Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2025

“Lời nguyện khiêm tốn vượt ngàn mây thẳm”

 Chúa Nhật XXX – TN – C

“Lời nguyện khiêm tốn vượt ngàn mây thẳm”

SnTM 251025a


Khiêm tốn (hay khiêm nhường) là gì? Thưa, “là có ý thức và thái độ đúng mức trong việc đánh giá bản thân, không tự đề cao, không kiêu căng, tự phụ.” Còn kiêu ngạo, tự cao tự đại thì sao? Thưa, “là một trạng thái tâm lý, tính cách mà một người đề cao bản thân một cách thái quá, luôn cho rằng mình giỏi hơn, quan trọng hơn người khác và xem nhẹ ý kiến của mọi người xung quanh.” (nguồn: internet).

Giữa hai tính cách nêu trên, dưới cái nhìn người đời, nói không sợ sai, chẳng ai thích người kiêu ngạo, người tự cao tự đại.

Đối với Thiên Chúa, thì sao? Thưa, Kinh Thánh cho biết: “Đức Chúa Trời chống kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường.” (Gc 4, 6).

Kinh Thánh còn cho biết: “kiêu ngạo là một trong những tội lỗi bị ghê tởm nhất và là nguồn gốc của nhiều tội lỗi khác.” Minh chứng cho điều nêu trên đó là sự sa ngã của Lucifer, một thiên thần được cho là đã bị “trục xuất” khỏi Thiên đàng vì tội kiêu ngạo.

Đó là lý do, giáo lý Công giáo dạy chúng ta, rằng “Thứ nhất: chớ kiêu ngạo”.

Khiêm nhường và kiêu ngạo, cũng là đề tài được Đức Giê-su luôn quan tâm đến.

Khi nói về sự khiêm nhường, Ngài mời gọi; “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.” Còn đối với tính kiêu ngạo, tự cao tự đại, Đức Giê-su đã kể một dụ ngôn, như một cách truyền đạt lời dạy dỗ của mình.

Dụ ngôn này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Luca với tiêu đề: “người Pharisêu và người thu thuế” (x.Lc 18, 9-14).

**
Theo Tin Mừng thánh Luca, dụ ngôn được kể như sau: “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pha-ri-sêu, còn người kia làm nghề thu thuế.”

Một người là Pha-ri-sêu, một người là “cán bộ” ngành thuế vụ nói lên sự tương phản, tương phản giữa một người đạo đức và một kẻ tội lỗi, theo quan điểm người thời đó.

Trở lại dụ ngôn, chuyện kể tiếp rằng: “Ông Pha-ri-sêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: trộm cắp, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia.”

Chưa hết… “ông thánh sống Pha-ri-sêu” còn kể lể rằng: “Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.”

Còn người làm nghề thu thuế thì sao? Thưa, ông ta “Đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.”

Chấm hết! Tất cả lời cầu nguyện của ông làm nghề thu thuế, chỉ có thế, mà thôi!

***
Mở đầu dụ ngôn, thánh sử Luca ghi như sau: “Đức Giê-su còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác.”

“Một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác” là ai!

Vâng, Đức Giê-su, hôm ấy đã cho chúng ta câu trả lời: “Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi, còn người kia thì không.”

“Người này”… Người này là ai? Thưa, “tên thu thuế”, ông ta đã biết “tự hạ mình xuống”, nhận ra con người thật của mình.

Còn “người kia”… Thưa, không nói ra, ai cũng có thể hiểu chính là “ông thánh sống Pharisêu”. Ông-thánh-sống đã “tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác”.
 
**** 
Đừng nghĩ rằng Đức Giê-su không công bằng, khi người thu thuế chỉ là kẻ-tội-lỗi, thế mà lại “được nên công chính”! Trong khi ông Pha-ri-sêu không trộm cắp, không bất chính, không ngoại tình, lại phải trở về với “số 0”!

Hãy nhớ, Đức Giê-su đã chẳng từng nói: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn”, đó sao!

Người thu thuế là kẻ tội lỗi như lời anh ta thú nhận. Chẳng những đã thú nhận tội lỗi mình, anh ta còn có lòng sám hối ăn năn khi thưa rằng: “xin thương xót con”.

Mà, “…một người tội lỗi ăn năn sám hối” thì sao, nhỉ! Thưa, “…cả triều thần Thiên Quốc đều vui mừng hớn hở” (x.Lc 15, 7). Thế thì, chẳng có gì nghịch lý khi người thu thuế “trở xuống mà về nhà” và được xem là “người công chính”.

Còn ông Pha-ri-sêu ư! Thật ra, ông ta cũng sẽ nhận được “vòng hoa dành cho người công chính”, bởi vì như lời tông đồ Phaolô nói: “Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó… cho tất cả những ai hết tình mong đợi.” (2Tm 4, 8).

Thế nhưng thật đáng tiếc! Tâm tình cầu nguyện của ông Pharisêu chẳng có một chút gì gọi là “mong đợi” cả. Trái lại, nó có hơi hướng của một người đi “hối lộ”.

Hãy nhìn xem, ông ta khoe khoang trước Thiên Chúa cả một “rổ” công đức (ăn chay) lẫn tiền bạc (tiền dâng một phần mười)” của mình. Ông ta nghĩ rằng, như thế, chắc hẳn Đức Chúa sẽ ban cho ông tấm bằng khen “người tốt việc tốt” như thói đời, thường làm.

Với Thiên Chúa – Kinh Thánh cho biết “Đừng hối lộ, Người chẳng nhận đâu… Người chẳng thiên vị”. (Hc 35, 11-12).

Rất đáng tiếc! Phải chi ông Pha-ri-sêu, nếu có tự hào về thành tích của mình, thì hãy “tự hào trong Chúa” (2Cor 10, 18).

Tự-hào-trong-Chúa, chúng ta sẽ không tự kiêu, tự mãn.

Hôm đó, kết thúc dụ ngôn, Đức Giê-su truyền dạy: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (x.Lc 18, …14).

****
Có hai nhân vật trong dụ ngôn, với hai phong cách cầu nguyện. Một trong hai phong cách đó, được Thiên Chúa nhận lời. Phong cách được Thiên Chúa nhận lời, Đức Giê-su gọi là phong cách “hạ mình xuống”.

Mà, hạ-mình-xuống, chẳng phải là một hình thức “khẩn cầu” mạnh mẽ, sao!

Một khi lời cầu nguyện trong trạng thái khẩn cầu, Cha Charles E. Miller diễn giải rằng, đó là lúc chúng ta biểu lộ “sự khiêm nhường được Chúa chấp nhận”.

Xưa, người thu thuế đã “lên đền thờ cầu nguyện”. Ông ta hạ-mình-xuống, vừa đấm ngực vừa thưa rằng: Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.”

Nay, mỗi Chúa Nhật, chúng ta cũng hãy đến nhà thờ cầu nguyện. Chúng ta cũng hãy vừa đấm ngực vừa thưa, rằng: “Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em. Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói việc làm, và những điều thiếu xót. Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng...”

Chỉ cần… Chỉ cần một lời cầu nguyện khiêm tốn, chúng ta “sẽ được (Chúa), chấp nhận.” (x.Hc 35, …16). Nói, theo cách nói của Cha Charles: “Lời nguyện khiêm tốn vượt ngàn mây thẳm”.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2025

Cầu nguyện luôn - Chúa sẽ đoái nhìn

 Chúa Nhật XXIX – TN – C

Cầu nguyện luôn - Chúa sẽ đoái nhìn

SnTM 181025a


Cầu nguyện là gì? Thưa: “Cầu nguyện là hành động dâng lời tâm tình lên một đấng thiêng liêng như Thiên Chúa, với mục đích để gặp gỡ, chúc tụng, tạ ơn, hoặc cầu xin những ơn lành. Cầu nguyện được coi là một phương cách để con người nâng tâm hồn lên, tìm kiếm sự hướng dẫn, an ủi và xây dựng mối liên hệ cá nhân, sống động với đấng mà mình tin tưởng.” (nguồn: internet).

Khi nói tới cầu nguyện, có thể nói rằng, tôn giáo nào cũng đều coi trọng sự cầu nguyện. Và, nếu có ai hỏi, cầu nguyện có từ khi nào, chúng ta có thể trả lời rằng, từ thời xa xưa con người đã biết cầu nguyện.

Kinh Thánh cho biết, đến thời ông Sết “người ta bắt đầu kêu cầu danh Đức Chúa.” (x.St 4, …26) Người Việt Nam ngay từ thời xa xưa cũng đã biết “Cầu Trời”. Vâng, thật chân thành khi họ cất tiếng kêu xin: “Lạy Trời mưa xuống. Lấy nước tôi uống. Lấy ruộng tôi cày. Lấy đầy bát cơm. Lấy rơm đun bếp”.

Đức Giêsu rất coi trọng đến sự cầu nguyện. Đã có lần Đức Giê-su dạy cho các môn đệ cầu nguyện. Và, khi cầu nguyện Ngài khuyên rằng, phải biết kiên trì “không được nản chí”.

Để cho các môn đệ thấy sự kiên trì quan trọng như thế nào, Đức Giê-su đã kể cho các ông nghe một dụ ngôn, dụ ngôn mang tên “quan tòa bất chính và bà góa quấy rầy”. Dụ ngôn này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Luca. (x.Lc 18, 1-8).

**
Dụ ngôn được kể rằng: “Trong thành kia có một ông quan tòa. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì”.

Nghe… nghe qua lời mô tả về ông quan này, chúng ta không thể không nghĩ rằng, quả là bất hạnh cho những ai được ông ta ra tay xử kiện.

