Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

Điều gì đã hứa - thì hãy thi hành…

 Chúa Nhật XXVI– TN – A

Điều gì đã hứa - thì hãy thi hành…

SnTM 260926b


Trong nhạc phẩm “Bài Không Tên Cuối Cùng” của nhạc sĩ Vũ Thành An, có một phần tiểu khúc được ông viết, như sau: “Biết bao lần em đã hứa. Hứa cho nhiều rồi lại quên.”

Hứa! Hứa là… gì! Thưa, theo tự điển tiếng Việt phổ thông định nghĩa, thì: “Hứa là nói với ai đó, với ý thức tự ràng buộc mình, sẽ làm điều gì đó theo yêu cầu mà người đó đang cần.”

Hứa… biết-bao-lần là sao! Thưa, là hứa hẹn quá nhiều lần. Quá-nhiều-lần “rồi lại quên” là sao! Thưa, là hứa suông, hứa hão, hứa hươu, hứa vượn, v.v…

Hứa suông, hứa hão, hứa hươu, hứa vượn là sao! Thưa, hứa suông “là hứa bằng lời nói cho xong chuyện, hoàn toàn không đi kèm hành động hay trách nhiệm thực hiện.” Hứa hão: “là hứa những điều hão huyền, xa vời, phi thực tế, biết rõ không làm được nhưng vẫn nói.” Hứa hươu hứa vượn: “là thành ngữ mượn hình ảnh loài hươu và vượn ở trong rừng (loài vật nhanh nhẹn, thoắt ẩn thoắt hiện, khó nắm bắt) để ví von những kẻ hay hứa hẹn đủ điều rồi trơ trẽn ‘xù’ nợ, bội hứa hoặc ‘chạy làng’ không để lại dấu vết.” (nguồn: Wikipedia).

Hứa theo cung cách nêu trên, bảo sao nhạc sĩ Vũ Thành An không thể không than thở: “Anh biết tin ai bây giờ!”

Vâng, không ai có thể tin những người hứa-cho-nhiều-rồi-lại-quên!

“Nói lời phải giữ lấy lời, đừng như con bướm đậu rồi lại bay.” Kinh thánh dạy: “Thà đừng khấn hứa, hơn là khấn hứa mà lại không trả.” (Gv 5, 4).

Trong những ngày ra đi loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su không có những lời giáo huấn cụ thể nào trực tiếp nhắm đến những người “hứa cho nhiều rồi lại quên”.

Thay vào đó, Ngài đã kể một dụ ngôn, một dụ ngôn “nhấn mạnh rất rõ về sự trung thực trong lời nói và việc giữ lời hứa”. Dụ ngôn này được ghi lại trong Tin Mừng Thánh Mát-thêu với tiêu đề: “Dụ ngôn hai người con” (x.Mt 21, 28-32).

**
Dụ ngôn được kể như sau: “Một người kia có hai con trai”. Một hôm, “ông ta đến nói với người thứ nhất: Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho” (x.Mt 21, 28).

Với người con này… Nó đáp: “Con không muốn đâu!”.

Con-không-muốn-đâu! Câu trả lời rất rõ ràng. Thế nhưng, sự thật thì ngược lại. Người con thứ nhất, không “hứa” nhưng sau đó, lại đi.

Tại sao anh ta lại đi? Thưa, khi anh ta “nghĩ lại” lời nói của mình với người cha, anh ta “hối hận, nên lại đi.”

Chuyện kể tiếp rằng: “Ông đến gặp đứa thứ hai và cũng bảo như vậy. Nó đáp: Thưa ngài. Con đây!”

Con đây! Vâng, đứa-thứ-hai diện đối diện với người cha của mình. Nghe rất rõ lời cha mình nói. Nhưng… “nhưng rồi lại không đi”.

Kể đến đây, Đức Giê-su đặt một câu hỏi, hỏi rằng: “Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” Câu hỏi này, Ngài trực tiếp hỏi các thượng tế và kỳ mục, là những kẻ “bực bội” trước việc Đức Giê-su giảng dạy nơi Đền Thờ, và họ đã đặt vấn đề rằng, Ngài “lấy quyền nào mà làm các điều ấy”.

Hôm ấy, quý ông thượng tế và kỳ mục trả lời rằng: “Người thứ nhất”.

***
“Người con thứ nhất”. Với câu trả lời như thế, cứ tưởng rằng Đức Giê-su sẽ nói một vài câu khen ngợi, khen ngợi về sự nhận định đúng của quý ông thượng tế và kỳ mục.

Trái lại, ngay lập tức, Đức Giê-su đã cất lên những lời cảnh báo, cảnh báo rằng: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông”.

Sao vậy! Sao lại thế được, nhỉ!

Thưa, là thế... đúng là thế... bởi vì, những người thu thuế và những cô gái điếm là những người “nói chín làm mười”. Họ là những người “lời nói đi đôi với việc làm.”

Tiêu biểu trong số họ, chính là “cán gộc” ngành thuế tên là Dakêu, một con người đã dám đem “phân nửa tài sản… cho người nghèo, và sẽ đền gấp bốn” cho những ai đã bị ông ta chiếm đoạt tài sản.

Da-kêu đã “phản tỉnh”. Ông ta “hối hận” như người con thứ nhất trong dụ ngôn đã hối hận. Nói cách khác, ông ta đã vâng nghe lời mời gọi “hãy đi làm vườn nho”, ông ta “hứa là làm”.

Với tông đồ Mát-thêu, như chúng ta được biết, đang là “cán bộ thu thuế”, một công việc béo bở đến thế, nhưng khi nghe Đức Giêsu gọi “hãy theo tôi”, ông nhận ra ngay đây chính là một lời mời gọi, lời mời gọi đi vào “đường công chính”, thế là, ông bỏ hết mọi sự và đi theo Ngài.

Người con thứ hai! Vâng, chính là những ngài biệt phái và kinh sư, những “quan lớn” thượng tế và kỳ mục.

Họ tự hào là những nhà lãnh đạo tôn giáo, họ chính là “dân riêng”, là đội quân ưu tú của Đức Chúa Trời, thừa sự nhiệt thành và sự tận hiến.

Họ “không như bao kẻ khác: trộm cắp, bất chính, ngoại tình hoặc như (những) tên thu thuế…” (Lc 18,11).

Thế nhưng! Thật đáng tiếc, khi Thiên Chúa phán, qua miệng lưỡi Gioan Tẩy giả, rằng: “Có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết… Ngài chính là Chiên Thiên Chúa… Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1, 26, 29).

Những ngài biệt phái và kinh sư, nghe và hiểu nhưng “vẫn không chịu hối hận mà tin” (Mt 21, …32).
 
Da-kêu và tông đồ Mát-thêu chính là sự phân định rõ ràng giữa quý ông thượng tế, kinh sư và những ông thu thuế cùng các cô gái điếm, rằng ai sẽ là “người vào Nước Thiên Chúa trước”.

Tưởng chúng ta cần biết, khi Đức Giêsu nói, “người vào Nước Thiên Chúa trước”, thì đừng nghĩ rằng sẽ có “người vào Nước Thiên Chúa sau”.

Đừng có mơ! Theo ngôn ngữ sêmit chữ “trước” không được hiểu theo nghĩa “trước – sau”. Nó được hiểu theo nghĩa “được – mất”.

Hiểu như thế, mới thấy sự nguy hiểm của việc “nói mà không làm”. Thế nên, một khi chúng ta “hứa” thì lời hứa đó phải đi đôi với việc làm.

Bởi đó là điều Thiên Chúa đã truyền dạy: “lời con phải trước sau như một” (Hc 5, …10).

****
Lời-con-phải-trước-sau-như-một. “Đã hứa với Chúa… thì hãy thi hành” (Gv 5, 3).

Vâng, là một Kitô hữu, có rất nhiều điều chúng ta đã hứa với Chúa.

Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chúng ta hứa “Từ bỏ ma quỷ. Từ bỏ những quyến rũ và tội lỗi của chúng. Từ bỏ các việc làm gian ác trong thế gian.” Chúng ta hứa nguyện “Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự”, đúng không?

Đây là một lời hứa… một lời hứa chúng ta phải xem trọng và phải thi hành mãi mãi, dù bất cứ điều gì xảy ra, suốt đời mình. Lời hứa với Chúa… chúng ta phải “giữ trọn”. (x.Tv 116, 14).

Khi lãnh nhận Bí tích hôn phối, chúng ta “Quỳ bên nhau trước Đấng Tối Cao. Hứa yêu nhau trao câu thề chung sống trọn đời”, đúng không?

Thế nhưng, liệu có những lúc “đời buồn vui”, có những khi gặp “sương mù và giá lạnh”… tôi hoặc em, có vì thế mà cất tiếng ca, ca rằng: “thôi là hết anh đi đường anh, tình duyên mình chỉ bấy nhiêu thôi”?

Tất nhiên, không có cuộc hôn nhân nào là hoàn hảo. Hôn nhân là sự kết hợp giữa hai người bất toàn.

Thánh Phao-lô chẳng nói rằng, người kết hôn đôi khi “sẽ tự chuốc lấy những nỗi gian truân khốn khổ”, đó sao! (1Cr 7, 28).

Thế gian không coi trọng hôn nhân. “Nhiều người trẻ ngày nay không còn đặt nặng sự thiêng liêng của hôn nhân mà xem đó chỉ là một tờ giấy thỏa thuận.”

