Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2013

"Nếu các ông không sám hối..."



“Nếu các ông không chịu sám hối…”

Những ngày vừa qua, truyền thông mạng cũng như báo in đã đưa một bản tin đầy thương tâm. Tin viết rằng, vào khoảng 0h rạng sáng ngày 24/2/2013, tại hẻm 384 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, q.3, Saigon đã xảy ra vụ nổ lớn làm sập ba cắn nhà.Nguồn tin do dân cung cấp cho biết, chủ nhân của căn nhà xảy ra vụ cháy nổ là ông Lê Minh Phương. Ông này hoạt động khoảng 6-7 năm trong nghề thiết kế đạo cụ cho các đoàn phim, chuyên tạo cảnh cháy nổ, khói lửa trên phim trường nên được gọi là “Phương khói lửa”.

Theo kết quả tìm kiếm cứu nạn, vụ nổ và gây sập nhà xảy ra tại địa chỉ trên đã làm mười người tử vong tại chỗ, bốn người bị thương, hiện còn hai người đang điều trị trong bệnh viện. Trong mười nạn nhân, sáu người của gia đình ông Phương bị thiệt mạng, bốn nạn nhân xấu số khác bị vạ lây cư ngụ ở hai căn nhà kế cận.

Sau tai nạn, nhiều luồng dư luận xuất hiện trên truyền thông mạng, người bày tỏ lòng thương tiếc, người cho rằng ông Phương có lỗi vì đã chứa chất nổ ở một nơi không được phép. Với bốn nạn nhân bị vạ lây, có người than trách rằng “trời không có mắt… ông trời hại người” v.v…

Đối với người Do Thái xưa, qua sự kiện này, họ có cái nhìn cực đoan hơn. Với những người gặp tai ương bất hạnh như bệnh tật, tai nạn, tàn tật, họ cho rằng những người đó gặp nạn là do chính tội lỗi của họ gây ra.

**

Đức Giêsu, trong thời gian còn tại thế, Ngài cũng đã phải đối diện với những người Do Thái cực đoan như thế .

Chuyện kể rằng, một hôm, trong một lần Ngài đang nói chuyện với đám đông về những kẻ không biết tự xét mình xem cái gì là phải, thì bỗng nhiên “có mấy người đến kể lại cho Đức Giêsu nghe chuyện những người Galilê bị tổng trấn Philatô giết, khiến máu đổ ra hòa lẫn với máu tế vật họ đang dâng” (Lc 13, 1).

Những người Galilê kia phạm tội gì khiến cho quan lớn Philatô phải tàn sát họ?

Không thấy mấy “ông tám” nói, nhưng có lẽ, mặt mũi mấy ông tám này chắc hẳn hớn hở lắm, hớn hở vì các ông nghĩ rằng, những người Galilê kia, chết là bởi “họ tội lỗi hơn mọi người Galilê khác”.

Có quá cực đoan chăng? Thưa đúng vậy, nhận định như thế không những cực đoan mà còn tỏ ra cho mọi người thấy rằng, họ thiếu hiểu biết về Kinh Thánh.

Tội lỗi ư! Kinh Thánh chẳng chép rằng, ở dưới gầm trời này, lúc chào đời, ai mà không “đã vương lầm lỗi, đã mang tội khi mẹ mới hoài thai.” đó sao!(Tv 51, 7).

Hôm đó, để trả lời cho đám đông dân chúng cũng như mấy ông Do Thái cực đoan, Đức Giêsu dõng dạc tuyên bố “Không phải thế đâu…”. Nói xong, Ngài đưa ra thêm một trường hợp đầy thương tâm khác, đó là chuyện “mười tám người bị tháp Si-lô-ác đè chết” và hỏi với họ rằng: Ai! ai là “người mắc tội nặng hơn”? Mười tám người đó hay “tất cả  mọi người trong thành Giêrusalem”?

Trước sự thinh lặng của mọi người, Đức Giêsu thẳng thắn phán quyết “Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu” Và Ngài nhấn mạnh rằng, “Nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy”.

***
Có bao giờ chúng ta tự hỏi rằng, sám hối là gì?  Và thế nào là một tấm lòng sám hối đích thực!
Sám hối, phải chăng là “biết tội mình đã phạm” và luôn cảm thấy “lầm lỗi cứ ám ảnh ngày đêm”?  Sám hối, phải chăng là, nhận ra mình “đắc tội với Chúa… dám làm điều dữ trước mắt Ngài”? (Tv 51, 6). Và, phải chăng là, như linh mục Nguyễn Cao Siêu nói, “Sám hối không phải chỉ là quay về quá khứ, mà còn là hướng đến tương lai với rất nhiều hy vọng”?
Đúng vậy, vua David xưa, sau khi phạm tội ngoại tình và sát nhân, ông ta đã không- phải-chỉ-quay-về-quá-khứ, xin Thiên Chúa “ngoảnh mặt đừng nhìn bao tội lỗi và xóa bỏ hết lỗi lầm” của ông ta, ông ta còn hướng-đến-tương-lai-với-rất-nhiều-hy- vọng, rằng, Thiên Chúa sẽ tái tạo nơi ông “một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho (ông) nên thủy chung” (x. Tv 51, 11-12)
Hướng-đến-tương-lai-với-rất-nhiều-hy-vọng… Vâng, điều này còn gợi cho ta nhớ tới “dụ ngôn cây vả không ra trái”, một dụ ngôn đã được chính Đức Giêsu dùng làm bài học vỡ lòng cho những ai chưa nhận ra sự nhẫn nại của Thiên Chúa.
Hôm đó, Đức Giêsu đã kể dụ ngôn này rằng: “Người kia có một cây vả trồng trong vườn nho của mình. Bác ta ra cây tìm trái mà không thấy, nên bào người làm vườn: Anh coi, đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt nó đi, để làm gì cho hại đất”. (x.Lc 13, 6-7)
Hãy nhìn xem, nếu người làm vườn không hướng-đến-tương-lai-với-rất-nhiều-hy-vọng vào sự “nhẫn nại” của ông chủ, chắc hẳn anh ta đã không xin ông chủ “Cứ để nó lại năm nay nữa… May ra sang năm nó có trái” (Lc 13, 8).
Vâng, thánh Phalô có nói “Trong thời Thiên Chúa nhẫn nại, Người đã bỏ qua các tội lỗi người ta phạm” (Rm  3, …25).
****
“Dụ ngôn cây vả không ra trái” không chỉ cho chúng ta nhận ra lòng nhẫn nại của Thiên Chúa mà nó còn là bản kiểm thảo lòng sám hối cho mỗi chúng ta.
Thật vậy,  nhìn vào từng nhân vật lẫn sự vật trong dụ ngôn và hãy đặt nhân vật lẫn sự vật vào vị trí trong đời sống đức tin, phải chăng, ông chủ vườn nho chính là Thiên Chúa! Phải chăng, người làm vườn chính là các linh mục! Và phải chăng, cây vả chính là mỗi người Kitô hữu chúng ta!
Vâng, hợp lý đấy. Cho nên, chúng ta hãy trở về trong thinh lặng và hãy tự hỏi lòng mình rằng, sau bao nhiêu năm, từ một “cây vả trần gian”, qua Bí Tích Rửa Tội, chúng ta được trở nên “cây-vả-Kitô-hữu”, mỗi Chúa Nhật chúng ta có đến vườn-nho-nhà-thờ để các linh-mục-làm-vườn “vun xới và bón phân” bằng Thánh Thể và Thánh Kinh là những thứ “lương thực thường tồn” sinh ra  hoa quả “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ”?
Hay chúng ta lại đến “địa đàng trần gian” để được nuôi dưỡng bằng những thứ lương thực hay hư mất, những thứ lương thực chỉ sinh ra hoa trái “dâm bôn, ô uế, phóng đãng, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẻ, bè phái, ganh tị, say sưa chè chén”?