Tại sao? Thưa, theo kinh nghiệm trong dân gian, có ông quan “vô thần” nào được coi là “dân chi công bộc”?! Loại quan này, Kinh Thánh mô tả là: “Tất cả bọn chúng đều thích ăn hối lộ, và chạy theo quà cáp. Chúng không phân xử công minh cho cô nhi, cũng chẳng quan tâm đến quyền lợi quả phụ”? (Is 1, 23).

Chưa hết, mấy ông kẹ này còn “đặt ra những luật lệ bất công… viết nên các chỉ thị áp bức… để biến bà góa thành mồi ngon cho chúng, và bóc lột kẻ mồ côi” (Is 10, 2).

Trở lại dụ ngôn, chuyện kể tiếp, rằng: Trong thành đó, cũng có một bà góa… đã-nhiều-lần-đến-xin… xin ông xử kiện. Vâng, bà ta đã đến gặp ông quan này và thưa với ông: “Đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho”.

“Đơn kiện” được quan nhận. Nhận… nhưng quan không “minh xét”. Có nản lòng không, khi “một thời gian khá lâu, ông không chịu (xử)”!?

Dù vậy, bà góa không nản lòng. Bà ta “kiên nhẫn… cứ đến hoài”. Kiên-nhẫn-cứ-đến-hoài, thì sao? Thưa, Jean-Jacques Rousseau nói: “Sự kiên nhẫn thì cay đắng, nhưng thành quả của nó thì ngọt ngào.”

Đúng! lời Jean-Jacques Rousseau nói rất đúng với trường hợp của bà góa. Trước sự kiên nhẫn của bà góa, ông quan tòa như ngồi trên ổ kiến lửa. Và rồi, ông ta nghĩ: “Dầu ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng mụ góa này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc”.

Dụ ngôn tới đây chấm hết. Qua dụ ngôn này, không cần giải thích nhiều, chúng ta cũng có thể hiểu, sự việc “không được nản chí”, quan trọng như thế nào!

Hôm ấy, Đức Giê-su còn có lời bảo rằng: “Anh em nghe quan tòa bất chính nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không mình xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi?”

Cuối cùng Đức Giê-su khẳng định: “Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ”.

***
Lịch sử Do Thái, dân Thiên Chúa tuyển chọn, cho chúng ta câu trả lời, quả thực rằng, Thiên Chúa “đã minh xét” cho những kẻ có lòng nhẫn nại trong sự khẩn nài “ngày đêm hằng kêu cứu với người”…

Chuyện kể rằng: Israel đang trên đường đi đến miền đất hứa. Bất ngờ đạo quân “Amalech đến đánh Israel tại Rophidim” (Xh 17,8).

So sánh tương quan lực lượng, Amalech là một đạo quân tinh nhuệ, có thừa kinh nghiệm cho những trận địa chiến. Họ đủ sức “nghiền nát” quân đội Israel - một đạo quân ô hợp.

Thế mà… ấy thế mà… “Nực cười châu chấu đá xe. Tưởng rằng chấu ngã nào ngờ xe nghiêng”. Con-châu-chấu Israel đã xô ngã cả một đạo quân tinh nhuệ Amalech.

Quân sử Israel đã ghi lại chiến tích vang dội này, như sau: “Giô-suê đã đánh bại Amalech… xóa hẳn tên tuổi Amalech, khiến cho thiên hạ không còn nhớ đến nó nữa”(Xh 17, 3…14).

Nhờ đâu quân sử Israel có được trang sử vẻ vang này? Thưa, do bởi chính lời cầu nguyện của Môsê. Mô-sê nói: “Tôi, tôi sẽ đứng trên đỉnh đồi, tay cầm gậy của Thiên Chúa”. Kinh Thánh ghi rằng: trên đỉnh đồi, “khi nào ông Mô-sê giơ lên, thì dân Israel thắng thế, còn khi ông hạ tay xuống, thì Amalech thắng thế”.

Mô-sê không có sức để “giơ tay lên” mãi. May thay, Aharon và Khua đã “đỡ tay ông, mỗi người một bên.” Nhờ đó Mô-sê đã đủ sức giơ-tay-lên “cho đến khi mặt trời lặn”.

Nói cách khác, Mô-sê đã liên lỉ “kêu cứu với Người…” Thiên Chúa đã không “bắt họ phải chờ đợi mãi”. Và Người đã “mau chóng” cho Israel cất tiếng hát khúc khải hoàn ca.

Qua sự kiện này, Cha Charles E.Miller nhắc đến việc cầu nguyện chung. Ngài nói: “Là người Công Giáo, là thành viên của gia đình Giáo Hội, chúng ta có trách nhiệm với nhau. Aharon và Khua đã không bỏ rơi Mô-sê lúc ông này có dấu hiệu mỏi tay. Hai ông đã không nghĩ là Mô-sê phải cầu nguyện một mình và các ông chỉ nên chú tâm vào kinh nguyện riêng của các ông.”

Cuối cùng, ngài kết luận: “Thiên Chúa đẹp lòng với loại mô hình cầu nguyện đầy sức mạnh, bởi lẽ chúng ta đều cầu nguyện không phải như những cá nhân riêng lẻ, mà cùng chung với nhau như người Công Giáo, như những thành viên của Giáo Hội, hiệp nhất bởi Thần Khí trong thân thể duy nhất của Đức Ki-tô”.

Thưa quý vị, mỗi buổi tối quý vị có đọc kinh chung trong gia đình không? Nếu không, nên thực hiện ngay hôm nay, bây giờ. Chỉ cần bắt đầu với hai người (vợ - chồng). Với hai người, Chúa nói: “Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.” Đọc kinh chung trong gia đình, chẳng phải là họp-lại-nhân-danh-Chúa, sao?

****
Để thành công trong công việc, Edison cho rằng, do 10% thiên tài, phần còn lại là do 90% sự nhẫn nại và lòng kiên trì.

Thế nên, chúng ta hãy nhẫn nại và kiên trì thực thi lời truyền dạy của Đức Giê-su: “Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí” (Lc 18,1).

Đừng bao giờ nản chí, vì nản chí sẽ làm cho chúng ta mất đi sự nhẫn nại và lòng kiên trì. Đừng nản chí, dẫu cho khi lời cầu nguyện của chúng ta không có sự hồi âm. Không có sự hồi âm, biết đâu “…là vì (ta) xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc!” (Gc 4, 3).

Không có sự hồi âm, biết đâu là vì chúng ta do dự! “Do dự”, thánh Gia-cô-bê nói: “thì giống như sóng biển bị gió đẩy lên vật xuống. Người ấy đừng tưởng mình sẽ nhận được cái gì của Chúa, họ là kẻ hai lòng, hay thay đổi trong việc họ làm” (x.Gc 1, …6-7). “Hai lòng” đó là điều chẳng ai thích, phải không, thưa quý vị?

Với việc chậm trễ hồi âm, hãy xem đó như là một phước hạnh, phước hạnh để ta có cơ hội “cầu nguyện khẩn thiết” hơn, để ta đến gần hơn với cuộc tương giao giữa Chúa với ta.

Một người có đức tin mạnh mẽ, vấn đề hồi âm trở thành thứ yếu. Điều quan trọng, lúc đó, chính là mối tương giao mật thiết giữa ta và Chúa. Chính mối tương giao này khơi dậy trong ta sự tín thác trọn vẹn, và điều tất yếu đó là, ta sẽ cầu nguyện liên lỉ không thôi.

Về điều này, thánh Augustin có lời khuyên, rằng: “Niềm tin làm phát sinh cầu nguyện, và cầu nguyện một khi đã phát sinh sẽ đem lại chắc chắn trong niềm tin”. Còn thánh Phao-lô ư! Vâng, ngài có lời chia sẻ: “Hãy cầu nguyện không ngừng”.

Có rất nhiều tấm gương về những con người chuyên tâm cầu nguyện, liên lỉ cầu nguyện không thôi, trong suốt chiều dài lịch sử Giáo Hội.

Thánh nữ Monica, như điển hình. Người thánh nữ này đã kiên trì, suốt hơn hai mươi năm, ngày đêm liên lỉ cầu nguyện cho gia đình mình, một gia đình hoàn toàn vô đạo.

Và, Thiên Chúa đã “minh xét” cho bà, đó là “…Mẹ chồng và Patricius (chồng bà) đã xin Rửa Tội và tin theo Chúa. Còn Augustinô (con bà) đã chia tay bè rối Manichê (Nhị Nguyên) là một tà thuyết chống lại Giáo Hội và đức tin của Công Giáo mà ông đã dồn toàn tâm toàn trí trong suốt chín năm trường. Sau đó ngài được Rửa Tội. Hai người con còn lại là Navigio và Perpetua cũng xin chịu phép Thanh Tẩy và gia nhập Giáo Hội Chúa. Sau này cả hai đã đi tu dòng” (nguồn: internet).

Ông Mô-sê đã cầu nguyện “cho đến khi mặt trời lặn”. Bà Monica, nói như thánh Phaolô nói: đã cầu xin Thiên Chúa “với tất cả lòng nhẫn nại” (2Tm 4, …2).

Còn chúng ta? Chúng ta cũng cầu nguyện theo “phong cách” Mô-sê và Monica? Vâng, hãy thực hiện như thế. Cầu nguyện như thế. Chúa sẽ đoái nhìn.

