh cửa ngôi nhà gỗ đá, cũng như cánh cửa ngôi nhà tâm hồn của chúng ta. Mời Giê-su vào “dùng bữa”.

Đức Giê-su sẽ vào như lời đã hứa. Đức Giê-su không đi với hai bàn tay trắng. Ngài sẽ mang đến cho chúng ta sự bình an, niềm hoan lạc, sự hy vọng và tình yêu thương.

Đức Giê-su, khi đến “nơi các môn đệ ở”, Ngài đã chẳng từng chúc lành: “Bình an cho anh em”, đó sao! Hai lần đến và ba lần chúc: “Bình an cho anh em”. Tông đồ Gio-an đã xác nhận điều này. (x.Ga 20, 19-29).

Còn… còn Mẹ Maria nữa chứ! Hãy mời Mẹ Maria. Bởi vì… bởi vì Mẹ chính là “Mẹ Hằng Cứu Giúp”.

Nếu xưa kia tại tiệc cưới Cana, Mẹ Maria là người “giúp” nhà đám thông báo cho Đức Giê-su biết, biết “họ hết rượu rồi”, kết quả ra sao, chúng ta đã biết.

Thì, hôm nay Mẹ cũng chính là người “giúp” chúng ta, thông báo cho Đức Giê-su biết, biết những nan đề mà chúng ta đang phải vật lộn giữa “Chốn ba đào nhiều phen nguy biến. Quanh chúng (ta) quỷ ma chực liên”, nhờ đó Con Mẹ sẽ ban cho chúng ta “Ban sức thiêng giúp (ta) vững bền”.

Hãy nhớ rằng, lời Mẹ “nói giúp”, ngày hôm nay chúng ta gọi là “cầu bầu”, luôn được “Người (Chúa) đoái thương nhìn đến” (x.Lc 1, 48).

Nói… nói tới điều này, cảm động muốn khóc! Vâng, rất nhiều người, trong đó có tôi, được Mẹ “nói giúp”, và kết quả, Chúa-đã-đoái-thương-nhìn-đến.

Ca-na hôm nay không còn là một thị trấn nhỏ. Ca-na hôm nay không còn bị lãng quên. Nhắc đến Ca-na, nhớ đến tình yêu của Thiên
Chúa. Nhắc đến Cana, phải nhớ đến Mẹ Maria.

Nói ngắn gọn: Cana - nhớ Mẹ Maria.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2025

Chúng ta có Cha Trên Trời…

 Chúng ta có Cha Trên Trời…

tbd 110125a

 

Từ khi Chúa Giê-su sinh ra, cho đến lúc ra đi loan báo Tin Mừng, có một vài sự kiện đặc biệt đã xảy ra trong cuộc đời của Ngài. Những sự kiện đó được ghi lại trong các sách Tin Mừng (Phúc Âm) và được Giáo Hội đưa vào lịch phụng vụ, hằng năm.

Sự kiện đầu tiên được nhắc đến, đó là câu chuyện: “Đức Giê-su trốn sang Ai Cập”. Sự kiện này, lịch phụng vụ ghi là lễ “Các thánh Anh Hài tử đạo”. Lễ các thánh Anh Hài tử đạo được thiết lập là dựa vào câu chuyện có một số trẻ em ở Belem, trong thời điểm Chúa Giê-su sinh ra, đã bị vua Hê-rô-đê giết chết.

Chuyện điên rồ này xảy ra do từ một nguồn tin của mấy nhà chiêm tinh, đã loan tin rằng: “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? (và họ muốn) tìm đến bái lạy Người”. Nguồn tin này lọt đến tai Hê-rô-đê, một ông vua đang tại vị, lúc đó.

Vua Hê-rô-đê liền triệu tập các thượng tế và kinh sư hỏi cho ra lẽ. Kết quả cho biết là “ở Belem”. Thế là, trong khi mấy nhà chiêm tinh vui mừng lên đường đi Belem, thì bạo chúa Hê-rô-đê rơi vào cơn hoảng sợ. Ông ta sợ con trẻ này lớn lên sẽ cướp ngôi mình.
Trong nỗi hoảng sợ, ông ta “sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Belem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh.” (x.Mt 2, 16-17).

Hài Nhi Giê-su, vào thời điểm đó, đã cùng thánh Giu-se và Mẹ Maria “vượt biên” qua Ai-cập.

Kế tiếp là “lễ Thánh Gia”. Với lễ Thánh Gia, chúng ta được biết đến đôi chút về những sinh hoạt đời thường trong gia đình của “Hài Nhi Giê-su, Đức Maria và thánh Giuse” mà nay chúng ta gọi là Gia Thất Thánh.

Vào năm ngoái (năm B), Giáo Hội, qua phần phụng vụ Lời Chúa, cho chúng ta thấy hình ảnh một gia thất thánh, tuân thủ lề luật “đem con lên Giê-ru-sa-lem, để tiến dâng cho Chúa”, như luật đã dạy.

Còn năm nay (năm C), chúng ta được nghe câu chuyện Chúa Giê-su cùng cha mẹ trẩy hội đền Giê-ru-sa-lem. Qua câu chuyện này, chúng ta thấy được một gia thất thánh, không thánh bởi những lời đồn thổi, nhưng bởi cách sống, sống vâng theo ý Cha Trên Trời.
Sau lễ Thánh Gia là lễ “Chúa Hiển Linh”. Đây là sự kiện “Các nhà chiêm tinh đến bái lạy Đức Giê-su Hài Nhi”.

Và, cuối cùng là Chúa Nhật hôm nay 12/01/2025. Hôm nay, Giáo Hội nhắc đến một sự kiện rất đặc biệt, đã xảy ra với Chúa Giê-su, đó là sự kiện: “Chúa Giê-su chịu phép rửa”.

**
Vâng, Chúa Giê-su đã chịu phép rửa. Nơi Ngài chịu-phép-rửa, không phải trong một hội đường nào đó, mà là ở sông Gio-đan. Người làm phép rửa cho Chúa Giê-su, không phải là một vị tư tế, nhưng là do ông Gio-an, người được biết đến là anh em họ với Ngài, thực hiện.

Theo lời thánh sử Luca ghi lại: “Hồi ấy, dân đang trông ngóng, và trong thâm tâm, ai nấy đều tự hỏi: biết đâu ông Gio-an lại chẳng là Đấng Messia!” (x.Lc 3, 15).

Tại sao dân chúng lại “tự hỏi”, như thế! Thưa, vì họ thấy ông Gio-an đã “đi khắp vùng ven sông Gio-đan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội.” (Lc 3, 3).

Điều dân chúng tự hỏi cũng là điều một số người khác dùng để chất vấn ông Gio-an. Thật vậy, có một số người thuộc phái Pha-ri-sêu đã chất vấn ông Gio-an rằng: “Tại sao ông làm phép rửa, nếu ông không phải là Đấng Ki-tô?” (Ga 1, 25).

Chuyện là thế đấy! Để tránh sự hiểu lầm nơi dân chúng, cũng như những lời “cự nự” của mấy ông kẹ Pha-ri-sêu, ông Gio-an đã thẳng thắn nói với mọi người, rằng: “Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa” (Lc 3, 16 & Ga 1, 26).

Những lời trần tình của ông Gio-an có làm giảm đi nỗi băn khoăn của dân chúng! Thưa, không thấy thánh sử Luca nói gì. Nhưng, chúng ta có thể nghĩ rằng, người băn khoăn lại chính là ông Gio-an.

Ông Gio-an băn khoăn điều gì? Thưa, đó là sự xuất hiện của Giê-su người Na-da-rét. Vâng, hôm ấy, Chúa Giê-su đã đến sông Gio-đan. Và “Khi toàn dân đã chịu phép rửa, Đức Giê-su cũng chịu phép rửa…” Đó… đó chính là điều làm ông Gio-an băn khoăn.

