Thứ Hai, 8 tháng 6, 2015

Phút Linh Thiêng.

Phút Linh Thiêng.

Steve Jobs có nói: “You can’t connect the dots looking forward; you can only connect them looking backwards. Bạn không thể kết nối các điểm trong đời bạn khi nhìn về phía trước; bạn chỉ có thể kết nối chúng khi nhìn lại phía sau”.

Đúng vậy, “nhìn lại phía sau” hay nói một cách văn chương hơn, là “hồi tưởng hoặc tưởng nhớ”, nó chính là chất xúc tác “kết nối” quá khứ và hiện tại, không chỉ đời ta mà còn là đời anh chị em ta, là những người đang sống. Hơn thế nữa, việc tưởng nhớ còn “làm sống lại” những người đã khuất, để kết nối với những người còn đang sống.

Thật vậy, cứ nhìn vào những lễ giỗ tưởng nhớ ông bà cha mẹ, hay những buổi lễ tưởng nhớ chiến sĩ trận vong, v.v... Vâng, chính những buổi lễ tưởng nhớ đó; ở cấp độ gia đình, nó đã kết nối mọi người, nó làm sống lại quá khứ của một dòng tộc. Còn ở cập độ quốc gia ư! Vâng, nó làm sống lại quá khứ hào hùng của một dân tộc. Nói tắt một lời, đó là một sự “kết nối” hoàn hảo.

Nói tới tưởng nhớ, là một Ki-tô hữu, chúng ta có rất nhiều ngày để “tưởng nhớ”. Tưởng nhớ ngày “Chúa sinh ra - Chúa chết đi và Chúa sống lại”. Chưa hết, còn một ngày rất đặc biệt, đó là ngày Đức Giê-su lập ra “Bí Tích Thánh Thể”.

Chính Đức Giê-su, không ngoài ai khác, Ngài đã lập ra và đã truyền dạy cho các môn đệ rằng: “Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy” (x.Lc 22, …19).

Vâng, việc Đức Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể và truyền dạy các môn đệ phải “làm việc này mà tưởng nhớ” đã được kể lại rằng: Hồi ấy, nhân một dịp Thầy và trò cùng mừng lễ Vượt Qua tại Giê-ru-sa-lem.

Đây không phải là lần đầu tiên Đức Giê-su dự lễ Vượt Qua. Nhớ, có một lần dự lễ Vượt Qua, Ngài đã phẫn nộ trước cảnh “bát nháo”, bát nháo vì người ta đã biến Đền Thờ làm nơi buôn bán. Hôm đó, một nỗ lực làm sạch sẽ Đền Thờ đã được Đức Giê-su thực hiện. Đó là, Đức Giê-su đã “lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả”

Còn hôm nay, âm thầm hơn. Sự âm thầm đó tràn ngập trong căn nhà Thầy và trò cùng dự lễ Vượt Qua. Chuyện kể rằng: “Đang bữa ăn, Đức Giê-su cầm bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: ‘anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy’. Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. Người bảo các ông: ‘Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người’… Sau đó, hát Thánh Vịnh xong, Đức Giê-su và các môn đệ ra núi Oliu” (x.Mc 14,22- 26).

**
“Đây là mình Thầy”… cái gì là “mình” Thầy? Thưa, bánh. “Đây là máu Thầy”… cái gì là “máu” Thầy? Thưa, rượu.

Mặc dù chính Đức Giê-su tuyên bố như thế, thế nhưng, thật đáng tiếc khi còn một số người, miệng xưng danh Ki-tô, nhưng lại chống lại Đức Giê-su Ki-tô qua việc phủ nhận điều này. Họ cũng dẫn chứng Kinh Thánh nhưng lại dẫn chứng nửa vời. Họ quên rằng, “nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật không còn là sự thật nữa”.
Tông đồ Phao-lô, một nhà truyền giáo nổi danh thời đó, xác tín điều này khi nói với cộng đoàn ở Cô-rin-tô rằng: “Điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em: trong đêm bị nộp, Chúa Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: ‘Đây là mình Thầy, hiến dâng vì anh em, anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy’. Cũng thế, sau bữa ăn, Người cầm lấy chén rượu và nói: ‘Chén này là Giao Ước Mới, lập bằng Máu Thầy; mỗi khi uống, anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (x.Cor 1, 23-25).

Cuối cùng, chúng ta đừng quên, “Đây là Mầu Nhiệm đức tin”.
***
Thưa Bạn, bạn có tin vào lời Đức Giê-su đã nói: “Đây là mình Thầy - Đây là máu Thầy”?

Nếu có, hãy tự hỏi lòng mình, rằng, tôi có “Nào mau tới thờ lạy Chúa. Quỳ dâng lòng tôn kính Chúa trên cao”?.

Nếu tin, hãy tự hỏi lòng mình, rằng; tôi có “Cảm mến ơn Chúa ban tràn lan cho trần gian Mình Máu Thánh nên nguồn sống tuôn ngày đêm”??? (trích: Phút Linh Thiêng – Lm Thành Tâm)

Nếu tin, hãy tự hỏi lòng mình, rằng, tôi có “làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy”?

Vâng, hôm vừa qua, ngày 25/05/2015, toàn thể dân chúng Hoa Kỳ cử hành lễ tưởng niệm những quân nhân đã hy sinh vì đất nước trong ngày lễ Chiến Sĩ Trận Vong. Theo bản tin của đài VOA cho biết, rằng: “Trong khi nhiều cộng đồng trên khắp nước tưởng niệm các tử sĩ với những cuộc diễn hành, các buổi hoà nhạc nói lên tinh thần yêu nước, và các buổi lễ thì các cộng đồng khác sẽ đánh dấu ngày này bằng những giây phút suy ngẫm trong tĩnh lặng về những người đã ngã xuống trong khi đang phục vụ trong quân đội”.

Nhắc tới chuyện này để làm gì? Thưa, để tự hỏi ta rằng: khi “tưởng nhớ đến Thầy”, tôi cũng có những “giây phút suy ngẫm trong tĩnh lặng” về những gì Thầy đã làm trong bữa tiệc Vượt Qua năm xưa?

Nói rõ hơn, tôi có sẵn sàng cầm lấy tiền bạc Chúa ban cho ta, “dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra”, bẻ ra trao cho những người khốn khổ nghèo khó?

Tôi có sẵn sàng cầm lấy niềm vui Chúa ban cho ta, “dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra” bẻ ra đem đến cho những ai đang “u sầu”?

Còn… còn rất nhiều cái chúng ta phải sẵn sàng cầm lên, như: sự nhẫn nhục, sự từ tâm, sự trung tín, sự hiền hòa, sự tiết độ, để bẻ ra và đem đến cho những ai đang phải sống chung với sự nghi nan, ngờ vực, thất vọng.

Là một Ki-tô hữu, là một người môn đệ của Đức Giê-su, chúng ta không thể từ chối, trốn tránh việc phải bị “bẻ ra”. Tại sao? Thưa, là bởi, chính Đức Giê-su đã bị bẻ ra, bẻ ra bằng “cái chết của mình, mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm” (x.1Cor 9, 15).

Cuối cùng, chính việc “bẻ ra và trao cho”… vâng, chính việc này đem lại cho những giờ phút mà chúng ta “tưởng nhớ đến Thầy” trở thành  những “Phút Linh Thiêng”.

Petrus.tran

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần



Mùa Phục Sinh đã khép lại. Theo lịch phụng vụ, hôm nay, chúng ta tiếp tục bước vào mùa thường niên. Và theo truyền thống, để tiếp bước vào mùa thường niên, Giáo Hội long trọng mừng kính trọng thể lễ Chúa Ba Ngôi.

Chúa Ba Ngôi nghĩa là gì? Vâng, có thể nói rằng, với một người tín hữu bình thường, rất giản dị, đó là: một Chúa Ba Ngôi, ngôi thứ nhất là Cha, ngôi thứ hai là Con và ngôi thứ ba là Thánh Thần. 

Thế nhưng, với các nhà thần học, để “hộ giáo” cho tín điều này, họ đã phải mất nhiều thời gian để suy tư, để biện luận, để chứng minh thế nào là “một Chúa Ba Ngôi”. Có người đã suy tư rằng: Một Chúa Ba Ngôi có thể ví như H2O, tuy ở ba dạng thể: thể lỏng (nước lỏng), thể rắn (nước đá), và thể khí (hơi nước) nhưng tất cả đều được gọi là H2O. Người khác đã so sánh về một quả trứng. Quả trứng có vỏ bọc, có lòng đỏ và có lòng trắng, nhưng cũng chỉ là quả trứng. Và có người đã dùng tới hiện tượng mặt trời, nơi phát ra ánh sáng và sức nóng nhưng cũng chỉ được gọi là mặt trời.

Vâng, có thể nói, tất cả những so sánh đó không phải là không làm ra một chút sáng tỏ, tuy nhiên, đó cũng chỉ là những diễn tả môt cách khập khiễng về tín điều một Chúa Ba Ngôi. Trong thế giới hạn hẹp con người đang sống, thật khó để mà diễn tả về một Thiên Chúa Ba Ngôi, đúng hơn là không thể diễn tả đầy đủ.