Nhớ! Cầu nguyện luôn - Chúa sẽ đoái nhìn.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2025

Hãy luôn cảm tạ Thiên Chúa…

 Chúa Nhật XXVIII – TN – C

Hãy luôn cảm tạ Thiên Chúa…

SnTM 111025a


Bệnh phong hủi (còn gọi là bệnh phong, bệnh cùi), như chúng ta được biết, là một bệnh truyền nhiễm mãn tính do vi khuẩn Mycobacterium leprae gây ra. Bệnh chủ yếu ảnh hưởng đến da, dây thần kinh ngoại biên và các cơ quan khác, dẫn đến tổn thương, tê liệt và biến dạng cơ thể. (nguồn: internet).

Đối với người xưa, căn bịnh này gây chết chóc, không thể chữa trị và vô vọng. Do vậy, mọi người rất sợ căn bịnh này. Sợ đến nỗi bất kỳ ai bị nghi nhiễm đều bị trục xuất ra khỏi cộng đồng.

Đã có thời người bệnh phong phải chịu nhiều luật lệ khắt khe như: thả trôi sông, chôn sống, bỏ vào rừng cho thú dữ ăn thịt. Vì thế khi một ai đó mắc bệnh, người đó thường là bỏ làng ra đi, ở lại cũng không ai chứa chấp, không ai liên hệ.

Israel thời Cựu Ước xem bịnh phong là một căn bệnh nguy hiểm cho cộng đồng. Có luật lệ riêng cho những người bệnh phong hủi. Những luật lệ đó không kém phần khắc nghiệt. Khắc nghiệt ngay từ “khâu chẩn bệnh”. Nếu một người bị nhọt, lác, đốm, ung, phỏng, lang ben, sói đầu, v.v… mà các vết thương đó “cứ loang ra” trên cơ thể, “Tư tế sẽ tuyên bố người ấy là ô uế: đó là bệnh phong” (Lêvi 13, 7).

“Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xõa tóc, che râu và kêu lên: Ô uế! Ô uế!. Bao lâu còn mắc bệnh, thì nó ô uế; nó ô uế: nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại.” (Lêvi 13, 45-46).

Tại Do-thái, trong các tác phẩm của các thầy Rabbi có ghi chép những phương cách cứu chữa cho nhiều căn bịnh khác nhau. Thế nhưng, về căn bịnh phong hủi, thì không ghi chép gì cả. Các Rabbi nói rằng, chữa trị bịnh phong giống như làm cho kẻ chết sống lại. Nói tắt một lời, bịnh phong thuộc loại “tứ chứng nan y… thầy thuốc bỏ đi, trống kèn kéo tới”.

Ấy vậy mà! Vậy mà… hơn hai ngàn năm xa trước đó, có một người thầy thuốc, không-bỏ-đi. Vị thầy thuốc này, được biết tên là Giêsu, khi đối diện với những người mắc bệnh phong, và khi nghe họ cầu xin sự cứu chữa, Ngài đã chữa họ khỏi bệnh. Sự kiện vô tiền khoáng hậu này, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Luca.

**
Sự kiện này được thánh sử Luca ghi lại như sau: Hôm ấy, Đức Giê-su (cùng với các môn đệ) “trên đường lên Giê-ru-sa-lem” với lộ trình “đi qua biên giới giữa hai miền Samari và Galilê.”

Rồi… “Lúc Người vào một làng kia…” Làng kia tên gì và ở đâu? Thưa, một số nhà nghiên cứu Kinh Thánh cho biết, có thể làng này ở phía nam thành Nadarét và thành Nain. Đây là một khu vực vắng vẻ, nơi rất phù hợp để “cách ly” người mắc bệnh phong hủi. Vâng, nghe có vẻ hợp lý.

Trở lại câu chuyện, lúc Đức Giê-su vào làng… “thì có mười người phong hủi đón gặp Người”. Ơ hay! Chẳng phải mười người phong hủi đã phạm luật!

Đúng và cũng không đúng. Đúng, vì mười người phong hủi đã không lớn tiếng kêu “Ô uế! Ô uế!” để mọi người tránh xa. Cũng không đúng, vì “họ dừng lại từ đằng xa.”

Từ đằng xa, họ lớn tiếng kêu khẩn thiết, một sự khẩn thiết hầu gây cho người nghe chú ý đến mình.

Vâng, giữa hai miền Samari và Galilê, nơi mà tinh thần thù nghịch của người Do-thái và người Samari luôn sôi sục, họ còn biết kêu cầu ai.

Hôm nay, Thầy Giê-su đi ngang! Không có gì để nghi ngờ nữa. Mười người phong đã nghe, nghe tiếng đồn đại “ngày càng lan rộng” rằng, Ngài đã chữa một người cũng mắc bịnh phong như họ, bằng cách: “Giơ tay đụng vào anh ta… Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi” (x.Lc 5, 13). Chắc chắn mười người phong này đã bàn bạc sự kiện ấy. Và, hôm nay… hôm nay… Thầy Giê-su kia kìa!

Thầy Giê-su kìa! Dừng lại… dừng lại… đừng đến gần. Họ đã “dừng lại đằng xa.” Mười người phong, nên chăng, chúng ta gọi đây là một ca đoàn với mười “ca viên”.

Mười ca viên rách rưới nhất thế giới đồng loạt cất tiếng ca: “Xin thương xót Chúa ơi! Xin thương xót chúng con. Chúa ơi! Xin nhìn đến đoàn con… (quá đớn đau, quá khổ đau) Chúng con van nài.”

Hôm ấy, từ đàng xa, từ những môi miệng nhúm nhó đớn đau. Họ đã cất tiếng van xin: “Lạy Thầy Giê-su, xin rủ lòng thương chúng tôi”.

Vâng, mười người phong với những đôi mắt và đôi tai đã nhìn thấy “quá ít lòng thương xót”, nhưng lại phải nghe “quá nhiều lời xét đoán”, sao lại không thương họ, nhỉ!

Thầy Giê-su sẽ làm gì chứ! Thầy sẽ chữa họ ngay lập tức chăng! Chắc chắn, vì đó là quyền phép của Ngài và đó cũng là ước mong của mười người phong.

Thế nhưng, thật khó hiểu khi Thầy Giê-su nói: “Hãy đi trình diện với các tư tế”.

Vâng, thật khó hiểu khi mà lệnh truyền của Đức Giê-su có vẻ như một lệnh truyền mâu thuẫn! Một lệnh truyền chỉ thích hợp cho những người đã “khỏi bệnh phong”, là những người cần các thầy tư tế “tái khám”, hầu để được tuyên bố là đã thanh sạch.

Thực tế, mười người phong hủi đã thấy khỏi bệnh đâu! Tuy vậy, dù chưa khỏi, nhưng họ vẫn lên đường. Ngạc nhiên thay! Chuyện kể tiếp rằng: “Đang khi đi thì họ được sạch.”

***
Đang-khi-đi-thì-họ-được-sạch. Mười người phong đã được sạch khi họ ra đi. Không phải trước khi đi. Không phải sau khi trình diện với các tư tế. Nhưng là “đang khi đi”.

Họ đã được sạch khi họ chịu bước đi. Trong hành động bước đi, họ đã được chữa lành. Tại sao chứ? Thưa, vì hành động bước đi chính là hành động của đức tin.

Khi Đức Giê-su truyền: “Hãy đi trình diện với các tư tế”, khi mà mười người phong hủi chưa thấy mình khỏi bệnh, thì có thể hiểu, đó là một sự thử thách đức tin.

Thánh Gia-cô-bê, qua việc chứng kiến biến cố này, đã có lời dạy: “đức tin không có hành động là vô dụng” (Gc 2, …21).

Một nhà truyền giáo, cảm nghiệm được điều này, có lời chia sẻ: “Nếu tên của bạn là Nô-e và Đức Chúa Trời bảo bạn trời sắp mưa, thì cầu xin cho có một chiếc tàu là đúng khi bạn cầu nguyện, song hãy đi ra, rồi đốn một số gỗ gôphe đi.

Nếu tên của bạn là David, và bạn thấy mình đang ở trong trũng đối diện với Gôliát, thì cầu nguyện xin chiến thắng là đúng, nhưng khi bạn cầu nguyện, hãy nhặt lên mấy hòn đá, tra chúng vào cái trành rồi nhắm ngay vào cái trán của Gôliát.”

Cuối c ùng, nhà truyền giáo, kết luận: “Tin tưởng vào Thiên Chúa không tương xứng với chỗ không làm gì hết. Hãy nhớ, mười người phong đã được chữa lành khi họ bước đi. Đức tin của chúng ta dời núi khi đức tin cảm động chúng ta bước đi.” (nguồn: internet).

****
Đức tin không chỉ thúc đẩy chúng ta bước đi. Đức tin còn mời gọi chúng ta trở về với tâm tình tạ ơn. Đó là điều chúng ta cũng cần ghi nhớ.

Mười người phong… mười người được sạch. Thế mà, chỉ có một… “Một người trong bọn, thấy mình được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn. Anh ta lại là người Sa-ma-ri”. (Lc 17, 15-16).

Là người Sa-ma-ri... bẽ bàng quá! Người Do-thái xem người Samari là những kẻ phản bội, dân tạp v.v… ấy thế mà, hôm nay, họ chứng minh mình là một dân tộc văn minh, một dân tộc có lòng biết ơn.

Ông ta biết Đức Giê-su chữa lành cho ông ta. Ông ta biết dâng lời cảm tạ Thiên Chúa.

Thật “mắc cỡ” khi Đức Giê-su hỏi người phong Samari: “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế chín người kia đâu?”

 ”Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?”

Giờ này quý ông đang ở đâu? Quý ông không khỏi bệnh chăng? Nếu khỏi, sao quý ông không quay lại “Tạ ơn Ngài?” Thật kinh ngạc, đắng cay!