 *****
Trong dụ ngôn, người làm vườn chỉ xin ông chủ vườn hoãn việc chặt cây vả “năm nay nữa”. Năm-nay-nữa là năm nào đối với chúng ta? Là 2014… là 2015…  là 2050, hay là sẽ bất ngờ như sự kiện mới xảy ra tại nhà “Phương khói lửa” !
Cho nên, sẽ là thích hợp nếu chúng ta chuẩn bị cho bản thân mình một tâm hồn sám hối, ngay hôm nay.
Vâng, ngay hôm nay, chúng ta hãy để tâm hồn mình “hướng đến tương lai với rất nhiều hy vọng” rằng, chúng ta, dẫu “là người có tội” nhưng sẽ được Thiên Chúa “ban ơn sám hối”? (Kn 12, 19)
Đừng quên lời Chúa Giêsu đã khuyến cáo năm xưa “Nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy”.

Petrus.tran


Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2013

Hãy vâng nghe lời Người...



Hãy vâng nghe lời Người…

Năm 2012 đã trôi qua, có thể nói, đây là một năm nhân loại đã phải đối diện với nhiều mối lo âu và sợ hãi. Thật vậy, truyền thông mạng, trong năm qua, đã tạo ra những lo âu và sợ hãi khi đưa ra nhiều thông tin liên quan đến ngày tận cùng của trái đất cùng với những đại họa sẽ tiêu diệt loài người.

Nào là, sự phá hủy tầng ozone và hiệu ứng nhà kính sẽ làm cho biến đổi thời tiết dẫn đến thiên tai hạn hán, lũ lụt. Rồi thì, việc vài quốc gia quá khích đang thủ đắc vũ khí hạt nhân,  rất có thể họ điên cuồng phát động một cuộc chiến tranh hủy diệt.

Rồi đến hiện tượng Nibiru, một hành tinh chưa từng được phát hiện trong Thái dương hệ sẽ va chạm hoặc đi ngang qua Trái đất với khoảng cách rất gần và gây nên nhiều thảm họa kinh hoàng.

Tiếp đến, có giả thuyết cho rằng, sự đảo chiều các cực  từ trường của Trái đất là điều không tránh khỏi, nó sẽ gây rối loạn quỹ đạo của hành tinh, qua đó sẽ gây ra nhiều biển đổi trên trái đất.

Bên cạnh đó, người ta lo sợ một sự phun trào núi lửa lớn chưa từng thấy sẽ xảy ra trong năm 2012. Hàng triệu tấn đất đá và khí độc sẽ bay vào bầu khí quyển Trái đất, dẫn tới việc thế giới trải qua một mùa đông hạt nhân do thiên nhiên tạo ra, qua đó tiêu diệt toàn bộ sự sống trên hành tinh này.

Đó là chưa nói đến những lo sợ như:  người ngoài hành tinh xâm lược, chủ nghĩa khủng bố toàn cầu, khủng hoảng dầu lửa, sự diệt vong của đàn ong… cũng là những nguyên nhân gây ra thảm họa cho trái đất.

Nhưng, có lẽ, tin đồn về bia ký Maya chính là nỗi lo sợ nhất của nhân loại. Theo các nhà khảo cứu bia ký mật ngôn Maya vùng Trung Mỹ, sấm ký Maya đã tiên đoán thế giới sẽ tận thế vào ngày 21/12/ 2012 hoặc sẽ xảy ra nhiều biển đổi lớn trên trái đất này.
**

Hôm nay, bước vào năm 2013, vẫn chưa thấy ngày tận thế xảy ra… nhưng, đúng là, trái đất đã  xảy ra nhiều sự “biến đổi”. 

Thật vậy, trái đất đã xảy ra nhiều biến đổi. Một trong những “biển đổi” lớn mà dường như nhân loại không biết tới hoặc có biết cũng tìm cách lãng quên, đó là Đức Giêsu tuy là Ngôi Hai Thiên Chúa nhưng Ngài đã biến-đổi “trở nên người phàm và cư ngụ giữ chúng ta” để những ai “đón nhận, tức là tin vào danh Người, thì Người sẽ (biến đổi thân phận họ) trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1, 12).  

Điều này, không chỉ ông Gioan đã được Thiên Chúa sai đến để làm chứng rằng, ông “đã được nhìn thấy vinh quang của Người…”, mà chính Thiên Chúa Cha cũng đã hơn một lần xác nhận.
Lần thứ nhất, tại sông Giodan. Mặc khải về người Con Một Thiên Chúa được hé lộ. Hôm đó, khi Đức Giêsu đến đó để chịu phép rửa, chuyện kể rằng “đang khi Người cầu nguyện thì trời mở ra”. Và liền đó: “Thần Khí Chúa đáp xuống như hình chim bồ câu và ngự trên Ngài”. Nhưng đó chưa phải là điều cần nhắc đến. Điều cần nhắc đến chính là “có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con” (Lc 3, 22).

Và lần thứ hai,  “vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người”, đã được tỏ lộ hoàn toàn trên một ngọn núi quen thuộc mà Đức Giêsu đã cùng các môn đệ lên đó để cầu nguyện.

Hôm đó, có ba môn đệ theo Đức Giêsu. Họ là các ông Phêrô, Gioan và Giacôbê.

Cũng giống như hôm ở sông Giodan, hôm ấy “đang lúc Người cầu nguyện”, một hiện tượng lạ xảy ra “dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói lòa”. Cùng lúc đó “có hai nhân vật đàm đạo với Người, đó là ông Môsê và ông Êlia”. 

Cuộc đàm đạo nói về một sự thực, một “sự thực” mà Đức Giêsu, Con Một Thiên Chúa, sau này, sẽ phải “biến đổi” thành “hiện thực”, đó là “cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem”... một cuộc xuất hành của máu và cái chết của Ngài trên thập giá tại đồi Golgotha...    

Thật đáng tiếc, vì “ngủ mê mệt” nên các môn đệ không thể cùng Đức Giêsu tham dự cuộc đàm đạo đó, cho nên, khi các ông nhìn thấy “Vinh quang của Đức Giêsu và hai nhân vật đứng bên Người”, các ông ngỡ ngàng như lạc vào mê hồn trận. Các ông bị  một đám mây bao phủ chung quanh.

Chuyện kể rằng, từ đám mây có tiếng phán, tiếng phán như một bản thông điệp gửi đến các ông rằng, “Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn”.  Thông điệp đó được kết thúc bằng một lệnh truyền “Hãy vâng nghe lời Người”…    

***                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  
Thánh Luca, người ghi chép biến cố này, đã khép câu chuyện bằng hình ảnh những khuôn mặt đầy ưu tư của các môn đệ. Vâng, thánh nhân viết rằng: “Các môn đệ thì nín thinh, và trong những ngày ấy, các ông  không kể lại cho ai biết gì cả về những điều mình đã thấy” (Lc 9, …36).

Tại sao các môn đệ “nín thinh”? Tại sao các ông “không kể lại”?  Phải chăng là con người các ông chưa thực sự “biến đổi”… các ông chưa thực sự biến đổi từ một tay “lưới cá” thành tay “lưới người”? Hay vì “Các ông không hiểu lời đó, vì đối với các ông, lời đó còn bí ẩn, đến nỗi các ông không nhận ra ý nghĩa”? (Lc 9, 45).

Có lẽ chúng ta không cần “soi xét” hành động này của các môn đệ, mà hãy nhìn những gì, sau này, khi các môn đệ đã “thật sự” nhìn thấy “Vinh quang của Đức Giêsu”,  vinh quang mà Ngài bắt đầu từ vườn cây dầu đến đồi Golgotha, từ cõi chết đến sự Phục Sinh vinh hiển và cuối cùng là “hình ảnh Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây (lại đám mây) quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa” (Cv 1, 9)…

Vâng, sau này, khi đã hiểu và đã tin, đã trở thành “tay lưới người”, thánh Phêrô không còn “nín thinh” nhưng đã lớn tiếng nói “không phải chúng tôi dựa theo những chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo, nhưng là vì chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người. Quả thế, Người đã được Thiên Chúa là Cha ban cho vinh quang và danh dự khi có tiếng từ Đấng tuyệt vời vinh hiển phán với Người ‘Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hết lòng quý mến. Tiếng đó, chính chúng tôi đã nghe thấy từ trời phán ra, khi chúng tôi ở trên núi thánh với Người”.(2Pr 1, 16-18).