Thế còn Kinh Thánh nói gì về tín điều “một Chúa Ba Ngôi”? Thưa, tuy Kinh Thánh không trực tiếp nói về Mầu Nhiệm một Chúa Ba Ngôi, nhưng, Kinh Thánh vẫn phảng phất đây đó những trình thuật, những thông điệp về Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Trong phần Cựu Ước, ngay đoạn mở đầu sách Sáng Thế, có một đoạn đã mô tả rằng: Thiên Chúa phán “phải có… phải có” và “thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước”, điều này nói lên một chân lý rằng, Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, hai ngôi trong Ba Ngôi Thiên Chúa cùng hiện diện nơi công trình sáng tạo.

Còn trong công cuộc sáng tạo, có đoạn mô tả Thiên Chúa đã tự xưng là “chúng ta”. “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất.” Với cách xưng hô như thế, chúng ta có thể nghĩ rằng, đó chính là một hé lộ về chân lý Ba Ngôi Thiên Chúa.

Còn phần Tân Ước ư! Vâng, lại càng rõ ràng hơn. Phúc Âm Matthêu (3, 16-17) qua trình thuật biến cố Đức Giêsu chịu phép rửa tại sông Giodan đã cho ta thấy hình ảnh Chúa Cha và Chúa Thánh Thần thật rõ nét.

Thật vậy, Phúc Âm thuật lại rằng: “Khi Đức Giêsu chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán: Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3, 16-17).

Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu, cùng với tiếng từ trời phán… phải chăng đó chính là Chúa Cha và Chúa Thánh Thần? Thưa, đúng vậy.

Chúng ta không thể không nhắc đến những lời Đức Giê-su đã nói trong bữa tiệc Vượt Qua, một bữa tiệc của sự biệt ly, chính ở bữa tiệc này, Đức Giê-su đã nói đến “ngôi thứ ba”. Hôm đó, Ngài đã nói rằng: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác để ở với anh em luôn mãi”.

Thế còn Chúa Con? Thưa, đó là Đức Giêsu, đã có lần Ngài từng khẳng định mình là một “ngôi vị” khi tuyên bố rằng, “Ta với Cha là một” và “Ai thấy Ta là thấy Chúa Cha”.

Một Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là một mầu nhiệm, mầu nhiệm đức tin. Đức Giê-su, trước khi về trời, Ngài đã nói đến mầu nhiệm này như là một lời tuyên tín cho những ai muốn trở nên môn đệ của Ngài.

Hồi ấy, Ngài đã truyền dạy các môn đệ, rằng: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần…” (x.Mt 28, 18-19).

**
Một Chúa Ba Ngôi: “Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Vâng, có thể nói đây là “Mầu Nhiệm Tình Yêu Và Hiệp Nhất”. Tại sao lại gọi như thế? Thưa, bởi do những gì Kinh Thánh đã ghi lại đã nói lên điều đó.

Thật vậy, với Chúa Cha, Kinh Thánh cho biết, rằng: Người đã “yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”. 

Với Chúa Con ư! Thưa, Ngài “đến thế gian, không phải để lên án thế gian… ”, nhưng đến thế gian là để cứu độ, cứu độ thế gian bằng chính cái chết của Ngài, như lời Ngài đã nói “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”.

Còn với Chúa Thánh Thần? Vâng, nói đến Người, đó là nói đến tuyệt tác của sự-hiệp-nhất. Thật vậy, trong ngày lễ ngũ tuần, khi Ngài xuất hiện, người ta đã thấy rõ nét về một sự hiệp nhất vô tiền khoáng hậu, đó là: hiệp nhất mọi người ở khắp mọi nơi, từ “Pác-thi-a, Mê-đi, Ê-lam,Mê-xô-pô-ta-mi-a, Giu-đê, Pon-tô, và A-xi-a v.v…”, tất cả họ đều có thể nghe “tiếng mẹ đẻ” của mình, dù người nói với họ chỉ là một chàng Phê-rô chài lưới quê mùa, với giọng Do Thái nặng nề của miền Galile, và hơn thế nữa, chính nhờ Chúa Thánh Thần, mọi người mới có thể trở nên “con cái Thiên Chúa”, nhờ đó mọi người có thể gọi Người là “Áp-ba! Cha ơi”.

Chúa Cha yêu thế gian. Chúa Con cứu chuộc thế gian, Chúa Thánh Thần hiệp nhất thế gian… Vâng, có gì không phải, khi chúng ta gọi Ba Ngôi THiên Chúa là “Mầu Nhiệm Tình Yêu và Hiệp Nhất”!

***
Hôm nay, một lần nữa, chúng ta long trọng mừng kính trọng thể lễ “Chúa Ba Ngôi”. Có nhất thiết phải dùng một hình ảnh cụ thể nào đó để diễn tả mầu nhiệm “một Chúa Ba Ngôi”?

Thưa, không cần. Tại sao? Thưa, là bởi, Thiên Chúa là Đấng “vô hạn” chúng ta không thể dùng những hình ảnh “hữu hạn” để mà diễn tả về Người.

Muốn giải thích rõ ràng về mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi ư! Vâng, thay vì tập trung vào những hình ảnh hữu hạn, những hình ảnh khập khiễng, chúng ta nên chiêm ngắm sự hùng vĩ của thiên nhiên, sự kỳ diệu của cuộc sống mà Thiên Chúa đã sáng tạo, đã ban cho con người.

Vâng, đó chính là cảm nghiệm của tông đồ Phao-lô và ngài đã chia sẻ cảm nghiệm này cho cộng đồng tín hữu ở Roma, rằng: “Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Người ai dò cho thấu! Đường lối của Người, ai theo dõi được! Thật vậy, ai đã biết được tư tưởng của Chúa! Ai đã làm cố vấn cho Người”. 

Nhờ có sự cảm nghiệm như thế, thánh nhân đã lớn tiếng ca ngợi Thiên Chúa, rằng: “Vì muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại và quy hướng về Người. Xin tôn vinh Thiên Chúa đến muôn đời. Amen” (x.Rm 11, 33-36)

Thế nên, không gì tốt hơn là hãy dùng ngôn-ngữ-tình-yêu, một thứ ngôn ngữ đã được chính Đức Giê-su sử dụng, để mà diển tả về một Thiên Chúa Ba Ngôi.

Ngôn ngữ tình yêu ư! Nào có xa lạ gì với chúng ta! Đó chính là: lòng bao dung, sự chậm giận và sự tha thứ. Đó chính là: “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp”. Đó chính là “tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu”…

Vâng, sống đức tin bằng thứ ngôn ngữ tình yêu nêu trên, đó chính là lúc ta cho mọi người thấy “Chúa Cha”, Người chính là Đấng “từ bi và nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương, chẳng trách cứ luôn luôn, không oán hờn mãi mãi” (x.Tv 103, 8-9).
Sống đức tin bằng thứ ngôn ngữ tình yêu nêu trên, đó chính là lúc chúng ta “trình làng” cho mọi người biết một “Chúa Con”, Đấng “đến là để chiên được sống và sống sung mãn”.

Sống đức tin bằng thứ ngôn ngữ tình yêu nêu trên, đó chính là lúc chúng ta xây dựng ngôi vườn tâm hồn mình, một ngôi vườn tràn ngập “hoa quả của Thần Khí”, một loài hoa “bình an, hoan lạc, hiền hòa, nhân hậu, từ tâm” v.v… Nói cách khác, đó chính là lúc chúng ta đủ điều kiện để nói với mọi người rằng: có Chúa Thánh Thần - “Người là Chúa”.

****
Nói về Ba Ngôi Thiên Chúa bằng “ngôn ngữ tình yêu” quả là khó quá, phải không, thưa quý Bạn? Thế nhưng, với Đức Giê-su, thì “ngôn ngữ tình yêu” lại là điều kiện ắt có và đủ cho bất cứ ai muốn trở thành môn đệ của Ngài, vì như Ngài đã nói; “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này; là anh em có lòng yêu thương nhau”.

Thế nên, là một Ki-tô hữu, là một người môn đệ của Ngài, hãy tự hỏi mình rằng: mỗi khi “làm dấu thánh giá”, tôi có chấp nhận trở nên “khí cụ bình an của Chúa”? Hãy tự hỏi mình rằng: mỗi khi “làm dấu thánh giá”, tôi có cất tiếng nguyện xin “Thần Linh thánh ái… mở rộng lòng con”?

Mở-rộng-lòng-ta cũng như trở nên khí-cụ-bình-an-của-Chúa… Vâng, đó cũng là một thứ ngôn-ngữ-tình-yêu, một thứ ngôn ngữ làm “Sáng Danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần”. Cuối cùng, nó làm cho chúng ta không hổ thẹn mỗi khi đặt tay lên trán và cất tiếng đọc, rằng “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.
Petrus.tran

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2015

Tôi tin Chúa Thánh Thần.

Tôi tin Chúa Thánh Thần.

“Tôi tin Chúa Thánh Thần”. Vâng, đó là niềm tin không thể thiếu trong đời sống đức tin của một Ki-tô hữu. Chúa Thánh Thần là ai? Thưa, sách giáo lý Công Giáo dạy rằng: “Chúa Thánh Thần là ngôi thứ ba, bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra, Người là Thiên Chúa thật, cùng một bản tính và một quyền năng như hai Ngôi cực trọng ấy.”

