Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013

Đừng vô cảm...



***
Đừng vô cảm…

Kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam rất phong phú. Có thể nói rằng, nó là một kho tàng tốt cho việc giáo dục con người xưa cũng như nay. Thật vậy, có ai trong chúng ta lại không hơn một lần được dạy dỗ rằng, "thương người như thế thương thân", hoặc "một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ", hay "một miếng khi đói bằng gói khi no" v.v...

Tiếc thay! có vẻ như, những lời dạy dỗ tốt đẹp đó ngày càng xa rời cuộc sống của không ít người hôm nay. 

Nhớ, ngày 13/10/2011, tại thành phố Phật Sơn, Nam Hải, Trung Quốc. Một bé gái ba tuổi tên Yue Yue đang chơi trong khu chợ, có một chiếc xe tải đi qua, chiếc xe đó cán lên người cô bé. Nhiều người qua lại nơi đây, thấy, nhưng họ vẫn dửng dưng bỏ đi. Theo dõi trên clip, có khoảng 20 người qua lại nơi tai nạn xảy ra, nhưng không ai dừng lại cứu cô bé. 

Rồi cũng trong năm 2011, tại Saigon, vào ngày 07/10, một vị bác sĩ, trong lúc lái xe bất cẩn, đã gây ra một tai nạn hàng loạt khiến cho hai người chết và mười bảy người khác bị thương. Điều đáng tiếc là, khi tai nạn xảy ra, những người hiếu kỳ thay vì đưa nạn nhân cấp cứu, họ lại nhảy vào “hôi của” cướp đồ nạn nhân…  

Tại sao lại có những chuyện như thế xảy ra? Thưa, đó chính là do “sự vô cảm”, sự vô cảm đã chế ngự con người, nó làm cho con người trở nên ích kỷ, dửng dưng, không rung động, không cảm xúc trước nổi đau, hoạn nạn của người khác... 

Nói đến sự “vô cảm”, có thể nói, hàng ngày, nó đã gây ra biết bao nhiêu “… điều trông thấy mà đau đớn lòng”, từ chuyện một chú bé “cuộc sống đói rách bơ vơ…Hỏi ai ai cho nương nhờ! Chuỗi ngày tăm tối bơ vơ…” cho tới chuyện, có những đại gia, tỷ phú… đã dám chi hàng tỷ đồng chỉ để “ăn một bữa trưa” theo sở thích của mình.

Niềm tin Kitô giáo không dạy con người sống vô cảm. Niềm tin Kitô giáo dạy rằng, một Kitô hữu không chỉ mến Chúa nhưng còn phải yêu thương người. 

Thương người có mười bốn mối, thương xác bảy mối: “Thứ nhất cho kẻ đói ăn.  Thứ hai cho kẻ khát uống. Thứ ba cho kẻ rách rưới ăn mặc. v.v…”
Vâng, “cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc” cũng chính là điều Chúa Giêsu luôn đem ra khuyên dạy và đề cao.   

Thật vậy, với sự giàu có,  Ngài đã khuyên dạy rằng: “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi” (Mt 6, 19-21). Với những người, có “rất nhiều của cải”, như trường hợp ông thủ lãnh nhà giàu, Đức Giêsu khuyên “hãy bán tất cả những gì ông có mà phân phát cho người nghèo và ông sẽ được một kho tàng trên trời”.   

Và để cho mọi người cảm nhận rõ lời khuyên đó, Đức Giêsu đã dạy cho họ một bài học qua dụ ngôn “ông nhà giàu và anh Lazaro nghèo khó” (x.Lc 16, 19-31).

Dụ ngôn được kể rằng: “Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình”.(x.Lc 16, 19)  Câu chuyện sẽ không có gì để nói, nếu “trước cổng ông nhà giàu” không có “một người nghèo khó… nằm (ở đó)”. Người nghèo khó đó tên là Lazaro, anh ta trông thật thảm thương. Trên cơ thể anh ta “mụn nhọt đầy mình”. 

*Thưa bạn, bạn có bị “ghẻ” bao giờ chưa! Tôi đã bị. Năm học lớp đệ thất (lớp sáu bây giờ), chân tay của tôi  “mụn nhọt đầy mình”, phải nói rằng, nhức nhối khủng khiếp. Thế nhưng, cái nhức nhối của thể xác không sánh bằng cái nhức nhối tinh thần. Cái nhức nhối tinh thần, đó là sự cô đơn, một lớp học gần bốn mươi học sinh, nhưng không có một người nào muốn đến gần tôi. Thật ra, cũng có người đến, nhưng họ đến chỉ để nói với tôi rằng “đồ ghẻ tàu!”. 

Với “ngưòi nghèo khó tên là Lazaro” ư! Có phần chắc, anh ta cũng nhức nhối, anh ta không chỉ nhức nhối thể xác bởi mụn nhọt, bởi cái dạ dày “thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no”, anh ta còn nhức nhối tinh thần. Từ tâm can, anh ta nhận ra "sự vô cảm" của ông nhà giàu, phải chi ông ta đến và chỉ nói “đồ ghẻ La Mã” có lẽ anh ta cũng vui vui chút ít!    

Sự vô cảm của ông nhà giàu, có thể ví như “cục lơ Pháp”, đã được ông ta “thoa” lên “cây cơ” là đám mụn nhọt và sự đói khát trong nỗi cô đơn của anh Lazaro. Vâng, chỉ là một cách diễn tả, kết thúc hồi một, buồn thay! chỉ có “mấy con chó… đến liếm ghẻ chốc anh ta”.
 
Với hồi hai, như người ta thường nói “mồm chó vó ngựa”. Anh Lazaro, phần vì đói, phần vì mồm những con chó liếm vào những vết ghẻ của anh ta… Ôi! vết thương của anh ta, không nhiễm trùng mới là chuyện lạ! Lazaro chết, có phần chắc, vì đói và vì nhiễm trùng. Sau đó, “ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn” (Lc 16, 22).  

Và như lời một bài kinh đã viết “sự chết chỉ là sự biến đổi chứ không hề tiêu tan”. Cuộc đời Lazaro được biến đổi, anh ta không còn cô đơn bên “mấy con chó” nhưng tràn đầy hạnh phúc “trong lòng tổ phụ”.

Còn ông nhà giàu ư! Chuyện được kể tiếp rằng: “Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta…” - ông nhà giàu - lại là kẻ mong Lazaro “đừng-vô-cảm” trước sự đau khổ của ông ta.

Trước kia, nơi trần gian, Lazaro “thèm những thứ trên bàn ăn của ông rớt xuống mà ăn cho no”… Nay, dưới âm phủ, ông nhà giàu “thèm” được Lazaro “nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi (ông) cho mát, vì ở đây (ông) bị lửa thiêu đốt khổ lắm” (Lc 16, 24).

Kết thúc dụ ngôn, như đã nói ở trên, anh nhà nghèo tên là Lazaro được ở “trong lòng tổ phụ”. Còn ông nhà giàu thì “Phải chịu khốn khổ” (Lc 16, …23).

**
Qua dụ ngôn này, có thể nói rằng, “sự vô cảm” chính là con đường dẫn chúng ta đến “âm phủ”. Chính vì thế, là một Kitô hữu, chúng ta đừng quên rằng, những gì chúng ta làm hôm nay, ở đời này, sẽ là “tấm chiếu khán” đưa chúng ta đến đời sau, nơi “hỏa ngục” hay “thiên đàng”.  

Giàu có ư! Tốt, vì đó là ơn phúc Chúa ban.  Giàu có không phải là một cái tội. Câu chuyện dụ ngôn trên không thấy một câu hay một chữ nào lên án về việc “giàu có” của ông nhà giàu. Hãy nhìn xem sự giàu có của ông Gióp khi xưa. Kinh Thánh có chép rằng, Ông ta có “một đàn súc vật bảy ngàn chiên dê, ba ngàn lạc đà, năm trăm đôi bò, năm trăm lừa cái”. Chính Xatan cũng phải công nhận Đức Chúa đã “ban phúc lành cho công việc do tay (Gióp) làm, và các đàn gia súc của (Gióp) lan tràn khắp xứ” (G 1, 10).

Chỉ có điều, nếu giàu có thì, hãy nghe tông đồ Phaolô nói: “Đừng tự cao tự đại, cũng đừng đặt hy vọng vào của phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng”(1Tm 6,17). Thánh nhân thêm một lời khuyên rằng : “Phải làm việc thiện và trở nên giàu có về các việc tốt lành, phải ăn ở rộng rãi, sẵn sàng chia sẻ. Như vậy (sẽ) tích trữ cho mình một vốn liếng vững chắc cho tương lai”.

Cho nên,  khi ta giàu có,  “Hãy rộng lượng với kẻ nghèo hèn, đừng chần chừ khi phải bố thí. Hãy đón tiếp kẻ khó nghèo, vì họ túng quẫn, đừng để họ ra về tay trắng” (Hc 28, 8-9). Hãy nhớ, sự giàu có không ngăn cách ta đến bên “lòng tổ phụ” Apraham, sự vô cảm mới chính là “hố sâu” , là “vực-thẳm-lớn” ngăn cách ta với ngài, sau này,  cũng như với những người anh em, những người đồng loại, ngay hôm nay.