Chúng ta có thể biện minh cho hành động của chín quý ông không trở lại gặp Đức Giê-su, rằng: họ cần trình diện với các tư tế, người có thẩm quyền “chứng nhận sạch bịnh phong’’.

Tuy nhiên, những lý lẽ đó không có sức thuyết phục. Không thuyết phục là bởi, đối với quan niệm Do-thái, chữa lành khỏi bệnh phong được coi như là Phục-Sinh-từ-cõi-chết. Mà ai đã chữa lành các ông? Ai là người có thể Phục-Sinh-từ-cõi-chết nếu không là Thiên Chúa? Giữa Đức Giêsu, người trực tiếp “chữa bịnh phong’’ cho quý ông, và các thầy tư tế – người chỉ có thẩm quyền “chứng nhận sạch bịnh phong’’, ai quan trọng hơn ai?

Nếu… nếu “chín người kia” hiểu được điều đó và quay lại gặp Đức Giêsu, trước khi gặp tư tế để “tái thẩm định” căn bệnh phong của mình… Vâng, họ đã không “mắc nợ” Ngài “một lời tạ ơn” và đã không “mắc cỡ” trước anh chàng được cho là “người ngoại bang” nhưng lại nhận ra Thiên Chúa, qua hình ảnh Đức Giêsu, chính là người cần phải trình diện để “sấp mình tạ ơn” và hơn nữa để “Tôn vinh Người”.

Đây… đây chính là lý do Đức Giê-su nói với người “quay trở lại”, rằng: “Đứng dậy về đi. Lòng tin của anh đã cứu chữa anh”.

*****
Kinh Thánh có lời chép: “Chớ khá quên mọi ân huệ của Người” (Tv 103, 2). Còn Abbert Schweitzer có lời nói: “Đôi lúc ánh sáng trong cuộc đời ta lịm tắt, và được nhen nhóm lại bởi tia lửa của một ai đó. Mỗi chúng ta phải nghĩ tới những người đã đốt lên ngọn lửa trong ta với lòng biết ơn sâu sắc”.

Tham dự Thánh Lễ chính là phương cách “tạ ơn” tốt nhất. Sau một ngày, hay một tuần làm việc chúng ta đến nhà thờ, một hành động “bước đi”, đi “trở lại tôn vinh Thiên Chúa”.

Cha Charles E. Miller nói: “Hết thảy chúng ta đều có những lý do riêng để tạ ơn Thiên Chúa trong thánh lễ. Ngày hôm nay, ta có thể cảm tạ Thiên Chúa vì món quà sự sống qua hình ảnh một đứa trẻ sơ sinh, hoặc ơn phục hồi sức khỏe cho một người cao tuổi. Ta có thể muốn cảm tạ Thiên Chúa vì vừa tìm được việc làm sau một thời gian dài thất nghiệp… Mỗi Chúa Nhật ta cần ngẫm lại các lý do riêng tư để tạ ơn, và phải nhớ rằng thật là chính đáng để tạ ơn Thiên Chúa”.

Hãy nhớ: “Chúa không cần chúng ta ca tụng, nhưng được tạ ơn Chúa lại là một hồng ân cao cả, vì những lời ca tụng của chúng ta chẳng thêm gì cho Chúa, nhưng đem lại cho chúng ta ơn cứu độ muôn đời”. (Kinh Tiền Tụng số IV trong Sách Lễ Rôma).

Xưa, người ngoại bang đã trở lại tôn vinh Thiên Chúa, và vị này đã được Đức Giê-su nói: “Lòng tin của anh đã cứu anh”. Thì, hôm nay, nếu chúng ta đến nhà thờ tôn vinh Thiên Chúa, há lẽ Thiên Chúa lại không “đem lại ơn cứu độ cho chúng ta” sao!

Tất cả chúng ta đều là “bệnh nhân” của Chúa. Tất cả chúng ta đều biết Đức Giê-su. Tất cả chúng ta đều tin Ngài có thể cứu chữa mình. Tất cả chúng ta đều lãnh nhận ơn huệ Chúa ban. Thế nên, đừng vì một lý do nào đó mà chúng ta không đến nhà thờ: “Xin dâng lời cảm tạ hồng ân Thiên Chúa bao la.”

Vâng, chúng ta hãy luôn cảm tạ Thiên Chúa.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2025

Kinh Mân Côi - lời kinh MẸ ban

 Chúa Nhật XXVII – TN – C

Kinh Mân Côi - lời kinh MẸ ban

SnTM 041025a


Như một truyền thống đẹp, hằng năm, mỗi khi tháng mười đến, Giáo hội dành riêng Chúa Nhật đầu tháng để kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi. Đức Mẹ là ai? Và Mân Côi nghĩa là gì?

Vâng, trước hết chúng ta nói về Đức Mẹ. Đức Mẹ chính là Đức Maria, và là người đã được Thiên Chúa tuyển chọn để thực hiện chương trình cứu độ của Người.

Theo Tin Mừng thánh Luca, chúng ta được biết: “Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một cô trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Maria.”

Khi vào nhà trinh nữ, sứ thần nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”. Nghe lời ấy, cô Maria không bày tỏ mừng vui, trái lại… cô Maria “rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.”

Để phá tan sự bối rối của cô Maria, sứ thần Chúa có lời giải thích: “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa.”

Tiếp đến, sứ thần Chúa tuyên bố rằng: “Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao.”

Chưa hết, sứ thần Chúa còn tiếp lời rằng: “Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.” (Lc 1, 32-33).

Nghe xong, cô Maria càng thêm bối rối. Cô Maria đã nói với sứ thần Chúa rằng: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng”.

Một lý do rất hợp lý. Nhưng đó là lý do của phàm nhân. Đối với Thiên Chúa, khi Người đã tuyển chọn ai, một Môsê chẳng hạn, thì dù ông ta “không phải là kẻ có tài ăn nói”, hoặc như ngôn sứ Giêrêmia, khi ông ta “còn quá trẻ (và cũng) không biết ăn nói”, Thiên Chúa vẫn tuyển chọn.

Thế nên, hôm nay, khi nghe cô Maria nói “vì tôi không biết đến việc vợ chồng”, sứ thần Chúa, ngay lập tức, trả lời rằng: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa”.

Và, để cô Maria thêm tin tưởng, sứ thần Chúa đã đưa ra một bằng chứng về quyền-năng-Đấng-Tối-Cao, sứ thần Chúa nói: “Kìa bà Ê-li-sa-bét người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”

Thiên Chúa đã làm được điều kỳ diệu trên bà Ê-li-sa-bét ư! Vậy, chuyện của mình, có-gì-là-không-thể-làm-được! Có lẽ, cô Maria có một thoáng suy nghĩ như thế.

Thế là, cô Maria, đã không ngần ngại đáp lời rằng: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”.

***
Chúng ta đã nói về Đức Mẹ. Thế còn hai chữ Mân Côi? Thưa, theo sự diễn giải chúng ta thường được nghe, Mân Côi còn được gọi: Mai Khôi, Môi Khôi, Văn Côi nghĩa là một thứ ngọc đỏ hoặc hoa hồng. Giáo Hội Công Giáo hiểu chữ Mân Côi theo nghĩa là Hoa Hồng.

Hiểu theo nghĩa “hoa hồng” là bởi do tích truyện một đan sĩ khi đọc kinh Kính Mừng, Đức Mẹ đã lấy những nụ hoa hồng trên môi vị đan sĩ ấy kết thành vòng hoa đội lên đầu mình. Qua tích truyện này, tràng hạt tượng trưng cho tràng hoa hồng hay vòng hoa hồng Đức Mẹ đội trên đầu và được gọi là Tràng Mân Côi, Chuỗi Mân Côi. (nguồn: internet).

Không biết tích truyện nụ-hoa-hồng-trên-môi được lưu truyền vào thời kỳ nào, và được bao nhiêu người biết đến…
Ngược lại, khi nói đến Chuỗi Mân Côi, ai trong chúng ta đều liên tưởng đến “Lời Mẹ nhắn nhủ”, năm xưa: “Năm xưa trên cây sồi làng Fatima xa xôi, có Ðức Mẹ Chúa Trời hiện ra uy linh sáng chói. Mẹ nhắn nhủ người đời: hãy mau ăn năn đền bồi, hãy tôn sùng Mẫu Tâm, hãy năng lần hạt Mân Côi”.

Vâng, hơn một trăm năm trước đó, năm 1917, Đức Maria đã hiện ra với ba em bé chăn cừu tại làng Fatima, nước Bồ Đào Nha. Ba em bé tên là Lúcia dos Santos, Francisco Marto và Jacinta Marto.

Đức Maria đã hiện ra sáu lần, bắt đầu từ ngày 13/5/1917 và lần cuối cùng là ngày 13/10/1917. Trong những lần hiện ra, ngoài những điều được gọi là “bí mật Fatima”, những bí mật mà nay đã được “bật mí”, chúng ta còn được biết Đức Maria đã gửi đến ba em nhỏ những lời nhắn nhủ, nhắn nhủ rằng: “hãy mau ăn năn đền bồi, hãy tôn sùng Mẫu Tâm, hãy năng lần hạt Mân Côi”.

Với lời nhắn nhủ đầu tiên “hãy mau ăn năn đền bồi”, Đức Maria tái nhắc nhở lời Ðức Giêsu, con của Mẹ, khi Ngài bắt đầu ra đi loan báo Tin Mừng, cũng đã lớn tiếng nói: “Anh em hãy sám hối.”

Đừng dửng dưng trước lời nhắn nhủ này. Ai trong chúng ta dám nói mình không phạm tội? Thánh Phao-lô nói: “Mọi người đều phạm tội”.