Gần đây, khi nói về Chúa Thánh Thần, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói về Người như sau: “Trong kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng: ‘Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần, là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống.’ Chân lý đầu tiên mà chúng ta xác tín trong kinh Tin Kính, đó là: Chúa Thánh Thần chính là Kyrios, nghĩa là Chúa. Điều này có nghĩa là, Ngài là Thiên Chúa thật cũng như Chúa Cha và Chúa Con là Thiên Chúa… nhưng tôi muốn tập trung chính yếu vào sự kiện này là, Chúa Thánh Thần chính là nguồn mạch vô tận của sự sống Thiên Chúa trong chúng ta.”

Thật vậy. Đức Giê-su, trong những ngày còn tại thế, qua những lời giảng dạy, Ngài luôn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Chúa Thánh Thần, một Thánh Thần không chỉ là “nguồn mạch vô tận của sự sống Thiên Chúa”, mà còn là điều kiện tiên quyết để được tái sinh, một sự tái sinh hầu để nhận được ơn cứu độ - ơn được vào Nước Thiên Chúa.

Hồi đó, trong một lần nói chuyện về Nước Thiên Chúa với một thủ lãnh người Do Thái tên là Ni-cô-đê-mô, Đức Giêsu đã tuyên bố rằng: “Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thánh Thần”.

Muốn đón nhận ơn cứu độ, để được thấy Nước Thiên Chúa, để được vào Nước Thiên Chúa ư! Vâng, Đức Giêsu đã nói, “Không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên… Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí.” (Ga 3, 3…5)

Không chỉ nói về vai trò của Chúa Thánh Thần trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Đức Giê-su còn cho các môn đệ của mình biết thêm về sứ mạng của Chúa Thánh Thần.

Sứ mạng của Chúa Thánh Thần là gì? Thưa, Đức Giê-su nói vói các môn đệ rằng, Ngài sẽ “sai Đấng ấy đến… Khi Người đến, Người sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính… Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 15, 8… 13).
Những lời truyền dạy đó đã được Đức Giê-su loan báo trong ngày lễ Vượt Qua, một ngày mà Ngài sẽ phải ra đi, ra đi chịu bắt bớ, chịu đánh đòn và chịu chết trên thập giá tại đồi Golgotha.

Vâng, có thể nói, đó là một buổi biệt ly sầu thảm giữa Ngài và các môn đệ. Nhìn thấy những xao xuyến của các ông, trước sự ra đi của mình, Đức Giêsu an ủi các môn đệ, rằng “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác để ở với anh em luôn mãi”.

Và quả thật, ngay sau khi Ngài Phục Sinh. Hôm đó đúng “vào chiều ngày thứ nhất trong tuần”, Đức Giêsu đã hiện đến với các môn đệ trong một ngôi nhà “các cửa đều đóng kín”.

Tại sao các cửa lại đóng kín? Thưa, vì lúc đó, dư âm cuộc bách hại của Đức Giê-su vẫn còn âm ỉ. Là môn đệ của Người, nên, các ông “sợ người Do Thái” (Ga 20, …19).

Hôm đó, đang lúc sự sợ hãi dâng lên cao độ, thì, Đức Giêsu hiện đến. Sự hiện đến của Ngài đã đem đến cho các ông niềm vui, vui “vì được thấy Chúa”. Còn nữa, vui vì được Đức Giê-su, Thầy của mình, chúc “Bình An”, và cuối cùng, đó là: vui vì được Ngài: “Thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20, 22).

Thổi hơi vào các ông và bảo các ông hãy nhận lấy Thánh Thần. Vâng, có thể nói, sự kiện này như một bằng chứng cho lời hứa mà Đức Giê-su đã hứa hôm Thầy và trò cùng mừng lễ Vượt Qua.

Hôm đó, Đức Giê-su hứa rằng: “Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em…” (x.Ga 16, 7)

Vâng, bốn mươi chín ngày sau, tính từ ngày đó, ngày Chúa Giêsu “thổi hơi” vào các ông, đó là vào ngày lễ ngũ tuần, “Đấng Bảo Trợ” đã thực sự đến với các môn đệ. Hôm đó, không ai có thể tưởng tượng được, trong khi các môn đệ “đang tề tựu ở một nơi”, kinh ngạc thay! “bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp”. Các ông đã nhìn thấy “những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một”. Và như có một nguồn sống mới len lỏi vào tâm hồn các ông, mọi người đều cảm nhận rằng, mình đã “được tràn đầy ơn Thánh Thần” (Cv 2, 4).

**
Kinh Thánh ghi lại rằng, các môn đệ “ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần”. Vâng, một trong các ơn Chúa Thánh Thần đã ban cho các môn đệ, đó là: Các ông có thể “nói các thứ tiếng khác, tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho”.

Hôm đó, thật không thể tin được “các dân thiên hạ” đã phải “kinh ngạc vì ai nấy đều nghe các ông nói tiếng bản xứ của mình” (Cv 2,6). Dù là: “người Roma hay người Do Thái… người đảo Cơrêta hay ngưởi Ảrập”. Tất cả mọi người đếu được nghe các môn đệ: “loan báo những kỳ công của Thiên Chúa” (Cv 2,11).

Thánh Thần Chúa còn ban cho các môn đệ “ơn can đảm”. Thật vậy, các môn đệ, tiêu biểu là tông đồ Phê-rô không còn nhát đảm, như trước đây đã nhát đảm chối Thầy, thay vào đó là sự can đảm nói lên sự thật, sự thật về một Thầy Giê-su, chính là người “Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa và là Đấng Ki-tô” (x.Cv 2, …36).

Chưa hết, hôm đó, nhờ ơn Thánh Thần Chúa, các tông đồ đã can đảm cáo trách mọi người “Hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô, để được ơn tha tội”.

Và quả thật, những lời cáo trách đó đã làm cho nhiều người “đau đớn trong lòng”. Thánh Thần Chúa đã tác động tâm hồn “khoảng ba ngàn người theo đạo”, cũng như sau này “cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được ơn cứu độ” (Cv 2,…47).

****
“Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”. Vâng, đây không phải là ơn dành riêng cho các tông đồ, mà cũng là ơn dành cho mỗi chúng ta, là những người Kitô hữu, hôm nay.

Tuy nhiên, một Kitô hữu trưởng thành không chỉ nhận lấy Chúa Thánh Thần, là đủ, nhưng còn phải “đầy dẫy Chúa Thánh Thần” (Ep 5,18).

Tại sao? Thưa, bởi, khi đầy-dẫy-Chúa-Thánh-Thần chúng ta mới có thể “Sống theo Thần Khí”, mà nếu chưa sống theo Thần Khí, thánh Phao-lô nói, kẻ đó có khác gì là “trẻ nhỏ trong Đức Ki-tô”. Thế nên, ngoài việc nhận lấy Thánh Thần, đừng bao giờ biến mình là kẻ không-biết-mình có “đầy dẫy Chúa Thánh Thần” hay không?

Làm sao để biết mình đầy dẫy Chúa Thánh Thần? Thưa, xem quả biết cây. Xưa, Đức Giê-su đã nói: “Hãy coi chừng các tiên tri giả. Họ mặc lốt chiên đến cùng các con, nhưng bên trong, họ là sói dữ hay cắn xé. Hãy xem quả thì các con sẽ biết được chúng. Nào ai hái được trái nho nơi bụi gai, hoặc trái vả nơi bụi găng sao? Cũng thế, cây tốt thì sinh trái tốt, còn cây xấu thì sinh trái xấu. Cây tốt không thể sinh trái xấu, và cây xấu không thể sinh trái tốt” (x.Mt 7, 15-18).

Cũng vậy với chúng ta hôm nay. Hãy xem cây-tâm-hồn của tôi sinh hoa trái gì?

Nếu là những hoa trái “dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tị, say sưa, chè chén và những điều khác giống như vậy”; hãy coi chừng! Đó là dấu hiệu chúng ta “sống theo tính xác thịt”, không phải “sống theo Thần Khí”.

Đây, chúng hãy xem, những tín hữu Cô-rin-tô xưa, nơi cộng đồng của họ luôn có sự “ghen tương và cãi cọ” nên tông đồ Phao-lô đã gọi họ là “những con người sống theo tính xác thịt và theo thói người phàm” (x.1Cor 3, 3)

Còn nếu cây-tâm-hồn của tôi sinh hóa trái “bác ái, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ”… Vâng, hãy tin, đó là lúc chúng ta đang “sống theo Thần Khí”.

Cho nên, dù đã được chịu “Bí Tích Thêm Sức”, dù đã “nhận được Thần Khí”, dù đã “khởi sự nhờ Thần Khí”… chúng ta còn phải “đầy dẫy Chúa Thánh Thần”, còn phải “sống theo Thần Khí”… Nếu không, nếu chúng ta sống theo tính xác thịt, “kết thúc nhờ xác thịt”… Vâng, chúng ta sẽ bị coi là “ngu xuẩn”, là “uổng công”, theo lời Thánh Phao-lô đã nói như thế. (x.Gl 3, 3…4)

Vì thế, hãy tự hỏi, đã bao nhiêu lần tuyên xưng “tôi tin Chúa Thánh Thần” nhưng tôi đã thật sự nhận lấy Thánh Thần? Thật sự đầy dẫy Thánh Thần? Và thật sự “sống theo Thần Khí”?