Thánh sử Luca không nói, nhưng ngài Mát-thêu cho biết, “Đức Giê-su (đã) đến sông Gio-đan, gặp ông Gio-an để xin ông làm phép rửa cho mình” (x.Mt 3, 13). Ông Gio-an đã “một mực can Người và nói: Chính tôi mới cần Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi” (Mt 3, 14). Nhưng, Đức Giê-su trả lời, rằng: “Bây giờ cứ thế đã…”.

Vâng, cứ-thế-đã. Và rồi, hôm ấy, tại sông Gio-đan đã xảy ra điều huyền diệu. Chuyện được thánh sử Luca ghi lại rằng: “đang khi (Đức Giê-su) cầu nguyện, thì trời mở ra và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dạng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con” (Lc 3, 22).

***
Chúng ta vừa nghe lại trích đoạn Tin Mừng thánh Luca, nói về sự kiện Chúa Giê-su “chịu phép rửa”. Dựa vào sự kiện này, Giáo Hội thiết lập ngày lễ “CHÚA GIÊ-SU CHỊU PHÉP RỬA”.

Nói tới ngày lễ này, Lm. Charles E.Miller có lời chia sẻ, rằng: “Theo lịch phụng vụ, lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa kết thúc cuộc cử hành Giáng Sinh của Giáo Hội, nhằm nhắc nhở rằng Người giáng trần là để cứu chuộc chúng ta. Phép rửa Người chịu bởi ông Gio-an Tẩy Giả đánh dấu khởi đầu sứ vụ công khai của Người, mà chóp đỉnh là hy lễ Vượt Qua, cái chết và sự sống lại của Người.”

Chưa hết, ngài Lm. còn thêm lời rằng: “Chúa Giê-su được sinh ta là để chịu chết. Người đến thế gian để hiến mình làm của lễ hy sinh vẹn toàn, vô tì tích lên Cha Trên Trời hầu có thể cứu rỗi toàn thể nhân loại.”

Ngài Bishop Donald J. Hying, cũng cùng suy tư như thế. Vâng, qua phần mở đầu bài viết: “What Is the Meaning of Jesus’ Baptism? - PHÉP RỬA CỦA ĐỨC GIÊSU CÓ Ý NGHĨA GÌ?”, ngài Bishop suy tư như sau: “Những người Kitô hữu chúng ta suy ngắm và cử hành biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa theo những phương diện đáng chú ý: về mặt Phụng vụ, là thời điểm kết thúc mùa Giáng Sinh; về lòng đạo đức, là Mầu nhiệm đầu tiên của Năm Sự Sáng trong kinh Mân côi; và về phương diện thần học, như một lăng kính Kinh thánh về ý nghĩa của phép rửa Kitô giáo.” (nguồn: internet).

Tưởng chúng ta cũng nên nghe lời chia sẻ của ngài TGM. Giuse Vũ Văn Thiên. TGM. Giu-se có lời chia sẻ rằng: “Nhân vật Gioan Tẩy giả được nhấn mạnh trong Mùa Vọng, hôm nay lại xuất hiện. Trong dòng sông Gio-đan, Chúa Giêsu đã lãnh nhận phép rửa bởi “vị ngôn sứ cuối cùng” này.

Giữa sa mạc khô cằn, một dòng chảy là biểu tượng cho sự canh tân phục hồi. Đây cũng là biểu tượng của sự sống. Phép rửa ông Gioan và các môn đệ ông thực hiện chỉ là nghi thức sám hối. Chúa Giêsu đã hoà mình vào dòng người khiêm nhường nhận mình là những tội nhân, để được ông Gioan rửa, mặc dù Người là Thiên Chúa chí thánh, Đấng không hề biết đến tội lỗi, như thánh Phaolô đã viết: “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Ngài thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Ngài” (2 Cr 5, 21).

Những lời chia sẻ của các vị đáng kính, nêu trên, không thể không nói rằng: nó đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn, rõ hơn tại sao Chúa Giê-su “cũng chịu phép rửa”.

Thế nên, đừng “băn khoan” về việc Chúa Giêsu, có tội tình gì đâu, thế mà Ngài đã “chịu phép rửa”, một phép rửa tỏ-lòng-sám-hối-để-được-ơn-tha-tội. Nhưng, hãy ghi khắc trong con tim mình, rằng: Chúa sẵn lòng “dìm mình xuống” (hồi đó dìm mình xuống nước là nghi thức chịu phép rửa), là để gánh-lên-tội-lỗi-trần-gian.

****
Như đã nói ở trên, Chúa Nhật hôm nay (12/01/2025), toàn thể Giáo Hội long trọng cử hành lễ kính “Chúa Giê-su chịu phép rửa”. Cử hành lễ kính này, không chỉ để nhìn lại một biến cố lịch sử, một biến cố của những nhiệm mầu, nhưng còn là để nhớ đến việc mỗi chúng ta cũng đã “chịu phép rửa”, một phép rửa được nâng lên hàng “Bí Tích – Bí Tích Rửa Tội”.

Nhớ đến việc đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội để chúng ta đừng quên rằng, chúng ta “cũng được gọi là con Thiên Chúa”. Đây là một ân huệ, “một ân huệ của Thiên Chúa” thánh Phao-lô nói như thế. (x.Ep 2, 8).

Trong thư gửi tín hữu thành Roma, ngài tông-đồ-dân-ngoại nhấn mạnh: "Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: ‘Abba !Cha ơi!’. Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng: chúng ta là con cái Thiên Chúa.” (Rm 8, 15-16).

Vâng, chúng ta “Được tái sinh làm con Thiên Chúa”. Chưa hết, chúng ta còn “Được nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô nhờ một ấn không thể xóa nhòa.” (GL. đ. 849).

Vì đã… lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội. Vì là… nhờ-một-ấn-không-thể-xóa-nhòa. Thế nên, thật phải đạo khi chúng ta để cho tâm hồn mình, trở về trong thinh lặng và tự hỏi, rằng: Sau bao nhiêu năm đã là con cái Chúa, chúng ta có được-nên-đồng-hình-đồng-dạng-với-Chúa-Giêsu, “chút nào không”?

Vâng, câu trả lời là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, nếu chúng ta “chưa” đồng-hình-đồng-dạng-với-Chúa, chúng ta sẽ mất diễm phúc được Cha Trên Trời tuyên phán, như đã tuyên phán với Đức Giê-su tại sông Gio-đan, rằng: “Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con”.

Thế nên, khi đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội. Khi đã được tái sinh làm con Thiên Chúa. Chúng ta không thể không đồng-hình-đồng-dạng-với-Chúa. Mà, muốn đồng-hình-đồng-dạng-với-Chúa, nào có khó gì đâu!

Không khó đâu! Chúa Giê-su nghĩ gì, ta nghĩ như Chúa. Chúa Giê-su nói gì, ta nói như Chúa. Chúa Giê-su làm gì, ta làm như Chúa. Chúa Giê-su nghĩ, Chúa Giê-su nói, Chúa Giê-su làm… tất cả những điều đó đều đã được ghi trong Kinh Thánh – Kinh Thánh Tân Ước, thưa quý vị!

Do vậy, hãy đọc Kinh Thánh, vì “Đó Là Lời Chúa”. Và, một khi có Lời Chúa trong tâm hồn mình, chúng ta sẽ nghĩ, sẽ nói, sẽ làm… như Chúa Giê-su.

Có lời Chúa dẫn dắt, chúng ta sẽ không còn nghĩ, không còn nói, không còn làm “những điều trái ngược với Thần Khí”. Nói rõ hơn, chúng ta sẽ không còn nghĩ, không còn nói, không còn làm. “những việc do tính xác thịt gây ra”, đại loại như: “dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, v.v…”

Nghĩ, nói, làm… những điều nêu trên, thánh Phao-lô khuyến cáo: “Sẽ không được thừa hưởng Nước Trời” (x.Gl 19-21) Không được thừa hưởng “của hồi môn là Nước Trời”, coi như chúng ta “mất toi” danh phận là con cái của Chúa, đúng không?