Ăn năn tội xong còn phải “đền bồi” nữa. “Đền những thiệt hại vật chất mình đã gây ra cho người khác. Bồi thường danh dự, bồi thường những xúc phạm về mặt tinh thần. Cuối cùng là bồi đắp, vun trồng những gì tốt lành lẽ ra mình phải làm, mà do nhiều lý do, chủ quan hay khách quan, mình chưa làm được, như sự tha thứ, như việc truyền giáo, chẳng hạn”.

Cô Maria Th H, một người xem việc tôn-sùng-Mẫu-Tâm, như là hành trang cho đời mình, có lời chia sẻ, như thế.

Vâng, việc tôn-sùng-Mẫu-Tâm, (lời nhắn nhủ thứ hai của Đức Maria), không thể thiếu trong đời sống đức tin của chúng ta. Bởi, khi thực hiện điều này, chúng ta tiếp tục ca ngợi “lượng từ bi hải hà của Chúa đến muôn đời, khi đoái nhìn phận hèn nữ tỳ của Chúa, nhờ Người, Chúa đã ban cho nhân loại Đấng Cứu Độ là Con Chúa, Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng con” (kinh tiền tụng Đức Mẹ II).

Với lời nhắn nhủ thứ ba: “hãy năng lần hạt Mân Côi”, có thể nói, không ai trong chúng ta lại không hơn một lần nghe đến. Và, cũng có thể nói, không ai trong chúng ta lại không hơn một lần đọc lời kinh này.

Chúng ta đã đọc và biết rằng: Kinh Kính Mừng bắt đầu bằng lời của sứ thần Gáp-ri-en: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”.

Đó không chỉ là một lời chào nhưng còn là “Một bài giảng hoàn chỉnh, mặc dù ngắn gọn: Thiên Chúa ở cùng bà”. Cha Timothy Radcliffe OP, trong bài viết “KINH MÂN CÔI” có lời chia sẻ như thế. Vị linh mục này nói tiếp: “Các sứ thần là những nhà giảng thuyết chuyên nghiệp. Chính bản tính của các ngài là loan báo tin vui.”

Nói lên điều này để làm gì? Thưa, để mỗi khi chúng ta lần hạt Mân Côi, hãy vui lên, vui lên vì chúng ta chính là những người tiếp tục công việc của sứ thần Chúa. Nói rõ hơn, tiếp tục là những nhà giảng thuyết của Chúa.

Vâng, chúng ta hãy lần hạt Mân Côi, trong tư thế là những nhà giảng thuyết của Chúa, và đừng quên hiện thực hóa những lời kinh mình đọc, những mầu nhiệm mà mình suy tư.

Hiện thực hóa như thế nào? Thưa, đó là theo gương Đức Mẹ, đáp lời xin vâng, rằng: Tôi đây là con cái Chúa, tôi xin thực hiện những gì Chúa truyền dạy.

“Có một truyền thống lâu đời về những bức tranh vẽ Đức Mẹ đang trao kinh Mân Côi cho thánh Đa Minh. Nhưng có thời (thế kỷ XVII) các dòng khác ghen tỵ, cho vẽ những bức họa Đức Mẹ đang trao kinh Mân Côi cho các vị thánh khác, như thánh Phan-xi-cô, thậm chí cả thánh I-nha-xi-ô. Thế là dòng Đa Minh phản đối và đã thuyết phục Đức Giáo Hoàng (đương nhiệm) để người ngăn cấm sự tranh giành đó. Chỉ được vẽ Đức Mẹ trao kinh Mân Côi cho thánh Đa Minh mà thôi!” (nguồn: internet).

Đó là một ngoại lệ! Ngày nay, Đức Mẹ trao cho tất cả mọi người, với lời nhắn nhủ: “Hãy năng lần hạt Mân Côi”. Chúng ta nhận? Hãy nhận và hãy ghi khắc trong con tim mình, rằng: KINH MÂN CÔI - lời kinh MẸ ban.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2025

Chúng ta chỉ có một thời để yêu…

 Chúa Nhật XXVI – TN – C

Chúng ta chỉ có một thời để yêu…

snTM 260925a


Một người Ki-tô hữu tốt, phải là một người Ki-tô hữu biết biểu hiện tình yêu thương. Một người Ki-tô hữu tốt, phải là một người Ki-tô hữu biết thể hiện lòng bác ái.

Tại sao phải là vậy! Thưa, phải là vậy, bởi tình yêu thương và lòng bác ái chính là dấu hiệu để mọi người nhận biết là môn đệ của Đức Giê-su.

Ki-tô giáo nói chung và Công Giáo nói riêng, luôn dạy dỗ người tín hữu phải có lòng xót thương người. Chính Đức Giê-su cũng có lời dạy, rằng: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.” (Mt 5, 7).

Thế nào là xót-thương-người!? Thưa, điều này đã được Giáo Hội diễn đạt rất cụ thể, qua bài kinh: “Thương người có mười bốn mối”.

Mở đầu là phần thương xác bảy mối: “Thứ nhất cho kẻ đói ăn. Thứ hai cho kẻ khát uống. Thứ ba cho kẻ rách rưới ăn mặc. Thứ bốn, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc. Thứ năm, cho khách đỗ nhà. Thứ sáu, chuộc kẻ làm tôi. Thứ bảy, chôn xác kẻ chết.”

Kế tiếp là phần thương linh hồn bảy mối: “Thứ nhất, lấy lời lành mà khuyên người. Thứ hai, mở dậy kẻ mê muội. Thứ ba, yên ủi kẻ âu lo. Thứ bốn, răn bảo kẻ có tội. Thứ năm, tha kẻ dể ta. Thứ sáu, nhịn kẻ mất lòng ta. Thứ bảy, cầu cho kẻ sống và kẻ chết.”

Là một tín hữu Công Giáo, có lẽ không ai trong chúng ta, lại không hơn một lần đọc bài kinh này. Còn nếu chưa đọc, hãy đọc ngay hôm nay.

Nhớ… miệng đọc lòng suy… suy rằng: Tôi có thực hiện tình yêu thương, khi gặp những kẻ-đói-ăn! Tôi có thể hiện lòng bác ái, khi gặp những kẻ-rách-rưới? Gặp những kẻ nghèo khó, tôi sẽ làm gì cho họ!

Vâng, câu trả lời là của mỗi chúng ta. Nhưng… hãy nhớ! Nếu chúng ta phớt lờ lời dạy của Đức Giê-su (nêu trên), coi chừng… chúng ta sẽ rơi vào thảm cảnh như ông nhà giàu trong dụ ngôn “Ông nhà giàu và anh La-da-rô nghèo khó”.

Muốn biết thảm cảnh ra sao, hãy đọc Tin Mừng thánh Luca chương 16: từ đoạn 19 đến đoạn 31, chúng ta sẽ rõ.



** 

Tin Mừng thánh Luca kể rằng: “Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người nghèo khó tên là La-da-rô”.


Anh La-da-rô, ngoài việc đồng hành cùng cái nghèo, còn vác thêm căn bệnh “mụn nhọt đầy mình”.

Chưa hết, dụ ngôn còn cho chúng ta biết đến một chi tiết nghe phải mủi lòng, đó là, anh ta “nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no”. Ước là vậy, nhưng buồn thay, chỉ có “mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta”.

Bức chân dung về anh La-da-rô, được thánh sử Luca vẽ như thế đó! Nếu… nếu được phép viết đôi lời trên bức tranh, nên chăng, chúng ta viết rằng: Đây là chàng homeless tệ nhất thế giới!

Như người Trung Hoa xưa có nói: “Nhân sinh tự cổ thùy vô tử. - Xưa nay đời người ai không chết”, chàng La-da-rô rơi vào thảm cảnh đó, “anh ta chết”. Tường thuật về cái chết của anh La-da-rô, thánh sử Luca ghi vắn tắt: “Thế rồi người nghèo này chết”.

Nếu cái chết… “cái chết được coi là giải thoát, là sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau” thì trường hợp của anh La-da-rô, đúng là vậy. Nhưng, nói theo cách nói của Cha Kim Long, thì “cái chết” của anh ta, lại được xem là điều “Chúa thương…”

Cha Kim Long nói: “Khi Chúa thương gọi con về, hồn con hân hoan như trong một giấc mơ. Miệng con nức vui tiếng cười, lưỡi con vang lời ca hát. Ngàn dân tung hô: con thật vinh phúc.”

Tuy… tuy thánh sử Luca không nói, nhưng chúng ta có thể tin, anh La-da-rô rất hân hoan… hân-hoan-như-trong-một-giấc-mơ. Thì đây, anh ta “được thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham”, sao không hân hoan cho được! (x.Lc 17, 22).

Trở lại với ông nhà giàu. Vâng, “ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn.” Tuy nhiên, sau khi chết, ông nhà giàu không được hưởng những gì mà anh La-da-rô đã được hưởng.

Ông nhà giàu, rất thảm hại. Chuyện kể rằng: “Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Áp-ra-ham ở tận đàng xa, và thấy anh La-da-rô trong lòng tổ phụ”.

Thế là, như một người chết đuối nhìn thấy toán cứu hộ, ông nhà giàu lớn tiếng kêu lên: “Lạy tổ phụ Áp-ra-ham, xin thương xót con, và sai anh La-da-rô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát, vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm!”

Rất công bằng, tổ phụ Ap-ra-ham đáp: “Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi, còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ” (x.Lc 16, 25).

“Hơn nữa…”, tổ phụ Áp-ra-ham tiếp lời: “…giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta cũng không được.”