*****
Có phần chắc, các Kitô hữu trưởng thành ai cũng đã chịu “Bí Tích Thêm Sức” và như vậy, chúng ta đã “nhận lấy Chúa Thánh Thần”. Cho nên, đừng quên lời thánh Phaolô khuyên bảo, rằng “Hãy để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em” và “chớ làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa”.

Vì thế, hãy tự hỏi, đã “nhận lấy Chúa Thánh Thần”, chúng ta có để cho “Thần Khí đổi mới tâm trí” chúng ta? Chúng ta có để cho “Thần Khí đổi mới”… đổi mới tính “…chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thóa mạ”? Chúng ta có để cho “Thần Khí đổi mới”… đổi mới lời ăn tiếng nói, không bao giờ “thốt ra những lời nói độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp để xây dựng và làm ích cho người nghe”? (x. Ep 4, 29)

Đã “nhận lấy Chúa Thánh Thần”, chúng ta sẽ không làm “phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa” khi được Người mời gọi “phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô”? (x. Ep 4, 32)

Vâng, câu trả lời dành cho mỗi chúng ta.

Thế nhưng, hãy tưởng tượng xem, nếu chúng ta đổi mới tính “…chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thóa mạ”, nếu chúng ta “…đổi mới lời ăn tiếng nói, không bao giờ thốt ra những lời nói độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp để xây dựng và làm ích cho người nghe”, điều gì sẽ xảy ra?

Hãy thử tưởng tượng, nếu chúng ta “…đối xử tốt với nhau… có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau” điều gì sẽ xảy ra?

Thưa, điều sẽ xảy ra, đó là, cũng như các tông đồ xưa, chúng ta cũng làm cho các dân thiên hạ “kinh ngạc vì ai nấy đều nghe”, không phải nghe chúng ta nói “tiếng lạ”, nhưng là nghe chúng ta nói lên những tiếng nói của “Tình Yêu Thương”, một thứ tiếng đem đến sự “Hiệp Nhất”, một thứ tiếng chứng minh chúng ta đã “nhận lấy Chúa Thánh Thần” như có lời nói “Ở đâu có hiệp nhất ở đó có Chúa Thánh Thần”.

Nói cách khác, khi chúng ta nói được tiếng nói của tình yêu thương, nói được tiếng nói đem đến sự hiệp nhất đó là lúc chúng ta “sống nhờ Thần Khí”.

Thế nên, chúng ta còn cần nghe thêm một lời khuyên của thánh Phao-lô rằng “Hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước”.

Tại sao? Thưa, bởi, khi nhờ Thần Khí mà tiến bước, chúng ta mới có thể nhận ra “sự thật toàn vẹn”, một sự thật-thực, để nhận ra những dối trá lừa lọc, những gian dối bịp bợm nhan nhản quanh chúng ta, nhờ đó chúng ta mới có thể “hoàn thiện” việc nói lên những tiếng nói của “Tình Yêu Thương”, một thứ tiếng đem đến sự “Hiệp Nhất”, đúng nơi, đúng chỗ, đúng người, đúng đối tượng.

Vâng, hôm nay, một lần nữa, chúng ta long trọng mừng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Chúng ta sẽ cầu xin điều gì nơi Ngài? Có lẽ, nên chăng, cầu xin Ngài cho chúng ta sống vì sự thật, sống cho sự thật, sống tôn trọng sự thật?

Đức Giê-su, xưa kia, Ngài đã nói: “Sự thật sẽ giải thoát chúng ta”. Thế nên, vâng, thật phải đạo khi chúng ta cầu xin Thánh Thần Chúa cho chúng ta ơn can đảm, can đảm để sống vì sự thật, sống cho sự thật, sống tôn trọng sự thật, bởi chỉ có như thế chúng ta mới không hổ thẹn khi cất tiếng tuyên xưng “Tôi tin Chúa Thánh Thần”.


Petrus.tran

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2015

Anh em hãy đi…

Chúa Nhật VII - B - Lễ Chúa Thăng Thiên.

Anh em hãy đi…


Hôm nay, Chúa Nhật 17/05/2015, theo truyền thống, toàn thể Giáo Hội mừng kính trọng thể lễ Chúa Giê-su thăng thiên. Có thể nói rằng, với chúng ta hôm nay, đây là một ngày đại lễ, một ngày mà toàn thể Ki-tô hữu mừng vui tái xác tín rằng: Chúa Giê-su “…ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh. Người lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha”.

Thế nhưng, với các môn đệ xưa, ngày này, ngày Thầy Giê-su “được cất lên ngay trước mắt các ông” lại là một ngày mang đến cho các ông đôi chút ngỡ ngàng và băn khoăn.
Thật vậy, sau sự kiện phục sinh của Đức Giêsu gây chấn động cả Giêrusalem, và sau nhiều lần hiện ra với các môn đệ của mình, có thể nói rằng, Đức Giê-su đã dần dần phục hồi lại niềm tin của các ông. Những chán chường, những thất vọng của các ông như bị đầy lùi và thay vào đó là một niềm vui mừng và hy vọng.

Các ông hy vọng vào điều gì? Thưa, các ông hy vọng rồi đây Thầy Giêsu sẽ “khôi phục vương quốc Israel” trong nay mai. Hôm ấy, hôm Đức Giê-su hiện đến, các ông đã mừng vui và hỏi Ngài rằng: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Israel không?”

Khôi phục vương quốc Israel ư! Thật đáng tiếc! Đó không phải là sứ vụ của Đức Giê-su. Bốn mươi ngày qua, kể từ khi sống lại từ cõi chết, Đức Giêsu không ngừng hiện ra với các môn đệ. Và mỗi khi hiện ra với các ông, ngoài những sinh hoạt như ăn và uống để chứng minh rằng Ngài không phài là ma, nhưng đã thật sự sống lại, Đức Giêsu còn chú trọng đến những lời dạy dỗ các môn đệ. Một trong những điều dạy dỗ quan trọng, đó là, Đức Giêsu đã “mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh”.

Hiểu Kinh Thánh, các ông sẽ hiểu tại sao hôm bữa tiệc Vượt Qua Đức Giê-su nói: “Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi.” Hiểu Kinh Thánh, các ông mới có thể thấy việc “Thầy ra đi thì có lợi cho anh em”. Và cuối cùng, hiểu Kinh Thánh, các môn đệ sẽ hiểu đâu là sứ vụ chính yếu của Ngài.

Mà, sứ vụ của Ngài là gì? Thưa, “Rao giảng Tin Mừng Nước Trời”. Và đó cũng là sứ vụ của các môn đệ. Hôm đó, Đức Giê-su đã nói về sứ vụ các ông sẽ phải thực hiện, sau khi Ngài ra đi, sứ vụ đó là: “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ, còn ai không tin sẽ bị kết án”.

Sau khi đưa ra những huấn lệnh, Tin Mừng thánh Mác-cô ghi vắn tắt rằng: “Chúa Giê-su được đưa lên trời” (x.Mc 16, 19). Còn sách Công vụ Tông Đồ cho ta nhìn thấy một bức tranh hùng vĩ về sự “ra đi” của Đức Giê-su. Vâng, sách chép lại rằng: “Người được cất ngay trước mặt các ông, và có đám mây quyện lấy Người khiến các ông không còn thấy Người nữa”. Hôm đó, đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi, thì bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh, và nói: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv 1, 11).

**

“Chúa Giê-su được đưa lên trời”. Hôm nay, vào mỗi thánh lễ Chúa Nhật, chúng ta tái xác tín điều này qua phần đọc kinh tin kính. Và để không bị những tà thuyết làm lung lạc niềm tin này, chúng ta nên biết rằng, trong Kinh Thánh, từ ngữ “trên trời” có nghĩa là chỉ nơi Thiên Chúa hiện diện. “Lên trời” là đi vào sự hiệp thông tuyệt hảo và vĩnh cửu với Chúa Cha và được chia sẻ với Chúa Cha quyền năng và vinh quang.

Thế nên, sẽ thật là ấu trĩ khi nghĩ rằng, sự thăng thiên của Đức Giêsu có nghĩa là “Ngài bay bổng lên không trung và các tầng mây quyện quanh thân Ngài.

Một câu chuyện đã xưa cũ, nhưng nó vẫn có thể đem đến cho chúng ta bài học về niềm tin “có Chúa trên trời”.

Chuyện là thế này: Năm 1968 đúng vào ngày lễ Giáng Sinh 24.12, chiếc phi thuyền Apolo 8 đã được phóng lên quỹ đạo mặt trăng, mang theo phi hành đoàn gồm ba phi hành gia là: Frank Borman, Jim Lowell và William Andress.

Họ đã được “lên trời”. Ở trên trời, họ không thấy Chúa đâu hết. Nhưng trước kỳ công của tạo hóa, từ trên quỹ đạo mặt trăng, họ đã gửi về trái đất những lời Kinh Thánh đầy xúc động: “Ban đầu, Đức Chúa Trời sáng tạo trời đất”.