Ngoài Lời Chúa ra, chúng ta còn phải đến nhà thờ. “Nhà Thờ”, Lm. Charles nói: “Là Giê-ru-sa-lem của chúng ta”. Vì vậy, sẽ thật khôi hài khi chúng ta đã “chịu phép rửa” nhưng lại không thích đến Nhà Thờ.

 Không đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ, Lm Charles E.Miller khôi hài nói: “cũng giống như tay chơi vĩ cầm mà chẳng bao giờ mó tới cây đàn của mình”.

Đến nhà thờ, chúng ta còn có thêm một cơ hội, cơ hội được-nên-đồng-hình-đồng-dạng-với-Chúa-Giêsu, qua Bí Tích Thánh Thể.

Lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể, chúng ta biết rồi, đó là nhận lãnh chính Mình và Máu Thánh Chúa Ki-tô. Và đó là điều rất cần thiết, bởi vì, Chúa Giê-su đã nói: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy.”

Ta ở lại trong Chúa, Chúa ở lại trong ta, không có lý do gì chúng ta lại không được-nên-đồng-hình-đồng-dạng-với-Chúa.

Như vậy, chúng ta đã có câu trả lời. Đúng ra thì phải nói, Chúa đã trả lời cho chúng ta. Điều còn lại là chúng ta nghe và thực hành. Có như thế, vào ngày quang lâm, Chúa Giê-su mới “chỉ vào (chúng ta) và nói: “Đây là anh em tôi”. (Mt 12, 49).

Khi đã là anh em của Chúa Giê-su, Cha Trên Trời sẽ âu yếm gọi chúng ta: Này con… con là con Cha. Nói cách khác, khi đã là anh em của Chúa, chúng ta có Cha Trên Trời.

Vâng, hãy ghi khắc trong con tim mình: “Chúng ta có Cha trên Trời”.

Petrus.tran

 

Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2025

Thánh Kinh - Thánh Thể… dẫn tôi gặp Chúa

 Chúa Nhật – Lễ Hiển Linh


tbd 040125a


Như một truyền thống đẹp, mỗi năm cứ đến ngày lễ kỷ niệm Chúa Giê-su xuống thế làm người, tất cả các nhà thờ Công Giáo đều thiết kế một hang đá thường được gọi là hang Belem. Gọi là hang Belem vì Chúa Giê-su sinh ra tại Belem, miền Giu-đê.

Nói đến hang Belem, tưởng chúng ta cũng nên biết, “Nguồn gốc sự trưng bày hang Belem được cho là một khám phá của thánh Phanxicô Assisi. Năm 1223 ở Greccio, để chuẩn bị thuyết giảng về mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa giáng sinh làm người trong thân phận khó khăn nghèo hèn, thánh nhân đã cho dàn dựng lần đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội một hang đá bằng gỗ, bên cạnh có các con bò lừa…” (nguồn: internet).

Ngày nay, như chúng ta thường thấy, thiết kế khung cảnh hang Belem, người ta trưng bày hình ảnh thánh Giu-se, Đức Maria và Hài Nhi Giê-su. Ngoài ra, còn có các thiên thần, các mục đồng cùng với đoàn chiên của họ.

Có một hình ảnh không thể thiếu, và được trang trí rất công phu. Đó là hình ảnh các ngôi sao. Người ta treo một ngôi sao rất lớn trên đỉnh nóc nhà thờ, kèm theo đó là nhiều ngôi sao nhỏ, tỏa dài xuống tận mặt đất.

Có thể nói là cả một rừng sao. Và, có lẽ chính vì thế mà nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã gọi Mùa Giáng Sinh là Mùa-sao-sáng! Vâng, tuy là “người ngoại đạo” nhưng ông ta “tin có Chúa ngự trên cao”. Và thế là vào năm 1967, một nhạc phẩm mang tên “Mùa sao sáng” đã được ông ta cho ra đời, với những lời ca thâm trầm, thiết tha.

“Một mùa sao sáng đêm Noel Chúa sinh ra đời. Người hẹn cùng tôi ngày về khi đất nước yên vui. Quỳ lạy Mẹ Maria, lòng Mẹ từ bi bao la. Tấu khúc nhạc lên xin ơn trên ban cho nhà Nam... Một mùa đông giá hang Bêlem Chúa sinh ra đời. Một trời đầy sao nghìn hào quang chiếu sáng ngôi cao. Lạy Mẹ đồng trinh ban ơn, người Việt càng thương nhau hơn. Đất nước này đây sáng đức tin Chúa trên trời cao.” (Nguyễn-văn-Đông).

Chưa hết, còn… còn một hình ảnh nữa, được trưng bày nơi hang Belem, đó là hình ảnh các nhà chiêm tinh.

Vì sao lại có chuyện treo một-ngôi-sao-rất-lớn-trên-đỉnh-nhà-thờ và trưng bày hình ảnh các nhà chiêm tinh? Thưa, là bởi, để nói đến một sự kiện lịch sử đã xảy ra vào thời điểm Chúa Giê-su sinh ra.

Vâng, sự kiện lịch sử này đã được ghi lại chi tiết trong Tin Mừng thánh Mát-thêu, với tiêu đề: “Các nhà chiêm tinh đến bái lạy Đức Giê-su Hài Nhi.”

**
Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu, câu chuyện được ghi lại như sau: “Khi Đức Giêsu ra đời tại Belem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem” (x.Mt 2, 1-2).

Nói tới Giê-ru-sa-lem, nên chăng, chúng ta cùng tìm hiểu đôi chút về lịch sử của địa danh này! Vâng, “Vào năm 2892 (869 TCN) Vua Đa vít đã chiếm giữ thành phố này và lập thành thủ đô vĩnh cửu của đất nước Do Thái. Kể từ đó đến nay, Giê-ru-sa-lem trở thành thành phố quan trọng nhất của người Do Thái, cả về đời sống tôn giáo, lẫn đời sống chính trị.

Thành phố Giê-ru-sa-lem chứa trọn ước mơ và hy vọng của bao thế hệ Do Thái. Mặc dù thành phố bị đánh chiếm, tái chiếm và san bằng nhiều lần, nhưng người Do Thái vẫn coi đó như là thủ đô của họ. Bất kể thành phố đang ở dưới thẩm quyền của ai, người ta có thể công nhận hay không công nhận, thì đó vẫn là thủ đô của người Do Thái.

Hằng ngày ba lần, từ khi có thành phố Giê-ru-sa-lem cho đến ngày nay, người Do Thái vẫn hướng về Giê-ru-sa-lem và cầu nguyện với Đức Chúa Trời rằng: ‘hãy trở về Giê-ru-sa-lem, thành phố của Chúa, với lòng thương xót’…” (nguồn: facebook.mucvudothai).

Trở lại với mấy nhà chiêm tinh. Hôm ấy, mấy nhà chiêm tinh không “trở về Giê-ru-sa-lem” nhưng là “đến Giê-ru-sa-lem”. Đến Giê-ru-sa-lem, quý ông chiêm tinh gặp cư dân bản địa và hỏi: “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu?”.

Đồng thời, các ông đã nói cho mọi người biết rằng: “Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”.

Một người Do Thái mới sinh, được xem như là Đức Vua, và hôm nay, mấy nhà chiêm tinh muốn đến bái lạy, thì có phần chắc, đó là điều gây hoang mang không chỉ cho ông vua tại vị lúc bấy giờ, mà còn cho cả toàn dân.

Mà đúng vậy, khi nguồn tin này đến tai vua Hê-rô-đê, chuyện kể rằng: “Vua bối rối”. Còn cư dân thì… “cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao”. (Mt 2, 3).

Trong sự bối rối, Hê-rô-đê muốn xác minh sự thật. Thế là: “Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu?”

Khi “bá quan văn võ” tề tựu đông đủ, họ trả lời, rằng: “Tại Belem, miền Giu-đê”. Vâng, đó là một câu trả lời hợp lẽ. Rất hợp lẽ, “vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: Phần ngươi, hỡi Belem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì nơi ngươi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2, 6).