Vâng, khoảng cách giữa ông ta và anh La-da-rô, không còn là một cái “cổng nhà” nhưng đó là “một vực thẳm lớn”.
Thế nhưng, như chúng ta thường nói “còn nước còn tát”. Ông nhà giàu, sau khi nghe thế, cố gắng “tát” thêm một lời thỉnh cầu, một lời thỉnh cầu may chi có thể “vớt vát” tương lai cho những người anh em của ông, là những người còn sống ở trần gian.

Ông khẩn khoản nài xin rằng: “Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh La-da-rô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này.”

La-da-rô là ai! Chẳng phải chỉ là một tên khố rách áo ôm, mụn nhọt đầy mình! Biết đâu chừng, khi tổ phụ sai anh ta đến nhà cha ông, năm người anh em của ông, lại chẳng xua đàn chó ra đuổi anh ta đi!

Chúng ta có thể nói với ông nhà giàu, như thế! Thế nhưng, tổ phụ Áp-ra-ham có lời đáp sâu sắc hơn, lời đáp rằng: “Chúng đã có Mô-sê và các Ngôn Sứ thì chúng cứ nghe lời các vị đó.”

Ông nhà giàu, không muốn năm người anh em lại rơi vào hoàn cảnh bị-thiêu-đốt-khổ-sở như mình, nên cố biện luận với tổ phụ Áp-ra-ham một lần nữa. Ông ta nói: “Thưa tổ phụ Áp-ra-ham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối.”

Lời biện luận của ông ta chẳng hợp lý chút nào. Xưa nay, có người nào đã chết lại được Chúa cho từ-cõi-chết-trở-về! Thế nên, tổ phụ Áp-ra-ham đã không đáp ứng ước mong của ông nhà giàu.

Vâng, như một gáo nước lạnh tạt vào mặt ông ta, tổ phụ Áp-ra-ham có lời phán quyết rằng: “Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng tin”.

Đúng. Đức Giê-su từ trong cõi chết Ngài đã Phục Sinh. Thế mà, được bao nhiều người trong số hơn bảy tỷ người trên thế gian này… “đã tin”!!!

***
Như vậy, số phận của ông nhà giàu ra sao, chúng ta đã rõ. Chính vì “đã rõ”, chúng ta cần phải sống sao để “đời sau” mình không chung số phận như ông ta.

Nếu tôi “giàu có…” không sao cả! Không sao cả, vì đó là ơn phúc Chúa ban. Giàu không phải là một cái tội. Trong câu chuyện dụ ngôn, không thấy một câu hay một chữ nào lên án sự “giàu sang” của ông nhà giàu. Ông ta bị lên án chỉ vì “sự vô tâm, vô cảm” của ông ta.

Kinh Thánh cho chúng ta biết, có rất nhiều người giàu, điển hình là ông Gióp. Ông ta có “một đàn súc vật bảy ngàn chiên dê, ba ngàn lạc đà, năm trăm đôi bò, năm trăm lừa cái”. Chính Satan cũng phải công nhận Đức Chúa đã “ban phúc lành cho công việc do tay (Gióp) làm, và các đàn gia súc của (Gióp) lan tràn khắp xứ” (x.G 1, 10).

Lúc Đức Giê-su còn tại thế, cũng có nhiều người giàu đi theo trợ giúp Ngài. Một vài tên tuổi được ghi trong Kinh Thánh, đó là: ông Ni-cô-đê-mô, ông Giô-sếp người thành A-ri-ma-thê, bà Sa-lô-mê, v.v...

Thế nên, nếu chúng ta giàu có: “Hãy rộng lượng với kẻ nghèo hèn, đừng chần chừ khi phải bố thí. Hãy đón tiếp kẻ khó nghèo, vì họ túng quẫn, đừng để họ ra về tay trắng” (x.Hc 28, 8-9).

Và đây, hãy ghi nhớ trong con tim mình lời sách Châm ngôn dạy: “Thương xót kẻ khó nghèo là cho ĐỨC CHÚA vay mượn, Người sẽ đáp trả xứng việc đã làm” (Cn 19, 17).

Cuối cùng, khi đã trở nên giàu có: “Đừng tự cao tự đại, cũng đừng đặt hy vọng vào của phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng” (1Tm 6, 17).

Vâng, chuyện ông nhà giàu, coi như xong. Chúng ta cùng bàn chuyện anh chàng La-da-rô. Nếu chúng ta là anh chàng La-da-rô? Thực tế hơn, nếu chẳng may: “Khi tôi sinh ra mang được ngay tiếng con nhà nghèo”?

Thưa, cũng hãy vui lên, vì Đức Maria đã có lời an ủi : “Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư” (Lc 1, 53) Và, Đức Giê-su thì có lời tuyên phán: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì nước Thiên Chúa là của anh em.”(x.Lc 6, 20).

Khi đề cập đến “những kẻ nghèo khó”, Raniero Cantalamessa, qua cuốn sách tựa đề: “Tám chặng đường đi tới hạnh phúc”, có lời viết rằng: “Người nghèo khó đích thực của Phúc Âm là người ‘được Thiên Chúa che chở’… Nơi người Do Thái thời ấy, hạn từ ‘nghèo khó’ thực tế đồng nghĩa với thánh thiện (hasid) và đạo đức. Các Giáo Phụ coi người ‘có tâm hồn nghèo khó’ hầu như đồng nghĩa với khiêm nhường”.

Vậy, chớ nặng lòng nếu cuộc đời chúng ta: “Qua bao nhiêu năm không đổi thay lớn lên còn nghèo!”

Dù suốt đời, chúng ta vẫn-mãi-nghèo, thì cũng đừng “túng quá hóa liều”. Niềm tin Ki-tô giáo không cho phép chúng ta viện cớ rằng: túng quá nên đành liều đi trộm cướp.

****
Giàu-nghèo… đó là chuyện không thể không có trong bất cứ thời đại nào, xã hội nào.

Do vậy, nếu chúng ta giàu, đừng là kẻ giàu-mà-gian-trá. Nếu chúng ta nghèo, đừng là kẻ nghèo-mà-kiêu. Kinh Thánh gọi những người sống theo lối sống này là những người đáng “gớm ghét” (Hc 25, …2).

Kinh Thánh còn có lời chép rằng: Có…”một thời để lìa thế… một thời để yêu thương.” (Gv 3, 2… 8).

Hôm nay, chúng ta chưa “lìa thế”. Chúng ta đang sống. Và có lẽ… có lẽ không ai trong chúng ta muốn mình đứng chung hàng ngũ với những người bị gọi là đáng “gớm ghét”.

Thế nên, nếu chúng ta “còn một chút gì để nhớ để quên”, thì hãy quên… quên đi lối sống vô tâm, vô cảm… vô tâm, vô cảm trước những bất hạnh, khổ đau, nghèo đói của tha nhân.

Mà hãy nhớ… nhớ rằng: “Ta còn những người ngồi quanh đây, trán in vết nhăn. Ta còn những người thật (đáng) yêu biết bao thiết tha.”

Vì thế, chúng ta hãy nhớ… nhớ “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm” Chúng ta hãy nhớ… nhớ “tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu. (KINH HÒA BÌNH - Tác giả: Kim Long).

Đừng lãng phí thời gian vào những đêm dài say sưa chèn chén, vào những tháng ngày yến tiệc linh đình, vào những chuyện vô bổ.

Bởi… nếu lãng phí, khi đến “thời gian lìa thế”, hệ quả mà chúng ta sẽ lãnh nhận cũng chính là hệ quả “ông nhà giàu” trong dụ ngôn đã lãnh nhận. Đó là: “bị thiêu đốt khổ sở lắm”.

Chúng ta… chúng-ta-chỉ-có-một-thời-để-yêu.

Petrus. tran

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết


Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2025

Không làm tôi hai chủ…

 Không làm tôi hai chủ…

snTM 200925a


Trung tín là gì? Thưa, có nghĩa là: “Đức tính thành thật, giữ đúng lời hứa và trung thành với một điều gì đó, với ai đó, thể hiện qua sự tin cậy và cam kết bền bỉ, không bỏ cuộc. Từ ‘trung’ nghĩa là ‘ở giữa’ hoặc ‘trung tâm’, còn ‘tín’ nghĩa là ‘tin tưởng - giữ lời hứa’, kết hợp hai chữ này lại tạo nên ý nghĩa sâu sắc về sự chân thành và lòng thủy chung.”

Còn bất trung thì sao! Thưa, “là không thành thật, không hết lòng, phản bội lại lòng tin hoặc sự tín nhiệm của người khác dành cho mình.”

Định nghĩa là vậy đó. Và, không ai có thể phủ nhận trung tín là một nhân đức tốt, đáng trân trọng.

Là một nhân đức tốt, và còn được gọi là “hoa quả của Thần Khí”, thế nên, nhân đức này phải là hành trang cho những ai đã là Ki-tô hữu. Phải là hành trang, bởi như lời Kinh Thánh có chép, rằng: “Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mão triều thiên của sự sống.” (Kh 2, …10).

Đức Giê-su, khi còn tại thế, rất coi trọng đến lòng trung tín. Một ngày nọ, Ngài đã có lời dạy rằng: “Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn.” (Lc 16, 10).

Hôm ấy, Ngài đã kể một dụ ngôn nói về một kẻ bất lương, bất lương từ một việc rất nhỏ, và cuối cùng dẫn đến việc rất lớn. Dụ ngôn này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Luca. (Lc 16, 1-13).

**
Dụ ngôn được kể rằng: “Một nhà phú hộ kia có một người quản gia. Người ta tố cáo với ông là anh này phung phí của cải nhà ông”.