Nếu hôm nay, trong cuộc sống thường nhật,  chúng ta “không vô cảm”  với những người anh em, những người đồng loại, những người mà họ đói chúng ta cho ăn, họ khát chúng ta cho uống, họ rách rưới chúng ta cho mặc, họ bịnh hoạn chúng ta thăm viếng v.v… thì, sau này, trong ngày phán xét, Chúa cũng sẽ không nhìn chúng ta bằng ánh mắt “vô cảm”.  

Trái lại, Ngài sẽ nói với chúng ta rằng, “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các người đã cho Ta ăn; Ta khát, các người đã cho Ta uống… Ta là khách đau yếu, các ngươi đã thăm viếng…”(Mt 26, 34-36).

 “Ta” là ai? Thưa, Ta là “họ”. “Họ” là ai? Thưa, họ là những người chúng ta “không vô cảm”. 

Nói tắt một lời, để đời sau, chúng ta không phải lớn tiếng kêu, “Lạy tổ phụ Apraham, xin thương xót con”, thì đời nay, nguyên tắc sống của chúng ta chỉ cần gói gọn trong ba chữ “đừng vô cảm”.     
                                      
Petrus.tran



Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

Chúa luôn sẵn sàng...



****

Chúa luôn sẵn sàng…

Một nhà truyền giáo có nói: “Nếu chẳng may toàn bộ Kinh Thánh bị thất lạc, và chỉ còn giữ được một câu trong Phúc Âm thánh Gioan, điều đó vẫn đủ để chúng ta trình bày cho thế giới biết rằng, có một Thiên Chúa là tình yêu”.

Câu Kinh Thánh đó chính là câu Chúa Giêsu nói với một thủ lãnh của người Do Thái tên là Nicôđêmô, rằng: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3, 16).  

Đúng vậy, từ khi Adam và Eva phạm tội, con người bị  trục xuất ra khỏi vườn Eden với án phạt là sự chết, thế nhưng không vì thế mà Thiên Chúa bỏ rơi con người. 

Theo thời gian, qua các ngôn sứ và tiên tri, Thiên Chúa không ngừng chuyển tải đến con người những thông điệp nói lên tình yêu thương, lòng bao dung và sự tha thứ. Thiên Chúa vẫn luôn cho con người thấy, Người là Đấng “từ bi nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương”, vẫn luôn cất tiếng mời gọi con người “Hãy đến mà biện luận. Tội các người, dầu có đỏ tựa son, cũng hoá trắng như tuyết; có thẩm tựa vải điều, cũng hoá như bông”.

Đến khi Đức Giêsu, Con Một Thiên Chúa, trở nên người phàm và cư ngụ giữa thế gian, tình yêu thương của Thiên Chúa càng thêm sáng tỏ. 

Thật vậy, sự xuất hiện của Đức Giêsu với những lời giảng dạy, qua những dụ ngôn rất đời thường,  đã phác họa chân dung một Thiên Chúa mới, một Thiên Chúa không phải là hung thần chỉ biết luận phạt, nhưng là một Thiên Chúa thể hiện sự bao dung, tình yêu thương và sự tha thứ, một Thiên Chúa “đến để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” và để “cứu cái gì đã hư mất” (Mt 18,11).

Có ba dụ ngôn đã được Đức Giêsu, cùng một lúc, kể ra,  với mục đích dập tắt những lời “xầm xì” của một nhóm người Pharisêu khi họ thấy Ngài đồng bàn với  nhóm người thu thuế và các người tội lỗi, những người đã có lần Đức Giêsu tuyên bố rằng, “họ sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21, 31)

**
Câu chuyện đã được kể lại rằng: hồi ấy, có một số người thu thuế và các người tội lỗi thường lui tới với Đức Giêsu để nghe Người giảng. 

Chuyện sẽ chẳng có gì xảy ra nếu không có nhóm người Pharisêu và các kinh sư, những ông kẹ được xem là những kẻ tọc mạch, kiếm chuyện.

Hôm ấy “những người Pharisêu và các kinh sư”  khi chứng kiến Đức Giêsu thao thao bất tuyệt trước nhóm người thu thuế và tội lỗi, ngứa mắt, họ xầm xì với nhau “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng”...
Ôi trời! tại sao họ lại xầm xì như thế? Phải chăng họ tự ái khi thấy Đức Giêsu, chỉ là một anh thợ mộc, nhưng lại được mọi người thán phục về lời những giảng của Người!  

Không thấy chuyện này được nhắc đến, nhưng những lời xầm xì của nhóm Pharisêu và các kinh sư thì không sai. Những người lui tới với Đức Giêsu, hôm đó, đúng là “phường tội lỗi”, họ có rất nhiều “cái rác tội lỗi”.  

Thế nhưng, đáng tiếc là các ông ông Pharisêu và các kinh sư, hôm đó,  chỉ thấy “cái rác trong con mắt người anh em, mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không để ý tới” (Mt 7,3).

Cái rác-tội-lỗi nơi người thu thuế có đấy, còn cái-xà-gồ-trách-nhiệm của các ông sao các ông lại bỏ qua? Lẽ ra, là Pharisêu, những người am hiểu Thánh Kinh, các ông phải có “trách nhiệm” giảng dạy cho phường-tội-lỗi nhận biết Thiên Chúa là ai chứ! Không làm, các ông lại còn hậm hà hậm hực…

Đón tiếp phường-tội-lỗi thì đã sao! Thiên Chúa đã chẳng “cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu  cũng như người tốt và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” đó sao! (Mt 5, 45). Vâng, có lẽ các ông Pharisêu và các kinh sư đã quên rằng, Thiên Chúa “Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác” (Lc 6, …35).

Hôm đó, mặc cho những lời xầm xì, Đức Giêsu tiếp tục lời giảng dạy bằng  ba dụ ngôn. Ba dụ ngôn đó là: “dụ ngôn con chiên bị mất”,  “dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất” và đặc biết nhất, đó là “dụ ngôn người cha nhân hậu” (x. Lc 15, 1-31)

***
Ba dụ ngôn này, với nhóm Pharisêu và các kinh sư, nó chính là câu trả lời cho những lời xầm xì của họ. 

Còn với nhóm bị cho là “phường tội lỗi”, ba dụ ngôn này,  có thể ví nó giống như một chiếc smartphone cao cấp, đã đem đến cho họ hình ảnh một Thiên Chúa, một Thiên Chúa “công bằng” giữa một bên là  bóng mây của lưỡi-gươm-luận-phạt và bên kia là ánh sáng của tình yêu, lòng bao dung, sự tha thứ. 

Thật vậy, với “dụ ngôn con chiên bị mất”, ánh sáng của tình yêu, một tình-yêu-vô-giá đã được thể hiện.  

Không vô giá sao được khi người mục tử đã “để lại chín mưoi chín con kia ngoài đồng hoang” để đi tìm một con chiên lạc. Không vô giá sao được, khi người mục tử “tìm được (chiên) rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai”. Không vô giá sao được, “về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại và nói: ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó” (x.Lc 15, 506). 

Vâng, đừng cho rằng Đức Giêsu “cường điệu hóa” vấn đề. Đây chỉ là “dụ ngôn” và cũng như những dụ ngôn khác, thông điệp chính mà Đức Giêsu muốn nói đến, đó chính là “sự tuyệt đối”. Tình yêu của Thiên Chúa là “nhưng không tuyệt đối”. 

Với “dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất” ư! Vâng, vấn đề không phải là “con số” giữa “chín và một”, giữa “nhỏ và lớn” nhưng là cái “giá trị”, nhất là khi nói đến “giá trị của sám hối trở về”.  Điều này đã được Đức Giêsu chứng minh khi Ngài nói “Tôi nói cho các ông hay: giữa triều thần Thiên quốc, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (x.Lc 15, 10). 

Còn “dụ ngôn người cha nhân hậu” thì sao? Thưa, đó chính là một bản concerto hoàn chỉnh, một sự hoàn chỉnh không thể hoàn chỉnh hơn với những giai điệu của lòng bao dung, sự tha thứ nơi Thiên Chúa qua hình ảnh “người cha nhân hậu”. 

Thật vậy, khi phần dạo đầu của bản concerto vang lên, người cha, với cảm xúc đầy bi thương  khi nghe người con thứ  “xin cho con phần gia tài con được hưởng”, ông ta đã lặng lẽ “chia của cải cho hai con”… 

Rồi đến phần hai, khi người người con thứ đang dìm tâm hồn mình chìm theo điệu nhạc “phóng đãng” không màng đến sự “ phung phí tài sản của mình” thì người cha đau đớn thả hồn theo điệu nhạc u uất đợi chờ…
Một bản concerto có ba phần, và thường thì, 
phần thứ ba chính là lúc nhạc cụ solo và dàn nhạc đã tìm được tiếng nói chung. Bản concerto mang tên “người cha nhân hậu” với phần ba, cũng đã tìm được tiếng nói chung. 