Vâng, có thể nói, câu Kinh Thánh mà ba vị phi hành gia đó gửi về trái đất, nó chứng tỏ nơi các vị phi hành gia đó một sự trưởng thành trong niềm tin. Với những người được ơn như thế, tông đồ Phao-lô nói, rằng, họ đã được “Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ban cho Thần Khí khôn ngoan để mạc khải cho (họ) nhận biết Người”? (Ep 1, 17)

Việc Đức Giêsu “được rước lên trời”, thánh Phao-lô nói, đó chính là “sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực mà Thiên Chúa đã biểu dương nơi Đức Kitô, khi làm cho Đức Kitô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời” (Ep 1, 2)

***
Đức Giê-su nói, “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng”. Xưa, các môn đệ đã thi hành mệnh lệnh của Ngài. Và nay, với chúng ta, là một Ki-tô hữu, cũng không loại trừ.

Vâng, “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo…”. Bằng cách nào, Thưa, hãy nhìn phong cách Đức Giê-su. Phong cách của Đức Giê-su đã được ghi lại đầy đủ trong cách sách Tin Mừng, một cuốn sách còn được gọi bằng môt tên khác, đó là “Kinh Thánh”.

Phải đọc Kinh Thánh hàng ngày, bởi đó chính là hơi thở cho đời sống tâm linh của chúng ta. Như các môn đệ xưa đã được Đức Giê-su mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh. Cũng vậy với chúng ta hôm nay. Hãy đến nhà thờ, nơi chúng ta có nhiều cơ hội được “mở trí để hiểu Kinh Thánh”, qua bài giảng của linh mục và sẽ tốt hơn nữa, nếu mỗi chúng ta có được một cuốn Kinh Thánh như là một cuốn sách gối đầu giường.

Vâng, xã hội ngày hôm nay đầy dẫy sự dối trá, lừa bịp v.v… Chỉ có Kinh Thánh mới có thể đem chúng ta trở về với sự thật, sự thật trong lời nói lẫn việc làm. Kinh Thánh cho chúng ta thấy sự thật là chính Đức Giê-su, Đấng đã khẳng định về mình, rằng: “Ta là đường, là sự thật, và là sự sống.” (x.Ga 14, 6)

Chỉ có sự thật trong Đức Giê-su chúng ta mới có thể vượt lên sự thật giữa một xã hội đầy dối trá và lừa bịp như hôm nay. Chỉ có sự thật trong Đức Giê-su chúng ta mới có thể nói với mọi người rằng: “Yêu ai cứ bảo là yêu; Ghét ai cứ bảo là ghét. Dù ai ngon ngọt nuông chiều; Cũng không nói yêu thành ghét. Dù ai cầm dao dọa giết; Cũng không nói ghét thành yêu…” (thơ: Phùng Quán)

Sống với sự thật và trong sự thật như thế, vâng, ai dám phủ nhận đó chính là đời sống “chứng nhân”, chứng nhân cho Chúa, Đấng là tình yêu. Nói tắt một lời, sống với sự thật và trong sự thật như thế, không thể phủ nhận, đó cũng là một phương cách để chúng ta “đem Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”
.
“Đem Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”, đó chính là lệnh truyền được Đức Giê-su đã truyền dạy cho các môn đệ xưa, và cũng là cho mỗi chứng ta hôm nay, rằng: “Anh em hãy đi”.

Petrus.tran


Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2015

Hãy yêu thương nhau!

Hãy yêu thương nhau!

Chúa Nhật VI – PS – B

Hãy yêu thương nhau!

Cách nay khá lâu, trong chương trình “the voice of Holland”, có một thí sinh tên là Charly Luske, khi anh ta vừa cất tiếng hát ca khúc “It’s a Man’s Man’s Man’s World”, lập tức cả khán phòng bùng nổ bởi những tiếng vỗ tay reo hò, có năm vị giám khảo, bất ngờ thay, cả năm vị cùng nhấn chiếc nút để xoay cái ghế mình đang ngồi, từ vị trí “dấu mặt” với thí sinh, thành diện đối diện với Charly Luske.

Vì sao năm vị giám khảo lại cùng một lúc đồng thuận như thế? Vì sao khán thính giả lại phấn khích với bản nhạc này? Phải chăng là vì chất giọng anh ta? Phải chăng là bởi ý nghĩa của bài hát? Đúng vậy, chất giọng anh ta rất tốt, nhưng phải nói thêm rằng, thành công của anh ta là do ý nghĩa của bài hát.

Chúng ta hãy nghe, thật ý nghĩa thay, khi bài hát có lời rằng “This is a man’s world. This is a man’s world… But it wouldn’t nothing, nothing… without a woman or a girl - Đây là thế giới của đàn ông; Đây là thế giới của đàn ông. Nhưng nó sẽ chỉ là vô nghĩa. Vô nghĩa nếu thiếu đi người phụ nữ”.

“Bạn thấy đấy…” Charly Luske tiếp tục cất tiếng hát rằng “…Đàn ông tạo ra xe hơi, để đưa ta đi qua những con đường dài. Đàn ông làm ra tàu hỏa để vận chuyển đồ trọng tải lớn. Đàn ông tạo ra đèn điện, để thắp sáng mọi bóng tối vây quanh ta. Đàn ông tạo ra tàu thủy, cũng như Noah tạo ra rương (ark)… Đây là thế giới của đàn ông; Nhưng nó sẽ chỉ là vô nghĩa nếu thiếu đi người phụ nữ. Cô ấy đâu có cần tới tôi. Tất cả chỉ là vô nghĩa”. (lược dịch: nguồn internet)

Tất-cả-chỉ-là-vô-nghĩa, chỉ với sáu chữ, nó gợi cho ta nhớ đến một lời ví von đã được chép trong sách Huấn Ca, rằng: “Không có hàng rào, trang trại bị cướp phá, vắng bóng đàn bà, đàn ông sẽ lang thang, rên rỉ” (Hc 36, 23).

Có lẽ, không ai có thể phủ nhận, tác giả của bài hát nêu trên, qua tiếng hát nỉ non của người ca sĩ, đã muốn ca ngợi về một thứ tình yêu – “tình yêu đôi lứa”.

Tình yêu đôi lứa ư? Vâng, đó là món quà tặng của Thượng Đế, Người đã ban tặng cho con người, ngay từ tạo thiên lập địa. Sách Sáng thế ký đã thuật lại rằng: “Đức Chúa là Thiên Chúa phán: Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm một trợ tá tương xứng với nó… Đức Chúa là Thiên Chúa cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người. Rồi Chúa rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt thế vào. Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người” (Stk 2, 18…22).

Con người có nhận không? Thưa có. Con người đón nhận trong tiếng reo hò mừng vui: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi”. Tình yêu đôi lứa, hay tình yêu giữa con người với con người được khởi đầu như thế đấy. Nó đồng hành suốt chiều dài lịch sử con người. Nó đã được mô tả “mãnh liệt như tử thần… đam mê dữ dội như âm phủ… nước lũ không dập tắt nổi, sóng cồn chẳng tài nào vùi lấp” (Dc 8, 6-7).

Chỉ tiếc rằng, tội lỗi mà con người vấp phạm đã làm cho tình yêu, với một chút lãng mạn của “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy; Ngàn năm chưa dễ đã ai quên”, nay bỗng chốc trở thành nỗi đau chất ngất, chất ngất bằng những từ ngữ: tại-bị-bởi vì… bởi vì “người đàn bà Ngài cho ở với con”, tại-bị-bởi-vì “Con rắn đã lừa dối con” v.v… Để rồi, hôm nay, vẫn biết rằng, tình yêu là quà tặng của Thượng Đế, nhưng khi đối diện, con người vẫn thở than, “đường vào tình yêu có trăm lần vui có vạn lần buồn”…

Vâng, làm sao không “vạn lần buồn” khi con người ngày nay, do ảnh hưởng bởi những chủ thuyết lệch lạc: chủ thuyết vô thần, chủ thuyết hiện sinh, do ảnh hưởng của những lối sống: lối sống thụ hưởng v.v… nên đã làm cho “Tình Yêu - món quà tặng của Thiên Chúa” trở nên trần trụi, trơ trẽn như một món hàng đổi chác. Tình yêu như thế… chết là cái chắc… vạn lần buồn là điều không tránh khỏi…

**
Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu bền vững. Tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu với những đặc tính: đi bước trước, dâng hiến và trao ban. Và Đức Giê-su, Con Một Thiên Chúa, Ngài đã đến thế gian để gửi đến thế gian tình yêu đó.

Nếu thế gian quan niệm, tình yêu thương được thể hiện qua việc “hòn bấc ném đi, hòn chì ném lại”. Thì, với Đức Giê-su, tình yêu của Ngài, đó là thứ tình yêu “nhưng không – vô hạn”.

Nếu thế gian dạy rằng: “Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù” thì Đức Giêsu đã lớn tiếng dạy rằng “Còn Thầy, Thầy bảo anh em, hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5, 43-44).

Nếu thế gian khuyên rằng “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân – Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác”, thì Đức Giêsu đã khuyên rằng “tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7, 12).
Nếu thế gian dạy rằng “mắt đền mắt, răng đền răng” thì Đức Giêsu khuyên dạy: “còn Thầy, Thầy bảo anh em, đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa”.

Trong đêm mừng lễ Vượt Qua, cũng là đêm Đức Giê-su sẽ thể hiện tình yêu nhưng không và vô hạn của mình, qua cuộc tử nạn trên thập giá tại Golgotha, Ngài đã đưa ra một giáo huấn mới về tình yêu, giáo huấn rằng: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu, người liều mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15, 13).