Họ thường chia tay với người hôn phối, khi cuộc sống hôn nhân gặp căng thẳng. Đó không phải là cách của người Công Giáo. Một người bội ước lời thề hôn nhân chẳng khác gì người ấy nói-dối-Thiên-Chúa.

“Ta ghét kẻ rẫy vợ” - Thiên Chúa phán, như thế. (Ml 3, 16).

Khi lãnh nhận Bí tích Truyền Chức Thánh, như Samuel con bà Anna xưa, mọi-ngày-đời- ta “sẽ được nhượng cho Đức Chúa.” (1Sm 1, 28).

Thế nhưng, liệu có những lúc “đời buồn vui”, có những khi gặp “sương mù và giá lạnh”… ta có muốn rút lại lời thề hứa, hứa “tự ý không kết hôn vì Nước Trời”?

Đã hứa “tự ý không kết hôn vì Nước Trời”, hãy như Anna mẹ Samuel, không hề nghĩ đến việc thất hứa. Hãy làm đúng như lời hứa nguyện với Đức Chúa Trời.

Hãy nhớ! Đức Chúa Trời đã có lời thề quyết định về chức tư tế vĩnh cửu: “Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê.” (Tv 110, 4).

*****
Hôm nay, Đức Giê-su vẫn tiếp tục mời gọi chúng ta: “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho”.

Ngài vẫn tiếp tục mời gọi chúng ta: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.

Qua Giáo Hội, Ngài mời gọi chúng ta: “Thảo kính cha mẹ. Chớ giết người. Chớ làm sự dâm dục. Chớ lấy của người. Chớ làm chứng dối. Chớ muốn vợ chồng người. Chớ tham của người.”

Chúng ta sẵn lòng đáp lại lời mời gọi! Chúng ta sẵn lòng “hứa”…!

Câu trả lời là của mỗi chúng ta. Thế nhưng, hãy nhớ! Đã là một Kitô hữu… đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chúng ta không thể không hứa thực thi lời Chúa.

Chúng ta không thể không hứa, rằng: “Này con xin đến để thực thi ý Ngài”!

Đừng quên, Đức Giê-su đã nói: “Chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào Nước Trời.”

Muốn được vào Nước Trời ư! Vâng… “Điều gì đã hứa… thì hãy thi hành” (Gv 5, …3).

Petrus.tran

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

Đừng gieo cay đắng cho nhau…

 ới bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi là một quan tiền hay sao?”

Chúa Nhật XXIV– TN – A  
Đừng gieo cay đắng cho nhau…

SnTM 190926a

 

Ghen tị là gì? Thưa, ghen tị “là một cảm xúc xảy ra khi bạn cảm thấy hụt hẫng, ấm ức hoặc khao khát vì người khác sở hữu những đặc điểm tốt đẹp, thành tích hay vật chất mà bạn không có.” (nguồn: Wikipedia). 
William Shakespeare, một nhà viết kịch và cũng là nhà thơ, qua vở bi kịch Othello, có bảo rằng: ghen tị giống như “con quái vật mắt xanh.”

Con-quái-vật-mắt-xanh... Vâng, nó đã xuất hiện ngay từ tạo thiên lập địa. Câu chuyện Ca-in giết A-ben là ví dụ điển hình.

Chuyện kể rằng: Ca-in tức giận khi Đức Chúa Trời chấp nhận lễ vật của A-ben, nhưng lại không chấp nhận lễ vật của ông. Ca-in có thể khắc phục hoàn cảnh này, thế nhưng, chỉ vì sự ghen tị trong lòng ông quá lớn; lớn đến nỗi ông không thể kiềm chế, để rồi ông lừa A-ben ra đồng vắng và đã giết em mình (St 4, 4-8). 

Giáo lý Công Giáo xem thói ghen tị là một trong bảy mối tội đầu. Thứ sáu: Yêu người, chớ ghen ghét.

Đức Giê-su, trong những ngày ra đi loan báo Tin Mừng, Ngài cũng đã có những lời giáo huấn nói về thói ghen tị.

Qua “dụ ngôn thợ làm vườn nho”, Đức Giê-su đã đưa ra những lời giáo huấn mạnh mẽ lên án thói ghen tị. Dụ ngôn này được ghi trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (Mt 29, 1-16a). 
 
**  
Dụ ngôn được kể như sau: “Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình”. Và “sau khi đã thỏa thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc.” 

Khoảng-giờ-thứ-ba… “giờ thứ ba, ông lại trở ra, thấy có những người khác ở không, đang đứng ngoài chợ. Ông cũng bảo họ: Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng.”

Nghe vậy, như cá gặp nước: “Họ liền đi.” 

“Khoảng giờ thứ sáu, rồi giờ thứ chín…” chuyện kể tiếp rằng: “ông lại trở ra và cũng làm như vậy.” Cũng-làm-như-vậy nghĩa là sao! Thưa, dễ hiểu thôi, nghĩa là lại thuê thêm một toán thợ nữa.

Rồi, vào “khoảng giờ mười một” - một lần nữa - “ông trở ra và thấy còn có những người khác đứng đó, ông nói với họ: Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?” 

Trả lời ông, họ nói: “Vì không ai mướn chúng tôi”. Không-ai-mướn ư! Tôi mướn! Vâng, ông chủ vườn nho không chần chừ, bảo họ: “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho!” 

Chiều đến… ông chủ vườn nho bảo người quản lý: “Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất”.

Cứ sự thường, đây là lúc những người được thuê nở những nụ cười, sau một ngày lao động cực nhọc, phải  không, thưa quý vị! 

Vâng, có cười, nhưng không phải ai cũng cười. Chuyện gì vậy! Thưa, vì cách thức chi trả tiền công của gia chủ. 

Ông chủ chi trả thế nào mà có một số thợ không cười? Thưa, với “những người mới vào làm lúc giờ mười một… họ lãnh được mỗi người một quan tiền.” 

Rồi sao nữa! Thưa, “Khi đến lượt những người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ được nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền.”

Cũng-chỉ-một-quan-tiền. Thế nên, những người vào làm trước nhất, họ vừa lãnh vừa cằn-nhằn-gia-chủ: “mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt” (x.Mt 20, 12).

Lời ta thán của họ có làm cho ông chủ mủi lòng “tặng” thêm tiền công, chăng! Thưa, có tặng, nhưng là tặng thêm những lời khiển trách nặng nề: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi là một quan tiền hay sao?” 

Nhìn thẳng vào mặt họ, ông chủ nói-như-quát (có thể là vậy): “Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?” 

Kết thúc dụ ngôn “người thợ làm vườn nho”, Đức Giê-su phán rằng, “Những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót”.

*** 
“Những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót”. 

Đây là sự-đảo-ngược “bậc thang giá trị”. Nhưng… đừng ngạc nhiên, vì đó là điều Đức Giê-su muốn dạy dỗ “cho những ai cậy vào công trạng bản thân để coi thường người khác”.

Trong dụ ngôn, những-người-vào-làm-trước-nhất, “coi thường công sức” mấy-người-sau-chót. Họ kiêu căng, tự mãn “cậy vào công trạng bản thân (vì) đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày”, tủi nhục thay, một-quan-tiền vẫn là một-quan-tiền. 

Nói… như lời Gabriel Meurier nói: “Kiêu căng đi trước, tủi nhục và tai họa sẽ bén gót theo sau.”

****
Kiêu ngạo - Ghen tị: chính là cội rễ sinh ra các tội lỗi khác. Các tội lỗi khác, đó là: “nói xấu, vu khống, xảo quyệt v.v…” Các tội lỗi đó, không được hoan nghênh ở “Vườn Nho Nước Trời.” 

Thế nên, hãy tự hỏi mình rằng: “Tôi có thường ghen tị… tôi có thường ghen tức?”.

Câu trả lời là của mỗi chúng ta. Nhưng… hãy cẩn trọng lời dạy của thánh Phao-lô: “Bao lâu giữa anh em có sự ghen tương và cãi cọ, thì anh em chẳng phải là những con người sống theo tính xác thịt và theo thói người phàm sao?” (x.Cor 3, 3). 

Sống theo tính xác thịt và theo thói người phàm, rất… rất nguy hiểm. Nó làm cho chúng ta: “chia rẽ và đố kỵ - hướng về trần thế - xa rời Thiên Chúa”, chúng ta sẽ không được thừa hưởng Vườn-Nho-Nước-Trời. 

Thế nên, đừng bao giờ “ghen ăn tức ở”, khi thấy người khác hơn mình.

Muốn vậy, hãy nghe lời thánh Phao-lô dạy “vui với người đang vui” (x.Rm 12,15). Tại sao? Thưa, là bởi, vui với người thành công hơn ta, vui với người may mắn hơn ta, trong tâm hồn ta còn chỗ nào cho sự ghen tị ngự trị, đúng không!

*****
Là một tín hữu Công Giáo, chúng ta chính là những người được “vào làm việc trong vườn nho Giáo Hội”.

Dù ta là kẻ vào làm “khoảng giờ thứ ba” hay “khoảng giờ thứ sáu” hoặc “giờ thứ chín… thứ mười một”, hãy nhớ, chúng ta đều “thuộc về ông chủ Vườn Nho là Đức Ki-tô Giê-su”.