Vậy là, điều mấy nhà chiêm tinh muốn tìm, nay đã tìm thấy. Nơi họ muốn đến, nay đã rõ địa chỉ. Thế là, những con lạc đà, trên lưng là mấy nhà chiêm tinh, lại tiếp tục cuộc hành trình.

Rồi khi hoàng hôn buông xuống, và cũng là lúc trời về đêm, một-trời-đầy-sao-nghìn-hào-quang-chiếu-sáng-ngôi-cao, là lúc các ông đi, (có lẽ) đi cả ngày lẫn đêm.

Vâng, thật lạ… “ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại”. Trông thấy ngôi sao (dừng lại), “họ mừng rỡ vô cùng”.

Và rồi, chuyện kể tiếp rằng: “Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria”. Không do dự, mấy nhà chiêm tinh “liền sấp mình thờ lạy Người.” Với tất cả sự tôn kính “Họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhủ hương và mộc dược mà dâng tiến.” (x.Mt 2, 11).

***
Mấy nhà chiêm tinh, nói theo ngôn ngữ của bóng đá, mới hoàn tất “lượt đi”. Còn “lượt về” nữa. Vâng, còn chuyến trở về.

Chuyến trở về, theo lời dặn của vua Hê-rô-đê, mấy nhà chiêm tinh sẽ “tái ngộ” ông ta. Tái ngộ để tường thuật “tường tận về Hài Nhi”, cho ông ta biết.

Biết để làm gì? Thưa, hôm trước, khi gặp mấy nhà chiêm tinh tại Giê-ru-sa-lem, “Vua Hê-rô-đê đã bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi vua phái các vị ấy đi Be-lem và dặn rằng: Xin quý ngài đi, dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.” (x.Mt 2, 7-8).

Thế, mấy nhà chiêm tinh, có trở về gặp lại Hê-rô-đê? Thưa không. Mấy nhà chiêm tinh “được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hê-rô-đê nữa”. Thế là họ “đã đi lối khác mà về xứ mình.”

Trên đường về, chúng ta có thể tưởng tượng, các ông vừa đi vừa cất tiếng ca: “Tôi đã thấy mặt trời lên sau đêm dài tăm tối triền miên… Tôi đã thấy trời hừng lên, sau mưa dầm rả rích ngày đêm…” (trích đoạn: Từ một cơn mơ. Tác giả: Ngô Mạnh Thu).

Tưởng tượng mấy nhà chiêm tinh “đã thấy mặt trời lên”, gợi cho chúng ta nhớ đến điều mà xưa kia ngôn sứ Êdêkiel “cũng đã thấy”.

Theo lời ngôn sứ Ê-dê-ki-el kể: “Trong những ngày ấy, thiên thần dẫn tôi đến cửa nhà Chúa, và đây nước chảy dưới thềm nhà phía hướng đông, vì mặt tiền nhà Chúa hướng về phía đông, còn nước thì chảy từ bên phải đền thờ, về phía nam bàn thờ. Thiên thần dẫn tôi qua cửa phía bắc, đưa đi phía ngoài, đến cửa ngoài nhìn về hướng đông, và đây nước chảy từ bên phải.” Điều này thật trùng khớp với “vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông”

Còn nữa… Ê-dê-ki-el kể tiếp rằng: “Nước này chảy về phía cồn cát, phía đông, chảy xuống đồng bằng hoang địa, rồi chảy ra biển, biến mất trong biển và trở nên nước trong sạch. Tất cả những sinh vật sống động, nhờ suối nước chảy qua, đều được sống. Sẽ có rất nhiều cá và nơi nào nước này chảy đến, nơi đó sẽ trở nên trong lành, và sự sống sẽ được phát triển ở nơi mà suối nước chảy đến.”(x.Ed 47, 1-9. 12).

Những gì ngôn sứ Ê-dê-ki-el kể lại, chính là nguồn cảm hứng để Giáo Hội tiếp lời loan báo, rằng: “Tôi đã thấy nước từ bên phải đền thờ chảy ra, và nước ấy chảy đến ai, thì tất cả đều được cứu rỗi”.

Nhắc lại những điều nêu trên, để thấy rằng, sự tưởng tượng của chúng ta, cũng là điều hợp lẽ. Hợp lẽ vì, thấy-mặt-trời-lên-sau-đêm-dài-tăm-tối-triền-miên chẳng phải là thấy Hài Nhi Giê-su đã sinh ra trong “một đêm đầy tăm tối”, tăm tối của kỳ thị, của chối từ, của bạo tàn, của chết chóc, đó sao!

Hài Nhi Giê-su là gì nếu không phải là “Mặt Trời Công Chính”! “Ngôn sứ Malachi đặt danh hiệu ‘mặt trời công chính’ là nhằm ám chỉ Thiên Chúa của dân Israel. Đối với những ai coi cuộc đời của mình như sự ảm đạm, hoặc sống dưới một bóng mây đen tối, thì ‘mặt trời công chính’ là dấu chỉ đầy hy vọng. Nơi nào có bóng tối thì Thiên Chúa sẽ chiếu dọi ánh sáng.” Lm. Jude Siciliano, O.P., trong một bài giảng, đã có lời chia sẻ, như thế.

Nay, Mặt Trời Công Chính Giê-su đã xuất hiện vào một đêm tăm tối tại Belem. Kể từ đây, những ai tìm đến và thờ phượng Ngài, “tất cả đều được cứu rỗi”.

Thế nên, chúng ta tiếp tục tưởng tượng nữa nhé! Vâng, hãy tưởng tượng quý ông chiêm tinh đã lớn tiếng hát vang: “Tôi đã thấy đường nở hoa. Ôi thanh bình đẹp thay một cơn mơ!” Đúng! qua cơn mơ, qua việc được-báo-mộng, mấy ông chiêm tinh đã về tới xứ sở của mình. Một xứ sở “thanh bình đẹp thay!”…

***
Vâng, câu chuyện nói về mấy nhà chiêm tinh (kể trên) đã xảy ra hơn hai ngàn năm qua. Và, Chúa Nhật hôm nay (05/01/2025), câu chuyện này được kể lại, qua phần phụng vụ Lời Chúa.

Có lẽ, có lẽ chúng ta đã được nghe, không phải một lần, nhưng là nhiều lần, mỗi khi “(đến) mùa sao sáng, đêm Noel Chúa sinh ra đời”.

Được nghe hay đã nghe… chưa đủ! Sẽ là trọn hảo, nếu sau khi được nghe và đã nghe, chúng ta là hiện thân của mấy nhà chiêm tinh “tìm đến Chúa và sấp mình thờ phượng Người.”

Xưa, mấy nhà chiêm tinh, chỉ cần “một mùa sao sáng”, chỉ cần “một mùa” thôi, mấy ông đã đi tìm Hài Nhi Giê-su. Với “lòng khát khao” được nung nấu ngay từ khi còn ở tận bên “phương (trời) Đông”, việc đi tìm Hài Nhi Giê-su đã được mấy ông xếp vào loại “ưu tiên một”.

Thì đây, khi còn ở tận phương-trời-Đông, mấy ông đã chẳng từng nói: “Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi (khát khao) đến bái lạy Người”, đó sao!

Và rồi, khi lòng khát khao bừng cháy, mấy nhà chiêm tinh đã không quản ngại đường xá xa xôi, (theo tính toán của những nhà nghiên cứu là khoảng 2.000km), các ông đã “từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem…” để hỏi cho bằng được “Đức Vua dân Do Thái mới sinh ở đâu”. Cuối cùng, mấy ông đã gặp và đã “sấp mình thờ lạy Người”.

Hôm nay, chúng ta được nghe… đã nghe câu chuyện này “từ mùa đông trước qua mùa đông tiếp theo sau này”, thì cớ gì chúng ta lại không tìm đến gặp Hài Nhi Giê-su, nhỉ!