Vâng, đúng là một thứ tình yêu mới và đã được Đức Giê-su gọi là “điều răn mới”. Và, như một chiếc cầu ân sủng nối kết các môn đệ với tình yêu của Thiên Chúa, Đức Giêsu đã phán: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy.” (Ga 15, 9).

Yêu anh em như vậy là như thế nào? Thưa là, Đức Giê-su coi các môn đệ như là: “Bạn hữu” của Ngài. Vâng, chính việc trở thành bạn hữu, chính việc không gọi các môn đệ là tôi tớ, Đức Giê-su đã mở ra một cánh cửa cho tình yêu thâm nhập vào từng con người, từng cá nhân, nói tắt một lời, từng người môn đệ của Ngài.

Có thể nói rằng, với những điều Đức Giê-su đã giảng dạy nơi công chúng cũng như những gì Ngài đã truyền dạy cho các môn đệ trong chốn riêng tư, nó chính là mẫu mực cho một tình yêu nhưng không, vô vị lợi, một tình yêu hoàn hảo mà mỗi người môn đệ của Ngài phải thể hiện để “yêu thương nhau”.

***
“Anh em hãy yêu thương nhau”. Vâng, đây là một lệnh truyền. Với lệnh truyền này, tông đồ Gioan, sau này, tiếp tục truyền dạy cho chúng ta, rằng: “Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa” (1Ga 4, 8).

Có thể nói ngược lại chăng! Không biết Thiên Chúa con người thiếu vắng tình yêu thương! Đúng vậy. Hãy nhìn xem, xã hội chúng ta đang sống, một xã hội cổ vũ cho chủ nghĩa vô thần, người ta hô hào “Thiên Chúa chỉ là sản phẩm do trí tưởng tượng của con người” điều gì đã và đang xảy ra! Thưa, dối trá, gian lận, lừa bịp khắp nơi. Từ nơi học đường lẫn nơi công sở. Trộm cắp, cướp bóc xảy ra nhan nhản. Và rất nhiều, rất nhiều sự gian ác xảy ra chỉ vì “Không biết Thiên Chúa” .

“Anh em hãy yêu thương nhau”. Là một Kitô hữu, không ai được phép từ chối thực thi lệnh truyền này. Bởi vì, đó chính là dấu chỉ để “thiên hạ nhận biết (chúng ta) là một đệ của Đức Giê-su Ki-tô” (x.Ga 13, 35)

Thế nên, đừng quên, hành động chạnh-lòng-thương-xót của người Samaria trước nạn nhân bị cướp đánh đập giữa đường - không tránh qua lối khác mà đi - nhưng đã đứng lại cứu giúp, trong dụ ngôn “người Samaria nhân hậu”, phải là tấm gương mẫu mực cho mỗi chúng ta.
Cũng đừng biến mình thành ông nhà giàu trong câu chuyện “ông nhà giàu và anh Lazaro nghèo khó” để rồi cuối cùng “phải chịu khốn khổ” về đời sau. (x.Lc 16, 19-31)
Có ai trong chúng ta lại không hơn một lần được dạy dỗ rằng, “thương người như thế thương thân”, hoặc “một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”, hay “một miếng khi đói bằng gói khi no” v.v... Vì thế, để thể hiện tình yêu thương, hãy nhớ lời Kinh Thánh có dạy “Đừng xòe tay ra nhận, rồi nắm lại khi phải cho đi” (x.Hc 4, 31). Đó cũng là điều thánh Phaolô khuyên: “Cho có phúc hơn nhận”.

Tất cả chỉ là tình yêu, cho nên, một nhà thơ trẻ với cảm nhận của mình đã chia sẻ, rằng: “Kinh Thánh dạy một tình yêu thuần khiết; Là tình yêu không vị lợi cho mình. Là thực hành một nghĩa vụ thiêng liêng, để ánh sáng Tin Mừng soi... thế giới” (nguồn: internet).

Nói cách khác: “Để ánh sáng Tin Mừng soi thế giới. Hãy thể hiện một nghĩa vụ thiêng liêng. Đó chính là tình yêu vô vị lợi. Điều xưa kia, Đức Giê-su truyền dạy”.

Vâng, hôm đó, Người truyền dạy một điều duy nhất, đó là: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái và hoa trái của anh em sẽ tồn tại… Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau” (Ga 15, 16-17).

****

Thế giới hôm nay có quá nhiều khổ đau, khổ đau đến từ nhiều phía, và hầu như nguyên nhân là bởi, thiếu tình yêu thương. Thiếu tình yêu thương là bởi thế giới hôm nay vẫn tồn tại sự vênh vang tự đắc, nơi con người vẫn còn đó sự hận thù, sự gian ác, thiếu sự tha thứ v.v…

Thế nên, là một Ki-tô hữu, chúng ta phải là cánh tay nối dài của Đức Giê-su, để đem những hoa trái của tình yêu thương, đó là: “nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy sự chân thật…”, đến cho mọi người, ít nhất là trong gia đình chúng ta.

Trong gia đình, người chồng “không làm điều bất chính”, không dám xem chuyện “vợ cả, vợ hai, cả hai đều là vợ cả”… vâng, ai dám phủ nhận gia đình đó là một gia đình mẫu mực về tình yêu thương, lòng chung thủy! Trong gia đình, người vợ luôn “nhẫn nhục, hiền hậu”… ai dám phủ nhận, gia đình đó là một gia đình mẫu mực về tình yêu thương, lòng bao dung!

Đa phần những gia đình đổ vỡ, nguyên nhân đều thiếu “đức mến”. Mà, theo thánh Phao-lô, những hoa trái của đức mến chính là những điều đã được nêu trên, những điều đem đến cho mọi người “tình yêu thương”.

Albert Camus có nói “Tôi chỉ biết một nghĩa vụ, đó là yêu thương”. Albert Camus rất đúng, bởi, cũng như cảm nhận của một nàng thơ, thì: “Mọi năng tài sẽ đi vào... mai một; Trên đời này chỉ tồn tại ba điều: Là đức tin, hy vọng, và tình yêu. Nhưng tình yêu được kể là trọng nhất!” (nguồn: internet)

Tình yêu thương được kể là trọng nhất ư! Thưa, đúng vậy, bởi, như chúng ta đã biết “Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời”, và hơn nữa, là bởi, đó là điều Đức Giê-su truyền dạy cho chúng ta là “Hãy yêu thương nhau”.

petrus.tran

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2015

Tôi đã “Ở lại trong Thầy?”

Tôi đã “Ở lại trong Thầy?”

Lại thêm một Chúa Nhật của mùa Phục Sinh đến với chúng ta. Nếu nhìn với đôi mắt của một người bình thường, thì, đây là Chúa Nhật đầu tiên của tháng năm. Nhưng, nếu nhìn với đôi mắt con người của lịch sử, thì, đây là Chúa Nhật đầu tiên, sau bốn mươi năm, của một biến cố lịch sử, biến cố 30/04/1975. Nhắc đến điều này để làm gì? Thưa, để nhìn lại lịch sử của Giáo Hội, sau bốn mươi năm.

Vâng, với đôi mắt đức tin, Đức Giám Mục GB. Bùi Tuần, trong bài viết tựa đề “Chuyện của hạt lúa gieo vào lòng đất”, đã có lời chia sẻ rằng: “Tôi nhìn Hội Thánh Việt Nam, cách riêng là tại miền Nam, và đặc biệt là tại giáo phận Long Xuyên của tôi. Đúng là có nhiều nhà thờ mới, nhiều giáo điểm mới, nhiều cơ sở mới, nhiều nhân sự mới. Tôi hỏi Chúa xem tôi nên vui hơn cả về yếu tố nào. Chúa trả lời tôi là: Hãy vui vì đã và đang có nhiều hạt lúa được gieo vào lòng đất”.

Là một Ki-tô hữu, mỗi chúng ta, dù ở vai trò nào trong Giáo Hội, cũng đều được mời gọi là một “hạt lúa được gieo vào lòng đất”. Tự nhận mình “cũng phần nào được ơn là một hạt lúa” và với cảm nghiệm của mình, qua bài viết, ĐGM. Bùi Tuần đã “xin nói đôi chút về tôi, như một chứng nhân của ơn gọi là hạt lúa gieo vào lòng đất”.

Ngài đã nói gì về ơn gọi là hạt lúa? Thưa, ngoài việc khiêm tốn và phó thác, ngài nói thêm rằng “Chúa luôn dạy tôi là chính bản thân tôi hãy luôn là hạt lúa tốt”.

Thế nào là hạt lúa tốt? Trả lời cho câu hỏi này, ĐGM Bùi Tuần nói: “Tôi nhớ tới lời Chúa dạy: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15, 5)

Với lời Đức Giê-su truyền dạy trên, ĐGM Bùi Tuần chia sẻ tiếp, rằng “tôi hiểu tôi sẽ là hạt lúa tốt, khi tôi kết hiệp mật thiết với Chúa, như cành với cây”.

Hay nói cách khác, một người tin và theo Chúa đích thực, phải là người có một mối liên kết mật thiết với Chúa “như chim liền cánh, như cây liền cành”.