Đừng bao giờ trở thành nhóm thợ “cằn nhằn gia chủ”. Hãy mặc lấy tâm tình của thánh Phao-lô: “Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô…”

Sống là Đức Ki-tô… là nhân từ và bao dung, làm sao trong tôi bùng lên sự ghen tị, cho được! Sống là Đức Ki-tô… làm sao trong tôi lại có thể “cằn nhằn” Ngài, cho được! Sống là Đức Ki-tô… làm sao trong tôi lại không yêu Đức Ki-tô, cho được! 

Yêu Đức Ki-tô… làm sao trong tôi lại không “yêu (mến) người thân cận như chính mình”, cho được! 

Chắc chắn chúng ta phải yêu-mến-nhau. Vì, đó là lệnh truyền của Chúa Ki-tô: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12).

Khi chúng ta theo lệnh truyền của Chúa Ki-tô, yêu-thương-nhau, cớ gì chúng ta ghen tị… cớ gì chúng ta ghen tức nhau!

Vâng… “đã yêu mến nhau… đừng gieo cay đắng cho nhau.” (Anh Bằng).

Petrus.tran

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2026

Điều Chúa truyền: là bảy mươi lần bảy

 Chúa Nhật XXIV– TN – A

Điều Chúa truyền: là bảy mươi lần bảy

SnTM 120926a


Tha thứ là gì? Thưa, tha thứ là một đức tính giúp con người “giữ gìn sự hòa hợp, sự yên ổn và gắn kết tốt đẹp với mọi người xung quanh.” Tha thứ còn được xem “như là một nghĩa cử của tình yêu thương và lòng thương xót.” (nguồn: internet).

Victor Hugo, nhà văn và cựu thành viên Hạ viện Pháp, cho rằng: “Tha thứ là tôn giáo tuyệt vời nhất”. Mahatma Gandhi nói “Sẽ không thể sống được nếu thiếu sự tha thứ. Tha thứ cần thiết cho con người như khí trời”. Còn Martin Luther, ông ta nói: “Tha thứ là mệnh lệnh của Chúa”.

Giáo Hội Công Giáo, khi nói tới sự tha thứ, thì coi đó như là một nhân đức, một nhân đức không thể thiếu trong đời sống đức tin. Kinh Mười Bốn Mối – phần thương linh hồn bảy mối - có dạy: “Thứ năm, tha kẻ dể ta.”

Đức Giê-su, trong những ngày ra đi loan báo Tin Mừng, Ngài cũng đã có những lời giáo huấn nói về sự tha thứ. Những lời giáo huấn về sự tha thứ mà Đức Giêsu truyền dạy, luôn mang chiều hướng tích cực, đầy yêu thương và bao dung.

Luật người xưa dạy rằng: “mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng” (Xh 21,24). Với Đức Giê-su – rất yêu thương và bao dung, Ngài có lời dạy: “Đừng chống cự kẻ ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ má bên trái ra nữa”.

Đức Giê-su không hoan nghênh bất cứ hình thức báo thù nào. Ngài dạy dỗ các môn đệ mình: “Nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em ở trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. (Mt 6, 14).
 
Lỗi lầm là một thực tế trong cuộc sống. Giữa cuộc sống đầy những thử thách, những chướng ngại, con người không thể không mắc phải lỗi lầm.

“Phải tha-lỗi-cho-người-ta. Phải biết tha thứ cho nhau.” Phải biết ngàn-lần-tha-thứ-cho-nhau. Đó là điều Đức Giê-su đã truyền dạy cho các môn đệ. Những lời truyền dạy này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mát-thêu. (Mt 18, 21-35).

**
Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại: Một ngày nọ, nhân cơ hội Đức Giê-su và các môn đệ trao đổi với nhau về những chuyện liên quan đến cách giao tiếp và hành xử với những người xung quanh sao cho chuẩn mực, hợp tình và hợp lý, “ông Phê-rô đến gần Ngài và hỏi rằng: Thưa Thầy, nếu anh em con xúc phạm đến con, thì con phải tha thứ mấy lần? Có phải bảy lần không?”

Bảy lần! Theo Bạn “bảy lần”, nhiều hay ít? Nhiều chứ, phải không thưa quý bạn! Này nhé, nếu lời đề nghị của ông Phê-rô, đem so sánh với nhân sinh quan của người Việt Nam, thì bảy lần của ông Phê-rô, có thể nói là tuyệt vời. Người Việt Nam ta, giỏi lắm cũng chỉ “quá tam ba bận”, mà thôi!

Còn luật Do Thái ư! Bốn lần là quá sức chịu đựng rồi. Một Ráp-bi Do Thái dạy: “Nếu có ai đó xúc phạm đến anh lần thứ nhất, hãy tha cho người ấy. Nếu người ấy xúc phạm đến anh lần thứ hai, cũng hãy tha cho người ấy. Nếu người ấy ngoan cố xúc phạm đến anh lần thứ ba, thì vẫn phải tha cho người ấy. Trường hợp người ấy xúc phạm lần thứ tư, thì đừng tha nữa!” (nguồn: internet).

Thế nên, thật khó để mà phủ nhận lời “gợi ý” của ông Phê-rô là một lời gợi ý hoàn hảo.

Nhưng, với Đức Giê-su - Ngài cho là chưa hoàn hảo. Hôm ấy, trả lời Phê-rô, Đức Giê-su nói: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy.” (Mt 18, 22).

***
Bảy-mươi-lần-bảy nghĩa là sao? Thưa, đây không phải là con số toán học.

“Đức Giê-su không đưa ra một giới hạn cụ thể hay một con số đếm (490 lần) để khi vượt qua thì được phép ngừng tha thứ.

Trong Kinh Thánh, số 7 tượng trưng cho sự trọn vẹn. Việc nhân lên thành ‘bảy mươi lần bảy’ diễn tả mức độ trọn vẹn tối đa, nghĩa là lòng bao dung không bao giờ cạn.

Câu trả lời của Chúa Giê-su với Phê-rô nhấn mạnh rằng, người tha thứ thật lòng không lập sổ hay tính điểm lỗi lầm của người khác, mà hoàn toàn buông bỏ để hòa giải.” (nguồn: internet).

Bảy-mươi-lần-bảy là tha thứ mãi mãi. “Dù nó xúc phạm đến anh một ngày đến bảy lần, và bảy lần trở lại nói với anh: ‘Tôi hối hận’ thì anh cũng phải tha thứ cho nó.” (x.Lc 17, 3-4).

****
Phải tha thứ cho nó mãi mãi… cho tới chết.

Vâng, nói rất dễ, nhưng làm lại là một nan đề.

Vậy, làm sao để có thể thực thi mệnh lệnh này? Thưa, Đức Giê-su chính là tấm gương để chúng ta học hỏi và noi theo.

Trên Thập Tự Giá, Đức Giê-su đã biểu lộ một tấm lòng đầy bao dung trước những kẻ đóng đinh Ngài, với lời cầu nguyện, nguyện rằng: “Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”.

Đó… đó chính là lời tóm gọn cho tất cả mọi lời giáo huấn của Đức Giêsu về sự tha thứ.

Vương Quốc của Thiên Chúa không thể dung nạp những kẻ được Đức Giê-su “chạnh lòng thương và tha thứ” nhưng lại hành xử “độc ác” không thương xót và tha thứ, đồng bạn.

Không chạnh-lòng-thương-và-tha-thứ, như chính Đức Giê-su “chạnh lòng thương và tha thứ”, chúng ta sẽ bị dán nhãn là “tên mắc nợ không biết thương xót”.

Tên-mắc-nợ-không-biết-thương-xót là tựa đề một dụ ngôn, một dụ ngôn, như một lời cảnh cáo cho những ai không thực thi lệnh truyền của Đức Giê-su: phải tha thứ cho nhau “đến bảy mươi lần bảy.”

Dụ ngôn được kể rằng: “Một ông vua kia muốn đòi các đầy tớ của mình thanh toán sổ sách.” Có một người “mắc nợ vua mười ngàn yến vàng”. Và, thảm hại thay “y không có gì để trả.” Để xóa nợ “tôn chủ ra lệnh bán y cùng tất cả vợ con, tài sản.”

Nghe thế, tên đầy tớ hoảng hốt “sấp mình xuống… xin (tôn chủ) rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết”.

Tôn chủ đáp lại lời cầu xin của tên đầy tớ thế nào? Thưa, ông ta: “chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ.”

Tên đầy tớ được “tha luôn món nợ.” Nhưng tệ thật! Chuyện kể tiếp rằng: “vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một người đồng bạn, mắc nợ y một trăm quan tiền.”

Vâng, chỉ có một-trăm-quan-tiền, ấy thế mà tên đầy tớ “liền túm lấy, bóp cổ mà bảo: trả nợ cho tao!”

Thật đáng thương cho “người đồng bạn” này. Vì không có tiền trả nợ, nên anh ta bị tên đầy tớ “tống vào ngục cho đến khi trả xong nợ.”

Chuyện đến tai tôn chủ. Tôn chủ cho đòi y tới. Một cơn mưa luận tội trút lên tên đầy tớ. Mười-ngàn-yến-vàng so với một-trăm-quan-tiền, là một khoảng cách lớn: một-trăm-triệu-quan-tiền. So với tiền lương thời đó, làm cả đời cũng không trả nổi.