Đức Giê-su, trong một bài giảng (ngày nay chúng ta gọi là bài giảng trên núi), đã có lời dạy rằng: “Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng” (x.Mt 5 , 6). Như vậy, nếu chúng ta “khát khao” được gặp Chúa, chẳng lẽ Ngài không cho chúng ta “thỏa lòng”, sao!

Chưa hết! Thiên Chúa, qua môi miệng ngôn sứ Giê-rê-mi, có lời phán rằng: “Chính Ta biết các kế hoạch Ta định làm cho các ngươi… Các ngươi sẽ tìm Ta và các ngươi sẽ thấy, bởi vì các ngươi sẽ hết lòng kiếm Ta, Ta sẽ cho các ngươi được gặp” (x.Gr 29, 11… 13-14).

Vậy, chúng ta “sẽ… sẽ tìm Chúa… sẽ… sẽ hết lòng kiếm Chúa”!? Vâng, nếu chúng ta có lòng khát khao và hết lòng tìm kiếm. Chúa sẽ cho chúng ta được gặp.

Không có trở ngại nào có thể ngăn cản chúng ta tìm kiếm Chúa. Nếu xưa kia, ngôi sao ở phương Đông chính là tấm bản đồ dẫn đường cho mấy nhà chiêm tinh “đến tận nơi Hài Nhi ở”, thì ngày nay, Kinh Thánh chính là tấm bản đồ dẫn chúng ta tìm và gặp, không phải là một Hài Nhi Giê-su, mà là một Giê-su Cứu Chúa, của đời ta.

Vua David đã chẳng từng nói: “Lời Chúa (Kinh Thánh) là ngọn đèn soi cho con bước. Là ánh sáng chỉ đường con đi”, đó sao! Là-ánh-sáng-chỉ-đường có khác nào ngôi-sao-dẫn-đường, nhỉ!

Có Lời Chúa, là có “vì sao của Người”. Có vì-sao-của-Người dẫn đường chúng ta sẽ đến được “tận nơi Chúa ở”. Mà, hôm nay, nơi-Chúa-ở nào có bao xa! Vâng, đó chính là nơi “Bàn Tiệc Thánh Thể”, thưa quý vị!

Thế nên, ngay hôm nay… bây giờ, hành trang trên đường tìm đến Giê-su hãy là quyển Thánh Kinh, và đừng quên mang thức ăn đi đường là Thánh Thể. Bởi vì, khi chúng ta có được hai thứ quan trọng và cần thiết này, chúng ta sẽ không bao giờ “lạc lối về nhà Chúa”, trước bao nhiêu lối rẽ, những lối rẽ chỉ dẫn chúng ta đến “thung lũng âm u, nghi ngờ và chết chóc, trên đường đời, hôm nay.


Vì thế, hãy luôn ghi khắc trong con tim mình: Thánh Kinh và Thánh Thể, chính là ngôi sao dẫn đường cho chúng ta. Nói cách khác: Thánh Kinh - Thánh Thể… dẫn tôi gặp Chúa.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2024

Hãy biết làm đẹp lòng Chúa...

 Chúa Nhật – Lễ Thánh Gia Thất

Hãy biết làm đẹp lòng Chúa
 

tbd 281224a


Trước Lễ Giáng Sinh tám ngày, VOA Tiếng Việt loan báo một bản tin, như sau: “Một thiếu nữ 15 tuổi hôm 16/12 đã nổ súng tại một trường học ở tiểu bang Wisconsin, bắn chết một bạn học, một giáo viên, làm bị thương sáu người khác trước khi tự sát bằng súng lục. Thiếu nữ nổ súng là một học sinh tại trường, cảnh sát xác định là Natalie Rupnow, còn được gọi là Samantha.”

Ba tháng trước, tháng 9/2024, VOA Tiếng Việt cũng đã loan báo một vụ xả súng khác tại trường Apalachee ở Winder, Georgia. “Một học sinh 14 tuổi giết chết hai bạn học, hai giáo viên, đồng thời làm bị thương 9 người nữa trong một vụ xả súng tại một trường trung học ở bang Georgia hôm thứ Tư 4/9, chỉ vài tuần sau ngày khai giảng, các nhà chức trách cho biết. Đây là vụ nổ súng đầu tiên trong năm học mới tại Hoa Kỳ. Nghi phạm học tại trường được xác định danh tính là Colt Gray, 14 tuổi. Cậu ta đã bị giam giữ, sẽ bị khởi tố và bị xét xử như một người trưởng thành, Chris Hosey, giám đốc Cục Điều tra Georgia nói”.

Ông Donald Trump, khi nhận được tin, đã viết trên mạng xã hội rằng: “Chúng tôi xin chia buồn với các nạn nhân và người thân của những người bị ảnh hưởng bởi sự kiện bi thảm ở Winder, Georgia. Những trẻ em đáng yêu đã bị một tên quái vật bệnh hoạn và mất trí cướp đi khỏi chúng ta quá sớm”. (nguồn: VOA Tiếng Việt).

Đó… đó chỉ là hai bản tin, trong hàng ngàn bản tin, trẻ vị thành niên phạm tội giết người.

Vâng, thật dễ để gọi nhóc tỳ Colt Gray là “một tên quái vật bệnh hoạn và mất trí”. Cái khó là tìm xem nguyên nhân nào, “động cơ” nào thúc đẩy (những) tên tội phạm nhí “ăn chưa no, lo chưa tới” này, phạm pháp!

Các nhà tội phạm học, xã hội học, tâm lý học đã đưa ra nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân được nói tới nhiều nhất là do thiếu sự quan tâm (tình yêu thương) của gia đình, nặng nề nhất là ở những gia đình cha mẹ ly dị, ly hôn. Hoặc do những biến động của xã hội như chiến tranh. Và, cũng có thể là do ảnh hưởng của những chủ thuyết lệch lạc, đại loại như: chủ thuyết hiện sinh, chủ thuyết vô thần, và gần đây là sự cổ vũ cho một lối sống tự do, tự do phá thai, tự do hôn nhân đồng tính.

Tất cả những lý do nêu trên, đúng… nhưng chưa đủ. Cái “chưa đủ”, đó là: con người thiếu vắng sự hiện diện của Thiên Chúa, trong tâm hồn mình. Không có sự hiện diện của Thiên Chúa, con người sẽ không tuân giữ lề luật Chúa. Không tuân giữ lề luật Chúa, con người sẽ dễ phạm tội (phạm pháp), thế thôi!

Kinh Thánh có ghi nhiều bài học cay đắng khi một gia đình nào đó từ chối sự hiện diện của Thiên Chúa. Gia đình nguyên tổ Adam và Eva, chắc hẳn ai trong chúng ta đều biết, chỉ vì “(bỏ) trốn… để khỏi giáp mặt ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa”, sau khi phạm tôi bất tuân, một thảm cảnh đã xảy ra, hai người con là Cain và Abel trở thành thù nghịch. Hậu quả, người anh Cain giết chết em mình là Abel.

Chúa Giê-su đã được sinh ra trong một gia đình có cha, có mẹ. Đây là một gia đình với những con người thật. Người cha tên là Giu-se và người mẹ tên là Maria.

Như các gia đình khác trên thế gian này, gia đình Chúa Giê-su cũng đã phải đối diện với nhiều nan đề, chẳng hạn như: cơm-áo-gạo-tiền, hoặc là những mâu thuẫn nội tại v.v… trong cuộc sống thực tế của mình.

Thế nhưng, tất cả những nan đề đó đều được các thành viên trong gia đình giải quyết một cách tốt đẹp, trong tinh thần “có sự hiện diện của Thiên Chúa”.

Câu chuyện “Đức Giê-su ngồi giữa các bậc thầy Do-thái”, được ghi trong Tin Mừng thánh Luca, như một minh chứng.

**
Vâng, chuyện được thánh sử Luca ghi lại như sau: “Hằng năm, cha mẹ Đức Giê-su trẩy hội đền Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt Qua”.