**
“Như chim liền cánh, như cây liền cành”. Vâng, đó cũng chính là giáo huấn được Đức Giêsu truyền dạy cho các môn đệ xưa, qua hình ảnh rất gần gũi với các ông, đó là hình ảnh “cây nho và cành nho”.

Theo Kinh Thánh ghi lại, thì, đó là ngày Thầy và trò đang họp lại mừng lễ Vượt Qua. Lễ Vượt Qua là một ngày lễ của niềm vui, nhưng hôm đó, với các môn đệ, lại là một ngày buồn, buồn vì “có một người trong anh em sẽ nộp Thầy”, buồn vì “Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi”…

Cảm thông nỗi buồn cùng với những âu lo của các môn đệ, Đức Giêsu củng cố niềm tin của các ông bằng một ẩn dụ rất đời thường, ẩn dụ “cây nho”. Hôm đó, trước các môn đệ, Ngài nói: “Thầy là cây nho thật. Và Cha Thầy là người trồng nho”.

Nói tới cây nho, Đức Giê-su muốn cho các ông nhìn thấy một so sánh thực tế, rằng: sự liên kết của nhánh và gốc đem sự sống từ gốc ra các nhánh khác của cây. Đây là một liên kết bền chặt tận gốc rễ, không phải chỉ có bề ngoài. Cũng vậy, giữa các ông và Đức Giê-su, cũng phải có mối liên hệ mật thiết. Sức sống của Đức Giê-su phải tuôn tràn qua cuộc sống của các ông mỗi ngày.

Có thể nói, ẩn dụ “cây nho thật” chính là một bản tình ca, bản tình ca yêu thương mà Đức Giê-su muốn gửi đến cho các môn đệ là những kẻ bước đi theo Ngài.

Có lời lẽ nào yêu thương hơn lời lẽ mời gọi này: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy” (x.Ga 15, 4).

Đã nhiều lần qua các ẩn dụ, Đức Giêsu nói lên căn tính của Ngài. Nhưng với ẩn dụ hôm nay, ẩn dụ “cây nho thật” Đức Giêsu muốn cho các môn đệ thấy sự “liên kết mật thiết” với Ngài quan trọng dường bao, bởi chỉ những ai “ở lại trong Ngài” thì người đó mới “sinh nhiều hoa trái”, một điều kiện tối thượng để “trở thành môn đệ của Ngài”.

***

Trước một xã hội đang cổ võ cho một lối sống thiên về vật chất, con người như càng ngày càng mất định hướng cho cuộc đời của mình, con người dường như luôn sống trong trạng thái đứng núi này trông núi nọ, mất phương hướng, trầm cảm và cuối cùng là tự tử.

Để không rơi vào thảm cảnh này, không có con đường nào khác ngoài con đường đến với Đức Giê-su bởi vì Ngài chính là: “…đường, là sự thật và là sự sống”, và rằng “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được”.

Chính vì thế, hôm nay, Giáo Hội tiếp tục kêu gọi chúng ta là cành-nho-thụ-tạo hãy liên kết mật thiết với cây-nho-thật cây-nho-tạo-hóa là chính Đức Giê-su.

Bằng cách nào để liên kết với cây-nho-tạo-hóa là chính Ngài? Thưa, đó chính là Thánh Thể và Thánh Kinh.

Thánh Thể một thứ thần lương giúp chúng ta “nên đồng hình đồng dạng với Ngài”. Còn Thánh Kinh ư! Vâng, Thánh Kinh chính là nơi giúp ta nhìn thấy con người thật của Đức Giê-su qua cách sống của Ngài, qua lời nói của Ngài và cuối cùng là qua việc làm của Ngài.

Đồng hình đồng dạng với Đức Giê-su, qua cách sống của Ngài, đó chính là lúc ta “ở lại trong Chúa và Chúa ở lại trong ta”.

Một khi ta “ở lại trong Chúa và Chúa ở lại trong ta”, hãy tin, cành nho của ta “sẽ sinh nhiều hoa trái” và đó… đó chính là hoa trái yêu thương.

Trong phạm vi nhỏ là gia đình, nếu mỗi thành viên trong ngôi nhà đó đều có “hoa trái yêu thương”, có phần chắc, gia đình đó, “anh em hòa thuận, láng giềng thân thiết” và cuối cùng, một cuối cùng tuyệt đẹp, đó là “vợ chồng ý hợp tâm đầu”.

“Anh em hòa thuận, láng giềng thân thiết, vợ chồng ý hợp tâm đầu”, Kinh Thánh nói “cả ba đều đẹp lòng Thiên Chúa”. Vâng, một khi sống đẹp lòng Thiên Chúa, hãy tin, chúng ta muốn gì, “anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý”. Thế nhưng, điều quan trọng, đó là, hãy tự hỏi, hôm nay, tôi đã “Ở lại trong Thầy?”
Petrus.tran

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2015

Người mục tử nhân lành.

Chúa Nhật IV – PS – B

Người mục tử nhân lành.

Như chúng ta được biết, phụng vụ thánh lễ được chia làm những mùa như sau: Mùa Vọng và Mùa Giáng Sinh, kế đến là Mùa Chay và mùa Phục Sinh, những Chúa Nhật còn lại gọi là mùa Thường Niên.

Hôm nay chúng ta bước vào Chúa Nhật IV mùa Phục Sinh. Nói tới mùa Phục Sinh, có thể ví đây như là một mùa xuân của Giáo Hội. Thật vậy, như người ta thường nói, mùa xuân là mùa của yêu thương, của muôn hoa nở rộ khoe sắc thắm, của vạn vật sinh sôi, thì với “mùa Phục Sinh”, ân sủng của Thiên Chúa nở rộ như hoa khoe sắc thắm, đó chính là ơn cứu chuộc. Đó chính là chúng ta được tái khám phá một Thiên Chúa là Tình Yêu, Người “yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16).

Tình yêu ấy được thể hiện qua cái chết và sự phục sinh của người Con Một là Đức Giê-su, Ngài “vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, sống như người trần thế” (x.Pl 2, 6-7).

Đức Giê-su, vốn dĩ là Thiên Chúa “đã trở nên người phàm” và cư ngụ giữa thế gian. Ngài “đến thế gian không phải để lên án thế gian nhưng là để thế gian nhờ (Ngài) mà được cứu độ”.

Trước giờ chịu nạn, bên cạnh các môn đệ yêu dấu, Đức Giê-su đã tái khẳng định lại điều này bằng một thông điệp, thông điệp rằng: “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (x.Ga 10, 10)

**
Vâng, bối cảnh của Palestina thời đó được biết dân Israel đã phải sống trong cảnh một cổ hai tròng. Hai tròng đó: một là thế quyền và hai là thần quyền. Với thế quyền, họ luôn phải sống trong cảnh bất an trước sự cai trị hà khắc của Roma. Còn với thần quyền, họ đã phải oằn vai gánh nặng với những luật lệ do “các kinh sư và người Pharisieu” đặt ra hết sức phi lý.

Các kinh sư và người Pharisieu là những người “ngồi trên tòa Mô-sê mà giảng dạy”, thế nhưng, “họ nói mà không làm”. Chưa hết, các kinh sư và người Pharisieu rảo khắp biển cả đất liền để rủ cho được một người theo đạo, nhưng khi họ theo rồi, các ông ấy lại làm cho họ đáng xuống hỏa ngục hơn các ông.

Nhìn con dân Israel sống trong cảnh như thế, Đức Giêsu không khỏi “chạnh lòng thương xót”. Đã có lần, khi nhìn đoàn dân lũ lượt đi theo, Đức Giêsu đã phải thốt lên với các môn đệ rằng: “họ như bầy chiên không người chăn dắt” (Mc 6,34)

Chính vì thế, một lần nọ, bất chấp những căng thẳng vốn thường xảy ra giữa Ngài và nhóm Pharisieu, Đức Giêsu tuyên bố rằng, “mọi kẻ đến trước tôi đều là tên trộm cướp”. Và tiếp theo đó, Ngài khẳng định, rằng “Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu” (Ga 10,9).

Hôm đó, trước đám đám đông cử tọa, Đức Giê-su lên tiếng tuyên bố: “Tôi chính là mục tử nhân lành”.

Thế nào là mục tử nhân lành? Vâng, Đức Giê-su cho biết, đó là người dám “hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”. Sự hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên phải được thể hiện qua việc người mục tử đó như một kẻ tiên phong, “anh ta đi trước và chiên đi theo sau…”.

Lời nói của Đức Giêsu, quả thật, sau này đã được thể hiện đúng như Ngài đã tuyên bố. Tại đồi Golgotha, người mục tử Giêsu đã hy sinh mạng sống mình bằng cái chết trên thập giá. Một cái chết để cứu chuộc nhân loại. Một cái chết để không ai còn có thể mỉa mai nói rằng “từ Nazareth, làm sao có cái gì hay được?” Một cái chết để muôn thế hệ về sau đều phải nhìn nhận rằng, Đức Giêsu thành Nazareth, Ngài chính là “Vị Mục Tử nhân lành”.

Đức Giê-su, hôm đó, cho mọi người thấy sự nhân lành còn được thể hiện nơi “những chiên khác”, những con chiên “không thuộc ràn này”. Những con chiên mà Ngài “cũng phải đưa chúng về”.