Chàng con thứ trong vai nhạc công solo đã trúc lên tiếng kèn thống hối “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha”… Tiếng kèn thống hối đó đã hòa chung với giai điệu bao dung và tha thứ của người cha, trong âm vang của sự rộn rã, người cha “chạy ra ôm cổ anh ta hôn lấy hôn để... đem áo đẹp nhất mặc cho... xỏ nhẫn vào tay và xỏ dép vào chân cậu”... 

Bốn âm điệu cuối “mở tiệc ăn mừng” như một tấm nơ hồng đính lên tâm hồn “cha và con”, để rồi, tận trong cung lòng người cha, một giai điệu rộn rã vang lên “con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15, …32).

****
Ba dụ ngôn nêu trên, có thể nói rằng, đó là một câu chuyện hay nhất, một “best story” của Phúc Âm thánh Luca. Nó hay ở chỗ có quá nhiều điều để chúng ta phải học. Nó còn hay ở chỗ, mỗi người chúng ta đều có thể thấy một nét phảng phất nào đó chính mình trong câu chuyện này. 

Chính vì thế, hãy để một phút thinh lặng và tự hỏi lòng mình rằng, tôi là ai trong số những nhân vật đã được Đức Giêsu nêu lên trong dụ ngôn? 

Có lẽ không ai trong chúng ta tự nhận mình là “người cha nhân hậu”, nhưng có phần chắc, trong một giai đoạn nào đó của đời người, rất có thể, có lúc, chúng ta trở thành người con thứ, với một chút sự bồng bột của tuổi trẻ, với một chút sự kiêu ngạo bởi nguyên tội Adam và Eva, với một ít gia tài là học vấn và kiến thức thời đại, cho rằng những giá trị truyền thống trong ngôi nhà Kitô giáo đã lỗi thời,  “trẩy đi phương xa” tìm đến những miền đất xa lạ, những miền đất đề cao tự do luyến ái, những miền đất cổ vũ tự do phá thai, những miền đất khuyến khích hôn nhân đồng tính v.v…

Rất có thể, có lúc, chúng ta chính là người con cả, sống khép kín trong ngôi nhà Kitô giáo, mặc cảm mình chỉ là kẻ “hầu hạ”, sợ sệt trước những giới răn mà quên rằng, đó chính là “sinh lộ”, là “đường, là sự thật và là sự sống”… 

*****
Những suy tư nêu trên, phải chăng là những suy tư tiêu cực? Phải chăng là những suy tư làm cho chúng ta phải buồn phiền? Thưa, không phải. 


Thật ra, nghĩ được như thế phải là niềm vui của chúng ta. Nhân ra tôi là ai trong ba dụ ngôn nêu trên phải là niềm vui của mỗi người Kitô hữu chúng ta.
Tôi là người chăn chiên, là người phụ nữ trong hai dụ ngôn “con chiên bị mất – đồng bạc bị đánh mất”, là “người cha nhân hậu” ư! Tất cả đều tốt. 

Tôi là người con thứ  hay tôi là người con cả ư? Quá tốt… quá tốt bởi vì tôi đã nhận ra mình là ai. Quá tốt, bởi tôi đã nhận ra mình là “người tội lỗi”. 

Có điều… có điều tôi cần biết, đó là, khi đã nhận ra mình là “người tội lỗi”, hãy vượt qua mặc cảm tự ti, và hãy như “các người thu thuế và các người tội lỗi” xưa, mà  “lui tới với Đức Giêsu để nghe Người giảng”(Lc 15, 1) 

Vâng, với chúng ta hôm nay, qua vị linh mục, Chúa Giêsu không chỉ giảng, không chỉ ban cho ta “Bí Tích hòa giải” Ngài còn ban cho ta một bữa tiệc, bữa tiệc không phải bằng “một con bê đã vỗ béo” nhưng là bằng “Mình và Máu Thánh” của chính Ngài.

Hãy nhớ, trong nhà thờ, nơi ngôi nhà tạm, “Chúa luôn sẵn sàng” chờ ta. 

Petrus.tran


Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013

Hãy thắp bùng lên...

Hãy thắp bùng lên…

Petrus Tran
Hơn hai tuần qua, thế giới Kitô giáo không ngừng nhận được những tin tức xấu. Bản tin thứ nhất được VietCatholic gửi đi vào ngày 13/08/2013 cho biết, “Một đám đông 4.000 người Hồi Giáo cướp phá các doanh nghiệp của các tín hữu Kitô trong thị trấn Bani Ahmed, ngoại ô thủ đô Cairo của Ai Cập, và đốt cháy nhà cửa của họ. Giáo phận Chính Thống Coptic địa phương đã cho biết như trên…”

Sau đó, bản tin viết tiếp “Sáng hôm sau, một đám đông bao vây nhà thờ Chính Thống Coptic, ngăn chặn không cho các Kitô hữu vào tham dự phụng vụ thánh. Hôm 9 tháng 8, giáo chủ Chính Thống Giáo Coptic Ai Cập là Đức Tawadros Đệ Nhị đã phải hủy bỏ một buổi gặp gỡ với các tín hữu tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Máccô ở thủ đô Cairo vì sợ cộng đoàn của ngài bị tấn công.Theo dự trù ban đầu Đức Tawadros Đệ Nhị sẽ trao đổi về Thánh Kinh và trả lời thắc mắc của các tín hữu trong buổi học hỏi Thánh Kinh do ngài chủ tọa.”

Bản tin thứ hai, được giật “tít” thê thảm hơn, “Ngày 14 tháng 8: Ngày kinh hoàng của các tín hữu Kitô tại Cairo - 23 nhà thờ bị người Hồi Giáo tấn công. Cuồng tín Hồi giáo tấn công 23 nhà thờ Thiên Chúa giáo ở thủ đô Cairo và khu vực lân cận vào ngày thứ Tư 14/8, một ngày trước Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.  Cha Rafic Greiche, phát ngôn viên của Giáo Hội Công Giáo tại Ai Cập cho biết, trong 23 nhà thờ bị tấn công 7 ngôi nhà thờ là thuộc Giáo Hội Công Giáo, 15 thuộc Giáo Hội Chính Thống Coptic và một thuộc Tin Lành. Cha Greiche nói rằng các Kitô hữu Ai Cập đang sống trong sợ hãi vì bạo lực Hồi giáo. Ngài đã chỉ trích các phương tiện truyền thông phương Tây đã lờ đi không tường trình về các cuộc tấn công nhắm vào các Kitô hữu.”

Cùng là người Ai Cập, tại sao họ lại hành động như thế? Tại sao họ lại đối xử với đồng hương của họ như vậy? Phải chăng là vì họ ghét những ai tin vào Chúa Giêsu Kitô?


 Nhắc đến điều này không phải để khơi thêm ngọn lửa hận thù nhưng là để thấy rằng, đúng như những gì Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ khi xưa, “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh  em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ” (Lc 12, 51).

**

Vâng, một hôm, sau khi đã dùng dụ ngôn để cảnh báo các môn đệ về ngày giờ “Con Người sẽ đến”, Đức Giêsu tiếp tục cảnh báo các ông về những khó khăn, về những gian nan sẽ đến với các ông cũng như với những ai đón nhận đức tin, chân lý và sự thật. 

Những khó khăn và những gian nan đó đã được Đức Giêsu thẳng thắn loan báo rằng, “Từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ, mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng”.

***

Hiểu thế nào về những điều Đức Giêsu đã nói? Phải chăng những lời nói đó ngược lại với những gì Đức Giêsu giảng dạy? Phải chăng, những lời nói đó tố cáo Đức Giêsu là một con người hiếu chiến? Phải chăng những lời nói đó như là một lời tuyên chiến với thế giới con người!

Xin thưa, hiểu như thế chẳng khác nào thầy bói mù xem voi, hiểu như thế là hiểu một cách lệch lạc về thông điệp mà Đức Giêsu muốn công bố.

Trong ba năm ra đi rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu đã rao giảng những gì! Thưa, Ngài luôn rao giảng một thứ Tin Mừng cứu độ. Và thông điệp mà Đức Giêsu muốn gửi đến cho nhân loại đó chính là thông điệp về tình yêu.  Tình yêu mà Đức Giêsu nói đến, đó là một  thứ tình yêu thương “người liều mạng sống vì người mình yêu”, tình yêu mà Ngài nói đến còn là một thứ tình “yêu thương kẻ thù nghịch”.
 

  Không chỉ nói về tình yêu thương, Đức Giêsu còn nói đến lòng tha thứ. “Anh em đã nghe dạy rằng: ‘mắt đền mắt, răng đền răng’. Còn Thầy, Thầy bảo anh em; đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa” (Mt 5, 38).