Không trả nổi! Vậy mà “ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi… thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao?”

Thật không oan uổng, khi tôn chủ dán cho tên đầy tớ một cái nhãn là “đầy tớ độc ác”.

Sự độc ác của tên đầy tớ đã làm cho tôn chủ “nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông.”

Kết thúc dụ ngôn, Đức Giê-su có lời khuyến cáo: “Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.” (x.Mt 18, 35).

Qua “dụ ngôn tên mắc nợ không biết thương xót”, có thể kết luận rằng, Đức Giêsu muốn gửi một thông điệp đến cho mọi người, rằng: “phải tha thứ như Chúa đã tha thứ”.

*****
Phải-tha-thứ.

Có tình yêu thương sẽ có sự tha thứ.

Ca dao Việt Nam có câu “yêu nhau trăm sự chẳng nề, một trăm chỗ lệch cũng kê cho vừa”.

Thánh Phaolô cũng đã nói: “Đức ái thì nhẫn nhục... không nóng giận, không nuôi hận thù... Đức ái tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả (1Cor 13, 4-7).

Corrie Ten Boom đã thực hiện được điều này.

Chuyện được kể rằng: Vào thời đệ nhị thế chiến. Corrie Ten Boom và em gái của bà là Betsie đã bị lính Đức bắt vì tội che dấu những người Do Thái. Hai người đã bị đưa đến trại tập trung của Đức quốc xã. Với sự hành hạ dã man, Betsie em bà đã chết thật đau đớn và tàn nhẫn…

Hết chiến tranh, Corrie sống sót trở về. Năm 1947, bà chia sẻ đức tin của mình trong một nhà thờ ở Munich. Bà nói về ơn tha tội mà Thiên Chúa đã ban cho bà. Bà nói về việc mình tha thứ cho người khác.

Ngay sau đó, một trong số những người đã nghe bà chia sẻ, tìm đến gặp bà. Bà Corrie thảng thốt nhận ra người đó chính là một trong những tên lính Đức đã hành hạ bà và người em gái Betsie.

Anh ta chạy lại thưa với bà: Tôi đã trở thành Kitô hữu, đã nhận biết tội lỗi của mình. Anh ta liền quì xuống dang rộng hai tay xin bà tha thứ.

Lúc đó, tâm hồn bà Corrie đã phải chiến đấu mãnh liệt với những cảm xúc giữa lòng hận thù và sự tha thứ, giữa những căm phẫn trong lòng và những lời dạy của Đức Giêsu: “Còn Thầy, Thầy bảo anh em: Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.” (Mt 5, 44).

Có lẽ suốt cuộc đời, chưa bao giờ bà phải đối diện với một tình huống khó xử đến thế! Nhưng Corrie nhớ lại lời Đức Giêsu: “Nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình…” (Mt 18,…35).

Bà biết mình phải tha thứ. Bà lặng lẽ cầu nguyện: Lạy Chúa! Xin giúp con. Không có tình yêu Chúa, con không thể thực hiện sự tha thứ này.

Chuyện được kể tiếp rằng: Rồi bà dơ tay đỡ kẻ thù đứng dậy.” (nguồn: internet).

Sự tha thứ chính là động lực làm cho quên đi hận thù.

Một khi quên đi hận thù… Chắc… có phần chắc, chẳng ai còn cần thiết đến gặp kẻ thù để đòi cho được “mắt đền mắt, răng đền răng”. Một khi đã quên đi hận thù… Vâng, sẽ được ích gì khi đòi kẻ thù “mạng đền mạng”. Hơn nữa, “giết người đi thì ta ở với ai”!?

Thánh Phanxicô thành Assisi nói: “Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ”. Không-tha-thứ, cố Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn-Văn-Thuận nói: “Tôi không đáng được gọi là Kitô hữu.”

Đã là Kitô hữu, phải hết lòng tha thứ cho nhau. Thánh Phao-lô nhắc nhở: “Mỗi người trong chúng ta sẽ phải trả lời về chính mình trước mặt Thiên Chúa.” (Rm 14, 12).

Vâng, chúng ta sẽ phải trả lời trước mặt Thiên Chúa rằng, tôi có thực hiện điều Đức Giêsu truyền dạy!

Hãy nhớ, điều Chúa truyền: là bảy mươi lần bảy.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2026

Món nợ tương thân tương ái

 Chúa Nhật XXIII– TN – A

Món nợ tương thân tương ái

SnTM 050926a


Trong cuộc sống của một đời người, không ai sinh ra đều hoàn hảo trong mọi hoàn cảnh. Vấp ngã và sai lầm là một phần thực tế của đời người.

Là một phần thực tế của-đời-người, thế nhưng, không mấy người đủ can đảm để thừa nhận sự vấp ngã và sai lầm của chính mình. Không đủ can đảm để thừa nhận… bởi sợ hãi và xấu hổ.

Nhiều nhà hiền triết, nhiều bậc vĩ nhân đã đưa ra những lời khuyên, để con người không còn sợ hãi hay xấu hổ trước những sai phạm, trước những khiếm khuyết mà mình đã vấp phạm, hầu có thể vươn tới một cuộc sống hoàn thiện hơn.

Những lời khuyên của họ, tựu trung khuyên con người phải “biết nhận lỗi”.

Vâng, biết-nhận-lỗi, đó là điều không dễ dàng. Có người đưa ra giải pháp rằng, sự góp ý chân thành chính là “chìa khóa” để mỗi cá nhân biết nhận ra được lỗi của mình.

Đúng vậy. Đức Giê-su, trong những ngày còn tại thế, khi nói về sự-góp-ý-chân-thành, Ngài đã đề ra những “nguyên tắc”, có thể gọi đó là những “nguyên tắc vàng”, trong việc đối nhân xử thế.

Những nguyên-tắc-vàng này, được ghi lại trong Tin Mừng thánh Mát-thêu, với tiêu đề: “sửa lỗi anh em” (Mt 18, 15-20).

**
Theo Tin Mừng thánh Mát-thêu ghi lại: một ngày nọ, Đức Giê-su nói với các môn đệ, rằng: “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi.” (x.Mt 18, 15).

Tại sao lại một-mình-anh-với-nó! Thưa, đó là “cách hành xử khôn ngoan.”

Thứ nhất, việc trao đổi chỉ-mình-anh-với-nó “kín đáo”, giúp người trót-phạm-tội, không tổn thương danh dự, không xấu hổ trước đám đông.

Thứ hai, chỉ-mình-anh-với-nó, giúp người trót-phạm-tội cởi mở, dễ dàng nhận ra khuyết điểm của mình.

Khi người trót-phạm-tội nhận ra khuyết điểm của mình, không khó để chúng ta “lấy lời lành mà khuyên người”.

Đây là việc làm trong tinh thần bác ái mà ai cũng có thể thực hiện được.

Lm Giuse Hoàng tán đồng, nên có lời khuyên: “Lấy lời lành mà khuyên người, không chỉ là một lời dạy luân lý, nhưng là một cách thế yêu thương, chạm đến linh hồn… Khi ta nói bằng lời lành, ta không chỉ nói với tai người khác, mà nói với trái tim họ.”

Lịch sử thời Cựu Ước minh chứng lời khuyên của Lm Giuse Hoàng là đúng.

Chuyện kể rằng: vào một ngày nọ “Vua Đa-vít từ trên giường trỗi dậy và đi bách bộ trên sân thượng đền vua. Từ sân thượng, vua thấy một người đàn bà đang tắm. Nàng nhan sắc tuyệt vời” (x. 2Sm 11, 2).

Được mệnh danh là “người công chính”, nhưng chỉ một cái nhìn, ông ta trở thành con người “bất chính”.

Đây, chúng ta cùng nghe tác giả sách Samuel tường thuật: “Vua Đa-vít sai người đi điều tra về người đàn bà, và người ta nói: đó chính là bà Bát Se-va, con gái ông Ê-li-am, vợ ông U-ri-gia người Khết”.

Biết, người đàn bà đã có chồng, vua Đa-vít vẫn không buông tha. “Vua Đa-vít sai lính đến đón nàng. Nàng đến với vua và vua nằm với nàng”. Và kết quả là: “Nàng thụ thai”.

Kể từ khi để cho “hồn lỡ sa vào đôi mắt Bát Se-va”, vua Đa-vít ngày càng “sa lầy” vào vòng vây của tội lụy. Đỉnh điểm của hành vi phạm tội, đó là, nhà vua đã gián tiếp gây ra cái chết của ông U-ri-gia – chồng nàng Bát Se-va.

Mọi hành vi của Đa-vít không qua khỏi đôi mắt của ngôn sứ Na-than. Ngôn sứ Na-than đã “một mình” đến “sửa lỗi” vua Đa-vít.

Ngôn sứ Na-than đã có một “cuộc nói chuyện riêng tư, không hạ nhục người có lỗi nhưng là giúp người ấy nhận ra lỗi lầm của mình”. Ngôn sứ Na-than đã “nói bằng lời lành, không chỉ nói với tai Đa-vít, mà nói với trái tim Đa-vít”, và ông Na-than đã thành công trong việc “chinh phục được người anh em”.