Phần tông đồ Gioan, ngài cũng cũng không nín thinh mà đã kể lại rằng: “Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giêsu Kitô, Con của Người” (1Ga1, 3).

Các môn đệ, cách riêng Phêrô,  đã không chỉ lớn tiếng nói, nhưng còn biểu lộ qua sự “biến đổi” con người của mình, biến đổi từ một người nhút nhát “chối Thầy ba lần” trở thành người “vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời phàm nhân” (Cv 5, 29).

Có thể kết luận,  nhờ niềm tin và sự biến đổi, các môn đệ đã hiểu và đã thực thi trọn vẹn tiếng phán từ trời năm xưa. Tông đồ Giacôbê rồi đến Phêrô là hai trong ba người cùng lên núi với Đức Giêsu năm đó, đã dùng chính cái chết của mình để minh chứng rằng, các ông đã thực sự  “Vâng nghe lời Người”.
****      
Trở lại tiếng phán từ trời năm xưa, “Hãy vâng nghe lời Người”. Vâng, có bao giờ chúng ta tự hỏi “lời Người” đó là những lời gì để mà có thể “vâng nghe”?

Xin thưa, “Lời Người” chính là những lời được công bố trên núi Sinai, hôm nay,  chúng ta quen gọi là “Mười điều răn  Đức Chúa Trời – Thứ nhất thờ phượng một Đức  Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự… Thứ năm chớ giết người” (x. Xh 20)

“Lời Người” còn được công bố trên một ngọn núi, hôm nay, chúng ta quen gọi là “Núi bát phúc – Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được đất hứa làm gia nghiệp… Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa”. (x.Mt 5)

“Lời Người”… Vâng, còn là lời Đức Giêsu đã nói với các môn đệ, trước đó tám ngày,  ngày Ngài đã cùng với ba môn đệ lên núi cầu nguyện, rằng,  “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9, 23).

Nói tắt một lời, “Lời Người” đó chính là cuốn Sách Thánh.

Nhận ra được “Lời Người” chúng ta còn cần được “biến đổi”, biển đổi con người cũ, con người “sống đối nghịch với thập giá Đức Kitô” thành một con người mới, con người dám vác thập giá mình hằng ngày, thập giá của tình yêu thương, của bác ái, của nhân hậu, của từ tâm, của trung tín, của hiền hòa và tiết độ.

Vác thập giá của tình yêu thương, đó chính là tấm “chiếu khán” để chúng ta nhập cảnh vào Vương Quốc Giêrusalem mới, nơi Chúa Giêsu Kitô, Ngài chính là người “tuyển chọn”, tuyển chọn những ai  thật sự là người đã “Vâng nghe lời Người”.   

Petrus.tran


















Thứ Hai, 18 tháng 2, 2013

Lời Chúa: niềm tin chiến thắng.



Lời Chúa: niềm tin chiến thắng.

Theo bạn, điều gì chi phối chúng ta nhiều nhất trong mỗi ngày! Phải chăng chính là sự cám dỗ? 

Đúng vậy, sự cám dỗ là một vấn nạn mà ai trong chúng ta cũng đều phải đối diện. Ngay từ khi có trí khôn cho tới lúc trút hơi thở cuối cùng, có biết bao cơn cám dỗ bám theo ta như đỉa đói. Từ sáng sớm cho tới chiều tà, từ lúc lên giường ngủ cho tới lúc thức giấc, sự cám dỗ luôn luẩn quẩn quanh ta như hình với bóng.

Có những cơn cám dỗ hết sức nhẹ nhàng làm cho ta mất phương hướng không biết đâu là bến bờ của chân lý và sự thật, cũng có những cơn cám dỗ như một trận cuồng phong lôi thẳng chúng ta xuống tận cùng địa ngục.

Có thể nói, càng thêm tuổi, sự cám dỗ càng nhiều, nhiều đến độ, Ông Gióp, một nhân vật nổi tiếng trong Cựu Ước, đã nhận định rằng “Đời sống con người trên mặt đất chỉ là một cám dỗ liên lỉ”.

Trong nhiều nỗ lực, con người tìm đủ mọi cách để vượt qua sự cám dỗ. Thế nhưng, trước sự yếu đuối, con người, vẫn cứ  làm-điều-không-muốn-làm, còn điều-muốn-làm-lại-không-làm… để rồi suốt một kiếp người, con người cứ phải thở than: “Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?”

Thánh Phaolô, với sự từng trải, Ngài đã nói “Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 7, 25)

Đúng vậy,  Đức Giêsu, khi còn tại thế, Ngài cũng không thoát khỏi những cơn cám dỗ. Và chính trong những cơn cám dỗ đó, Ngài đã để lại cho chúng ta một bài học sâu sắc, một bài học làm thế nào để vượt lên trên sự cám dỗ.

**
Hồi đó, Đức Giêsu, sau ba mươi năm ẩn dật tại Nadarét, Ngài bắt đầu thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng. Khởi đầu cho cuộc hành trình truyền giáo, Đức Giêsu “được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa… suốt bốn mươi ngày”. 

Vào hoang địa, Đức Giêsu đã thực hiện một cuộc sống “chay trường” và chính cuộc sống chay trường này đã làm nổi bật bản tính “con người” nơi Đức Giêsu. 

Chuyện kể rằng “Trong những ngày ấy, Người không ăn gì cả, và khi hết thời gian đó, thì Người thấy đói”.

Vâng, với bản tính con người, đói thì ăn, khát thì uống là lẽ thường tình, nhưng với Đức Giêsu, hôm đó, Ngài đã gặp phải một thách thức lớn, nói đúng hơn, Đức Giêsu đã phải đương đầu với một sự cám dỗ hết sức tinh vi và xảo quyệt của Xa-tan.  

Xa-tan, với bản chất là xảo quyệt, nó muốn đưa Đức Giêsu vào một mê hồn trận, một mê hồn trận của quyền phép, quyền hành, và quyền lợi.

Về quyền phép, Xa-tan muốn dụ Đức Giêsu xuất chiêu, nên đã gợi ý rằng, “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì truyền cho hòn đá này hóa bánh đi!”

Về quyền hành, Xa-tan đã “đem Đức Giêsu lên cao, và trong giây lát, chỉ cho Người thấy tất cả các nước thiên hạ. Rồi nó nói với Người: Tôi sẽ cho ông toàn quyền cai trị cùng với vinh hoa lợi lộc của các nước này, vì quyền hành ấy đã được trao cho tôi và tôi muốn cho ai tùy ý”. 

Ôi! Trời ạ. Lời đề nghị này quả là “của người phúc ta”. Thật vậy, Xa-tan không biết, mà có biết chắc hẳn nó giả quên rằng, Đức Giêsu đã được Thiên Chúa Cha trao ban toàn quyền trên trời dưới đất, để “ai tin vào Ngài thì được sống” vậy thì, Xa-tan có gì để mà yêu cầu Đức Giêsu  “Bái lạy tôi, thì tất cả sẽ thuộc về ông”?!

Vâng, người ta thường nói “quá tam ba bận”. Lần thứ ba, Xa-tan đưa “quyền lợi” ra làm mồi câu nhử Đức Giêsu.

Không biết Xa-tan có phép thuật “kinh công” hay không, thế mà từ hoang địa, chỉ một chớp mắt, Xa-tan đã “đem Đức Giêsu đến Giêrusalem và đặt Người trên nóc Đến Thờ”.