Và đây, chính cái chết của Đức Giêsu trên đồi Golgotha, với lời cầu nguyện rằng “Lạy Cha xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” đã chứng thực cho những lời Ngài giảng dạy.

“Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh  em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ”. Đúng, Đức Giêsu đã nói như thế và nếu gọi đây là một lời tuyên chiến thì sự tuyên chiến mà Đức Giêsu đưa ra chính là tuyên chiến với Satan, với tội lỗi và với những gì thuộc về nó.

Nói tắt một lời, sự chia rẽ mà Đức Giêsu “đem tới”, không phải là để chia rẽ giữa con người với con người mà chính là để “rẽ” con người ra khỏi Satan, “rẽ” con người ra khỏi bóng tối tội lỗi, điều mà một khi  con người vướng phải, họ sẽ không thể thực hiện những ước mong, ước mong ngọn lửa đức tin sẽ bùng cháy lên, nhờ đó, họ sẽ có thể, như lời tác giả thư Do Thái đã nói, “cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình”(Dt 12, ..1)

****

Như vậy, giờ đây, điều mà chúng ta cần hỏi, cần biết, đó là, chúng ta đã “rẽ” ra khỏi Satan, ra khỏi  “gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình”? Nếu chưa, chúng ta sẽ phải làm gì?

Tạ ơn Chúa, cũng qua thư Do Thái, Thiên Chúa đã cho chúng ta một lời chỉ dẫn, một lời chỉ dẫn có thể xoay chuyển cục diện đời ta, có thể đem ta ra khỏi thung lũng âm u nghi ngờ của chết chóc. Vâng, lời chỉ dẫn rằng, “Hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin”

Đừng chủ bại mà nghĩ rằng, thế giới hôm nay, xã hội hôm nay đầy cám dỗ và quyến rũ, đầy mưu ma chước quỷ, để thực thi những điều trên, quả là điều bất khả thi.


 Vâng, chỉ là người trần mắt thịt, cố hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã thực thi trọn vẹn “những ước mong” mà Đức Giêsu đã nói với các môn đệ năm xưa.

Mười ba năm “tù không tội” với chín năm biệt giam chỉ thấy máu và nước mắt, ấy thế mà Ngài chưa một lần khơi dậy ngọn lửa hận thù, trái lại, qua Ngài, người ta đã thấy “ngọn lửa tình yêu”, ngọn lửa tình yêu đó đã “bùng lên” nơi con tim Nguyễn Hoàng Đức, một đảng viên CS,  người đã từng là cán bộ phòng tôn giáo của bộ công an.

Qua bài viết “Con đường đức tin vào Nước Chúa qua cây cầu Hồng y FX. Nguyễn Văn Thuận” của anh ta, nó như là một lời chứng, chứng thực cho việc cố hồng y Thuận đã thực thi hoàn hảo tình yêu thương và lời mời gọi tha thứ mà Thầy Giêsu đã giảng dạy.

Nói cách khác, cố hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận chính là bàn tay nối dài của Đức Giêsu để “ném lửa vào mặt đất”, không phải ngọn lửa hận thù mà là ngọn lửa tình yêu, ngọn lửa đó đã “bừng lên” không chỉ nơi nhà văn Nguyễn Hoàng Đức, mà còn nơi nhiều người khác nữa.

*****

Thật ra, sự chia rẽ hay sự chống đối, trong gia đình hay ngoài xã hội chỉ vì để bảo vệ  đức tin, chân lý hay sự thật không có gì quan trọng vì đó là điều  tất yếu phải xảy ra trong đời sống của một người môn đệ đã tin và theo Đức Giêsu.

Điều quan trọng, đó là, trong việc  tranh luận để bảo vệ  đức tin, chân lý hay sự thật, chúng ta có làm cho thế giới này, xã hội này, qua chúng ta, nhân loại thấy rõ dung nhan một Chúa Giêsu “hiền lành và khiêm nhường trong lòng” hay không!


Hãy nhớ, Kinh Thánh có chép rằng “Trong anh em cần có sự tranh luận để biết ai là kẻ đức độ”.  Đức độ! Vâng, đó chính là dầu để thắp lên ngọn lửa tình yêu, một ngọn lửa, xưa kia, Chúa Giêsu đã  ước mong phải chi các môn đệ của Ngài “hãy thắp bùng lên”

Petrus tran 


 

Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2013

Ôi! Chúa ơi! Con hổng dè...



Ôi! Chúa ơi! Con hổng dè…

Suốt hơn tuần qua, truyền thông mạng không ngừng đưa tin về một tai nạn đã xảy ra vào tối 2/8/2013. Một con tàu khách mang số hiệu H29-BP chở 30 người của Công ty sản xuất ống thép dầu khí Việt Nam trên đường từ Gò Công Đông (Tiền Giang) về Vũng Tàu dự đám cưới, khi đi qua sông Soài Rạp thuộc Cồn Ngựa, Cồn Thu (Cần Giờ) thì gặp sóng lớn nên bị nhấn chìm. Sau những giờ vật lộn với tử thần và sau khi những tàu cứu hộ xuất hiện, 21 người được cứu sống và 9 người đã tử vong.

Tiếp xúc với những nạn nhân sống sót cũng như  thân nhân của những người đã chết, tất cả mọi người đều có chung một cảm nghĩ rằng, quả  là một tai nạn thảm khốc không ai ngờ tới. Vâng, thật không ngờ! không ngờ một đám cưới lại trở thành chín đám tang…

Nhớ lại hơn mười năm về trước, cái ngày định mệnh 11/09/2001, có ai ngờ tại New york - Hoa Kỳ, cả thế giới đã chứng kiến một vụ khủng bố khiến cho khoảng 3000 người chết tức tưởi. Và cách đây không lâu, rạng sáng ngày 24/02/2013, có ai ngờ nhà ông Lê Minh Phương , một chuyên viên khói lửa và thường được những người đồng nghiệp gọi là “Phương khói lửa” đã xảy ra một vụ nổ khiến hơn chục mạng người tiêu vong… Đúng là “có ai học được chữ ngờ!”

“Chữ ngờ - không ngờ”. Vâng, nhắc lại những biến cố đau thương nêu trên không phải là để gợi lại nỗi đau buồn nơi thân nhân của những người đã chết nhưng là để nhắc lại một lời cảnh báo của Đức Giêsu, lời cảnh báo về một sự kiện cũng sẽ bất ngờ xảy ra, sự kiện ngày “Con Người sẽ đến”.

**
Trong ba năm ra đi loan báo Tin Mừng. Đức Giêsu không chỉ cho các môn đệ biết vai trò và sứ mạng của Ngài “đến thế gian… là để thế gian nhờ (Ngài) mà được cứu độ”, nhưng Ngài còn cho các ông biết đến một sự kiện sẽ xảy ra, sự kiện sẽ có một ngày “Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến. Người sẽ sai các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương, từ chân trời này đến chân trời khác” (Mt 24, 30-31). 

Vâng, một hôm, sau khi dạy cho các môn đệ bài học về cái giá phải trả cho những ai thu tích của cải mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, Đức Giêsu đã có những lời dạy dỗ chân tình với các môn đệ, rằng “Vì kho tàng anh em ỏ đâu, thì lòng anh  em ở đó”.

Có thể nói rằng, lời dạy dỗ nêu trên như một chiếc chìa khóa, chiếc chìa khóa mở cửa lòng các môn đệ hầu cho các ông nhận rõ thông điệp Đức Giêsu muốn gửi tiếp đến các ông, thông điệp rằng: “Anh em cũng vậy, hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến”.

Thế nào là sự sẵn sàng! Thưa, sự sẵn sàng Đức Giêsu cho là tốt nhất, đó là hình ảnh một người “thắt lưng cho gọn và thắp đèn cho sẵn”. 

“Thắt lưng”, vâng, một hình ảnh gợi cho người ta nghĩ đến một người chiến binh nai nịt gọn gàng, sẵn sàng chiến đấu, một hình ảnh không người Do Thái nào lại không hơn một lần trải nghiệm.  

Còn “thắp đèn” thì sao! Rất có thể, khi nói lên điều này,  Đức Giêsu muốn các môn đệ hãy nhớ lại dụ ngôn “mười cô trinh nữ cầm đèn ra đón chú rể”. Nói tắt một lời “thắt lưng cho gọn và thắp đèn cho sẵn” là biểu hiện của sự “sẵn sàng”. 

Và để nhấn mạnh yếu tố “không ngờ”, Đức Giêsu đã đưa ra một câu chuyện rất gần gũi với cuộc sống thường nhật của các ông, đó là câu chuyện “những người đợi chủ đi ăn cưới về”. Xen vào câu chuyện này, là chuyện “mất trộm”. 

Vâng, có thể nói rằng, đây là câu chuyện 2 trong 1, và qua câu chuyện này, lời cảnh báo của Đức Giêsu càng thêm nổi bật. 