Hôm đó, vua Đa-vít, sau khi nghe Na-than kể một câu chuyện ví von đầy bi ai, ông ta đã thốt lên rằng: “Tôi đã đắc tội với ĐỨC CHÚA”. (x. 2Sm 12, 1-13).

***
Chỉ-mình-anh-với-nó, “nói với trái tim nó”, nó vẫn không chịu nghe, thì sao! Nếu nó không chịu nghe? Thưa, Đức Giê-su dạy: “Nếu nó không chịu nghe, thì đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba nhân chứng” (x Mt 18, 16).

Vâng, “Đây không phải là gây áp lực”, mời thêm một hoặc hai người nữa đi cùng, bảo đảm cho tính khách quan và cộng đoàn. Luật Môsê dạy: “Một nhân chứng duy nhất không thể đứng lên buộc tội một người về bất cứ tội lỗi nào, phải căn cứ vào lời của hai hay ba nhân chứng, sự việc mới được cứu xét” (Đnl 19,15).

Mời thêm một hoặc hai người nữa cùng đến “sửa lỗi”, mà người phạm lỗi vẫn không nghe, thì sao! Đức Giê-su dạy rằng: “Hãy đi thưa Hội Thánh”.

Hãy-đi-thưa-Hội-Thánh. Vâng, ở một vài thời điểm, một ai đó có thể từng bước, từng bước “trót phạm tội”, phạm đến giới luật “một vợ một chồng”, những tội vi phạm đến giới luật “độc thân” trong đời tu, chống đối Giám mục v.v… với những tội này Hội Thánh chính là nơi có thẩm quyền sửa trị.

Thưa ra Hội Thánh, Lm Nguyễn Hữu An nói: “không phải để bị xét xử nhưng để tỏ lòng sám hối và sẽ được ân xá”.
“Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe” thì sao? Thưa, Đức Giê-su nói: “thì hãy kể nó như một người ngoại” (x Mt 18, 17).

Thật ra, theo dòng lịch sử của Hội Thánh, với trường hợp này, nếu có thực thi, thì cũng chỉ là “giọt nước tràn ly”, là một sự bất khả kháng, mà thôi…

****
Tông đồ Phao-lô nói: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái.” (Rm 13, 8).

Vâng, món nợ tương thân tương ái là món nợ ân tình. Một thứ ân tình giữa người với người. Một thứ tình yêu thương “sẵn sàng đồng cảm, thấu hiểu và giúp đỡ người khác khi người ta vấp ngã và sai lầm.”

Vì thế, điều chúng ta phải làm, là phải có trách nhiệm đối với nhau. Trách nhiệm đó chính là “sửa lỗi cho nhau”.

Nếu chúng ta không sửa lỗi cho nhau, không “răn bảo kẻ có tội” để kẻ vấp ngã và sai lầm bỏ đường lối mình, chúng ta chưa chu-toàn-Lề-Luật - Luật canh-gác-cho-nhau.

Xưa, ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã được ĐỨC CHÚA truyền đặt “làm người canh gác cho nhà It-ra-en”.

Nay, cũng vậy đối với chúng ta. Chúng ta cũng được Thiên Chúa truyền đặt làm “người canh gác cho những người anh em của chúng ta”.

Những người anh em của chúng ta không ở đâu xa, mà là ở ngay trong mái ấm gia đình của chúng ta. Họ là vợ-chồng-con-cháu chúng ta.

Xưa, khi ĐỨC CHÚA đặt ngôn sứ Ê-dê-ki-en làm người canh gác, Người đã phán truyền với vị ngôn sứ này, rằng: “Nếu Ta phán với kẻ gian ác rằng: ‘Hỡi tên gian ác, chắc chắn ngươi phải chết, mà ngươi không chịu nói để cảnh cáo nó từ bỏ con đường xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó. Ngược lại, nếu ngươi đã báo cho kẻ gian ác phải từ bỏ con đường của nó mà trở lại, nhưng nó không trở lại, thì nó sẽ phải chết vì tội của nó; còn ngươi, ngươi sẽ cứu được mạng sống mình” (x.Ex 33, 8-9).

Nay, được Thiên Chúa truyền đặt làm “người canh gác”, chúng ta cũng phải là người nói lên những lời-cảnh-cáo cho những người anh em của chúng ta.

Chúng ta phải lớn tiếng cảnh cáo cho những người anh em của chúng ta, rằng: Phá thai là phạm điều răn thứ năm: “chớ giết người”. Nghiện-sex có nguy cơ phạm điều răn thứ bảy: “chớ phạm tội tà dâm.” Hôn nhân đồng tính vi phạm luật hôn nhân Công Giáo.

Phải lớn tiếng cảnh cáo cho những người anh em của chúng ta, rằng: “dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén… không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa.” (Gl 5, 18-21).

Sửa lỗi cho nhau… lên tiếng cảnh cáo cho nhau, không phải là chuyện dễ dàng.

Và đó là lý do Lm. Charles có lời nhắn nhủ: “Giống như ngôn sứ Ê-dê-ki-en, chúng ta được đặt làm người sửa lỗi và canh gác cho nhau. Món nợ tương thân tương ái mà ta chưa trả hết, bao hàm nghĩa vụ phải cánh báo nhau về các hiểm họa thiêng liêng trong cuộc sống.

Các lý do này khác không bãi miễn trách nhiệm của chúng ta. Ta cũng không thể trốn tránh bằng cách cho rằng người trong cuộc dẫu sao cũng chẳng thèm nghe, hoặc sẽ bực mình và tức giận, hay đơn giản vì mình không thạo lắm với công việc này.”

Vâng, không-bãi-miễn-trách-nhiệm và cũng-không-thể-trốn-tránh. Vì, đó là “món nợ tương thân tương ái.”

Petrus.tran

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2026

Điều Chúa truyền: phải từ bỏ chính mình

 Chúa Nhật XXII– TN – A

Điều Chúa truyền: phải từ bỏ chính mình

SnTM 290826a


Tháng tám… Vâng, tháng tám - theo lịch phụng vụ - nhiều vị thánh được Giáo Hội cử hành lễ Kính - Nhớ.

Lễ Kính thì có thánh Barthôlômêô. Thánh Barthôlômêô là một trong số Nhóm Mười Hai môn đệ của Đức Giê-su. Phần lớn các nhà khoa học ngày nay coi thánh Batôlômêô là nhân vật Nathanaen trong sách Tin Mừng theo thánh Gioan.

Tiếp đến là thánh Laurensô. Thánh Laurensô (sinh khoảng năm 225 – tử đạo ngày 10 tháng 8 năm 258) là một phó tế nổi tiếng của Giáo hội Công giáo Rôma. Ngài là bổn mạng của những người nghèo, đầu bếp, người làm nghề nướng bánh, thủ thư, và được kính nhớ vào ngày 10 tháng 8 hằng năm.

Còn lễ Nhớ? Thưa, khá nhiều. Người được “nhớ” đầu tiên là thánh Alfonso Maria Liguori. Người thứ hai là thánh Gio-an Maria Vianney. Tiếp đến là: thánh Đa-minh, thánh Maximilianô Maria Kolbê, thánh Bernado, thánh Piô X, cuối cùng là thánh Mônica và thánh Augustinô.

Những vị thánh được “nhớ” nêu trên, tất cả đều là nam giới và đều có một vị trí nhất định trong Giáo Hội, như: người sáng lập dòng, viện phụ, tiến sĩ Hội thánh, Giáo hoàng, Giám mục, Linh mục, phó tế v.v…

Thánh Mônica, độc-nhất-vô-nhị là nữ giới và chỉ được biết đến là Monica thành Hippo.

Vâng, Monica thành Hippo được gọi là thánh. Được gọi là thánh không do địa vị trong Giáo Hội, nhưng do “cách sống trong nhẫn nhục”.

Chuyện được kể rằng: Chồng Monica là Patricius. Patricius “tính khí hung bạo và không chung thủy”, nhưng nhờ sống-nhẫn-nhục, bà thuyết phục Patricius đến với đức tin Ki-tô giáo và làm giảm nhẹ tính hung bạo của ông.

Monica nói với những phụ nữ không may mắn trong hôn nhân: “Nếu có thể cầm giữ miệng lưỡi mình, không chỉ bạn có thể tránh bị bạo hành, mà có thể, một ngày nào đó, hoán cải chồng bạn trở nên một người tốt.”

“Monica sinh được ba người con gồm hai con trai và một con gái. Người con trưởng là Augustin. Navigius là người con trai thứ hai. Perpetua là người con gái út. Bà hạnh phúc vì những thành công của Augustin trong cương vị học giả và giáo sư, nhưng cuộc sống phóng đãng của ông mang đến cho người mẹ không ít tủi nhục.”

“Monica gởi Augustin đến gặp một vị giám mục, mong đợi con trai chịu thuyết phục về những sai lầm của mình. Song vị Giám mục đã thất bại và chỉ biết khuyên Monica tiếp tục cầu nguyện cho con trai của bà. Vị Giám mục nói: ‘Không thể nào một người con được bao bọc bởi quá nhiều nước mắt của người mẹ lại có thể bị hư mất’. Từ đó, Monica kiên tâm cầu nguyện cho con trai. Ở tuổi 28, Augustine nhận lãnh ân điển, theo lời tự thuật trong tác phẩm Xưng tội (Confessions), và đến với đức tin Ki-tô giáo.” (nguồn: Wikipedia).