Nếu được hỏi… nếu được hỏi Xa-tan làm nghề gì? Vâng, chúng ta có thể đoán mò rằng, y làm ông bầu gánh xiếc. Tại sao lại đoán như thế! Xin thưa, là bởi Xa-tan đã muốn Đức Giêsu biểu diễn màn “nhào lộn trên không” qua lời đề nghị rằng “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì đứng đây mà gieo mình xuống đi”.

Có thể nói, cơn cám dỗ thứ ba là cơn cám dỗ nặng ký nhất, nặng ký là bởi đây là lần thứ hai Xa-tan đánh trúng huyệt của Đức Giêsu, “Nếu ông là Con Thiên Chúa”…

Là Con Thiên Chúa thì sao đây? Phải chăng, là Con thì Thiên Chúa phải cho cái này, cái khác ư! Phải chăng, là Con thì Thiên Chúa phải cho “thiên sứ đến” để “tay đỡ tay nâng” khi Đức Giêsu biểu diễn màn phi thân từ nóc Đền Thờ xuống đất?

***

Ba lời thách thức nặng ngàn cân không thua gì ba mũi đòng mà Đức Giêsu, sau này, sẽ phải đối diện trên đồi Golgotha.

Và Ngài đã chiến thắng. Sự chiến thắng của Đức Giêsu không chỉ phụ thuộc ở sự tràn đầy Thánh Thần nhưng còn ở sự nhận biết “Lời Chúa”.   

Thật vậy,  không phải Đức Giêsu non-tay-ấn không thể dùng “quyền phép”: “truyền cho hòn đá này hóa thành bánh” (Lc 4, 3).  Nhưng điều Đức Giêsu sẽ “truyền”, sau này,  chính là truyền cho các môn đệ “quyền phép” làm cho “tấm bánh và chén rượu” trở thành “Mình Máu Thánh Ngài”.  Một tấm bánh và một chén rượu để bất cứ ai ăn hoặc uống sẽ không còn đói khát nhưng được sự-sống-đời-đời.

Vâng, Đức Giêsu không đến thế gian để mở trường dạy những trò ma thuật. Ngài đến để dạy “sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.

Đói ăn, đói mặc ư! Đừng sợ. Có sợ thì hãy sợ đói-Lời-Thiên-Chúa. Vâng, hôm đó, Đức Giêsu bác bỏ lời dụ dỗ của Xa-tan bằng một lời Kinh Thánh, rằng “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh”. Ngài đến là để tái khẳng định với mọi người rằng, sự sống của con người “còn nhờ mọi lời từ miệng Thiên Chúa phán ra”

Vết chàm từ chối Thiên Chúa làm chủ đời mình của nguyên tổ Adam và Eva không dễ gì tái hiện nơi Đức Giêsu,  người vừa  mới được chính Thiên Chúa Cha xác nhận tại sông Giodan rằng: “Con là Con của Cha”.

Con là Con của Cha có lẽ nào lại từ chối thờ phượng Người. Con là Con của Cha thì chỉ “phải thờ phượng một mình Người mà thôi”.

Xa-tan đã lầm lẫn giữa một phép lạ để củng cố lòng tin vào Thiên Chúa và một màn biểu diễn thuộc loại “mãi võ sơn đông”.

Đức Giêsu không sập bẫy trước những lời khiêu khích của Satan. Ngài vào hoang địa không phải để mở trường dạy làm “ảo thuật”. Cũng không phải để biểu diễn một vài màn xiếc nhào lộn trên không trung. Vào hoang địa, Đức Giêsu đã mở một trường “dạy Kinh Thánh”.

Chính những lời Kinh Thánh mà Đức Giêsu dùng để “phản biện” tên-cám-dỗ đã cho mọi người thấy đâu là chân lý, đâu chính “Là Đường, là sự thật và là sự sống”; và một khi con người bước đi trên con Đường của Sự Thật và Chân Lý, có lẽ nào Thiên Chúa lại không truyền cho “Thiên Sứ gìn giữ Bạn” có lẽ nào Thiên Sứ lại không “tay đỡ tay nâng”!

Nói tắt một lời, Đức Giêsu đã để lại cho chúng ta một bài giáo huấn sâu sắc rằng,  Lời Chúa chính sức mạnh, để con người có được “niềm tin chiến thắng” trước những cơn cám dỗ.

****
Kết thúc màn “căng đài” giữa Xa-tan và Đức Giêsu “quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ”(Lc 4, 13).

Hơn hai ngàn năm trôi qua, hôm nay, có vẻ như “thời cơ” của Xa-tan lại đến. Vẫn là những chiêu thức cám dỗ cổ điển, “nói dối và phỉnh gạt”,  vẫn là những màn tung hứng bằng học thuyết này, chủ thuyết kia, ngôn từ nọ, đại loại rằng, Thiên Chúa đã chết rồi… Hãy thay trời làm mưa… Tôn giáo chỉ là thuốc phiện… Hãy tự do luyến ái…  Hãy đòi quyền được phá thai… Hãy đòi quyền được ly dị… Hãy đòi quyền được hôn nhân đồng tính v.v…

Quả đúng là Xa-tan thời đại @ có khác, đã biết “cập nhật hóa sự cám dỗ” cho hợp với xu thế thời đại.

Phải cảnh giác. Đó chỉ là những cái bẫy, một loại bẫy làm cho chúng ta tê liệt tâm hồn, tê liệt lương tâm, tê liệt sự tin tưởng, tê liệt tình yêu thương.

Phải cảnh giác. Những chủ thuyết quái đản đó, tưởng chừng như đem lại hạnh phúc và sức sống cho con người, giống như lời dụ dỗ ngọt ngào của tên-cám-dỗ ở vườn Eden năm xưa… “Chẳng chết chóc gì đâu !”  nhưng thực tế đã cho thấy chỉ là đường dẫn đến thung lũng âm u nghi ngờ của chết chóc.

Thực tế đã chứng minh điều đó. Càng thay trời làm mưa lại càng mất mùa đói kém. Càng tự do phá thai lại càng nảy sinh những tên sát thủ giết người có bằng cấp. Càng tự do ly dị lại càng thấy những tội phạm tuổi “ô mai” v.v… 

Cho nên, phải coi chừng! Coi chừng ! sau khi “bái lạy” những chủ thuyết quái thai đó, sau khi “tôn thờ” những học thuyết phỉnh gạt nêu trên, mắt-mình-lại-nhìn-thấy-mình… thấy mình “AIDS”  giai đoạn cuối, thấy mình “vô sinh”… thấy mình bất an v.v…

*****
Đức Giêsu chỉ dùng có ba câu “Lời Chúa” là đủ để hạ “nốc ao” tên cám dỗ.

Thưa bạn, bạn có nhớ ba câu “Lời Chúa” đó không?

Nếu bạn đã nhớ, vâng,  thánh Phalô có lời khuyên rằng, hãy để “Lời Thiên Chúa ở gần bạn, ngay trên miệng, ngay trong lòng” (Rm, 10, 8). Bởi vì, chỉ khi Lời Thiên Chúa ở gần chúng ta, ngay trên miệng chúng ta, ngay trong lòng chúng ta, chúng ta mới có thể có được “niềm tin chiến thắng” trước những cơn cám dỗ của thời đại hôm nay.

Petrus.tran   

Chủ Nhật, 10 tháng 2, 2013


Hãy ký thác đường đời cho Chúa…

Người xưa thường nói: “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Thế nhưng, đôi khi, vì một hoàn cảnh nào đó, có người, trong suốt cuộc đời của mình, để mưu sinh, họ đã phải làm rất nhiều nghề khác nhau. Và tôi là một ví dụ điển hình.