Trước đám đông cử tọa, Ngài cho mọi người biết, rằng: “ Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử”. Nói xong, Đức Giêsu khẳng định rằng: “Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được”.

***

Chúa Nhật hôm nay, theo truyền thống, chúng ta gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành. Vào Google, một trang mạng với chức năng tìm kiếm, đánh lên đó dòng chữ “Chúa Chiên Lành”, vâng, chúng ta sẽ thấy rất nhiều hình ảnh Đức Giêsu là một người thanh niên ẵm hoặc vác con chiên trên vai, muôn kiểu, muôn màu, muôn sắc.

Có một số người dị ứng với Ki-tô giáo, nên, qua hình ảnh đó, họ cho rằng, Đức Giê-su đã biến “con người” thành “con vật” khi gọi những người theo Ngài là “con chiên”.

Có thể nói rằng, những kẻ suy nghĩ như thế là những kẻ thiếu hiểu biết. Còn nếu họ biết nhưng lại vờ như không biết, thì họ chẳng khác nào có mắt như mù. Nói tắt một lời, họ chỉ là những kẻ thiếu lương thiện, mà thôi.

Hình ảnh người mục tử và con chiên trên vai, vâng, đó chính là hình ảnh trong Cựu Ước thường dùng như là biểu tượng nói về lòng thương xót, sự chăm lo, bảo vệ và nâng đỡ của Thiên Chúa đối với con người.

Vâng, hình ảnh (Thiên Chúa) người mục tử “đi trước và chiên đi theo sau” gợi cho chúng ta nhớ đến Thánh Vịnh thứ hai mươi ba: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ”.

Chỉ trong sáu câu ngắn ngủi (Tv 23, 1-6) thế mà, cũng đủ để mô tả toàn cảnh hình ảnh người mục tử nhân lành đầy quyền uy: “Dầu qua thung lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm”.

Nếu xưa kia, Israel thời Cựu Ước vui mừng đặt niềm tin vào Thiên Chúa qua hình ảnh như thế, thì hôm nay, niềm vui đó phải được nhân đôi, nhân đôi là vì chính Chúa Giêsu đã cất tiếng hòa theo nhịp điệu mừng vui đó, rằng: “Thật, tôi bảo thật: Tôi là cửa cho chiên ra vào”. Và rằng: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành” (Ga 10, 14)

****
Khi nói tới người mục tử, chúng ta luôn nghĩ tới quý giám mục, linh mục, và, không ít người lo sợ rằng, với một thế giới cổ suý cho chủ nghĩa thế tục, thật khó để mà có nhiều người từ bỏ hết mọi sự, “tự ý không kết hôn vì Nước Trời”.

Thật ra, điều đáng để sợ, đó là hãy sợ rằng, những người đã được Thiên-Chúa-tuyển-chọn, họ có thực sự là người mục tử “như lòng Thiên Chúa mong ước” hay không? Họ có “khôn ngoan sáng suốt” chăn dắt (đoàn chiên) Thiên Chúa giao phó không?

Vâng, thật phải đạo, khi hôm nay, ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu, chúng ta hãy mượn lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a mà nguyện rằng: Lạy Chúa, xin Người ban cho chúng con “những mục tử như lòng (Người) mong ước, (những mục tử) sẽ khôn ngoan sáng suốt chăn dắt (chúng con)” (Gr 3, 15). Chúng ta cũng đừng quên, nguyện xin cho quý ngài, ngày càng thêm “đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người”.

Làm thế nào để người mục tử hôm nay, nên “đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người”? Thưa, thật giản dị, đó là, hãy thực thi những điều Đức Giê-su đã truyền dạy, những điều mà hôm nay chúng ta quen gọi là “tám mối phúc thật”, là đủ.

Thật vậy, hãy thử tượng tưởng xem, một người mục tử luôn sống với một “tâm hồn nghèo khó, hiền lành, khát khao nên người công chính, xót thương người, có tâm hồn trong sạch, xây dựng hòa bình” và cuối cùng, chấp nhận “bị bách hại vì sống công chính”… Vâng, một người mục tử như thế, ai dám phủ nhận vị mục tử đó không là người đã “đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người”!

Nói cách khác, ai dám phủ nhận người mục tử đó chính là “những mục tử đẹp lòng Thiên Chúa” người mục-tử-nhân-lành!

*****
Thật ra, không nhất thiết phải quan niệm rằng, chỉ các giám mục hay linh mục mới là mục tử duy nhất. Giáo Hội ngày nay, với Hiến chế Tín lý về Giáo Hội, số 9, cũng mời gọi các tín hữu hãy trở nên là những mục tử cho nhau, đặc biệt là mục tử ở trong gia đình.

Để trở thành người mục tử nhân lành trong gia đình, cũng vậy thôi, chúng ta cũng phải thực thi những gì đã được Đức Giê-su truyền dạy trong bản “Hiến Chương Nước Trời”.

Điều thứ hai của hiến chương nói “Phúc thay ai hiền lành”. Vâng, đó là một cái phúc và đó cũng là điều kiện tiên quyết mà một người mục tử trong gia đình cần có. Sự hiền lành sẽ giết chết tính trưởng giả, tăng thêm tính nhu mì và cuối cùng là hạn chế được sự tức giận.

Một vấn nạn tuy đã cũ nhưng vẫn còn tính thời sự, đó là thời đại bùng nổ thông tin, và internet chính là những “con sói” hung hãn nhất của con em mình. Chính “con sói internet” đã làm cho biết bao con trẻ rơi vào trạng thái trầm uất, bạo lực, đam mê thần tượng, cuồng dâm, mất niềm tin vào chính mình để rồi cuối cùng là tiến tới tội ác, ma túy và tự tử…

Chắc hẳn chúng ta không muốn con em mình đến trường một mình. Vậy tại sao chúng ta lại để cho con em mình “một mình” đi vào thế giới ảo nơi mà “con sói internet” luôn rình rập để hãm hại chúng?

Chắc chắn chúng ta sẽ là người mục tử để đánh đuổi những “con sói” đó, và sẽ thật khôn ngoan nếu chúng ta tuân theo lời chỉ dẫn của thánh Phao-lô “đừng làm cho con cái tức giận, nhưng hãy giáo dục chúng thay mặt Chúa bằng cách khuyên răn và sửa dạy” (Ep 6, 4)

Vâng, không nhất thiết chúng ta phải hy sinh cả mạng sống nhưng thật cần thiết để chúng ta hy sinh một chút thời giờ, một chút riêng tư để cùng đồng hành, đồng hành trong vai trò là người mục tử, với con cái chúng ta.

Đương nhiên không thể phủ nhận giám mục và linh mục chính là những người mục tử. Họ là những người kế vị các thánh tông đồ quyền “chăm sóc và chăn dắt” qua Bí Tích Truyền Chức Thánh.

Thế nên, đừng bao giờ từ bỏ việc đem con em mình đến nhà thờ vào mỗi Chúa Nhật, nơi quý linh mục, tu sĩ sẽ là người mục tử chăm sóc và chăn dắt chúng qua những bài giáo lý và nhất là qua những lời giáo huấn trong phần phụng vụ Lời Chúa.

Một điều tuy đã cũ nhưng xin được nhắc lại ngày hôm nay, rằng: nếu các linh mục khi lãnh nhận Bí Tích Truyền Chức, họ được trao ban chức tư tế thừa tác, thì người Kitô hữu khi lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy, cũng được trao ban chức tư tế - nhưng là tư tế cộng đồng.

Công Đồng Vatican II dạy rằng: “Chức tư tế chung của các tín hữu và chức tư tế thừa tác hay phẩm trật, tuy khác nhau không chỉ về cấp bậc mà còn về yếu tính; song cả hai bổ sung cho nhau. Thật vậy, cả hai đều tham dự vào chức tư tế duy nhất của Chúa Kitô theo cách riêng của mình” (Hiến chế tín lý về Giáo Hội – số 10).

Có thể nói cách khác chăng! Vâng, giám mục, linh mục hay giáo dân tất cả đều tham dự vào vai trò mục tử của Đức Giêsu theo cách riêng của mình. Nhưng trước nhất và quan trọng nhất đó là chúng ta phải để cho Đức Giêsu: vị Mục Tử nhân lành sống và hành động trong tâm hồn chúng ta.

Thật vậy, Ngài chính là kim chỉ nam tuyệt hảo nhất. Ngài là Mục Tử được “Thần Khí Chúa ngự trên”, được “Chúa xức dầu tấn phong để mang Tin Mừng đến cho người nghèo, loan báo cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa (x. Lc 4,18-19; x. Is 62,1-2).

Thế nên, thật phải đạo khi chúng ta để Đức Giê-su, vị mục tử nhân lành sống trong ta, hành động trong ta, bởi nhờ đó, có khác nào “tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là Chúa Ki-tô sống trong tôi”.

Có “Chúa Ki-tô sống trong tôi”. Vâng, đó là lúc, tôi và bạn, chúng ta đã “đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người”. Nói cách khác, chúng ta là hình ảnh nối tiếp của Đức Giê-su – một Giê-su là “Người mục tử nhân lành”.

Petrus.tran

Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một.

  Chúa Nhật XXX – TN – A Mến Chúa - Yêu Người: phải là hai trong một Đọc các sách Tin Mừng, chúng ta được biết, sứ vụ rao giảng Tin Mừng của...