Sống-trong-nhẫn-nhục… cầm-giữ-miệng-lưỡi-mình… kiên tâm cầu nguyện… nói không sợ sai, thánh Monica là một người mẹ kiên cường và giàu đức tin.

Chúng ta có thể nói, thánh Monica là biểu tượng tiêu biểu của một người “dám-từ-bỏ-chính-mình”.

Dám-từ-bỏ-chính-mình… Vâng, đó chính là thông điệp Đức Giê-su gửi đến cho những ai muốn đi theo Ngài. Chi tiết thông điệp, được thuật lại trong Tin Mừng Thánh Mát-thêu. (Mt 16, 21-27).

**
Tin Mừng Thánh Mát-thêu thuật lại như sau: Một ngày nọ, “Đức Giê-su bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại”.

Đây là một “tin mừng”! Vâng, đối với chúng ta, đúng là Tin Mừng. Mừng… “Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, (Đức Giê-su) đã từ trời xuống thế… chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng ta, thời quan Phongxiô Philatô…”

Nhưng, đối với các môn đệ, đó là “tin xấu”. Là-tin-xấu, thế nên khi Đức Giê-su vừa dứt lời, ông Phê-rô đã phản ứng ngay lập tức.

Chuyện kể rằng: “Ông Phê-rô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy.”

Đừng-để-Thầy-gặp-phải-chuyện-ấy! Một “ý tốt” ư! Thưa, với Đức Giê-su đó là ý của-loài-người. Hôm ấy, Đức Giê-su bảo ông Phê-rô: “Sa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người”.

***
Đừng vội nghĩ Đức Giê-su nặng lời với Phê-rô! Gọi Phêrô là “Satan”, nhưng Đức Giê-su không bảo Phê-rô “xéo đi”, như có lần Ngài đã nói với “tên cám dỗ” trong hoang địa.

Nhớ, một lần nọ, Đức Giê-su “vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ”. Trong hoang địa: “Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và sau đó Người thấy đói.”

Đây là cơ hội ngàn năm một thuở, và “tên cám dỗ đến gần Người”. Ba lần đưa ra những lời cám dỗ đầy mưu mô, xảo quyệt, nhưng Đức Giê-su không sập bẫy. Cuối cùng, Ngài lớn tiếng nói: “Satan kia, xéo đi”.

Còn hôm nay, gọi Phê-rô là Satan đấy! Thế nhưng Đức Giê-su không đuổi ông ta. Trái lại, Ngài chỉ nói: “Lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy...”

Từ ngữ Satan mà Đức Giê-su nói với ông Phê-rô được hiểu như là “người cản trở”. Có một ý nghĩa khác có vẻ nặng lời hơn “người chống đối”.

Vâng, Đức Giêsu muốn nói với Phêrô rằng, đừng “cản trở - chống đối” phương cách cứu độ của Người. Chương trình cứu độ của Thiên Chúa là thế đấy!

Vào một đêm nọ, tại Giê-ru-sa-lem, Đức Giêsu cũng đã nói rõ phương cách “cứu nhân độ thế” của Ngài cho ông Nicôđêmô nghe: “như ông Môse đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3,14-15).

“Con Người” cũng sẽ phải được giương cao… giương-cao-trên-thập-giá.

“Con Người” phải qua đau khổ để vào vinh quang. Đó... đó mới chính là “Tư Tưởng Của Thiên Chúa”.

****
Phải-qua-đau-khổ-để-vào-vinh-quang, cũng được xem như thông điệp Đức Giê-su gửi đến cho những ai muốn đi theo Ngài: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.”

Nói theo ngôn ngữ con người, đây là điều khoản thứ nhất của “bản hợp đồng” giữa Đức Giê-su và những ai muốn đi theo Ngài.

Phân tích bản hợp đồng, có lẽ không ít người trong chúng ta sẽ tự hỏi: thế nào là “từ -bỏ-chính-mình! Thưa, từ bỏ chính mình, đó chính là “từ bỏ cái tôi của tôi – từ bỏ cái tôi trong tôi”. Tông đồ Phao-lô, với kinh nghiệm bản thân, ngài gọi đó là: “cách thức xứng hợp”.

Vâng, không có sự lệch lạc hay mâu thuẫn khi chúng ta từ-bỏ-cái-tôi-trong-tôi “bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì là hoàn hảo” (x.Rm 12, 2).

Những thói hư tật xấu “ham tiền bạc, khoác lác kiêu ngạo, nói lộng ngôn, không vâng lời cha mẹ, vô ân bạc nghĩa, phạm thượng, vô tâm vô tình, tàn nhẫn, thiếu tiết độ, hung dữ, ghét điều thiện, phản trác, nông nổi, lên mặt kiêu căng, yêu khoái lạc hơn yêu Thiên Chúa... hãy xa lánh.” (x.2Tim 3, 2-4).

Hãy-xa-lánh… hãy- đóng-đinh những thói hư tật xấu đó vào thập giá, đó là cách chúng ta “vác thập giá mình mà theo”.

Có lẽ… có lẽ chúng ta sẽ cảm thấy “lạ lẫm” với điều khoản thứ hai: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.”

Với thánh Phao-lô, thì “điều khoản” này không có gì lạ lẫm. Sau cú “ngã ngựa” tại Damas, ông Phao-lô đã cảm nghiệm được rằng: “Thiên Chúa thương xót chúng ta”. Và, ông đã có lời khuyên cộng đoàn Roma, lời khuyên rằng: “tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người.”

Vâng, quả là một lời khuyên thiết thực. Hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa, chẳng phải là đồng nghĩa với việc liều-mất-mạng-sống-mình-vì-Thầy, sao!

Thực hiện những điều khoản trong bản hợp đồng do Đức Giê-su đề ra, dẫu cho có đôi chút thiệt thân, nhưng còn hơn là sống “thoả mãn đam mê của tính xác thịt”, một lối sống “cho tôi - vì tôi” mà không-được-thừa-hưởng-Nước-Thiên-Chúa, “thì ích gì”, đúng không, thưa quý vị!

Đừng quên, Đức Giê-su có lời phán rằng: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào có ích gì?”

“Hãy tham dự Thánh Lễ. Qua kinh nguyện Thánh Thể và đặc biệt là nghi thức Truyền Phép, anh chị em phải kết hợp với Đức Ki-tô - Tư Tế của chúng ta - để dâng mình lên Thiên Chúa là Cha, y hệt như Đức Giê-su đã tự hiến mình trên thập giá. Đó sẽ là cách nói lên chúng ta muốn thi hành ý Chúa trong cuộc sống, mặc cho hệ lụy có ra sao.”

Đây là lời khuyên của Lm. Charles E.Mille dành cho những ai “muốn thi hành bản hợp đồng”.

Xưa, có một bản hợp đồng do Thiên Chúa Cha soạn thảo dành cho Đức Giê-su, nội dung: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3, 16).

Con-của-Người là Đức Giê-su: “Vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2, 8) Đức Giê-su “đã hoàn tất” bản hợp đồng tại Đồi Golgotha.

Nay, có một bản hợp đồng do Đức Giê-su soạn thảo dành cho chúng ta, nội dung: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.”

Là tín hữu Công giáo, là người tin và theo Đức Giê-su, chúng ta sẽ thi hành bản hợp đồng này! Câu trả lời là của mỗi chúng ta.

Vâng, là của mỗi chúng ta. Phần Đức Giê-su - Ngài vẫn không thay đổi nội dung bản hợp đồng. Điều Chúa truyền: phải từ bỏ chính mình.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2026

Đấng Kitô - vẫn đi bên cạnh mọi người

 Chúa Nhật XXI – TN – A

Đấng Kitô - vẫn đi bên cạnh mọi người

SnTM 220826b


Là một Ki-tô hữu, là người tin vào Đức Giê-su. Có bao giờ chúng ta tự hỏi: “Giờ này, đối với tôi, Đức Giê-su là ai?”.
Đức Giê-su là ai? Đó là một câu hỏi, suốt hơn hai ngàn, vẫn được hỏi đi hỏi lại nhiều lần.

Với người không thuộc về Kitô giáo nói chung và Công giáo nói riêng, Đức Giê-su được xem như “một hiện tượng, một huyền thoại, một siêu nhân, một thánh nhân, một nhà hùng biện, một lương y, v.v…

Với chúng ta, là một Ki-tô hữu, thì đây là một câu hỏi mang tính chất “chiêm niệm”, gợi cho chúng ta nhớ lại lời chất vấn của Đức Giê-su dành cho các môn đệ mình, năm xưa: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”

Hồi ấy, có nhiều nguồn dư luận khác nhau về Đức Giêsu. Từ người thân đến kẻ sơ, từ bạn bè đến đối thủ, từ người yêu đến kẻ ghét, từ vua chúa đến thứ dân, từ trí thức đến bình dân… nhưng tựu chung cũng chỉ là những nghi vấn hoặc là những lời đồn đãi vô căn cứ.

Với thánh Phêrô – ngài tuyên tín: “Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Sự kiện này được ghi lại trong Tin Mừng Thánh Mát-thêu. (Mt 16, 13-29).

**
Sự kiện này được Thánh Mát-thêu thuật lại như sau: “Khi Đức Giê-su đến vùng kế cận thành Cêsarê Philiphê. Người hỏi các môn đệ, rằng: Người ta nói Con Người là ai?”