Vâng, cuối năm 1972, vì muốn có tiền để phụ thêm cho việc đóng học phí, tôi xin vào làm việc trong một ấn quán. Nói là làm việc, nhưng thực tế là học nghề. Bài học đầu tiên tôi phải học, đó là học thuộc lòng các ô chữ. Khi thuộc lòng các ô chữ, tôi được dạy cách xếp chữ. Chưa tới ba buổi học, tôi đã có thể xếp chữ thành thạo, tuy có hơi chậm. Học nghề này không khó lắm, với trình độ trung học đệ nhất cấp, lúc đó, tôi đủ sức để học kẻ táp-lô, mi bài hoặc lên khuôn bài, sửa morát.

Sau một tháng học nghề và tập sự, tôi trở thành thợ và dĩ nhiên, được lãnh lương. Tôi đã làm nghề này được ba năm thì… hỡi ơi! biến cố 30.04.1975 xảy ra, chính quyền mới (thời đó) không hoan nghênh tư nhân hành nghề ấn loát. Thế là thầy trò chúng tôi cuốn tượng, chỉ còn nước về quê cắm câu.

Tôi không có quê để về cắm câu, tôi cắm câu ngoài lề đường… bằng một ống bơm và một cái bàn vá ép. Tôi bơm vá xe đạp. Đó cũng là nghề thứ hai của tôi.

Làm nghề bơm vá xe đạp được nửa năm, thấy trong xóm nhà nhà đạp xích lô, người người đạp xích lô, cũng dễ kiếm ăn, tôi theo nghề này.

Thật vậy, với nghề này, có sức khỏe, kiên nhẫn và may mắn, chỉ cần nửa ngày đạp thì trong túi cũng rủng rỉnh được năm, sáu đồng bạc. Lúc đó, một ký gạo (giá chợ đen) là năm mươi xu, với thu nhập năm, sáu đồng quả là lớn biết chừng nào.

Thế nhưng, “đoạn trường ai có qua cầu mới hay”. Vâng, “dễ kiếm ăn”  nhưng không phải lúc nào cũng là như thế. Mười ba năm đạp xích lô, dễ kiếm ăn thật, nhưng có những ngày, mỗi khi nhớ lại, tôi không khỏi rùng mình…

Có những ngày, bốn giờ đêm, đánh xe ra đầu ngõ, làm một “cái đen” nóng cho tỉnh ngủ, rồi bắt đầu “cuốc… cuốc… cuốc”. Đạp tới đạp lui, đạp xuôi đạp ngược chằng thấy ai kêu. Bắt đầu “đề-pa” từ Cống Bà Xếp, đạp xuống ngã ba Ông Tạ, vòng qua Lăng Cha Cả, đánh một cua xuống nhà thờ Kỳ Đồng… tám giờ sáng, rồi chín giờ, dáo dác nhìn dòng người ngược xuôi, vẫn không thấy ai gọi “xích lô”. Chân tay bắt đầu bủn rủn, đói… khát… chưa chạy cuốc nào, tiền đâu mà ăn sáng!

Tôi “tấp” xe vào hang đá Đức Mẹ trong nhà thờ Kỳ Đồng, nhìn Mẹ, tôi chợt nhớ tới bài ca “Kìa Ai!”.

Kìa ai… “Ai” đó phải chăng là tôi… là tôi đang trên chiếc xích lô “Dong duỗi đường gió bụi” với biết bao “Gánh sầu thương mệt mỏi hai vai”…

Vâng, từ giác khuya cho tới chín giờ sáng, quả là đôi vai tôi quá mệt mỏi. Tôi đạp xe về nhà, cái bụng tôi “nhao nhao lên vì đói…” Coi như hôm nay “lốc”. Lốc… đó là tiếng lóng của giới phu đạp xích lô, một cách nói để diễn tả tình trạng ế ẩm không kiếm được cuốc xe nào.

**
Nhắc tới chuyện “có những ngày, mỗi khi nhớ lại, tôi không khỏi rùng mình” để làm gì? Xin thưa, là bởi, nó gợi cho tôi nhớ đến một câu chuyện trong Phúc Âm thánh Luca (5, 1-11), câu chuyện nói về cuộc hải hành đánh bắt cá của ông Simon cùng các bạn của ông ta. Simon và các bạn của ông ta, đêm đó, đã làm việc hết sức có thể, quăng lưới suốt cả đêm, thế nhưng chỉ là công cốc,  “lốc”… giống-như-tôi!

***

Vâng, câu chuyện đó được kể lại rằng, hôm đó, khi vầng thái dương xuất hiện ở phương đông, mọi cảnh vật vươn mình trong ánh sáng, từng đoàn thuyền đánh cá nối tiếp nhau kéo về neo đậu bên hồ Ghen-ne-xa-ret sau một đêm vật lộn với sóng gió để mưu sinh, thì ở bờ hồ người ta thấy Đức Giêsu đang đứng ở đó.

Sự xuất hiện của Đức Giêsu lập tức được loan đi rất nhanh, nhanh đến độ chẳng mấy chốc người ta thấy dân chúng đã phải chen lấn nhau mới có thể đến gần Ngài.

Dân chúng đến với Đức Giêsu với mục đích gì? Xin thưa, là để “nghe lời Thiên Chúa”.

Hôm đó, họ đến rất đông, đông đến nỗi Đức Giêsu đã phải “xuống một chiếc thuyền” và Ngài đã nói ông Simon, chủ nhân chiếc thuyền đó, “chèo thuyền ra xa bờ một chút” như một cách để tái lập lại cảnh chen lấn mất trật tự.

Con thuyền của ông Simon lập tức trở thành “tòa giảng”, trên tòa giảng, Đức Giêsu giảng dạy đám đông. Đức Giêsu không chỉ giảng dạy, bởi nếu chỉ giảng dạy thì Ngài cũng không khá hơn mấy ông kẹ Pharisiêu, là những kẻ chỉ giảng nhưng không làm.

Thật vậy, tiếng đồn về một Giêsu với những lời giảng dạy như  “Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư” hôm nay đã được chứng thực, rằng, Ngài thật sự là Đấng có thẩm quyền qua một phép lạ vô tiền khoáng hâu, một phép lạ đã khiến cho “tất cả mọi người có mặt ở đó đều kinh ngạc” (Lc 5, 9).  Phép lạ về một mẻ-cá-lạ-lùng…

Vâng, hôm đó, sau khi giảng xong, Đức Giêsu nói với ông Simon “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá” (Lc 5, 4)

Chèo ra chỗ nước sâu! Ôi! Trời ạ! Cả một biển hồ, chỗ-nước-sâu là chỗ nào? Giêsu, một tay thợ mộc lại rành “ngư trường” hơn tay ngư phủ lão làng Simon sao!

Suốt cả đêm, một thời điểm rất thuận lợi cho việc đánh bắt cá, thế mà các ông vẫn “không bắt được gì cả”, giờ đây, sáng bảnh mắt rồi lại bảo ra khơi thì có nghịch lý không kia chứ!

Thế nhưng, ngư phủ Simon lại “vâng lời” anh thợ mộc Giêsu. Tại sao ư! Thưa rằng, là bởi Simon nhìn ra Đức Giêsu là một bậc Thầy, không phải là một loại “thầy dạy nghề” nhưng là bậc Thầy của quyền năng. 

Chính mắt Simon chứng kiến anh thợ mộc Giêsu, chỉ một lời “ra lệnh” thế mà “bà mẹ vợ” của ông ta “đang bị sốt nặng” bỗng nhiên “cơn sốt biến mất” (Lc 4, 38-39).

Cho nên, hôm nay, mệt thì có mệt đấy, nhưng thi hành lời “ra  lệnh” của Thầy Giêsu, một lần thôi,  thì đã có sao!

Thế là họ ra khơi. Và phép lạ đã xảy ra.. Câu chuyện được kể lại rằng, “họ bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới” (Lc 5, 6).