Tưởng chúng ta nên biết, lễ Vượt Qua là một ngày lễ rất quan trọng theo truyền thống phụng tự Do-thái giáo. Người Do Thái được dạy rằng: “Các ngươi phải lấy ngày đó làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng ĐỨC CHÚA. Qua mọi thế hệ, các ngươi phải mừng ngày lễ này: đó là quy luật cho đến muôn đời.” (Xh 12, 14).

Năm ấy: “(Đức Giê-su) được mười hai tuổi”. Vì là-quy-luật-cho-đến-muôn-đời, thế nên “cả gia đình cùng lên đền, như người ta thường làm trong ngày lễ”.

“Xong kỳ lễ…” tức là sau một tuần trẩy hội, chuyện kể tiếp rằng: “hai ông bà trở về, còn cậu bé Giêsu thì ở lại Giêrusalem, mà cha mẹ chẳng hay biết”. (Lc 2, 43).

Vì sao cha mẹ Đức Giê-su chẳng-hay-biết? Thưa, chuyện là thế này, Đền thờ Giêrusalem có bốn cổng, hai cổng dành cho nữ và hai cổng dành cho nam. Khi vào, nam và nữ phải đi đúng cổng quy định. Riêng trẻ em, có thể đi bên nào tùy thích.

(Điều này, cũng giống như ngày xưa, ở miền nam Việt Nam hồi thập niên 60, thế kỷ trước, vào nhà thờ dự thánh lễ, nam ngồi một bên, nữ ngồi một bên, con cái còn nhỏ muốn ngồi bên nào cũng được).

Trở lại câu chuyện ông bà Giuse-Maria, hôm ấy hai ông bà “cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành”. Thế rồi, “sau một ngày đường, (ông bà) mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thân…”

Buồn thay! “không thấy con đâu”. Trong nỗi buồn-hiu-hắt-buồn, “hai ông bà trở lại Giê-ru-sa-lem” tìm con.

Sau ba ngày… Vâng, chuyện kể tiếp rằng: “…hai ông bà mới tìm thấy con trong Đền Thờ…” Trong Đền Thờ, hai ông bà nhìn thấy cậu bé Giê-su “Đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi”.

Chỉ là cậu bé mười hai tuổi, thế mà “ai nghe cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và lời đối đáp của cậu”.

Tìm thấy con và thấy con mình được những ông thầy dạy nơi Đền Thờ ca ngợi, thế mà chẳng thấy hai ông bà “hớn hở vui mừng”! Trái lại, Đức Maria và thánh Giu-se “sửng sốt”.

Sửng sốt nhìn con yêu, Đức Maria nói: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực nhọc tìm con!”

Cớ gì Đức Maria lại “phàn nàn” với con mình như thế! Phải chăng lời tiên tri của ông Si-mê-ôn đang văng vẳng bên tai Mẹ: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng, và như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra.”!!!

Hôm nay, họ khen con đấy! Ngày mai, họ sẽ đòi đóng đinh con thì sao! Lúc đó, chẳng phải lời ông Si-mê-ôn nói về Mẹ, ứng nghiệm: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà”, đó sao!

Tất cả… tất cả những điều trình bày trên đây, chỉ là trí tưởng tượng của tôi (người viết).

Trở lại với Đức Maria, chuyện kể rằng, nghe Mẹ mình hỏi, Đức Giê-su hỏi lại một câu hỏi khác: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2, 49).

Có một sự thinh lặng đáng tiếc. Bởi vì: “ông bà không hiểu lời Người vừa nói.”

Như chúng ta thường thấy, trong gia đình khi cha mẹ và con cái “không hiểu” nhau, thì đó là một thảm họa. Thảm họa ra sao, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng biết rồi.

Thế mà, đối với gia đình Chúa Giê-su, dù cha mẹ không hiểu con, nhưng không vì thế mà thảm họa xảy ra. Tại sao! Thưa, vì có sự hiện diện của Chúa.

Thật vậy, theo lời kể của thánh Luca: “Sau đó, (Đức Giê-su) đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét, và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Còn Đức Giê-su ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta.”

Con thì hằng-vâng-phục… vâng phục cha mẹ. Mẹ thì hằng-ghi-nhớ… nhớ những điều con mình nói về Chúa Cha, chẳng phải đó là một gia đình có sự hiện diện của Chúa, sao!

***
Thánh lễ Chúa Nhật hôm nay (29/12/2024) gọi là Lễ Thánh Gia. “Thánh gia hay còn gọi là Thánh gia thất, (tiếng Anh: Holy Family) là cụm từ để chỉ về một gia đình gồm ba thành viên, trong đó người cha là Giuse, người mẹ là Maria và người con trai là Giêsu.” (nguồn: internet).

Hôm nay, qua phần Phụng Vụ Lời Chúa, chúng ta được “nhìn lại” một phần nhỏ sự sinh hoạt trong gia đình Đức Giê-su. Chỉ là một-phần-nhỏ, nhưng nó đủ làm cho (người khó tính mấy) cũng phải nhìn nhận, đây là một thánh-gia-thất.

Thánh-gia-thất không “thánh” qua những vầng hào quang “bởi do” các họa sĩ thường vẽ trên những bức chân dung của ba vị, nhưng là “bởi vì” đời sống của ba vị là một đời sống “vâng phục và vâng lời” Thiên Chúa.

Với người cha là thánh Giu-se, ngài đã rất nhiều lần “vâng lời và vâng phục” lời sứ thần Chúa truyền dạy.

Lần thứ nhất, ngài Giu-se đã “làm như sứ thần Chúa dạy và đem vợ về nhà”.

Lần thứ hai, sau khi “sứ thần Chúa hiện ra báo mộng: Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì Hê-rô-đê sắp tìm giết Hài Nhi đấy” Ông Giu-se vâng lời.

Lần thứ ba. Sau khi Hê-rô-đê băng hà, sứ thần Chúa lại hiện ra báo mộng cho ông: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và Mẹ Người về đất Ít-ra-en, vì những kẻ tìm giết Hài Nhi đã chết rồi”. Ông cũng đã vâng lời.

Còn với Đức Maria ư! Chúng ta biết rồi. Câu chuyện “Truyền tin cho Đức Maria” được ghi trong Tin Mừng Thánh Luca, đã cho chúng ta thấy một Maria, rất can trường, không sợ gian khổ hiểm nguy (có thể bị ném đá chết), cất tiếng nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38).

Cuối cùng là Đức Giê-su. Thánh Phao-lô, người được mệnh danh là tông đồ dân ngoại, đã mô tả sự vâng lời và vâng phục của Đức Giê-su đầy đau thương: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (x.Pl 21, 6-8).

Vâng lời và vâng phục lời Chúa truyền dạy… Khó quá! Phải không, thưa quý vị!

****
Trở về đời sống thường nhật, chúng ta được biết, ở Hoa Kỳ có một ngày gọi là “American Family Day - Ngày tôn vinh vai trò quan trọng của gia đình tại Mỹ”.

“American Family Day” khuyến khích các gia đình dành thời gian cho nhau. Không giống như một số ngày lễ gia đình khác, việc tuyên bố ngày này không khuyến khích việc tặng quà. Thay vào đó, nó như một lời nhắc nhở các thành viên trong gia đình dành thời gian để chia sẻ, tâm sự, quan tâm và động viên lẫn nhau”(nguồn: internet).

Là một Ki-tô hữu, nên chăng chúng ta xem ngày Lễ Thánh Gia là “ngày gia đình của các Ki-tô hữu!” Vâng, chắc chắn là vậy rồi.

Thế nên, Chúa Nhật hôm nay, hãy nghĩ thật nhiều đến gia đình mình. Nghĩ đến và tự hỏi, gia đình chúng ta có là bản sao gia đình Na-da-rét!

Không… không quá khó đâu! Để trở thành bản sao gia đình Na-da-rét, chúng ta chỉ cần “vâng phục và vâng lời” những gì Thiên Chúa truyền dạy.

Và đây, đối với vợ chồng, Chúa Giê-su truyền dạy: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”.