Người ta - thiên hạ nói gì về Đức Giê-su? Hôm đó, các môn đệ đã nói với Đức Giê-su rằng: “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ nào đó.”

Nghe những lời tường trình đó, không thấy Đức Giê-su xác nhận hay phủ nhận. Có vẻ như Ngài không bận tâm đến những lời nhận định của “người ta”, mà lại chú trọng đến nhận thức của các môn đệ, được xem như là “người trong nhà”.

Hôm đó, nhìn các môn đệ, được xem như là-người-trong-nhà, Đức Giêsu hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”

Con Người là ai? - Thầy là ai? Lm. Jos. Ngô Văn Kha, C.Ss.R. có lời bình, rằng; “Không ai có thể biết Con Người là ai, không sự khôn ngoan nào có thể hiểu thấu về bản chất nội tại có nguồn gốc thần linh của Người, nếu Người, hoặc Thiên Chúa không mặc khải cho.”

Nếu-Thiên-Chúa-không-mặc-khải-cho! Nhóm Mười Hai, có một người, tông đồ Phê-rô. Tông đồ Phê-rô, còn được gọi là Si-mon Phê-rô lên tiếng trả lời: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

Vâng, Si-mon Phê-rô được Thiên-Chúa-mặc-khải. Hôm ấy, Đức Giêsu đã nói với ông Phê-rô rằng: “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời”.

***
Gọi Thầy-là-Đấng-Kitô ư! Đúng, Kitô nghĩa là Ðấng được xức dầu. Thầy đã được xức dầu, lời ngôn sứ Isaia mặc nhiên xác nhận: “Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi.”

Ðức Giêsu đã được “xức dầu” trong dịp Ngài chịu phép rửa. Hôm đó, “đang khi Ngài cầu nguyện, thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Ngài, dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: “Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con” (Lc 3,22).

Gọi Thầy là Con-Thiên-Chúa-hằng-sống ư! Đúng, Tin Mừng thánh Máccô đã nhập đề: “Khởi đầu Tin Mừng Ðức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa” (Mc 1,1).

Trong cuộc tử nạn của Ðức Giêsu, “viên đại đội trưởng đối diện với Ðức Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy liền nói: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39).

Sau này, trong sứ vụ loan báo Tin Mừng, tông đồ Phê-rô nói với dân chúng về biến cố này, như sau: “Quý vị biết rõ... Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người. Ði tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người” (Cv 10,36- 38).

Với lời giảng này, chúng ta không thể không nhìn nhận rằng: Phê-rô xứng đáng nhận danh hiệu “là Tảng Đá”, một danh hiệu đã được Đức Giê-su tuyên bố: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời, dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” (Mt 16, 18-19).

Vào lúc đó, người Do Thái, mấy ai ưa người theo Đức Giê-su. Theo Đức Giê-su, chết chắc! Tê-pha-nô như điển hình! Nhưng, với tảng đá Phê-rô… quyền-lực-tử-thần-sẽ-không-thắng-nổi.

Phê-rô… ông Phê-rô từng hiên ngang nói: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người phàm.”

****
Trở lại câu hỏi: Giờ này, đối với tôi, Đức Giê-su là ai?

Lm. Giuse Phạm Bá Lãm, cho rằng: “Cần có câu hỏi tiếp: Kitô hữu, người là ai?”

Lm. Giuse diễn giải rằng: “Chúa Giêsu mang danh Ðấng Kitô, thì chúng ta được vinh dự là Kitô hữu: là người có Chúa Kitô, tin Chúa Kitô, bằng hữu với Chúa Kitô và thuộc về Chúa Kitô.”

Vâng, những lời Lm. Giuse diễn giải, không sai. Điều tiếp theo đó là, chúng ta hãy sống… sống sao cho xứng đáng vinh dự này.

Là người có Chúa Kitô, chúng ta hãy là những con chiên tốt lành của Chúa.

Tin Chúa Kitô, chúng ta hãy lắng-nghe-tiếng-Chúa-nói. Tiếng Chúa nói, Giáo Hội dạy, đó chính là Kinh Thánh.
Thánh Giêrônimô khẳng định: “Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Giêsu”.

“Vì thế chúng ta phải chuyên cần học hỏi Lời Chúa” - Lm. Giuse Phạm Bá Lãm có lời dạy, như thế. Hãy biết “Lời Chúa…” Kinh Thánh nói: “… là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi (Tv 119, 105).

Có Lời Chúa soi bước, chúng ta sẽ nhận ra đâu là giáo-lý-lành-mạnh, đâu là giáo lý của những tên Phản Kitô. Thánh Gioan đã cảnh báo: “Anh em đã nghe biết là tên Phản Kitô sẽ đến; thế mà giờ đây nhiều tên Phản Kitô đã xuất hiện” (2 Ga 7).

Thế nên, chúng ta hãy dựa vào “ánh sáng Chúa Kitô”. Có ánh-sáng-Chúa-Kitô, chúng ta sẽ kiềm chế “những dục vọng của mình… (dục vọng) kiếm hết thầy này đến thầy nọ, bởi ngứa tai muốn nghe.” (2 Tm 4,3-4).

Nói thẳng một lời, là một tín hữu Công giáo chúng ta chớ kiếm hết giáo phái này đến giáo phái nọ, dù cũng mang danh Đấng Ki-tô (Đấng Christ), “nhưng” giáo lý của họ xa lạ, xa lạ với giáo-lý-Công-giáo-tông-truyền.

Kinh Thánh nói: “Sẽ có những Kitô giả và ngôn sứ giả xuất hiện, đưa ra những dấu lạ lớn lao và những điềm thiêng, đến nỗi chúng lừa gạt cả những người được tuyển chọn, nếu có thể” (Mt 24,24; Mc 13,22).

Khi là bằng hữu với Chúa Kitô và thuộc về Chúa Kitô, thì sao? Thưa, hãy sống như thể: “tôi sống nhưng không phải là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2, 20).

Sống như thế, hiển nhiên là chúng ta phải dám sống một cuộc sống phản ảnh trung thực một hình ảnh Đức Kitô “hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu”.

Chúng ta phải dám “từ-bỏ-chính-mình, vác thập giá mình hằng ngày”, thập giá của tình yêu thương, như lời Đức Giêsu dạy dỗ “anh em hãy yêu thương nhau như chính Thầy đã yêu thương anh em”,

Chúng ta “không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù” (1Cor 13, 4-5) đó chính là “Alter Christus – Ki-tô khác”.

Thực hiện những việc nêu trên, chúng ta không chỉ “tái khẳng định” lời tuyên tín của Phêrô khi xưa rằng “Thầy là Đấng Kitô” mà chúng ta còn làm cho thế giới hôm nay biết, có một Đấng Kitô - vẫn đi bên cạnh mọi người.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2026

Lạy Chúa, xin cứu giúp con!

 Chúa Nhật XX– TN – A

Lạy Chúa, xin cứu giúp con!

SnTM 150826a

 
Sự nhẫn nại và lòng kiên trì nghĩa là gì? Thưa, theo định nghĩa thông thường, sự nhẫn nại ”là khả năng bình tĩnh, chịu đựng và không nóng vội trước những khó khăn, vất vả hay nghịch cảnh.” Và, lòng kiên trì “là sự bền bỉ, nỗ lực không ngừng nghỉ và giữ vững ý chí để thực hiện một công việc hay một mục tiêu đã định.” (nguồn: internet).

Trong suốt chiều dài lịch sử loài người, hai phẩm chất quý giá này đã giúp rất nhiều người vượt qua khó khăn, không nản lòng trước thất bại và quyết tâm theo đuổi mục tiêu đến cùng.

Có… có rất nhiều người đạt được hai phẩm chất này. Một trong số những người đạt được, chúng ta không thể không nhắc đến, đó là Thomas Edison.

Khi còn là một đứa bé, Thomas Edison có thói quen hay tìm hiểu nguyên do và quy luật của mọi vật, mọi hiện tượng. Mặc dù không xuất sắc lắm với việc học hành ở trường, nhưng với lòng yêu thích khoa học và ham muốn tìm hiểu, ông ta đã nhẫn nại và kiên trì theo đuổi cho bằng được hoài bão của mình.

Người ta kể rằng, để có tiền mua sách, mua dụng cụ thí nghiệm, Edison đã phải làm rất nhiều công việc tay chân như bán báo, bán rau quả. Dù phải nếm trải nhiều thất bại nhưng ông vẫn nhẫn nại và kiên trì. Cuối cùng thì nhân loại đã được thừa hưởng hơn 1.500 phát minh của ông.

Để có được sự thành công, Edison cho rằng, do 10% thiên tài, phần còn lại là do 90% sự nhẫn nại và lòng kiên trì.
Kinh Thánh nói gì về sự nhẫn nại và lòng kiên trì? Thưa, trong Kinh Thánh, “sự nhẫn nại và lòng kiên trì là bông trái của Thánh Linh, là sức mạnh chịu đựng hoạn nạn, và là thái độ chờ đợi thời điểm của Chúa với niềm tin vững vàng.”

Tác giả sáchThánh Vịnh cảm nghiệm được điều này, nên đã lớn tiếng nói: “Tôi kiên nhẫn chờ đợi Chúa, Ngài nghiêng tai nghe tiếng kêu than của tôi.” (Tv 40,1).