****


Điều gì đã khiến cho ông Simon tìm được “chỗ nước sâu” trong một biển hồ rộng mênh mông bể sở như thế?  Phải chăng, ông ta đã sử dụng một tấm hải đồ mang tên “Hãy ký thác”?

Vâng, nhìn qua cử chỉ của Simon, sau khi ông thấy được phép lạ tỏ tường, ông liền “sấp mặt dưới chân Đức Giêsu” thú nhận tội lỗi,  ông ta còn thay đổi cách gọi Đức Giêsu từ “Thầy” qua “Lạy Chúa”,  chúng ta có thể tin rằng, đúng là ông Simon cùng với các bạn chài của ông ta đã sở hữu tấm hải đồ mang tên “Hãy ký thác” và các ông đã mang ra sử dụng, để rồi các ông đã nhận ra Thầy Giêsu chính là người mà các ông cần “bỏ hết mọi sự mà theo Người”.

*****

Có người đã ví rằng “Cuộc đời mình như chiếc thuyền nan”.  

Đúng vậy, cuộc đời của chúng ta, quả đúng là một con thuyền và con thuyền cuộc đời của chúng ta không phải lúc nào cũng trôi đi một cách bình thản như ý muốn.

Có những lúc, con thuyền cuộc đời của chúng ta phải đương đầu với bão táp của sự suy thoái kinh tế dẫn đến thất nghiệp để rồi chán nản. Có những lúc, con thuyền cuộc đời của chúng ta phải đối diện với những cơn sóng thần bệnh tật để rồi dẫn đến sự tuyệt vọng.

Có những lúc,  con thuyền cuộc đời của chúng ta phải chống chỏi những trận cuồng phong của mất mát, chia ly v.v.. để rồi chúng ta cứ phải “nhớ nhớ buồn buồn với chán chường”

Có những lúc, con thuyền cuộc đời của chúng ta cảm thấy trống vắng, một tâm hồn trống vắng, để rồi chúng ta phải tự hỏi: Tại sao tôi không có sự bình an! Tại sao tôi luôn phải bất an?

Vâng, phải chăng, con thuyền cuộc đời của chúng ta thiếu một tấm “hải đồ”?

Phải chăng, trên con thuyền lữ thứ trần gian, chúng ta quên hẳn lời dặn dò của Thầy Giêsu rằng, “Đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao? Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không tích thu vào kho: thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em chẳng quý giá hơn sao?... Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi, thế mà Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Salomôn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy…” 

Chúa Giêsu, trong những lần ra đi rao giảng Tin Mừng, Ngài đã nói, “Hỡi những ai mệt mỏi và gánh nặng, Hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng”.

“Hãy đến cùng Ta”. Thật vậy, chính Chúa Giêsu, Ngài sẽ là người trao cho chúng ta tấm hải đồ, một tấm hải đồ được gói ghém bằng một lệnh truyền giản dị, rằng: “Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.” (x. Mt 6, 25-34)

Là một Kitô hữu, chúng ta đã đặt niềm tin vào Chúa Giêsu, chúng ta sẵn sàng sử dụng tấm hải đồ của Ngài cho cuộc lữ thứ trần gian của chúng?

Nếu chúng ta tin và nếu chúng ta sử dụng… Vâng, hãy cùng một tâm tình như vua David xưa mà “ký thác đường đời cho Chúa”.

Petrus.tran






Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

Đức GIÊSU: hồng ân của Chúa.

Đức GIÊSU: hồng ân của Chúa.



Sau sự kiện khủng bố ngày 11/09/2001 tại Hoa Kỳ. Một cô gái con của một vị giảng thuyết nổi danh được một đài truyền hình mời phỏng vấn. Người phỏng vấn đã hỏi cô gái ấy như sau: “Tại sao Thiên Chúa lại có thể để xảy ra một thảm họa khủng khiếp như thế?”

Cô gái đó đã trả lời rằng “Tôi nghĩ là Thiên Chúa rất buồn về điều đó, ít nhất là Người cũng buồn bằng chúng ta. Từ bao lâu nay, chúng ta đã yêu cầu Người đi ra khỏi trường học, khỏi chính phủ và khỏi đời sống của chúng ta. Thiên Chúa là người “quân tử” nên đã lẳng lặng rút lui. Làm sao chúng ta có thể mong Người ban ơn lành và che chở chúng ta khi chúng ta đã khẩn khoản xin Người để mặc chúng ta một mình?

Về những biến cố mới xảy ra như tấn công khủng bố, bắn giết trong trường học, hoặc là chiến tranh… tôi nghĩ rằng, mọi sự đã bắt đầu với Madeleine Murray O’Hare, khi bà ấy than phiền là không nên đọc kinh trong trường học nữa. Và chúng ta đã đồng ý.

Rồi một người khác lại có ý kiến là, chúng ta không nên đọc Kinh Thánh nơi trường học, cũng chính quyển Kinh Thánh đó dạy chúng ta ‘chớ giết người, chớ trộm cắp, hãy yêu thương tha nhân như chính mình v.v…’ thế mà chúng ta cũng đồng ý”.

**

Vâng, quả là một câu trả lời rất thâm thúy. Qua câu trả lời này, nó gợi cho chúng ta nhớ tới Đức Giêsu, Con Một Thiên Chúa, Ngài đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ đó mà được cứu độ, ấy vậy mà Ngài cũng đã hơn một lần bị người đời thời đó miệt thị, khinh khi, “yêu cầu” ra khỏi làng mạc của họ.

Chuyện đó đã xảy ra trong một lần Đức Giêsu đuổi quỷ vào đàn heo để cứu chữa một người bị “thần ô uế ám” ở Ghê-ra-sa. Một phép lạ chứng tỏ quyền năng của Thiên Chúa trước ma quỷ, thế mà dân làng chỉ vì lợi nhuận vật chất, họ lại “nài xin Ngài rời khỏi vùng đất của họ” (Mc 5, 17)

Thế nhưng, đáng buồn hơn nữa, đó là Đức Giêsu đã bị chính người đồng hương của mình xua đuổi, thậm chí còn muốn giết chết Ngài.

Vì sao họ lại làm như thế! Vâng, chúng ta hãy trở về Nadarét, quê hương của Đức Giêsu.

Hôm đó, Đức Giêsu trở về Nadarét, vì là ngày sabat nên Ngài vào hội đường. Tại nơi đây, cũng như ở khắp vùng lận cận khác, người ta lại phải “tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người”.

Người đã nói gì khiến cho mọi người phải thốt lên như thế! Xin thưa, khi được mời lên đọc Sách Thánh, Đức Giêsu đã đọc một đoạn trích sách ngôn sứ Isaia.

Lời ngôn sứ Isaia như một bản concerto ngân vang khắp hội đường, nó như nổ tung nơi cung lòng cử tọa một giai điệu của tình yêu, của hồng ân khi người nhạc trưởng Giêsu chấm dứt bằng một lời nói “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lc 4, 21).

***
Nhưng than ôi! những lời tán thành và thán phục đó ngay lập tức vỡ tan như bọt bong bóng xà phòng.

Vì sao ư! Thưa rằng, vì họ chợt nhận ra một điều gần như là nghịch lý. Giêsu, người mà họ đang diện đối diện “Không phải là con ông Giuse đó sao?” Một ông Giuse thợ mộc sao lại có thể sinh ra một ông Giêsu được “Thiên Chúa xức dầu tấn phong” như chính ông ta đã nói “Hôm nay đã ứng nghiệm”!

Có vẻ như họ thất vọng. Thất vọng về gia thế của Đức Giêsu. Thất vọng vì chờ-mãi-mà-chẳng-thấy Đức Giêsu làm một dấu lạ nào như Ngài “đã làm tại Caphacnaum”. Sự thất vọng biến thành sự phẫn nộ và thay cho những lời tán dương ca tụng lúc ban đầu là sự chống đối.