Thật vậy, câu chuyện người đợi chủ và chuyện mất trộm, tuy hai nhưng là một, chung một tính chất, tính chất “không ngờ”. Theo phong tục Do Thái, tiệc cưới thường kéo dài trong bảy ngày và thậm chí có thể kéo dài hai tuần, vì thế, chuyện “canh hai hoặc canh ba ông chủ mới về” đúng là chuyện “không ngờ”.  
Còn chuyện mất trộm ư! Cũng vậy, có nhà nào mất trộm mà gia chủ lại không than thở “tôi thật không ngờ”!

Cho nên, để cho tính chất bất ngờ không còn bất ngờ, để cho yếu tố “không ngờ” không còn “không ngờ” Đức Giêsu đã có lời dạy các môn đệ rằng: “Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay”. 

Và để có thể làm tốt vai trò “người đợi chủ”, Đức Giêsu đã thêm một lời khuyên: “Tỉnh thức và hãy sẵn sàng”. 

***
Khi nghe Đức Giêsu nói xong câu chuyện này, thánh Phêrô liền hỏi: “Lạy Chúa! Chúa nói dụ ngôn này cho chúng con hay cho tất cả mọi người?” (Lc 12, 41).
Tại sao ông Phêrô lại có câu hỏi như thế! Thưa, có thể là vì ông nghĩ rằng, Đức Giêsu thường dùng dụ ngôn để giảng dạy cho dân chúng, còn với các ông, Ngài luôn nói thẳng, nói trực tiếp mà không cần ẩn dụ.
Thì đây,  câu chuyện về một người “quản gia trung tín, khôn ngoan” đã làm trọn bổn phận “mà ông chủ đặt lên coi sóc kẻ ăn người ở để cấp phát phần thóc gạo đúng giờ đúng lúc”… trước khi ông chủ về, chính là câu trả lời cho Phêrô.


Nói cách khác, dù Đức Giêsu không trả lời trực tiếp cho tông đồ Phêrô, nhưng chắc hẳn ai trong chúng ta cũng hiểu rằng Ngài nói “dụ ngôn này” cho-tất-cả-mọi- người-kể-cả-chúng-ta-hôm-nay.

Đúng, Chúa Giêsu nói cho-tất-cả-mọi-người-kể-cả-chúng-ta-hôm-nay. Tất cả chúng ta đều là “người quản gia… mà ông chủ đặt lên coi sóc”. 

Chính vì thế, trước một xã hội duy vật vô thần như hôm nay, mỗi chúng ta phải là “người quản gia” của niềm tin và lòng thương xót. 

Trước một xã hội chìm đắm trong bóng tối của tội lỗi, mỗi chúng ta phải là “người  quản gia” biết thắp sáng lên ngọn đèn đức tin của mình trước bàn dân thiên hạ hơn là ngồi đó nguyền rủa bóng tối. 

Trước một xã hội đầy gian xảo, dối trá và lừa lọc, mỗi chúng ta phải là “người quản gia” luôn tỉnh thức không mê ngủ trước cám dỗ của lợi lộc, của tiền bạc, của danh vọng, những thứ chỉ là phù vân, chóng qua. Nói cách khác, chúng ta phải là “người quản gia trung tín” lề luật của Chúa và “khôn ngoan” trước những cám dỗ của thế gian.

Đừng nghĩ rằng, đó là nhiệm vụ bất khả thi. “Đức tin” vâng, tác giả thư Do Thái khẳng định rằng “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng”. 

Vì thế, đừng sợ. Để có thể trở nên “người quản gia trung tín khôn ngoan”, tạ ơn Chúa, tông đồ Phao lô đã có một lời khuyên  “Hãy sống tiết độ, mặc áo giáp là đức tin và đức mến, đội mũ chiến là niềm hy vọng ơn cứu độ”.  

Hãy nhớ rằng, “Sống tiết độ” đó chính là chúng ta đã nhận được hoa quả của “Thần Khí” (Gl 6, 22). Có Thần Khí Chúa, chúng ta sẽ biết đâu là  “ý chủ - ý Chúa” và đâu là ý thế gian. 

Chắc hẳn, chẳng ai trong chúng ta dại đến độ khi biết được ý chủ - ý Chúa “mà không chuẩn bị sẵn sàng hoặc không làm theo ý chủ-ý Chúa”.  

Hãy tin rằng, một khi làm theo “ý chủ-ý Chúa” thì dẫu cho ngay đêm nay “Con Người đến” chúng ta cũng sẽ không phải lo sợ mà thốt lên “ Ôi! Chúa ơi! Con hổng dè..” 

Petrus.tran




Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

Đừng để Chúa nói: "Dại quá con ạ!"



Đừng để Chúa nói “dại quá con ạ!”

Sống trên đời, có lẽ hầu hết trong chúng ta, ai cũng mong muốn có một cuộc sống giàu sang phú quý. Đó không phải là một ước muốn xấu. Muốn giàu sang phú quý không có gì sai, vì, Thiên Chúa là Đấng ban mọi ơn phúc cho con người: ơn phúc vật chất lẫn ơn phúc tâm linh. 

Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng, có rất nhiều người đã được Thiên Chúa ban cho giàu sang phú quý, điển hình như ông Ápbraham, ông Gióp, vua David và vua Salomon v.v…

Chỉ tiếc rằng, có vẻ như, ngày nay, khi nói đến sự giàu sang phú quý, con người không còn coi đó như là ơn phúc “TRỜI” ban. Tệ hơn nữa, con người còn coi sự giàu sang phú quý như là cứu cánh cho cuộc sống, có “tiền” thì cả “tiên” cũng mua được. 

Nghĩ như thế quả là một sai lầm và hết sức nguy hiểm. Với Đức Giêsu, Ngài đã gọi những người có quan niệm như thế là “Đồ ngốc!”. 

**
“Đồ ngốc!”. Đúng vậy, Đức Giêsu đã nói như thế  trong một lần Ngài cùng với các môn đệ ra đi truyền giáo. Hôm đó, sau khi Đức Giêsu có một bài giảng hùng hồn về một Thiên Chúa là Đấng quyền năng, thì có một người trong đám đông đến gặp Ngài.  

Người này gặp Đức Giêsu để làm gì? Thưa, là để xin Ngài đứng ra dàn xếp việc “chia gia tài”… 

Chia gia tài ư! Vâng, theo truyền thống, rabbi chính là người có thẩm quyền phân xử  và có lẽ người này nghĩ rằng Đức Giêsu cũng là một rabbi nên đã đến với Ngài và nói “Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi”.

Thế nhưng, thật đáng tiếc cho người này, Đức Giêsu đã từ chối bằng một câu trả lời như trách khéo, rằng “Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện, hay người chia gia tài cho anh?” (Lc 12,14). 

Kết thúc buổi không hẹn mà đến, Đức Giêsu cho người này một lời khuyên, Ngài khuyên rằng, “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu”.
***
Tại sao Đức Giêsu không phân xử ? Thưa, thứ nhất, khi đến gặp Ngài, qua câu nói: “bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi”, vâng, qua câu nói, có vẻ như người này muốn áp đặt, muốn ra lệnh Đức Giêsu phải thực hiện rốt ráo điều anh ta xin. 

Thứ hai,  đúng, một cách nào đó, Đức Giêsu là một rabbi, nhưng Rabbi-Giêsu đến thế gian không phải để làm thẩm phán hay quan tòa của thế gian, Ngài đến thế gian với vai trò là Đấng-Cứu-Thế, là để “loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn… công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18).
Và cuối cùng, để làm sáng tỏ vấn đề, Đức Giêsu đã kể một dụ ngôn, dụ ngôn nói về  “người phú hộ thu tích của cải cho mình”.
****
Chính trong dụ ngôn này Đức Giêsu đã nói “Đồ ngốc!”. Ngài nói ai là đồ ngốc? Thưa, người phú hộ. Tại sao người phú hộ bị Đức Giêsu gọi như thế?
Vâng, chuyện kể rằng, “Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, mới nghĩ bụng rằng: Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa màu!”. 

Ơ kìa! Chuyện nhà nông mùa màng bội thu và lo ngại kho bãi không còn chỗ chứa thì có gì để gọi là “ngốc!”! Kinh Thánh chẳng đã khen  “Người khôn ngoan biết để dành” đó sao!

Đúng, đúng là không có gì đáng gọi là ngốc, mà còn phải khen nhà phú hộ là khôn ngoan biết lo xa với những dự tính như “xây những cái kho lớn  hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó”.  

Thế nhưng, điều cần nói ở đây, đó là nhà phú hộ kia, trước những thành quả đạt được, lại dương dương tự đắc coi trời bằng vung, cho rằng, tất cả “của cải ê hề, dư xài nhiều năm”, mà ta có, không liên quan gì đến trời đất gì cả, chỉ duy nhất một người sở hữu đó là “hồn ta”.  Đáng trách hơn, ông ta ngạo mạn vung vít rằng, “Hồn ta hỡi… cứ ăn uống vui chơi cho đã!” 