Với người vợ, Thiên Chúa, qua môi miệng thánh Phao-lô, truyền dạy rằng: “Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa… Như Hội Thánh tùng phục Đức Ki-tô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy”.

Còn người chồng ư! “Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Ki-tô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh… Chồng phải yêu vợ như yêu chính mình”.

“Yêu vợ là yêu chính mình”. Thánh Phao-lô đã nói rất rõ ràng như thế, thưa quý anh em trong Chúa, của tôi!

Còn nữa, nói tới gia đình, chúng ta còn phải nói tới con cái. Về điều này, tuy thánh Phao-lô sống vào thời đại uy quyền của người gia trưởng (người cha) là số một. Thế nhưng, ngài có một lời khuyên rất phù hợp với thời đại của chúng ta ngày nay, lời khuyên rằng: “Người làm cha mẹ đừng làm cho con cái tức giận, nhưng hãy giáo dục chúng thay mặt Chúa bằng cách khuyên răn và sửa dạy” (x.Ep 6, 4).

Khó… rất khó để chúng ta thực thi những lệnh truyền nêu trên, trong một xã hội không còn tôn ti trật tự, như hôm nay. Thế nhưng, đã là một Ki-tô hữu, chúng ta không thể không làm cho gia đình mình như là một bản sao của gia đình Na-da-rét, năm xưa.

Bởi vì, khi gia đình chúng ta như là một bản sao của gia đình Na-da-rét, khi đó gia đình chúng ta “Anh em hòa thuận. Vợ chồng ý hợp tâm đầu.” Đó là chưa nói tới, hàng xóm của chúng ta sẽ là những người “láng giềng thân thiết”.

Hãy biết rằng, nếu được như thế, KinhThánh nói, gia đình chúng ta là một gia đình biết làm đẹp… “đẹp lòng Đức Chúa” (x.Hc 25, …1).

Vâng, ngay hôm nay, bây giờ…chúng ta: Hãy biết làm đẹp lòng Chúa.

Petrus.tran

Thứ Sáu, 20 tháng 12, 2024

Hãy phá kỷ lục về đức ái...

 Hãy phá kỷ lục về đức ái

tbd 201224a


Theo lịch phụng vụ, Chúa Nhật hôm nay (22/12/2024), chúng ta bước vào tuần thứ IV mùa vọng. Là tuần thứ IV, thế nên hầu hết các giáo xứ đều đã hoàn tất phần thiết kế hang đá Giáng Sinh.

Nếu bớt chút thời giờ theo dõi, chúng ta sẽ thấy rất nhiều kỷ lục về việc trang trí hang đá Giáng Sinh được “khoe” trên truyền thông mạng, đặc biệt là trên youtube.

Người ta khoe kỷ lục về chiều cao của cây thông. Tại giáo xứ Hà Phát, thật choáng ngợp khi nhà thờ này đã thiết kế một cây thông toàn bằng nón lá, với chiều cao của nó là 47 mét. Giáo xứ Minh Hòa cũng không kém cạnh gì. Ở đây, họ đã thiết kế một cây thông bằng lon bia (42.000 lon) và cao 30 mét, đứng sừng sững trong khuôn viên nhà thờ.

Có người lại khoe kỷ lục về sức nặng của ngôi sao. Giáo xứ Kim Bích… Vâng Kim Bích đã thiết kế một ngôi sao nặng gần chục tấn. Xem trên “yiu-tuýt” thấy cảnh cả chục thanh niên hò reo kéo ngôi sao lên tháp chuông nhà thờ khiến người xem không khỏi thót tim. Thót tim vì nói dại… chẳng may sợi dây dùng để kéo ngôi sao lên tháp chuông, bất ngờ “đứt”… Đứt thì sao! Chắc hẳn mỗi chúng ta đều có câu trả lời.

Bây giờ, chúng ta tới giáo xứ Tây Hải (Hố Nai). Thật khó tin khi giáo xứ này trình làng một ngôi sao với cái giá đủ để sửa chữa một vài căn nhà rách nát cho người nghèo ở ven đô Saigon.

Một bác trai khoảng sáu mươi tuổi, có lẽ là một thành viên trong ban tổ chức, hí hửng trả lời phỏng vấn với một phóng viên nghiệp dư, về giá tiền của ngôi sao, rằng: “ba ‘chăm’ mấy chục ‘chiệu’ đấy!” Ông ta còn cho biết: “Tổng số tiền cho việc thiết kế hang đá Giáng Sinh của giáo xứ này khoảng một tỷ đồng.”

Có… có rất nhiều giáo xứ đua nhau thiết lập kỷ lục. Chính hiện tượng này khiến cho không ít người nghĩ rằng, dường như có một cuộc đua marathon về kỷ lục thiết kế hang đá Giáng Sinh đang xảy ra trên khắp các xứ đạo ở Việt Nam, thì phải!

Cách nay hơn hai ngàn năm xa trước đó, tại Palestin, có một người chuẩn bị cho ngày Giáng Sinh đầu tiên, (nếu được phép gọi là như thế), rất giản dị. Không ngôi sao, không cây thông, không đèn chớp tắt, nói “ngược” theo cách nói của Tú Xương, đó là “không hò, không hét, không y uông”, mà rất âm thầm, âm thầm với hai tiếng “xin vâng”. Người đó chính là một cô trinh nữ có tên là Maria. Ngày nay, chúng ta gọi là Đức Maria.

Là một con người thật, sau khi nhận được sứ điệp của Thiên Chúa qua sứ thần Gap-ri-en với lời xin vâng, Đức Maria đã có một hành động chưa từng thấy, đó là tự xem thân phận của mình như là một người “nữ tỳ” cho Thiên Chúa.

Người nữ-tỳ-cho-Chúa không chỉ nói lời xin vâng bằng môi miệng, nhưng còn bằng việc làm, đó là: “đem niềm vui đến cho tha nhân, và trao cho trái tim của họ niềm an ủi.”

Thánh sử Luca, người được mệnh danh là “người thầy thuốc yêu quý”, cho chúng ta thấy Đức Maria đã thể hiện tinh thần này cách ưu việt, qua câu chuyện “Đức Maria viếng thăm bà Êlisabet.”

Có thể nói câu chuyện này là một “minh chứng sống động”, một minh chứng sống động nói lên tinh thần Giáng Sinh của người nữ tỳ có tên là Maria, của mùa Giáng Sinh đầu tiên, năm ấy.

**
Câu chuyện được kể rằng: khi được sứ thần Gap-ri-en cho biết “bà Êlisabet tuy đã già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai…” Đức Maria liền “vội vã lên đường”. Vâng, Đức Maria đã lên đường “đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa.”

Đi “đến miền núi” là nơi bà chị cư ngụ, thì quả đó là một cuộc hành trình đầy gian truân. Thế nhưng, dù gian truân là vậy, Đức Maria vẫn thực hiện đúng như lời Kinh Thánh truyền dạy: “Đừng ngại thăm nom người ốm” (Hc 7, 35). Nói cách khác, Đức Maria đã không “ngại núi e sông”.

Núi và sông, rồi cũng bị bỏ lại sau lưng. Nhà ông Da-ca-ri-a kia rồi. Và, Đức Maria đã “vào nhà ông…”. Rồi khi Đức Maria mở lời “chào hỏi bà E-li-sa-bét”, một điều kỳ diệu xảy ra, đó là: “Bà E-li-sa-bét vừa nghe tiếng (Đức) Ma-ri-a chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên…” Chưa hết, bà E-li-sa-bét còn được “đầy tràn Thánh Thần”.

Được đầy-tràn-Thánh-Thần, chuyện kể tiếp rằng: Bà E-li-sa-bét: “liền kêu lớn tiếng và nói rằng: Em được chúc phúc hơn mọi phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc.”

Như đã có lời nhận định nêu trên, “Maria - người nữ tỳ của Chúa - không chỉ nói lời xin vâng bằng môi miệng, nhưng còn bằng việc đem niềm vui đến cho tha nhân, và trao cho trái tim của họ niềm an ủi.”