Câu chuyện được kể tiếp rằng: “Họ đứng dậy, lôi Ngài ra khỏi thành”. Họ mưu toan giết Đức Giêsu bằng cách: “Xô Ngài xuống vực” (Lc 4,...29).

Thế nhưng, Đức Giêsu đã “băng qua giữa họ mà đi”. Quả đúng như lời Ngài nói : “Không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình”. (Lc 4, 24).

****

Thật đáng tiếc cho cư dân thành Nadarét. Tiếc là bởi họ đã không ý thức đúng về cái gì là giá trị, cái gì là quan trọng trong đoạn Kinh Thánh mà Đức Giêsu đã đọc cho họ nghe.

Cái giá trị và quan trọng đó không nằm ở những phép lạ, không nằm ở những lời thách thức xấc xược rằng, “những gì ông đã làm tại Caphacnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào!”.

Cái giá trị và quan trọng đó chính là “Tin Mừng”, là Thiên Chúa đã “Ở với ngươi để giải thoát ngươi” (Gr 1, …19) bởi Con Một của Người là “Đức Giêsu: hồng ân của Chúa”.

*****

Trở lại với bài phỏng vấn, cô gái con vị giảng thuyết nói tiếp rằng, “Bây giờ chúng ta lại tự hỏi là tại sao con chúng ta không có lương tâm, tại sao chúng không phân biệt được thiện ác, và tại sao chúng lại có thể nhẫn tâm giết chết một người lạ, một người thân hay chính mình.

Có thể sau khi suy nghĩ chín chắn, chúng ta đi đến kết luận: chúng ta gieo nhân nào thì sẽ gặt quả ấy.

Thật kỳ lạ là con người có thể vứt bỏ Thiên Chúa một cách dễ dàng rồi sau đó lại tự hỏi: tại sao thế giới biến thành địa ngục” (nguồn: internet)

Bạn… Thưa Bạn… Bạn có tin, cô gái con vị thuyết giảng chính là sứ giả của Vua Giêsu mà Ngài muốn gửi đến, để cảnh báo chúng ta rằng, thế giới hôm nay sẽ biến thành địa ngục nếu chúng ta từ chối đặt niềm tin vào Thiên Chúa?

Nếu tin. Vâng, hãy vứt bỏ ngay cái gọi là chủ thuyết hiện sinh, vô thần, vô tôn giáo, một thứ chủ thuyết sản sinh ra những con người thác loạn, những con người sống bằng bạo lực, những con người thích gian dối, những con người luôn gây hận thù, những con người lưu manh… và hãy tìm đến “con đường trổi vượt”, con đường của đức tin, đức cậy và đức mến.

Nơi con đường này, chúng ta sẽ học được sự “nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật” (1 Cor 13, 4-6).

Một khi chúng ta “không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật”, có phần chắc, chúng ta sẽ có tình yêu thương. Mà ở đâu có tình yêu thương thì ở đấy có Đức Chúa Trời.

Có Đức Chúa Trời, hãy tin, chúng ta sẽ nhận được tràn ngập “hồng ân của Chúa”.

Petrus.tran

Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2013

Đức GIÊSU… niềm vui giải thoát đích thực.

……


Đức GIÊSU… niềm vui giải thoát đích thực.

Bạn có muốn được đọc Sách Thánh trong những buổi lễ Chúa Nhật không? Và đã có lần nào Bạn được thực hiện công việc vinh dự này? Riêng tôi, tôi đã được thực hiện công việc này, đúng một lần.

Chuyện là thế này, cách nay vài năm, chính xác là năm 2009, giáo xứ Gò Mây có một buổi lễ ban phép rửa tội cho một số anh chị em tân tòng. Trong số những người tân tòng, có một chàng thanh niên là dân nhập cư, anh ta không có thân nhân hay người quen biết để nhận làm người đỡ đầu.

Vâng, tệ thật, chỉ còn vài ngày, nhưng vẫn chưa tìm được người đỡ đầu cho anh ta. Thầy phụ trách của giáo xứ bèn gọi phone cho tôi trình bày sự bế tắc đó và có nhã ý mời tôi đứng ra lãnh nhận trách nhiệm này. Không ngần ngại, tôi đồng ý.

Một ngày trước khi thánh lễ được cử hành, những người tân tòng và người đỡ đầu phải tập trung tại giáo xứ để tập nghi thức. Trong lúc đang tập nghi thức, bất ngờ thay, thầy phụ trách giáo xứ gọi tôi ra và nói rằng “Ngày mai, đến phần đọc Sách Thánh, anh đọc bài đọc thứ hai nhé”.

Thành thật mà nói, tôi nhận lời nhưng hơi ngại. Ngại là vì chưa bao giờ tôi làm công việc này. Hơn nữa, nếu nhận lời, tôi phải mất một ít thời gian chuẩn bị như tới nhà thờ sớm hơn để đọc sơ qua bài mình sẽ phải đọc. Rồi đọc làm sao cho rõ từng câu từng chữ, chưa kể tới việc trang phục phải sao cho lịch sự nữa chứ!

Cuối cùng thì… tôi đã làm tròn công việc này, kể cả khi phải cất tiếng hát câu “Đó là Lơơơời… Chúa” một công việc không phải dễ dàng cho một người “không quen hát” như tôi...

Chỉ tiếc rằng, hôm đó, tấm ảnh bác phó nhòm chụp tôi khi đọc Sách Thánh bị hư, nếu không, tôi sẽ thật hãnh diện khi có một tấm ảnh “để đời” và chắc chắn tôi sẽ đưa tấm ảnh đó làm “Avatar” nơi trang blog của tôi rồi.

Tiếc quá! Thật tiếc quá, phải không thưa quý Bạn!

**

“Đọc Sách Thánh”… Vâng, đó cũng là việc người Do Thái thực hiện trong hội đường vào ngày sabát.

Tưởng chúng ta cũng nên biết, sa-bát là ngày cuối cùng trong một tuần lễ bảy ngày, một ngày đã được: “Thiên Chúa ban phúc lành … và thánh hóa” (Stk 2, 3). Đến thời Mô-sê, trong cuộc hành trình dẫn đưa dân Do-Thái về miền đất hứa, một lần nữa, tại núi Sinai, Thiên Chúa đã đóng ấn ngày Sa-bát bằng một điều luật trong mười điều Người đã phán cùng Mô-sê rằng: “ngươi hãy nhớ ngày sa-bát, mà coi là ngày thánh. Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi. Còn ngày thứ bảy là ngày sa-bát kính Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi”. (Xh 20, 8-10).

Kể từ đó, ngày sa-bát trở thành ngày toàn dân Israel: “dành cho Đức Chúa”. Ngày đó, họ nhóm lại trong hội đường để lắng nghe Lời Chúa. Bắt đầu cho phần phụng vụ, họ xướng kinh “Shêma”, và kinh “mười tám lời chúc phúc”. Kế tiếp, mọi người thinh lặng lắng nghe Lời Chúa được trích từ Sách Luật (Ngũ Thư) hay từ các sách Ngôn Sứ.

Mọi người đều có quyền đọc Sách Thánh, hoặc tự nguyện hay được viên trưởng hội đường chỉ định. Người được chỉ định thường là người thông thạo Kinh Thánh. Họ được mời lên công bố và giảng giải Lời Chúa cho cộng đoàn.



***

Đức Giêsu, trong một lần về Nadarét,, Ngài cũng đã được mời lên đọc Sách Thánh.

Vâng, chuyện được kể lại rằng, sau khi chịu phép rửa tại sông Giodan, được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Đức Giêsu trở về miền Galilê. Hôm đó, đúng vào ngày sabát.

Có lẽ, tiếng đồn về những điều “Người giảng dạy” và được “mọi người tôn vinh” lọt đến tai ông trưởng hội đường, cho nên, khi thấy Đức Giêsu “vào hội đường”, với sự ngưỡng mộ, ông ta đã không ngần ngại mời Đức Giêsu “lên đọc Sách Thánh”.