“Tôi kiên nhẫn chờ đợi Chúa, Ngài nghiêng tai nghe tiếng kêu than của tôi.” Vâng, đó cũng là cảm nghiệm của một người đàn bà, một-người-đàn-bà ở Ca-na-an. Với sự nhẫn nại và lòng kiên trì, bà ta đã biểu lộ đức tin của mình một cách mạnh mẽ nơi Đức Giêsu – người bà đã gọi là “Con vua Đa-vít”.

Vâng, câu chuyện “người đàn bà Ca-na-an” được ghi trong Tin Mừng Thánh Mát-thêu. (x.Mt 15, 21-28).

**
Câu chuyện được kể rằng: một ngày nọ “Đức Giêsu lui về miền Tia và Xi-đôn…”

Lui-về-miền-Tia và Xi-đôn, Đức Giêsu muốn tìm kiếm sự yên nghỉ, chỗ hẻo lánh, cơ hội thích hợp để dạy dỗ Mười Hai Vị Tông Đồ về sự kém lòng tin, khi thấy Ngài đi trên mặt biển, các ông lại tưởng là ma, chăng! Rất có thể là vậy, nếu có cơ hội thích hợp.

Vâng, nếu có cơ hội thích hợp! Và hôm đó, trong lúc Đức Giêsu băn khoăn tìm kiếm cơ hội, thì cơ hội đến.

Chuyện kể rằng: “có một người đàn bà Ca-na-an ở vùng ấy” tìm đến Đức Giê-su. Khi gặp Đức Giê-su, bà ta kêu lên rằng: “Lạy Ngài là Con vua Đa-vít, xin rủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm!”

Tuy là người Ca-na-an, một người ngoại đạo, tà-giáo-bẩm-sinh, ấy thế mà bà đã gọi Đức Giê-su là Con-vua-Đa-vít, chứng tỏ bà tin rằng: Ngài là Đấng Mêsia - vị cứu tinh do Thiên Chúa sai đến để giải thoát con người.

Vậy mà… Đức Giê-su - “Người không đáp lại một lời”. Thế có buồn không!

Phần các môn đệ… các môn đệ phản ứng ra sao! Thưa, thấy Đức Giê-su đã không đáp lại một lời, các môn đệ khuyến khích Ngài đuổi bà ấy đi. Các ông “lại gần xin với Người rằng: Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi!”

Nghe thế, Đức Giê-su đáp: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc nhà Israel mà thôi.”

Hóa ra, đây là lý do Đức Giê-su không đáp lại một lời với người đàn bà Ca-na-an, sao? Thưa, không chắc lắm! Không chắc lắm, bởi biết đâu đây là “phép thử”, thử lòng tin bà Ca-na-an!

Vâng, đúng vậy! Hôm ấy, lời phán của Đấng Mêsia - vị cứu tinh do Thiên Chúa sai đến, không làm cho người đàn bà Ca-na-an này chán nản buông xuôi. Trái lại, lòng tin của bà, rằng Đức Giê-su sẽ chữa lành cho con gái của mình “càng đáng kinh ngạc hơn nữa”.

Kiềm chế cảm xúc, người mẹ Dân Ngoại này “đến bái lạy và thưa Người rằng: Lạy Ngài! Xin cứu giúp tôi!” Đức Giê-su đáp rằng: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con”.

Chúng ta đừng vội nghĩ rằng, đây là một câu trả lời khắc nghiệt. Đừng vội bởi, các học giả Kinh Thánh giải thích rằng, trong cách nói này, “con cái” là dân Do Thái và “chó con” là Dân Ngoại.

Giải thích sâu xa hơn, nhà truyền giáo Camille N. Johnson có lời chia sẻ: “Bổn phận chính của Đấng Mêsia là dân Do Thái. Ngài phải cho họ ăn - hoặc là ban cho họ phúc âm trước tiên - rồi sau đó họ phải cho ăn hoặc giảng dạy cho các dân còn lại trên thế gian.”

Talmage giải thích rằng: “Những lời phán đó, nghe có vẻ như khắc nghiệt đối với chúng ta, đã được người đàn bà ấy hiểu trong tinh thần theo ý định của Chúa. Chắc hẳn người đàn bà ấy đã không cảm thấy phật lòng về sự so sánh đó.”

Đúng vậy. Người đàn bà Ca-na-an không-cảm-thấy-phật-lòng. Bà ta vẫn kiên nhẫn khẩn khoản nài xin. Lời khẩn khoản nài xin của bà thật cảm động, phi thường: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.”

Jean Jacques Rousseau có nói: “Sự nhẫn nại và lòng kiên trì đắng chát nhưng quả của nó lại ngọt”. Ông Rousseau! Ông nói đúng! Hôm ấy, với sự nhẫn nại và lòng kiên trì, người đàn bà Ca-na-an đã nhận được “quả ngọt” từ lòng thương xót của “Con vua Đa-vít”.

Hôm ấy, sau khi nghe bà ta nói như thế, Đức Giê-su đáp lời: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy”.

Một… một kết quả thật ngọt ngào. Mô tả những “quả ngọt” mà người đàn bà Ca-na-an nhận được, thánh sử Mát-thêu tóm tắt bằng tám chữ: “Từ giờ đó, con gái bà được khỏi”.

***
Chúng ta vừa nghe lại câu chuyện người đàn bà Ca-na-an. Và thật phải đạo khi chúng ta tự hỏi mình rằng, lòng tin của tôi vào Đức Giê-su có “mạnh” như lòng tin của bà Ca-na-an!

Vâng, trong một giai đoạn nào đó của đời ta , sẽ có những thăng trầm, và đôi khi chúng ta cảm thấy như Thiên Chúa không-hoạt-động-tích-cực trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.

Hãy nghĩ về lòng tin của người đàn bà Ca-na-an. Hãy nhớ đến lời Thiên Chúa phán hứa: “… chớ run sợ, chớ sờn lòng nản chí; vì Gia-vê Thiên Chúa ngươi vẫn ở cùng ngươi, bất cứ nơi nào ngươi đi.” (Giô-suê 1,9).

Nhà truyền giáo Russell M. Nelson có lời khuyên, rằng: “Đức tin nơi Đức Giê-su là quyền năng lớn nhất dành cho chúng ta trong cuộc sống này. Kẻ nào tin thì mọi việc đều được cả.”

Đúng như vậy. Đức Giê-su đã khẳng định: “Không có Ta, các ngươi chẳng làm được gì cả.” (Ga 15,5).

Chúng ta phải đặt niềm tin của mình nơi Đức Giê-su. Bởi vì “Satan never sleeps – Quỷ địa ngục không bao giờ ngủ”.

Nó không bao giờ ngủ. Nó rình rập ở khắp nơi, ở trong học đường, ở ngay gia đình, thậm chí ở chính trong giáo đường.

Nó chờ đợi thời cơ. Chờ-đợi-thời-cơ “ám” con em chúng ta. (như đã ám đứa con gái người đàn bà Ca-na-an).

Sẽ khổ-sở-lắm nếu con em chúng ta bị-quỷ-ám. Sẽ là thảm họa nếu con em chúng ta suốt ngày “ám ảnh” bởi những “sản phẩm của satan”, những sản phẩm đại loại như: những game giải trí bạo lực, những phim ảnh khiêu dâm, những game show ‘sô’ những nội dung phản giáo dục. Ai sẽ cứu con em mình, nếu không phải là chúng ta!

Vâng, chúng ta phải hành động. Hành động như người đàn bà Ca-na-an đã hành động. Chúng ta phải kêu lên với Đức Giê-su như người đàn bà Ca-na-an đã kêu lên: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi.”

Hãy đến nhà thờ. Hãy giúp con em mình đến nhà thờ. “Nơi đây, Chúa Giê-su ban cho (con em) chúng ta, không phải những mảnh vụn rơi vãi từ bàn ăn, mà là Mình và Máu báu trọng của Người. Đấng đến với ta trong Bí Tích Thánh Thể là Chúa muôn loài.”

Lm. Charles E.Miller đã có lời khuyên như thế.

Đến nhà thờ, Chúa Giê-su còn ban cho (con em) chúng ta Lời Hằng Sống, qua phần Phụng Vụ Lời Chúa. Lời Hằng Sống sẽ “là ngọn đèn soi ta bước, là ánh sáng chỉ được ta đi.”

“Nhờ huấn lệnh Người ban, (con em) chúng ta thành người sáng suốt, (con em) chúng ta sẽ ghét mọi đường nẻo gian tà” (x.Tv 119, 104).

Khi (con em) chúng ta đã ghét mọi đường nẻo gian tà, ma quỷ nào có thể ám chúng!

Qua người đàn bà Ca-na-an, chúng ta hãy ca tụng Chúa. Hãy kiên trì khẳng định đức tin của mình nơi Chúa Giê-su - Con vua Đa-vít - Đấng Mêsia.

Hãy lớn tiếng nói to-và-rõ-ràng với Chúa, rằng: Lạy Chúa, xin cứu giúp con!

Petrus.tran

  Chúa Nhật XXVIII – TN – A Hạnh Phúc thay… kẻ được chọn Tiệc nghĩa là gì? Thưa, nghĩa là một bữa ăn, có nhiều món ngon, được tổ chức với sự...