Chính lời tuyên bố ngạo mạn đó đã nói lên cái “ngốc” của nhà phú hộ. Ai… ai đã tạo dựng “hồn-ta”? Ai… ai đã “cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính”. Ai… ai sẽ là người “nội đêm nay… đòi lại mạng ngươi?”

“Đồ ngốc”… Vâng, nếu Đức Giêsu là người Việt Nam, gốc bắc, chắc hẳn Ngài sẽ nói với nhà phù hộ kia rằng “Dại quá con ạ!”. 

“Dại quá con ạ!” phải chăng, đó cũng là lời Chúa Giêsu nói với chúng ta hôm nay? Đúng vậy,  nếu chúng ta chỉ biết “thu tích của cải cho mình mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa”.

Đừng quên lời Đức Giêsu đã nói “Được cả thế gian mà mất linh hồn  thì nào ích gì”. 

*****
Có bao giờ chúng ta tự hỏi, như thế nào là “làm giàu trước mặt Thiên Chúa”?
Làm giàu trước mặt Thiên Chúa, phải chăng là “ăn mặc lụa là gấm vóc, ngày ngày cứ yến tiệc linh đình” còn những kẻ nghèo khổ, khố rách áo ôm thì cứ mặc-kệ-nó? 

Thưa, không phải như thế. Làm giàu trước mặt Thiên Chúa chính là “đừng xòe tay ra nhận, rồi nắm lại khi phải cho đi” (Hc 4,31).

Có một câu chuyện xin được kể lại hầu quý vị. Chuyện có tên “Di Chúc của nhà triệu phú”. Chuyện kể rằng “Ba mươi năm trước, tại thủ đô Washington, D.C., vợ của một doanh nhân đã bỏ rơi chiếc ví của cô ấy tại bệnh viện trong một đêm mùa đông. Doanh nhân này rất lo lắng và quay lại bệnh viện để tìm ngay trong đêm đó, bởi vì trong chiếc ví không chỉ chứa $100,000 mà còn có cả các tài liệu marketing rất quan trọng.


Khi người doanh nhân vội vã tới bệnh viện, ông ta nhìn thấy một cô gái nhỏ nhắn nằm ngay dưới chân bức tường hành lang, đang run lên vì lạnh, và trong tay cô gái đó có chính xác chiếc ví mà vợ ông đã bị mất.  Cô gái tên là Hiada, cô tới bệnh viện để đưa người mẹ đang bị ốm khám bịnh. Người mẹ và cô con gái, hai người đang dựa vào nhau để sống, họ rất nghèo, họ bán mọi thứ đáng giá và gom góp chỉ vừa đủ số tiền để nhập viện và ở bệnh viện trong một đêm. Không có tiền, họ sẽ bị đuổi ra khỏi bệnh viện vào ngày tiếp theo.


Đêm đó, Hiada đã bị bỏ lại bơ vơ trong hành lang của bệnh viện. Cô ấy cầu nguyện xin Chúa nhân từ cứu giúp và hy vọng sẽ gặp được một quý nhân nào đó sẽ cứu giúp được mẹ cô. Đột nhiên, một người phụ nữ đi từ trên hàng lang xuống và đã đánh rơi chiếc ví mà không hề để ý và vội vã đi qua, có lẽ bởi vì cô ấy đang phải mang một thứ gì đó trên tay. Hiada là người duy nhất ở hành lang lúc đó, cô đã tới và nhặt chiếc ví lên. Khi cô chạy tới sau cánh cửa phía sau người đàn bà kia, thì bà ấy đã ở trên ô tô.

Hiada quay trở lại phòng bệnh viện. Khi mở chiếc ví ra, cả hai mẹ con đều sock vì số tiền quá lớn. Họ đều ngay lập tức nghĩ rằng số tiền kia sẽ có thể giúp mẹ cô ấy chữa bệnh. Tuy nhiên, người mẹ đã nói với Hiada quay lại hành lang và đợi người đánh rơi kia quay lại để tìm.

Bất chấp mọi nỗ lực giúp đỡ cứu chữa của nhà doanh nhân, mẹ của Hiada đã ra đi và để người con gái nhỏ ở lại một mình. Sau đó,nhà doanh nhân đã giúp đỡ cô con gái nhỏ bé kia, người đã mất đi cả gia đình. Người mẹ và cô con gái không chỉ giúp người doanh nhân lấy lại $100,000, mà quan trọng hơn là những tài liệu marketing đã giúp nhà doanh nhân về sau thành công hơn bao giờ hết và trở thành một nhà triệu phú chỉ sau đó không lâu

Sau khi tốt nghiệp đại học, Hiada, (với sự giúp đỡ của nhà doanh nhân), cô đã trợ giúp cai quản việc kinh doanh của nhà triệu phú. Mặc dù nhà triệu phú không bao giờ bổ nhiệm cô vào một vị trí nào thực sự, nhưng trải qua rất nhiều thời gian thử thách và học tập, những kinh nghiệm thông thái của nhà triệu phú đã ảnh hưởng tới cô, giúp cô trở thành một nữ doanh nhân thực sự.

Vào những năm sau này, ông đã tham vấn Hiada rất nhiều ý kiến giải quyết cho rất nhiều vấn đề gặp phải. Khi mà ông sắp xa rời thế giới, ông đã để lại những dòng đầy từ bi:

“Trước khi tôi biết Hiada và mẹ cô ấy tôi đã thực sự mất hết tiền, nhưng khi tôi đứng trước bà mẹ và cô con gái, người đã tìm thấy một số tiền rất lớn của tôi khi mà họ đang trong cảnh bệnh tật và nghèo đói nhưng vẫn không màng tới số tiền của tôi, tôi nhận ra rằng họ mới là những người giàu nhất. Họ đã giữ được những tiêu chuẩn đạo đức cao nhất của con người mà một người doanh nhân như tôi còn thiếu. Tiền của tôi có được phần lớn là do những trò tiểu xảo và tranh nhau với người khác. Đó là những người mà họ làm cho tôi hiểu được tài sản quan trọng nhất trong cuộc đời là giá trị đạo đức của họ. Tôi cứu giúp Hiada không chỉ vì trả ơn hay vì sự cảm thông. Mà là vì tôi thấy cô ấy như một hình mẫu chuẩn mực của một con người.

Khi cô ấy ở bên cạnh tôi, tôi sẽ luôn nhớ rõ rằng tại bất kỳ thời điểm nào cái gì tôi nên làm, cái gì không, tôi nên kiếm tiền thế nào, tôi không nên kiếm thế nào. Đó là lý do cơ bản cho sự thịnh vượng trong kinh doanh của tôi sau này và khi tôi đã trở thành nhà triệu phú. Sau khi tôi chết, hàng triệu đô la của tôi sẽ kế thừa lại hết cho Hiada. Đó không chỉ là để cho mà nó sẽ mang lại thành công hơn và thịnh vượng hơn cho việc kinh doanh sau này. Tôi tin chắc rằng người con trai thông minh của tôi sẽ hiểu được những suy nghĩ của cha mình.”

Khi người con trai của nhà triệu phú đi du học trở về, anh đã đọc rất kỹ bức thư của cha và ngay lập tức ký các giấy tờ chuyển nhượng mà không một chút đắn đo gì : “Tôi đồng ý để Hiada thừa kế toàn bộ tài sản của cha tôi. Tôi chỉ có một đề nghị rằng Hiada sẽ trở thành vợ của tôi.”

Sau khi đọc xong và nhìn thấy chữ ký của người con trai nhà triệu phú, Hiada đã nghĩ rất nhanh và đã ký vào: “Tôi xin nhận mọi tài sản thừa kế từ thế hệ trước, bao gồm cả người con trai của ông”. (theo chanhkien)

Qua câu chuyện, chắc hẳn chúng ta có thể nhận ra ai là người đã “làm giàu trước mặt Thiên Chúa”. Vâng, thật không dễ gì để trả $100.000 khi mình đang rất cần đến nó. Thế nhưng, Hiada đã làm được. 

Phải chăng, cô ta đã thuộc lòng lời thánh Phaolô nói: “anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.”? (Cl 3,2).

Về phần chúng ta hôm nay, chúng ta có quyền lựa chọn, làm giàu cho chính bản thân mình hay là làm giàu cho Thiên Chúa! Thế nhưng, có một điều chúng ta cần nhớ, đó là, đừng để sự lựa chọn của chúng ta trở thành nguyên cớ, mà sau này, nơi tòa phán xét, quan tòa Giêsu sẽ nói với chúng ta rằng “Dại quá con ạ!”
Petrus.tran










Thứ Hai, 15 tháng 7, 2013

Tôi là người thân cận của ai?



Tôi là người thân cận của ai?