Hôm đó, họ trao cho Đức Giêsu cuốn sách ngôn sứ I-saia. Ngài mở ra và long trọng đọc một đoạn có chép rằng:“Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt,trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa.”

Khi lời đọc của Người vừa chấm dứt, bầu khí thinh lặng trong hội đường bị phá vỡ bởi những lời “tán thành và thán phục”. Họ tán thành và thán phục không chỉ bởi “những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người” mà còn bởi từ trước tới nay, tuy đã nhiều lần được nghe lời ngôn sứ Isaia, nhưng hôm nay, đây là lần đầu tiên họ được nghe Đức Giêsu dám dõng dạc tuyên bố rằng: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lc 4, 21).



****

Có thể nói rằng, lời trích sách ngôn sứ Isaia và lời tuyên bố của Đức Giêsu được nêu ở trên chính là bản tuyên ngôn cho sứ vụ loan báo Tin Mừng của Ngài.

Không như những tuyên ngôn của những chính khách, của những nhà lãnh đạo trần gian, thường mang hơi hướng mị dân, đại loại như “mọi người đều được quyền bình đẳng” nhưng thực tế, sự bình đẳng của con người đã bị ngăn trở trước sức mạnh của họng súng…

Với Đức Giêsu thì khác hẳn. Lời tuyên ngôn của Ngài mang đậm dấu ấn tình người và trên hết đã được Ngài thực thi một cách trọn vẹn.

Thật vậy, ngay khi bản tuyên ngôn được công bố, bằt đầu từ Caphanaum cho đến miền Giuđê, người ta đã thấy “Thiên hạ đem đến cho Ngài mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền; những kẻ bị quỷ ám, kinh phong bại liệt; và Ngài đã chữa họ” (Mt 4,24). Người ta còn được chứng kiến Đức Giêsu đã làm phép lạ cho: “Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại…”(Mt 11, 5).

Thế nhưng, đó chỉ là niềm vui giải thoát “phần xác”. Điều Đức Giêsu muốn nói tới trong bản tuyên ngôn, đó là niềm vui giải thoát “phần hồn”, như sau này, trong những ngày ra đi rao giảng Tin Mừng, Ngài đã nói với ông Nicôđêmô rằng “Như ông Môsê đã gương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được gương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời”.

Và sự thật là điều đó đã xảy ra tại Gogotha bằng cái chết của Ngài trên thập giá .

Thánh Phaolô đã cảm nghiệm được điều này, Ngài đã nói với những tín hữu của mình rằng “người Do Thái đòi những điềm thiêng dấu lạ… người Hy lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan”, còn chúng ta, thánh nhân nói tiếp rằng “Niềm vinh dự của chúng ta chính là Thập Giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Nhờ Người, chúng ta được cứu độ, được sống và được phục sinh; chính Người cứu độ và giải thoát chúng ta”.

Vâng, có thể kết luận rằng, những lời nói và những việc làm, hay nói chính xác hơn, “thập giá và sự phục sinh” của Đức Giêsu đã dệt lên bản tuyên ngôn – một bản tuyên ngôn của “niềm vui giải thoát đích thực”.



*****

Không ai trong chúng ta mà không một lần tự hỏi rằng, đã hơn hai ngàn năm trôi qua, kể từ khi bản tuyên ngôn của Đức Giêsu được công bố, nhưng… tại sao… sao hôm nay…

Vâng, sao hôm nay, vẫn còn thấy nhan nhản những “Thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ, Tuổi ấu thơ đã mang nhiều âu lo. Ngày nó sống kiếp lang thang. Ngẩn ngơ như chim xa đàn, nghĩ mình tủi thân muôn vàn…”? (*)

Sao hôm nay, vẫn còn thấy những cụ già, với vầng trán nhăn nhúm như chiếc mão gai quân dữ đội lên đầu Đức Giêsu xưa, lếch tha lếch thếch gánh giỏ cóc, giỏ ổi đi bán kiếm sống qua ngày?

Sao hôm nay, vẫn còn biết bao người khiếm thị, khiếm thính, vẫn còn đó những trại tập trung bệnh nhân phong, những trại tập trung người già neo đơn, cơ nhỡ?

Sao hôm nay, vẫn còn đó những kẻ bị áp bức tù đày chỉ vì dám nói sự thật và sống cho sự thật?

Phải chăng, chính những thực tại này, lời tiên tri I-sai-a mà Đức Giêsu đã tuyên bố: hôm-nay-đã-ứng-nghiệm, đã trở nên một lời nói vu vơ, ru ngủ!

Xin thưa, không phải vậy. Chính những thực tại này đã có, vẫn có và còn có là để chúng ta nhìn thấy Đức Giêsu “đói khát, nghèo nàn, đau yếu, tù đày” và để chúng ta cho Ngài ăn, cho Ngài uống, thăm viếng Ngài, hỏi han Ngài.

Những thực tại này, ngày xưa đã tồn tại, hôm nay vẫn tồn tại và ngày mai cũng vẫn tồn tại là để “vinh quang của Thiên Chúa” vẫn được bày tỏ và phải được bày tỏ qua chính mỗi người chúng ta.

Đừng quên, Đức Giêsu đã nói “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”. (Mt 25, 40)

Thế nhưng, sẽ thật khó để chúng ta có thể thực thi trọn vẹn lời “di chúc” trên của Đức Giêsu nếu chính chúng ta chưa được giải thoát khỏi những ngục-tù-đam-mê, ngục-tù-ham-muốn-trần-tục, ngục-tù-ích-kỷ, ngục-tù-hận-thù…

Vì thế, chúng ta hãy trở về hội đường ở Nadarét năm xưa và hãy để ý đến một chi tiết nhỏ, nhỏ nhưng rất hữu ích cho sự giải thoát chúng ta ra khỏi những ngục tù đó, chi tiết đó là, “Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người”.

Thưa quý Bạn, chúng ta đã bao nhiêu năm là Kitô hữu, thế nhưng được bấy nhiêu lần chúng ta “chăm chú nhìn Chúa”? Đã bao nhiêu lần chúng ta chăm-chú-nhìn-Người qua những lời dạy dỗ trong “Sách Thánh”?

Cũng như Do Thái xưa, Đạo Công Giáo không cấm chúng ta đọc “Sách Thánh” như có một vài kẻ loạn ngôn đã nói Giáo Hội Công Giáo cấm giáo dân đọc Sách Thánh.

Có thể, suốt cả cuộc đời của một Kitô hữu, chúng ta chưa một lần được vinh dự đọc Sách Thánh trong một Thánh Lễ nào đó. Nhưng ai cấm chúng ta đọc Sách Thánh ngay tại nhà mình!

Cho nên, sẽ là “trọn vẹn đôi đường” một khi chúng ta đã mời Đức Giêsu vào ngôi nhà Nadarét-tâm-hồn của chúng ta qua việc lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể thì cũng đừng quên chăm-chú-nhìn-Người bằng việc đọc Sách Thánh.

Được như thế, dẫu chúng ta có phải bước đi trong một thế giới phủ trùm bóng tối của văn hóa sự chết, của gian dối, của lưu manh bởi những chủ thuyết hiện sinh, vô thần, vô tôn giáo, chúng ta cũng không sợ gì. Vì Sách Thánh, như lời vua David đã cảm nghiệm: “Là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119, 105).

Có ngọn đèn của Chúa, có ánh sáng của Người… Vâng, hãy tin, chúng ta sẽ có được “niềm vui giải thoát đích thực” từ nơi Thiên Chúa.

Petrus.tran

*****

(*) Nó – tác giả: Anh Bằng.



















Điều Chúa muốn - Hãy biết chạnh lòng thương…

  Chúa Nhật XVIII– TN – A Điều Chúa   muốn - Hãy biết chạnh lòng thương… Là người Công Giáo, chắc hẳn không ít lần, chúng ta được nghe bốn c...