Và, hôm nay, tại nhà ông Da-ca-ri-a, điều đó đã trở thành hiện thực. Sự hiện diện của Đức Maria, đã đem đến cho bà E-li-sa-bét niềm vui, và bà đã bộc lộ niềm vui của mình rất chân tình, rằng: “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng”.

Hôm ấy, bà E-li-sa-bét cảm nghiệm được một nguồn an ủi vô biên khi thấy Đức Giê-su, em mình: “thật có phúc”.

***
Trở lại với câu chuyện về kỷ lục. Vâng, đó là việc nên làm và cần làm. Thế nhưng, vấn đề là kỷ lục đó liệu có sinh ơn ích gì cho con cái Chúa! Liệu kỷ lục đó có làm cho niềm tin của con cái Chúa trưởng thành hơn! Liệu kỷ lục đó có làm cho con cái Chúa tăng trưởng đức bác ái, lòng nhân hậu, sự từ tâm, lòng trung tín, sự hiền hòa và sự tiết độ!

Đừng tưởng rằng, để chuẩn bị cho ngày Giáng Sinh, Đức Maria không thiết lập kỷ lục cho riêng mình. Này nhé! Đầu tiên, Đức Maria đã phá kỷ lục môn “đi bộ.”

Từ miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, nơi Đức Maria cư ngụ, đến nhà bà chị E-li-sa-bét, theo các nhà chú giải Thánh Kinh, là một cung đường dài khoảng 160 cây số. Một trăm sáu mươi cây số “đường núi” thế mà cô thiếu nữ Maria đã không quản ngại về sự “ngăn sông cách núi”, cô Maria đã không “ngại núi e sông”. Và, cuối cùng là cô Maria đã tới nhà ông Da-ca-ri-a. Như vậy, chẳng phải là Đức Maria đã thiết lập kỷ lục về môn đi bộ cho mình, đó sao!

Chưa hết, ngoài việc phá kỷ lục môn đi bộ, một bộ môn thiên về thể xác, Đức Maria còn phá kỷ lục một bộ môn thiên về tinh thần. Đó là bộ môn “an ủi”.

Theo lời kể của thánh sử Luca, chúng ta được biết, “Đức Maria (còn) ở lại với bà E-li-sa-bét độ ba tháng, rồi (mới) trở về nhà.” (Lc 1, 56).

Ở lại để làm gì? Thánh sử Luca không đề cập đến. Thế nhưng, chúng ta có thể nghĩ rằng, để phụ giúp bà chị họ cho tới ngày mẹ tròn con vuông. Điều này… điều này chẳng phải là một niềm an ủi lớn cho bà E-li-sa-bét, đó sao! Vì thế, có gì để phản đối Đức Maria đã thiết lập kỷ lục bộ môn an ủi, cho mình!

Thật ra, Đức Maria còn thiết lập nhiều kỷ lục sau khi Đức Giê-su được sinh ra, lớn lên, ra đi rao giảng và cuối cùng là tử nạn trên đồi Golgotha.

Thế nên, hôm nay, nếu chúng ta muốn thiết lập một kỷ lục nào đó cho ngày lễ Giáng Sinh, không gì tốt hơn là hãy nhìn Đức Maria. Nhìn Đức Maria như là mẫu mực cho công việc cần làm và nên làm, này. Bởi vì, nhờ đó mà những kỷ lục được chúng ta thiết lập, sẽ mang lại ơn ích cho Giáo Hội, cũng như cho xã hội.

Thì đây. Nếu giáo xứ chúng ta không màng tới kỷ lục về chiều cao của cây thông, chúng ta sẽ giảm bớt được một ít kinh phí. Số kinh phí này làm “lộ phí” cho việc đến viếng thăm những trẻ em cô nhi bất hạnh, đến với những bà “Ê-li-sa-bét thời @” đang muốn phá thai, nói với họ những lời khuyên chân tình…

Vâng, hãy tin, giáo xứ chúng ta sẽ phá kỷ lục, kỷ lục có nhiều em bé vui mừng và có nhiều “đứa con trong bụng mẹ nhảy lên vui sướng”. Đúng không, thưa quý vị! Và, nếu đúng, chẳng phải là chúng ta đã làm “đẹp mặt” Giáo Hội, đó sao!

Chưa hết… còn nữa. Còn đó những bà Êlisabet-già-nua không nơi nương tựa, đang phải sống cô đơn nơi xó xỉnh của một nghĩa trang, hay một gầm cầu, nào đó. Còn đó là những bà Êlisabet đang “ẩn-mình-chờ-chết” trên giường bệnh vì không có tiền thuốc thang. Còn đó là những bà Êlisabet đơn thân với đàn con nhếch nhác v.v…

Phải làm sao! Thưa, giảm bớt vài tấn về sức nặng của “cái ông sao” mà giáo xứ của chúng ta dự định trình làng cho thiên hạ chiêm ngưỡng, vào mùa Giáng Sinh năm nay. Hãy mang cái số “tấn” giảm bớt đó biến thành những tấn gạo, tấn mì, tấn bột, tấn đường, tấn sữa đem tặng cho những bà E-li-sa-bét được nêu trên.

Làm như thế, có phần chắc, giáo xứ chúng ta sẽ phá kỷ lục, kỷ lục có nhiều bà E-li-sa-bét thời nay lớn tiếng kêu lên: “Bởi đâu tôi được quý linh mục, quý ân nhân đến với tôi thế này?”

Còn… còn rất nhiều kỷ lục chúng ta cần làm và nên làm. Chẳng hạn như, hãy giảm bớt kỷ lục về chiều dài của những dây đèn chớp tắt, mà hãy tăng độ dài của con đường từ nhà thờ đến nhà giáo dân, hầu cho giữa vị linh mục và người tín hữu có thể kết nối nhau thành những dây đèn phát ra ánh sáng: Ánh Sáng Chúa Ki-tô. Nhờ ánh sáng Chúa Ki-tô, giáo xứ chúng ta sẽ phá kỷ lục về sự chia sẻ giữa linh mục và người tín hữu về những niềm vui nỗi buồn trong đời sống đức tin, đức cậy và đức ái.

Thế nên, hãy quên đi những kỷ lục, những kỷ lục khi nói đến chỉ là phô diễn cho sự giàu có của giáo xứ chúng ta. Đó là một mối nguy hiểm. Bởi vì, khi giáo xứ chúng ta phô diễn sự giàu có, Đức Maria cảnh báo: “Người giàu có, lại đổi về tay trắng.” (Lc 1, 53).

Lễ Giáng Sinh gần kề. Và, ngày Chúa Giê-su xuống thế làm người đã xảy ra hơn hai ngàn năm. Hồi ấy, ngày Chúa Giáng Sinh: “Có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế, cho loài người Chúa thương.”

Hôm nay, ngày Lễ kỷ niệm Chúa Giáng Sinh, chúng ta sẽ làm gì! Nên chăng, chúng ta tiếp tục cất tiếng hát, hát bài hát mà các thiên binh và sứ thần đã cất tiếng hát, năm xưa? Thưa, nên là vậy. Bởi vì, “bình an dưới thế - cho loài người” là điều khẩn thiết cho thế giới đầy bất an, hôm nay.

Chúa… Chúa rất muốn ban “bình an dưới thế, cho loài người Chúa thương”. Và, chúng ta chính là “khí cụ bình an của Chúa”. Để chúng ta “đem yêu thương…” đến với tha nhân. Mà, làm sao chúng ta có thể thể hiện tình yêu thương, nếu không có lòng bác ái! Thế nên, trước hết và trên hết, chúng ta hãy là người đầu tiên phá kỷ lục về đức ái.

Vâng, để cho ngày Chúa Giáng Sinh là một ngày bình-an-dưới-thế-cho-loài-người, chúng ta “Hãy phá kỷ lục về đức ái”.

Petrus.tran

Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một.

  Chúa Nhật XXX – TN – A Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một Đọc các sách Tin Mừng, chúng ta được biết, sứ vụ rao giảng Tin Mừng của...