Người Roma xưa có câu “Homo homini lupus” nghĩa là “Con người đối xử với nhau chẳng khác gì chó sói”. Thoạt nghe câu nói trên, nó làm cho chúng ta có cảm tưởng lời nói đó quá khắt khe. Nhưng, quả thật, nhìn vào thực tế của xã hội hôm nay, chúng ta không khỏi giật mình vì cách đối nhân xử thế của con người.  Chúng ta không khỏi bàng hoàng về phẩm hạnh của con người ngày một xấu đi.

Thật vậy, theo dõi trên truyền thông đại chúng, có thể nói, không ngày nào mà không có một án mạng xảy ra. Gần đây nhất, ngày 8/7/2013, là chuyện một người cháu trai “đi chơi về thấy cửa khoá nên leo cổng theo lan can lầu một vào trong và bị ông ngoại mắng. Tức giận, Tú (tên người cháu trai) đạp vào ngực và vật lộn với ông. Do khoẻ hơn nên đứa cháu bất nhân thắng thế, lấy máy nghe nhạc gần đó đập vào đầu rồi bóp cổ ông ngoại đến tắt thở”. (nguồn: vnexpress)

Xa hơn nữa là chuyện vợ giết chồng, mẹ giết con, rồi đến chuyện “mạng chó đổi mạng người” mà khi nghe đến, chúng ta không khỏi ngao ngán và tự hỏi: giữa con người với con người… “tình người” nay còn đâu?

**
“Tình người” hay nói đúng hơn “Tình yêu thương”… Vâng, đó là một trong những giáo lý căn bản mà một người Kitô hữu phải biết đến và thực thi. Trong Mười Điều Răn Đức Chúa Trời, chúng ta được truyền dạy rằng, “Mười điều răn ấy tóm về hai này mà chớ: trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen”.

“Mến Chúa”… vâng, thật dễ dàng. Còn “Yêu người” quả là không dễ chút nào.  Thế nhưng, nếu chúng ta chỉ Mến-Chúa mà không Yêu-người, như thế, chúng ta chưa làm trọn lệnh truyền của Chúa, chúng ta chỉ mới giữ một nửa điều răn của Chúa.

Kinh thánh đã dạy chúng ta rằng, “Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1Ga 4, 20).

Nói tới “yêu thương người”… Tạ ơn Chúa vì Người đã để lại cho chúng ta một bài học sâu sắc về “tình người” qua dụ ngôn “Người Samaria tốt lành”.

***
Câu chuyện “Người Samaria tốt lành” được chép trong Tin Mừng Luca (10, 25-37). Thật ra, nếu được phép, vâng, chúng ta có thể nói rằng, đây là một câu chuyện “2 trong 1”. Gọi như thế là bởi câu chuyện “Người Samaria tốt lành” là câu trả lời cho câu chuyện trước đó.

Câu chuyện trước đó được kể lại rằng, Có người thông luật kia đứng lên hỏi Đức Giêsu rằng: “Thưa Thầy tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp’” (Lc 10, 25).

Đây không phải là lần đầu tiên có người tìm đến Đức Giêsu để hỏi Ngài một câu hỏi với nội dung như thế. Trước đây, cũng đã có một chàng thanh niên giàu có đến với Đức Giêsu cũng với nhã ý nêu trên.

Với chàng thanh niên giàu có, Đức Giêsu đã đưa ra những lời khuyên anh ta, để nhờ đó, anh ta có thể đón nhận được điều anh ta muốn có. Ngược lại, với người thông luật, thay cho lời khuyên, Ngài đã đưa ra một câu hỏi, một câu hỏi ngầm ý như một lời trách cứ, rằng “Trong luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?”

Vâng, làm sao không trách cứ anh chàng thông luật này cho được. Người thông luật, chính là thầy thông giáo, thầy thông giáo chính là người am hiểu, rành rẽ luật Môse, luật Môse được ghi trong ngũ thư là những cuốn sách nói rất rõ về Mười Điều Răn, về lề luật, về lễ nghi thờ phượng Đức Chúa Trời.

Nói cách khác, là thầy thông luật, ông ta dư biết “đáp án” cho câu hỏi của ông ta. Thật vậy, sau khi nghe câu hỏi của Đức Giêsu, vị thông luật đã trả lời “ngọt sớt” rằng “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa Trời, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình”.

Qua cách trả lời của ông ta như thể chính ông ta là người ra câu hỏi.
Thế nhưng, điều đáng trách hơn nữa, ông thầy thông luật này đã thâm hiểm khi biến câu trả lời của mình thành câu hỏi, một câu hỏi hóc búa, trước là để thử Đức Giêsu, sau là để chứng tỏ mình-có-lý. 


“Nhưng ai là người thân cận của tôi ?” Ai! “Ai là người thân cận của tôi ?” 


Không trả lời trực tiếp vào câu hỏi, Đức Giêsu, một lần nữa, đã dùng một dụ ngôn, một dụ ngôn cho đến ngày nay, giới luật pháp quốc tế đã biến nó thành một đạo luật mang tên “luật người Samari nhân hậu”.  


Lm. Jude Siciliano, OP. mở đầu bài giảng về chủ đề “người Samari nhân hậu” cho biết “Trong thế giới luật pháp có ‘luật người Samari nhân hậu’,  luật này yêu cầu bảo vệ hợp pháp với những ai giúp đỡ chính đáng cho người khác khi người đó bị thương tích, đau yếu hoặc trong những tình cảnh hiểm nghèo. Luật người Samari nhân hậu này nhằm khuyến khích người khác trợ giúp những ai lâm cảnh hoạn nạn”.

Thì đây, câu trả lời của Đức Giêsu cho vị thông luật, qua dụ ngôn “người Samari nhân hậu” đã  mô tả rõ nét “Ai là người thân cận của tôi”. 


Ba nhân vật được đề cập trong dụ ngôn, lần lượt là thầy tư tế, rồi đến một thầy Lêvi, cuối cùng là một người Samari. Cả ba, kẻ trước người sau, đều đi trên một lộ trình, lộ trình từ “Giêrusalem xuống Giêricô” (x.Lc 10, 30).


Cả ba đều nhìn thấy cảnh bi đát của một người lữ khách. Anh ta “bị rơi vào tay kẻ cướp…bị lột sạch… bị đánh nhừ tử…” và bị quẳng ra nằm rên rỉ giữa ngã ba đường làng.


Không thể tin được! Dù trông thấy người lữ khách đang nằm “nửa sống nửa chết”… Nhưng cả thầy tư tế lẫn thầy Lêvi đều “tránh qua bên kia mà đi”.


Người Samari. Vâng, người Samari “cũng thấy và chạnh lòng thương”.  Sự chạnh lòng thương của anh chàng Samari không dừng ở đôi mắt, không dừng ở tấm lòng, nó được lan tỏa tới đôi chân và đôi tay. 


Chuyện kể rằng “Ông ta lại gần”. Lại gần làm gì? Để xem trên con người bất hạnh này còn thứ gì quý giá “hốt hụi chót” chăng!  Thưa không. “Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc” (Lc 10, 34)


Viết tới đây, tôi chợt nhớ lại, cách đây khá lâu, ngay tại Saigon (dường như ở bùng binh ngã sáu Chợ lớn thì phải), có một người bị cướp, bọn cướp giật túi tiền của anh ta, anh ta giật lại được, nhưng xui xẻo thay! túi tiền đó bị rách do sự giằng co giữa anh ta và kẻ cướp, tiền văng tung tóe trên đường. 


Lúc đó nhằm giờ tan sở, rất nhiều người dừng xe lại lượm tiền rơi vãi, thế nhưng, thay vì gom lại trả cho khổ chủ, tệ thật! những kẻ dừng lại lượm tiền coi đó như là “của trời cho” họ, họ ung dung đút tiền vào túi và lên xe “Dzọt”… 


Hay như câu chuyện một ông bác sĩ lái xe gây ra tai nạn hàng loạt trên đoạn ngã tư đường Lý Thái Tổ - Sư Vạn Hạnh. Trong khi rất nhiều nạn nhân đang oằn oại rên siết vì chấn thương, thay vì nhanh chóng đưa nạn nhân đi cấp cứu, nhiều người giở trò lưu manh lục soát ví tiền, cốp xe nạn nhân, cướp tiền cướp tư trang của họ. 


Thật buồn thay! “tình người” trong thời buổi “xã nghĩa” là như vậy đó! 


Trở lại câu chuyện dụ ngôn. Câu trả lời đã rõ. 


“Ai là người thân cận của tôi ?”. Đối với thầy thông luật cũng như toàn thể  người Do Thái, họ quan niệm rằng “người thân cận” chính là người-đồng-đạo, đồng hương và đồng chủng tộc.


Với Đức Giêsu, qua dụ ngôn, Ngài không chỉ gửi đến thầy thông luật một “đáp án” mà còn để lại nơi ông ta một quan niệm mới về “tình người”.


“Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp ?” Thầy thông luật với một nhãn giới mới về “tình yêu thương” ông ta đã không ngần ngại trả lời rằng “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy”. 