Phung-phí-của-cải, mà “của cải” đó không phải của mình, thì có phải là “bất lương” chăng! Thưa, đúng quá đi chứ!
Thế rồi, sau khi sự việc này, đến tai ông phú hộ. Chuyện kể tiếp rằng: “Ông mới gọi anh ta đến mà bảo: Tôi nghe người ta nói gì về anh đó? Công việc quản lý của anh, anh tính sổ đi, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa!”

Nghe-người-ta-nói-gì… là nói gì! Có, có phần chắc, người quản gia hiểu… hiểu rằng: “ta vất vả rồi!”

Đúng vậy! Bị ông chủ “sa thải”. Thế là, người quản gia ra về trong tâm trạng sầu não. Vừa đi, anh ta vừa nghĩ đến những vất vả sẽ xảy đến trong tương lai của mình… “Mình sẽ làm gì đây? Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi.”

Và rồi, đúng như người xưa nói: “cùi không sợ lở”, anh quản gia đã nghĩ ra được một diệu kế cũng không kém phần bất lương như việc đã “lỡ” phung-phí-của-cải-không-phải-của-mình, đó là: “cho gọi từng con nợ của chủ đến”.

Khi các con nợ đến, rất thản nhiên, anh ta “khuyến mãi” cho mỗi con nợ của chủ bằng cách “giảm nợ” tùy theo giá trị số nợ của họ.

Với con nợ thứ nhất, người quản gia hỏi: “Bác nợ chủ tôi bao nhiêu vậy? Người ấy đáp: Một trăm thùng dầu ô-liu.” Nghe thế, người quản gia bảo: “Bác cầm lấy biên lai của bác đây, ngồi xuống mau, viết năm chục thôi.”

Một con nợ khác, người này nợ “một ngàn giạ lúa”. Cũng như con nợ thứ nhất, người quản gia nói với con nợ này rằng: “Bác cầm lấy biên lai của bác đây, viết lại tám trăm thôi”.

Sự bất lương (trong việc lớn) này (có lẽ cũng đến tai ông chủ), chuyện kể tiếp rằng: “Và ông chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo.”

***
Câu chuyện… câu chuyện nghe có vẻ “hơi khó hiểu”, khó hiểu vì lời khen của ông phú hộ đối với tên quản gia, phải không, thưa quý vị!

Thật ra, ông phú hộ không khen sự bất trung của tên đầy tớ, đâu!

Lời khen của ông phú hộ, chỉ là “Khen tên đầy tớ biết chớp lấy thời cơ ngắn ngủi còn lại trước khi bị sa thải, để làm ơn, hầu kết thân với nhiều con nợ của chủ, bằng cách là xóa bớt nợ cho họ. Đó chính là sự ‘khôn lỏi’ của con cái đời này, so với con cái của Chúa.” Một nhà truyền giáo, qua bài viết, “chuyện kẻ bất trung, người trung tín”, đã có lời chia sẻ như thế.

Nhà truyền giáo này tiếp lời rằng: “Chúa Giê-su, thông qua dụ ngôn này, muốn con cái của Ngài, cũng cần biết tận dụng cơ hội ngắn ngủi của cuộc sống hôm nay, mà trung tín trong sứ vụ chia sẻ ‘của cải đời đời’ (ơn cứu độ của Thiên Chúa qua Con Một Người) cho mọi người, hầu kết nối được nhiều người vào Vương Quốc Nước Trời.” (nguồn: internet).

Do vậy, đừng ngạc nhiên khi Đức Giê-su tuyên bố: “Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi vĩnh cửu”.

Sẽ thật khôn ngoan nếu chúng ta không quá chú tâm vào những chữ “Tiền Của bất chính” và đòi hỏi một sự giải thích cặn kẽ. Đó chỉ là một cách nói, như nhiều cách nói (hơi khó hiểu) mà Chúa Giê-su đã nói. Các nhà chú giải Kinh Thánh gọi đó là lối nói “sê-mít”.

Đức Giê-su chẳng bao giờ truyền dạy các môn đệ (và bây giờ là chúng ta) dùng Tiền Của bất chính, chẳng hạn như, tiền buôn bán ma túy, làm việc từ thiện. Đức Giê-su chẳng bao giờ dạy chúng ta cướp ngân hàng, tặng quý cha xây sửa nhà thờ.

Lời Đức Giê-su nói (nêu trên), Cha Charles có lời giải thích, rằng: “Chúa Giê-su trông đợi chúng ta (hãy) cật lực đạt tới các giá trị thiêng liêng như một số người cố giành cho được lợi lộc về tiền bạc.”

Chúng ta cần được vào-nơi-vĩnh-cửu, đúng không, thưa quý vị!

Thế nên, lời khuyến cáo của Đức Giê-su: “Nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em?”, có nghĩa là chúng ta phải “cật lực” cảnh giác, cảnh giác để mình không sa vào “vết chàm khôn lỏi” của người quản gia bất lương, trong câu chuyện dụ ngôn.

Nơi vĩnh cửu không hoan nghênh những kẻ có “tâm hồn khôn lỏi”, nhưng sẽ làm “cho thỏa lòng (những) ai khát khao nên người công chính” (Mt 5, 6).

Lời khuyến cáo: “Nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em?”, có nghĩa là chúng ta phải “cật lực” cảnh giác, cảnh giác để chúng ta không trở thành “kẻ bất lương”, như người quản gia, trong câu chuyện dụ ngôn.

Nơi vĩnh cửu không chào đón những kẻ có tâm-hồn-bất-lương, nhưng sẽ “welcome” những ai “có tâm hồn trong sạch”.
Nhưng thôi, không đề cập đến chữ Tiền-Của-bất-chính nữa, mà hãy tập trung vào những chữ “nếu anh em không trung tín”.

****
Nếu chúng ta không trung tín! Đó… đó là điều chúng ta phải luôn tự hỏi lòng mình.

Vâng , hãy tự hỏi lòng mình, luôn tự hỏi lòng mình, rằng: Tôi có trung tín với lời hứa của mình! Tôi có trung tín với những gì được trao phó?

Trong đời sống hôn nhân, mới “Chiều hôm nao, tiếng hát bay cao. Quỳ bên nhau truớc Đấng Tối Cao. Hứa yêu nhau trao câu thề chung sống trọn đời.” Rồi… đến chiều hôm nay, chỉ vì “gặp lúc phải âu sầu” chỉ vì gặp những lúc đời-buồn-vui, chúng ta vẫn trung-tín-với-lời-hứa, chúng ta vẫn “Tay đan tay nhịp bước đi trên đời. Xin yêu thương hạnh phúc đến cho người…” Hay ta lại lớn tiếng hét lên rằng: “Thôi là hết anh đi đường anh. Tình duyên mình chỉ bấy nhiêu thôi”?!

Có một thực tế rất phũ phàng, trong số những cuộc hôn nhân tan vỡ, đa số các cặp vợ chồng đều đưa ra biết bao nhiêu lý do liên quan tới “tại và vì”. Không ai chịu nhận mình bất trung bất tín!!!

Vợ chồng xưa, sống trung thành, trung tín lắm. Chuyện bên Trung Hoa xưa kể rằng: “Vua Cảnh Công thấy Án Tử là người tài nên muốn gả con gái của mình cho Án Tử. Vua vời Án Tử vào và nói: ‘Vợ khanh già xấu rồi. Quả nhân muốn ngươi cưới con gái yêu của trẫm.’ Án Tử giật mình tâu: ‘Vợ hạ thần ngày xưa cũng xinh đẹp, đã sống với hạ thần bao năm, nay về già, mong nhờ cậy hạ thần. Nay bệ hạ bảo vậy, hạ thần cảm ơn. Nhưng hạ thần không hề dám bội bạc mà mất lòng chung thủy.”.

Lời bàn: “Đã không trung tín trong tình nghĩa vợ chồng, chẳng mong gì trung tín trong những việc khác.” (nguồn: internet).

Trở lại với đời sống tu trì. Là linh mục, là tu sĩ… ta có trung tín với thánh chức, với chức vụ, thánh chức giảng dạy, chức vụ săn sóc đoàn chiên, Chúa trao ban? Hay ta “đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại nhìn sau…”?!

Nói chung, trong cuộc sống thường nhật, trong Giáo Hội cũng như ngoài xã hội, nơi đâu chúng ta cũng phải thể hiện lòng trung tín.

Sống trung tín ngoài xã hội, chúng ta sẽ xây dựng được một cộng đồng: “láng giềng thân thiết, anh em hòa thuận, vợ chồng ý hợp tâm đầu”. Thực hiện được ba điều này, chúng ta biết rồi, “cả ba đều làm đẹp lòng Thiên Chúa” (Hc 25, 1).

Thế còn trung tín trong thánh chức, chức vụ, Chúa trao ban thì sao, nhỉ! Thưa, tuyệt vời lắm, thưa quý linh mục, quý tu sĩ. Trung tín với thánh chức, chức vụ Chúa trao ban, thánh Phao-lô nói: “Làm như vậy, anh em sẽ cứu được chính mình, lại còn cứu được những người nghe anh giảng dạy” (x.1Tim 4, …16).

Do vậy, đừng quên lời Đức Giê-su đã truyền dạy: “Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được.” (Lc 16,13).

Kinh Thánh cho biết: “Thiên Chúa là Đấng thành tín - Chúa Giê-su là Đấng trung tín và chân thật”. Chúa Thánh Thần cũng là Đấng trung tín, thánh Phao-lô đã xác tín như thế. Ngài tông đồ dân ngoại có lời dạy rằng: “Anh em chớ làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa, vì chính Người là dấu ấn ghi trên anh em, để chờ ngày cứu chuộc.” (Ep 4, 30).