****


Câu chuyện “người Samari nhân hậu”, qua lăng kính thần học, Lm. Charles E. Miller đã chia sẻ rằng, “Tội lỗi ‘mai phục’  trên đường đi của nhân loại, chực tước đoạt nhân phẩm của chúng ta, trấn lột chúng ta và cướp đi ân điển của Thiên Chúa. Tội đánh đập ta nhừ tử, rồi bỏ mặc ta dở sống dở chết. Chúa Giêsu đến nâng ta dậy, không phải để đặt lên lưng một con vật nào đó, mà là lên vai của Người và đưa ta về nhà Giáo Hội. Nơi đây, chúng ta được chăm sóc cho đến lúc Người lại đến trong vinh quang trong ngày chúng ta được sống lại”


Vâng, là một Kitô hữu, chúng ta chẳng khác gì người lữ khách đi trên con đường về Trời-Mới-Đất-Mới. Vẫn còn đó, những “bọn cướp” tìm đủ mọi cách để cướp đi cuộc-sống-đức-tin của chúng ta, bằng những chủ thuyết vô thần lừa lọc và dối trá, bằng những thú đam mê dục vọng, bằng tiền tài danh vọng, bằng một nền văn hóa sự chết.  


Vì thế cho nên, đừng rời xa Giáo Hội, nơi mà  “Nhờ máu (Chúa Giêsu) đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an” cho chúng ta, sự bình an đó giúp chúng ta có thể vững tin để trở nên “người Samari nhân lành”.


Một khi chúng ta trở nên “người Samria nhân lành”,  dù ở một lãnh vực nào, ở một ơn gọi nào, chúng ta vẫn có thể nhận ra “ai là người thân cận của tôi” .


Nói cách khác, dù tôi là Giám Mục hay Linh Mục, là bác sĩ hay kỹ sư, là nông dân hay công nhân, là một người chồng hay người vợ, là sinh viên hay học sinh v.v.. tôi vẫn có thể nhận ra “tôi là người thân cận của ai”. 


Petrus.tran    





Thứ Năm, 4 tháng 7, 2013

Cái giá của người môn đệ Chúa Giêsu.



*****
Cái giá của người môn đệ Chúa Giêsu.

Ngày 24/06/2013 vừa qua, toàn thể Giáo Hội Công Giáo long trọng mừng kính sinh nhật thánh Gioan Tiền Hô. Nói tới Gioan Tiền Hô, không ai trong chúng ta lại không một lần nghe tới tiếng “hô” cảnh tỉnh của ngài khi bắt đầu thi hành sứ vụ: “Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi”…

“Hãy sửa đường cho thẳng…” Vâng, cảm hứng từ tiếng “hô” này, linh mục Charles E.Miller chia sẻ: “Trước khi có thể mở một con đường mới, các công nhân phải dọn sạch bất cứ thứ gì trên lộ trình của nó. Đôi khi cây cối phải đốn hạ, đá to phải di dời đi nơi khác và đồi cao phải san bằng. Bất cứ gì cản trở công trình xây dựng con đường ấy, người ta đều phải dẹp bỏ”.

“Đức Giêsu…” linh mục E. Miller nói tiếp: “… Ngài cũng tâm niệm những điều tương tự khi mời gọi những ai muốn đi theo mình. Người đòi hỏi họ phải từ bỏ mọi sự trong đời sống thường nhật, từ bỏ bất cứ gì ngăn trở họ trên con đường trở thành môn đệ của Người”.

Những điều Đức Giêsu đòi hỏi đã được “minh bạch hóa” trong cả bốn sách Tin Mừng. Và hôm nay, chúng ta hãy trở về với sách Tin Mừng Luca (9, 51-62), nơi đây, chúng ta sẽ được nhìn rõ những đòi hỏi mà Đức Giêsu đã đòi hỏi những ai muốn trở nên môn đệ của Ngài.

**
Chuyện kể rằng, hôm đó, trong lúc Đức Giêsu cùng với các môn đệ đang “tay đan tay nhịp bước đi trên… đường” thì bỗng nhiên, có người đến  bên Người và thưa rằng:  “Thưa Thầy, Thầy đi đâu tôi cũng  xin đi theo”.

Thầy đi đâu tôi cũng  xin đi theo ư! Vâng, trong ba năm Đức Giêsu ra đi rao giảng Tin Mừng,  có rất nhiều người xin đi theo Ngài. Ngoại trừ nhóm mười hai các môn đệ, khi xin theo Đức Giêsu, họ đều “ra đi không vương thê nhi”, còn hầu hết những người khác, khi nghe đến những điều kiện “ắt có và đủ” để trở thành môn đệ của Ngài, họ đều thối lui.

Nhớ, có lần, cũng giống như lần này, khi Đức Giêsu vừa lên đường đi, thì có một chàng thanh niên đến và ngỏ lời muốn theo Ngài, nhưng khi vừa nghe Đức Giêsu đưa ra điều kiện “hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo… rồi hãy đến theo tôi”… Thiệt tình… khi anh ta nghe lời đó, chuyện kể rằng, “anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi…”

Hôm nay, với những nhân vật xin đi theo,  Đức Giêsu không chỉ đưa ra điều kiện, Ngài còn nói lên tình trạng về cuộc sống mà người môn đệ đi theo Ngài sẽ phải đón nhận, một tình trạng tồi tệ hơn cả sự tồi tệ, rằng,  “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu”.

Hơn thế nữa, những biểu hiện “buồn vui” của cuộc đời, người môn đệ theo Đức Giêsu đã được Ngài cho một lời khuyên, một lời khuyên hàm chứa sự “xác định” cho một “quyết định”, không áp đặt nhưng chỉ là mời gọi mà thôi..

Xin theo Ngài, chuyện gia đình chớ còn vấn vương.  Với người chết ư! Đức Giêsu nói: “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa”. Chuyện từ biệt ư! Đức Giêsu bảo “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa”.

Vâng, tất cả những đòi hỏi nêu trên, chính là “Giá phải trả để trở nên môn đệ Đức Giêsu”.

***
Khi nói tới những cái “giá phải trả” nêu trên, đừng coi đó như là “Những lời  bí ẩn”. Lm. E . Miller chia sẻ rằng “Những lời bí ẩn này không hàm ý (Chúa) phản đối việc chôn cất các thân nhân đã chết, mà Người muốn nói rằng, ai bác bỏ Người, thì, về mặt nào đó, cũng giống như những người chết bởi lẽ họ đã bác bỏ Chúa-sự-sống. Đồng thời, đây cũng là cách nói của Chúa Giêsu, rằng, chúng ta phải xác định không có gì quan trọng hơn là hết lòng hết dạ với Người”.
Tấm gương những người môn đệ đầu tiên là Anrê, Simon Phêrô, Gioan và Giacôbê, khi đáp lời mời gọi của Đức Giês, hẳn là một bài học tốt cho những ai muốn “Theo Chúa”. Chuyện kể lại rằng: các ông đã “lập tức… bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người” (Mt 4,22).
Đức Giêsu không “hoan nghênh” thái độ lấp lửng “xin phép cho tôi về… xin phép cho tôi từ biệt…” (Lc 9, 59…61)… rồi tôi sẽ v.v…và v.v…
Cái giá phải trả để theo Chúa chính là “sự từ bỏ”. Vâng, Đức Giêsu đã nói : “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình…”(Lc 9,23).
Thánh Phaolô, sau này, có thể nói, chính là tấm gương mẫu mực của người môn đệ theo Chúa. Là một công dân Roma, một thứ quyền “phải tốn bao nhiêu tiền của mới mua được quyền công dân ấy” thế mà ngài dám “Từ bỏ” để trở nên người môn đệ của Chúa.

****
Giá phải trả để trở nên người môn đệ Chúa Giêsu chính là sự từ bỏ.

Một tuần chỉ dành cho Chúa bốn mươi lăm phút bằng việc tham dự thánh lễ, thế mà lại cứ đi trễ do tại-vì-bị đủ thứ lý do,  phải chăng, như thế, có khác gì chúng ta “xin Chúa, cho phép tôi về chôn cất những cái tại-vì-bị đó trước đã”?

Tự do, tự nguyện “Quỳ bên nhau trước Đấng Tối Cao. Hứa yêu nhau trao câu thề chung sống trọn đời” … thế mà,  một ngày đẹp trời nào đó, vô tình gặp một nàng-tiên-cá nào đó, để rồi trầm tư mặc tưởng… để rồi có những ước muốn bất chính… phải chăng, như thế, có khác nào chúng ta không từ bỏ chính mình, có khác nào chúng ta “đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau…”?

Và còn nhiều điều khác nữa, như tật kiêu ngạo, hoặc tính vị kỷ thống trị chúng ta, nếu chúng ta không biết “từ bỏ” nó sẽ là một thảm họa cho chính đời sống chúng ta. Mà cái thảm họa lớn nhất, đó là, chúng ta mất đi danh hiệu “người môn đệ của Chúa Giêsu”. 

Petrus.tran


Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...