Vâng, chúng ta đang chờ-ngày-cứu-chuộc. Và, trong lúc chờ đợi, chúng ta hãy sống trung tín, như Chúa chúng ta là Đấng trung tín.

Chúng ta hãy: Trung tín trong việc thờ phượng Chúa. Trung tín trong việc học, đọc và sống Lời Chúa. Trung tín trong sự cầu nguyện, ngõ hầu có thể giữ mối tương giao mật thiết với Chúa. Trung tín làm gương sáng để mọi người có thể nhận ra Chúa, qua đời sống của chúng ta. Trung tín trong việc Chúa giao, theo ơn phước mà Ngài đã ban, cho mỗi con cái của Ngài.

Để có thể trung tín trong những việc nêu trên, chỉ cần chúng ta: KHÔNG LÀM TÔI HAI CHỦ.

Petrus.tran 

Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2025

Hãy treo thánh giá – trong trái tim tôi...

 Chúa Nhật XXIV – TN – C

Hãy treo thánh giá – trong trái tim tôi

snTM 130925a


Cách đây khoảng mười năm, trong lúc ngồi lướt web, thì có một ông bạn hàng xóm sang chơi. Ông ta sang chơi, ngoài việc hỏi thăm sức khỏe, còn mang theo sự mong muốn được giúp đỡ đến từ một đôi vợ chồng công nhân trẻ.

Chuyện là, đôi vợ chồng này cần một người đưa đón con của họ đi học, mỗi ngày. Thấy tôi rảnh rỗi, ông bạn hàng xóm nói: “hay anh nhận lời đi!”. Suy tính tới lui, cuối cùng tôi nhận lời và nhờ ông bạn hàng xóm gửi một cái hẹn của tôi, cho đôi vợ chồng trẻ.

Rồi khi ngày hẹn đến, đôi vợ chồng này đến nhà tôi để trao đổi ngày giờ đưa đón. Khi hai người vừa bước chân vào nhà, cô vợ lớn tiếng nói với người chồng: “chú này có đạo, anh ơi!”

Tôi rất ngạc nhiên và tự hỏi, mình và đôi vợ chồng này chưa bao giờ gặp nhau, không hiểu vì sao cô ta lại biết mình có đạo! Và, tôi đã hỏi cô ta: “sao biết chú có đạo!” Cô ta nói: “con thấy chú treo hình Chúa.”

Đúng. Tôi có treo hình Chúa… Chính xác là một tấm hình chân dung Chúa Giê-su, và tất nhiên là không thể thiếu một cây thánh giá có Chúa Giê-su chịu đóng đinh trên đó.

Thánh Giá! Có gia đình Công Giáo nào lại không treo hình “Thánh Giá Đức Ki-tô”, trong nhà mình, nhỉ!

Vâng, là Thánh-Giá-Đức-Kitô, bởi vì “Đó là biểu tượng của tình yêu cứu độ, chính biểu tượng đó là chìa khóa vạn năng Thiên Chúa trao cho con người, để mở lại cánh cửa đã bị đóng kín sau khi nguyên tổ phạm tội. Từ đó, họ tìm lại được con đường về trời, về lại ngôi nhà của Cha mình.” – Cha Phêrô Trần Bảo Ninh, trong bài suy niệm Tin Mừng - Lễ Suy tôn Thánh Giá, đã có lời chia sẻ, như thế.

Lời chia sẻ của Cha Phê-rô, có thể nói rằng, nó gợi cho chúng ta nhớ lại cuộc đối thoại giữa ông Ni-cô-đê-mô và Đức Giê-su. Đó là một cuộc đối thoại về sự tái sinh, về sự sống muôn đời, về ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa. Cuộc đối thoại này, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an. (Ga 3, 13-17).

**
Theo Tin Mừng thánh Gio-an ghi lại, chúng ta được biết: “Trong nhóm Pha-ri-sêu, có một người tên là Ni-cô-đê-mô, một thủ lãnh Do Thái.”

Ông ta đến gặp Đức Giê-su và nói với Người: “Thưa Thầy, chúng tôi biết: Thầy là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến… Chẳng ai làm được những dấu lạ Thầy làm, nếu Thiên Chúa không ở cùng người ấy.”

Gọi Đức Giê-su là “một vị tôn sư”, và nhìn nhận những dấu lạ Ngài làm phải có Thiên Chúa ở cùng, ông Ni-cô-đi-mô đã nói lên sự tôn kính, tôn trọng và yêu quý của mình đối với Đức Giê-su.

Sự tôn kính, tôn trọng và yêu quý của ông Ni-cô-đê-mô đã được đền đáp bằng việc Đức Giê-su nói lên một sự thật, một sự thật mà có lẽ ông Ni-cô-đê-mô chưa bao giờ nghe đến, đó là Nước Thiên Chúa.

Vâng, khởi sự cho việc loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su đã lớn tiếng nói: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời dã đến gần.” Và, hôm nay, Ngài đã có lời cảnh báo với ông Ni-cô-đê-mô: “Thật, tôi bảo thật ông, không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên… Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí.”

Và, như để làm cho ông bớt căng thẳng bởi những thắc mắc của ông, rằng: “Một người già rồi làm sao có thể sinh ra được? Chẳng lẽ người đó có thể trở vào lòng mẹ lần thứ hai để sinh ra sao!”, Đức Giê-su nói: “Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí. Ông đừng ngạc nhiên vì tôi đã nói: các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên.”

Vâng, phải tái sinh bởi nước và Thần Khí. Có như thế thì mới được tham dự vào sự sống mới trong Nước Thiên Chúa. Con-đường-vào-Nước-Thiên-Chúa, một con đường cho tới hôm nay, Đức Giê-su nói: “Không ai đã lên… ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống.”

Cuối cùng, và cũng là điều quan trọng. Đức Giê-su kết luận: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người, thì được sống muôn đời”.

***
“Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy…” Đó… đó chính là lời tiên báo của Đức Giê-su về cái chết của mình.

Đỗ Vy Hạ, qua nhạc phẩm LỜI VỌNG TÌNH YÊU, đã mô tả cái chết của Đức Giê-su đầy bi ai: “Trên đồi cao trong tiếng ngân chuông chiều vọng tình yêu. Giê-su lặng lẽ, môi khô bờ hé, tim nát tan gai nhọn bạo tàn… Thân tàn vơi, Con Chúa Trời nghe hồn chợt đơn côi. Ôi nhân loại hỡi sao chưa hoài tới mà nỡ quên ân tình biển khơi.”

Vâng, rất bi ai phải không, thưa quý vị! Thế nhưng, cái chết bi ai đó, lại là chỉ-vì-tình-yêu. “Chỉ vì tình yêu Chúa chịu nhục thân chết cho trần gian. Vì Ngài chỉ đến sống cho tình yêu chết cho tình yêu, để cứu nhân loại lỗi tội, đưa về trời đẹp tươi.”

Thánh Phao-lô đã cảm nghiệm được điều này và ngài đã thổ lộ với cộng đoàn tín hữu Phi-líp-phê, lời thổ lộ rằng: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải giành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình mà vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập giá” (Pl 2, 6-8).

Qua Tin Mừng thánh Gio-an, chúng ta cũng được biết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Ga 3, 16-17).

****
Chúa Nhật hôm nay (14/09/2025) Giáo Hội long trọng cử hành lễ SUY TÔN THÁNH GIÁ. Có người nói “Vinh quang của Chúa là THÁNH GIÁ”. Thế nên, đã là một người Công Giáo, chúng ta “Hãy học cách nhìn thấy vinh quang nơi Thánh giá Chúa Ki-tô.”

Làm thế nào để nhìn thấy? Thưa, như một cuốn sách, để biết được nội dung, chúng ta phải mở ra đọc. Chúng ta hãy mở cuốn sách tựa đề là “Thập giá của Chúa Giêsu”, mà đọc. Chúng ta sẽ thấy… chúng ta sẽ nhìn thấy “tình yêu, lòng thương xót và chiến thắng của Người trước tội lỗi và sự chết”. Và, đó chính là “vinh quang nơi Thánh giá Chúa Ki-tô.”

Khi Đức Giê-su cầu nguyện: “Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”, chẳng phải là Ngài đã có một cử chỉ biểu lộ tình yêu, sao!

Khi Đức Giê-su nói với một trong hai tên gian phi cùng chịu đóng đinh như Ngài: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ ở với tôi trên Thiên Đàng” chẳng phải là Ngài đã thể hiện lòng thương xót của mình, sao!

Khi Đức Giê-su cầu nguyện trong vườn Ghết-sê-ma-ni “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng cho ý con thể hiện, mà là ý Cha” Hoặc “Anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần!”, chẳng phải là Ngài chiến thắng trước sự chết, sao!

Khi đã nhìn thấy “Vinh quang nơi Thánh giá Chúa”, việc tiếp theo là chúng ta hãy làm cho vinh quang của Người được lan tỏa khắp nơi.

Một cách cụ thể, đó là chúng ta hãy “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm…”

Đó còn là, hãy “tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.”

Như đã nói ở trên, không một gia đình Công Giáo nào lại không treo hình “Thánh Giá Đức Ki-tô”, trong nhà mình. Đó là điều tốt. Nhưng sẽ tốt hơn nếu chúng ta treo ngay trong con tim mình.

Vâng… Hãy treo thánh giá – trong trái tim tôi.

Petrus.tran

Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một.

  Chúa Nhật XXX – TN – A Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một Đọc các sách Tin Mừng, chúng ta được biết, sứ vụ rao giảng Tin Mừng của...